Làm sao biết được nước sạch đạt tiêu chuẩn gì, như thế nào trong khi con người rất cần thiết có được nguồn nước sạch cho sinh hoạt hằng ngày.Hiện người dân Việt Nam đang sử dụng nước sinh hoạt từ 5 nguồn: nước máy do nhà máy nước, trạm cấp nước cung cấp; nước giếng đã qua xử lý do Sở NNPTNTquản lý; nước giếng do người dân tự đào, khoan; nước mưa và nước sông (tập trung chủ yếu ở các khu dân cư nghèo ven sông). Tại đô thị, đối tượng được thụ hưởng nguồn nước sạch chủ yếu là người dân đô thị (chiếm 70% lượng nước), còn lại là sản xuất công nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp, dịch vụ, y tế, tưới đường.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BÁO CÁO KHOA HỌC
ĐÁNH GIÁ NGUỒN NƯỚC SẠCH
VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
NƯỚC Ở CÁC ĐÔ THỊ LỚN
MỤC LỤC
Trang 2Mục lục……… 1
Danh mục bảng biểu……… ………2
Danh mục viết tắt……….……… ……… 3
Lời tựa……….……… 4
Tóm tắt nghiên cứu……….……….6
1 Bối cảnh nghiên cứu : Tình hình cấp nước ở các đô thị lớn……… ………8
Hiện trạng cấp thoát nước và xử lý chất thải……….……….12
2 Phương pháp nghiên cứu:……… ……… 14
3.Kết quả nghiên cứu : Nguồn nước sạch, vệ sinh môi truòng gây ảnh hưởng đến các khía cạnh khác của đời sống đô thị……… … 14
Khai thác nguồn nước sạch và hệ lụy cho môi trường ở đô thị………16
4 Khuyến nghị……….…… 18
Tài liệu tham khảo……… ……… 21
DANH MỤC BẢNG BIỂU: Bảng 1 : Tỷ lệ người dân đô thị dùng nước sạch và người dân nông thôn dùng nước hợp vệ sinh từ 2005 – 2010……… 4
Bảng 2: Mục tiêu phát triển cấp nước ở các đô thị……… …… 9
Bảng 3: Mục tiêu phát triển thoát nước và chất thải của các đô thị………….… 12
Bảng 4: Các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe liên quan đến nước và vệ sinh ở Việt Nam……… ……… …… 15
DANH MỤC VIẾT TẮT:
ADB : Ngân hàng phát triển Châu Á CEETIA : Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị
và Khu Công nghiệp
NN&PTNT : Nông nghiệp & phát triển nông thôn
NS&VSMT: Nước sạch & vệ sinh môi trường
TNMT & PTBV: Tài nguyên môi trường & phát triển bền vững
WASH : Water, Sanitation and Hygiene
L ỜI TỰA:
Trang 3Hiện người dân Việt Nam đang sử dụng nước sinh hoạt từ 5 nguồn: nước máy do nhà máy nước, trạm cấp nước cung cấp; nước giếng đã qua xử lý do
Sở NN&PTNTquản lý; nước giếng do người dân tự đào, khoan; nước mưa và nước sông (tập trung chủ yếu ở các khu dân cư nghèo ven sông) Tại đô thị, đối tượng được thụ hưởng nguồn nước sạch chủ yếu là người dân đô thị (chiếm 70% lượng nước), còn lại là sản xuất công nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp, dịch vụ, y
tế, tưới đường Việc người dân sử dụng nước sinh hoạt không đủ về số lượng, không bảo đảm chất lượng không chỉ tồn tại ở nông thôn mà còn ở cả các đô thị lớn Theo kế hoạch đến năm 2010, tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch là 95%, nhưng trên thực tế chỉ tiêu này chỉ đạt 84% vào năm 2009 và 88% vào năm
2010 Tuy nhiên, chưa đến 60% trong số họ có đường ống nước đầu nối tại nhà; số còn lại phải lấy nước từ các đường ống chung hoặc dùng nước giếng Các huyện lị thường có ít dịch vụ nước cơ bản Tiêu chuẩn dịch vụ hiện nay rất thấp, cả về khối lượng, cũng như chất lượng, chưa nói đến tỷ lệ thất thoát nước cao
Bảng 1: Tỷ lệ người dân đô thị dùng nước sạch và người dân nông thôn
dùng nước hợp vệ sinh từ 2005-2010
Chỉ tiêu TNMT & PTBV Thực hiện 2001-2005 Mục tiêu KH 2006-2010 2006 2007 2008 Ước thực hiện 2009 Dự kiến 2010 Thực hiện 2006-2010
Tỷ lệ dân số nông thôn
được cung cấp nước hợp
vệ sinh 62,0 75 66,0 70,0 75,0 79,0 83,0 83,0
Tỷ lệ dân số đô thị được
cung cấp nước sạch 95 76,2 75,0 80,0 82,0 84,0 84,0
Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư, Báo cáo thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2006-2010
Các thành phố lớn được cho là cung cấp đủ điều kiện vệ sinh cho hầu hết mọi người dân Tại các thị xã, 75% số hộ dân không được đấu nối với bất kỳ hệ thống tiêu thoát nước nào, dù là hệ thống tập trung hay phân tán; thay vào đó, họ phải sử dụng bể tự hoại Tỷ lệ xử lý nước thải đạt chưa đến 10% khối lượng nước thải được thu gom hàng ngày (ADB) Ở những nơi có hệ thống tiêu thoát nước đô thị, hầu hết các hệ thống này lại kết hợp giữa tiêu nước mưa với thải nước sinh hoạt không qua xử lý Hơn nữa, khái niệm nước sạch vẫn cần phải xem xét lại ngay cả với các nhà máy nước tại các đô thị lớn như Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh Việc kiểm tra, giám sát chất lượng nước của các cơ quan chuyên môn tại nơi cấp và nơi nhận vẫn còn là vấn đề chưa thống nhất
Tính bền vững
Bên cạnh con số về hiện trạng tiếp cận nước sạch và vệ sinh môi trường của người dân thông qua các dự án cấp nước sạch thì cần phải nhắc đến tính hiệu quả, bền
vững của các dự án này Có thể nói tính bền vững của các thành quả đã đạt được về
cấp nước chưa cao Số lượng và chất lượng nước cung cấp ở nhiều nơi hiện đang
bị giảm sút, việc giám sát và kiểm tra chất lượng nước chưa đúng quy định, đặc biệt
là đối với các công trình cấp nước nhỏ lẻ Việc quản lý, khai thác hiệu quả và bền vững công trình cấp nước tập trung còn yếu, hầu hết không đủ kinh phí quản lý vận hành, duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa dẫn đến công trình bị xuống cấp, thậm chí ngừng hoạt động Có nhiều công trình đã bị hư hỏng chỉ trong vài năm hoạt động do
Trang 4chất lượng kém, thiết kế không phù hợp Cá biệt có những công trình sau khi xây dựng đã không đáp ứng yêu cầu để có thể đưa vào sử dụng
Từ những hạn chế nói trên, bài viết này nhằm đánh giá khách quan lần nữa những kết quả từ việc thực hiện những chính sách do nhà nước đề ra nhằm đem lại tối ưu nguồn nước sạch đến cho mỗi người dân đồng thời xem xét tình trạng môi trường nước ở tình trạng hiện tại một cách khách quan nhất dựa trên những số liệu đáng tin cậy từ những báo cáo chuyên môn và báo cáo khoa học, theo đó đề ra những khuyến nghị nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm và thiếu hụt nguồn nước sạch ở các
đô thị lớn
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU:
Việt Nam là quốc gia không còn giàu có về tài nguyên nước Vấn đề nguồn nước cạn kiệt, giảm chất lượng, ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, hạn hán, nước biển xâm nhập đồng bằng, ngày càng trở thành nguy cơ lớn đe dọa đối với nguồn nước sinh hoạt và nước sản xuất tại nhiều địa phương Việc khai thác, sử dụng cũng như quản lý nguồn nước ở Việt Nam không có sự quản lý thống nhất, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và chính quyền; chưa tách bạch rõ chức năng khai thác và chức năng điều tiết, quản lý của các cơ quan có trách nhiệm dẫn đến việc tài nguyên nước bị khai thác ồ ạt, cạnh tranh lợi ích Mâu thuẫn, tranh chấp trong việc sử dụng các nguồn nước giữa các chủ thể kinh tế khác nhau đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến quyền người dân đối với nước Trong khi đó, nhiều dự án nước sạch không hiệu quả, thiếu tính bền vững, gây lãng phí nước, do chi phí cao, do thói quen, nhận thức người dân Điều này cản trở phát triển người dân từ góc độ tổn hại sức khỏe và thiệt hại kinh tế do phải mua nước giá cao hoặc mất nhiều thời gian để lấy nước
Tình trạng thiếu các quyền nguồn lực Tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch còn thấp
do khó khăn trong tiếp cận nguồn chính thức đối với tài nguyên nước đang là lỗ hổng trong thể chế, gây khó khăn không nhỏ trong việc quản lý phân bổ nguồn nước bền vững theo cách tiếp cận quyền Mặc dù Luật tài nguyên nước đã tạo ra một khung pháp lý cho vấn đề này, nhưng chưa có giới hạn về lượng nước được khai thác và các quyền đối với nước chưa được xác định Hiện nay, hệ thống các quyền đối với nước mới chỉ gồm các quyền được cảm nhận, thay vì được quy định rõ, và chưa có nguyên tắc chung Những cơ quan tổ chức được thành lập để cung cấp dịch vụ nước chưa có khả năng tự hoạch toán Việc tham gia xây dựng và quản lý công trình, duy tu bảo dưỡng còn trông chờ vào đầu tư, hỗ trợ của nhà nước, nguồn vốn
từ các dự án được tài trợ nhưng điều này không thể bền vững về lâu dài
Các cấp chính quyền địa phương mặc dù đã được phân cấp trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên nước trên địa phận, nhưng chưa có đủ năng lực để thực hiện hiệu quả những vai trò của mình trong công tác quản lý tài nguyên nước và cung cấp dịch
vụ thiết yếu
Mặc dù đã có những thành công to lớn nhưng xét đến áp lực từ quá trình đô thị hóa
và công nghiệp hóa, cũng như khó khăn từ biến đổi khí hậu cho thấy Việt Nam đang phải gắng hết sức để đảm bảo điều kiện cấp nước cho sản xuất, cấp nước và vệ sinh cho người dân
Để khắc phục được tình hình trên, chúng ta cần nhìn thẳng và đối diện vào sự thật,
có cái nhìn đúng đắn và trung thực, vẫn công nhận những nổ lực để mang lại nguồn nước sạch đến cho từng người dân nhưng không thể né tránh những bất cập vẫn còn tồn tại trong thời gian dài Bài viết này đề cập đến các hoạt động cấp nước phục
vụ ăn uống và sinh hoạt cho dân cư ở khu vực đô thị lớn như: Hồ Chí Minh, Hà Nội,
Trang 5Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ… Tình hình quản lý chất thải hộ gia đình và khu dân
cư khu vực đô thị , bao gồm cả chất thải rắn và chất thải lỏng phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt cũng như chất thải vật nuôi từ các trang trại Các hoạt động trên được đặt trong bối cảnh chính trị và kinh tế xã hội; các đặc điểm địa lý chính, địa hình học, khí hậu; lượng mưa trung bình hàng năm; dân số đô thị ; nguồn tài nguyên nước liên quan tới NS&VSMT
1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU:
Tình hình cấp nước ở các đô thị lớn :
Tính đến cuối năm 2011, Việt Nam có 756 đô thị được phân loại như sau:
- 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
-3 thành phố trực thuộc trung ương loại I, gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ; và 8 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại I, gồm: Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên và Nam Định
- 11 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại II gồm: Biên Hòa; Hạ Long; Vũng Tàu; Việt Trì; Hải Dương; Thanh Hóa; Mỹ Tho; Long Xuyên; Pleiku; Phan Thiết; Cà Mau
- 35 đô thị loại III
Bảng 2: Mục tiêu phát triển cấp nước ở các đô thị
2015 Năm 2020 Năm 2025 Diện phủ dịch vụ ( % ) Loại III hoặc cao
hơn
90
Loại IV 70
Nhu cầu cấp nước đơn vị
( lit/người/ngày)
Loại III hoặc cao
Loại IV 100
Thất thu nước %) Loại III hoặc cao
Loại IV
Mức độ ổn định của dịch vụ (giờ hoạt
động )
Loại III hoặc cao
Loại IV
Nguồn : Quyết định số 1929/QD-TTg ngày 20/11/2009 đề cập các định hướng phát
triển ngành cấp nước Việt Nam tại các khu vực đô thị và khu vực công nghiệp tới năm 2025 và tầm nhìn 2050.
Trang 6Hệ thống cấp nước:
- Công suất các hệ thống cấp nước còn hạn chế do sự đầu tư không đầy đủ các nhà máy xử lý nước, các mạng lưới đường ống truyền dẫn và phân phối nước sạch
- Do mạng lưới truyền dẫn và phân phối nước sạch hiện có không được cải tạo và nâng cấp đồng bộ với các nhà máy xử lý, do đó, tỷ lệ rò rỉ và thất thoát nước sạch là 35%, đặc biệt có một số thành phố tỷ lệ này rất cao như 49% ở Hà Nội, 38% ở TP
Hồ Chí Minh và 40% ở Nam Định
- Mặc dù công suất cấp nước hiện tại đã tăng lên gấp 3 và gấp 2 lần so với năm1975
và 1990, tuy nhiên so quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, rất nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới được hình thành và dân số đô thị cũng tăng nhanh chóng, nên hệ thống cấp nước vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu của dân cư thành thị
Do đó, hai phần ba thị tứ không có hệ thống cấp nước; nhiều nhà máy nước không
có mạng ưới phân phối, do vậy các nhà máy nước này phải hoạt động dưới công suất thiết kế
Bên cạnh đó, nhiều hệ thống cấp nước có thể nâng cấp và nâng cao công suất, nhưng do những khó khăn về vốn đầu tư cũng như năng lực của các công ty cấp nước cũng là lý do chính để các hệ thống này không hoạt động hết công suất
Theo số liệu Bench-marking của Hội Cấp Thoát nước Việt Nam (VWSA), chỉ có 35 trong số 67 thành phố được khảo sát (chiếm 60%) đảm bảo cấp nước liên tục 24 giờ/ngày Hầu hết các thành phố còn lại chỉ hoạt động 14-20 giờ/ngày và có 3-4 thành phố chỉ có thể hoạt động 8-10 giờ/ngày Do việc giảm nhanh áp lực trong hệ thống phân phối, nước chỉ có thể chảy vào các bể chứa nước dưới đất của các hộ gia đình mà không thể tự chảy lên các bể ở cao hơn Hơn nữa, chất lượng nước cấp đến các hộ gia đình cũng không hoàn toàn đảm bảo theo tiêu chuẩn vệ sinh, mặc dù chất lượng nước xử lý tại các máy nước đều đạt các chỉ tiêu của nước cấp Nguyên nhân là do, nước được phân phối trong đường ống có áp lực thấp hay không có áp lực hay thậm chí có áp suất âm, và các đấu nối bị hỏng, những nguyên nhân trên khiến cho nước dễ dàng bị thấm khi vận chuyển trong đường ống nước Khi áp lực nước bên trong ống tăng cao đến mức đủ cho nước có thể tự chảy (lớn hơn 0.6m/s), những cặn bẩn lâu ngày trong hệ thống ống có thể chảy lẫn trong ốn và làm giảm chất lượng nước khi nước được cấp đến các hộ gia đình Theo như kết quả khảo sát, hiện nay có khoảng 50% mạng lưới phân phối đạt tiêu chuẩn nước sạch Khu vực đô thị như thành phố Hà Nội chủ yếu được phục vụ nước ngầm Phần lớn lượng nước ngầm khai thác ở khu vực trung tâm thành phố bao gồm các quận và khu vực ngoại ô phía tây nam sông Hồng Kể từ thập niên 90, mối đe dọa nguồn nước ngầm
đã được báo cáo như mực nước ngầm hạ thấp tại các giếng, lượng nước ngầm khai thác giảm, ô nhiễm nước ngầm và sụt lún đất Vì vậy thành phố đã cấm khai thác mới nước ngầm trong khu vực nội thành và thành phố cũng đề ra nguyên tắc việc khai thác và sử dụng nước ngầm trong khu vực nội thành sẽ giảm dần và phát triển cấpnước trong thời gian tới sẽ chủ yếu dựa vào nguồn nước mặt lấy từ sông Đà, sông Hồng và sông Đuống Năm con sông chính: sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Lạch Tray, sông Văn Úc và sông Thái Bình chảy qua thành phố Hải Phòng và đổ thẳng vào vịnh Bắc Bộ Vì đây là các con sông bị ảnh hưởng bởi triều cường, nguồn cấp nước chính của thành phố Hải Phòng là các chi lưu cấp 2, được bảo vệ khỏi ảnh hưởng của triều (xâm nhập mặn) Trong khi đó, số liệu về giám sát chất lượng nước
do Sở TNMT thành phố Hải Phòng lập lại cho thấy nguồn nước mặn đã có dấu hiệu của ô nhiễm do nước thải xâm nhập từ các hoạt động sinh hoạt của con người Vì vậy, thành phố đã tính đến việc bảo vệ nguồn nước trong tương lai
Trang 7Ở tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, các biện pháp đối phó tình trạng nhập mặn đã được thực hiện tại các cống lấy nước thô Vì các sông ở các tỉnh này có đặc trưng của các sông miền Trung Việt Nam là dao động mực nước theo mùa, sẽ cần phải xem xét đảm bảo cấp nước trên quan điểm quản lý tài nguyên nước tương lai
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu – Vũng Tàu, hồ Đá Đen cung cấp 94% nguồn nước cho các khu vực đô thị lớn như thành phố Vũng Tàu và thị xã Bà Rịa Nam 2010, mực nước
hồ Đá Đen hạ thấp bất thường do mùa khô kéo dài và Công ty cấp nước Bà Rịa - Vũng Tàu đã phải lắp đặt các máy bơm tại các cống lấy nước của hồ Đá Đen Để đối phó với khó khăn tương tự, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu – Vũng Tàu đã có kế hoạch cấp nước bổ sung từ một hồ chứa sẽ được xây dựng trên sông Ray sang hồ
Đá Đen qua một kênh hở trên quãng đường 30 km
Sông Đồng Nai là nguồn cấp nước lớn cho thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai và Bình Dương Sông hiện đang phục vụ 74% nguồn nước cho thành phố Hồ Chí Minh, 64% cho Đồng Nai và 87% cho Bình Dương Tuy nhiên, một số thông số nước thô
đã vượt tiêu chuẩn cho phép loại A của QCVN 08:2008/BTNMT Nếu quá trình xử lý nước bảo đảm tiêu chuẩn nước uống và vị trí cống lấy nước thô không bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn thì chất lượng nước sẽ không ảnh hưởng nghiêm trọng Chất lượng nước bị ảnh hưởng do nước thải cộng thê mxâm nhập mặn do biến đổi khí hậu Tại cống lấy nước thô trên sông Sài Gòn, ô nhiễm nước đã đến mức nghiêm trọng và cần phải làm sạch nước Thành phố Hồ Chí Minh đã xem xét chuyển cống lấy nước thô trên sông Sài Gòn về xa thượng lưu hồ Dầu Tiếng thuộc tỉnh Tây Ninh
Nhìn chung, vấn đề bảo vệ nguồn nước là tối quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp cấp nước và chất lượng cũng như số lượng nước cung cấp tới người sử dụng Do sự biến động lớn về số lượng và chất lượng nước theo mùa, sự chồng chéo và những khoảng trống trong quản lý nguồn nước, trong khi nguồn cung cấp nước sinh hoạt trong phần lớn trường hợp phải chia sẻ với các hoạt động sử dụng nước, xả nước thải diễn ra trong cùng một lưu vực, nên ngành nước còn đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức liên quan đến vấn đề bảo vệ nguồn nước
Hiện trạng cấp thoát nước và xử lý chất thải :
Năm 2009, chính phủ đã cập nhật Định hướng phát triển thoát nước và nước thải đô thị, ban hành Quyết định số 1930/QD-TTg ngày 20/11/2009, trong đó mô tả các định hướng phát triển của ngành thoát nước (thoát nước và nước thải đô thị) ở các đô thị Việt Nam và các khu công nghiệp tới 2025 và tầm nhìn tới năm 2050
Trang 8Bảng 3: Mục tiêu phát triển thoát nước và chất thải của các đô thị.
Thoát
nươc
mưa
Ngập Sẽ được khắc
phục ở đô thị lọa II hoặc cao hơn
Sẽ được khắc phục ở đô thị loại IV hoặc cao hơn
Sẽ khắc phục được ở tát cả các đô thị
Diện phủ dịch
vụ 70 – 80 % > 80 %
90- 95%
100% ở đô thị loại IV hoặc cao hơn
Thoát
nước
thải
Diện phủ dich
vụ hệ thống
thu gom và
xử lý
40 – 50% ở đô thị loại III hoặc cao hơn
60% ở đô thị loại III hoặc cao hơn 70- 80% ở đô thị loại IV hoặc
cao hơn 40% ở đô thị loại IV và
loại V, và các làng nghề
50% ở đô thị loại V và các làng nghề Nhà máy xử lý nước thải phân cấp ở các làng nghề
Nước thải
công nghiệp
và bệnh viện
Toàn bộ nước thải được xử lý
Tất cả các khu công nghiệp đều
có hệ thống thoát nước riêng
Các hạng
mục khác
Toilets công cộng được lắp đặt tại các đô thị loại IV hoặc cao hơn
Được ống cống và kênh được cai tạo để tránh các khu dân cư tập trung không bị ô nhiễm
20 30% nước thải được xử lý
sẽ được tái sử dụng
Nguồn : Quyết định số 1930/QD-TTg ngày 20/11/2009 phê duyệt các định hướng của nganhf thoát nước Việt Nam tại các khu vực đô thị và các khu vực công nghiệp tới năm 2025 và tầm nhìn 2050.
Theo Báo cáo Đánh giá ngành nước Việt Nam (ADB, 2009), có 76 công ty hiện đang cung cấp dịch vụ thoát nước và nước thải đô thị, trong đó có 49 công ty của các thành phố trực thuộc trung ương hoặc tỉnh, 23 đô thị loại IV thuộc tỉnh, và 4 thị trấn, huyện trực thuộc thành phố hoặc tỉnh Trong số này, chỉ có 4 công ty thuộc các thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Bà Rịa - Vũng Tàu là chuyên về dịch
vụ thoát nước và xử lý nước thải Phí thoát nước (được tính bằng 10% giá nước) nhìn chung chỉ đủ đáp ứng 10 – 20% chi phí vận hành, bảo dưỡng mạng lưới thu gom nước thải, chưa kể đến chi phí vận hành trạm xử lý nước thải (nếu có) và các chi phí đầu tư quy đổi hằng năm (khấu hao) Duy nhất chỉ có Thành phố Hải Phòng thu mức phí thoát nước là 15% giá nước cấp, và đang dự kiến tăng phí thoát nước theo lộ trình lên đến 45% giá nước cấp vào năm 2015 Thành phố Sóc Trăng cũng
Trang 9mới nghiên cứu áp dụng khung giá nước thải mới, hướng tới bù đắp đủ chi phí vận hành của hệ thống thoát nước và xử lý nước thải
Trong quan niệm truyền thống của chính quyền đô thị, hệ thống thoát nước đô thị bao gồm các tuyến cống rãnh, ao hồ và kênh mương mà việc quản lý tương đối đơn giản, không cần nhiều kiến thức kỹ thuật Thế nhưng ngày nay khi diện tích đô thị ngày càng lớn, tỷ lệ bao phủ dịch vụ ngày càng tăng, nhu cầu tiếp cận dịch vụ của người nghèo cần được đáp ứng, yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng chặt chẽ, nhiều công nghệ phức tạp hơn được áp dụng, yêu cầu chi phí ngân sách cho thoát nước ngày càng phình to ra, thì cách quản lý truyền thống theo phương thức quản trị tài sản của chính quyền đô thị đối với lĩnh vực thoát nước không còn thích hợp nữa, cần được đổi mới và chuyển sang phương thức cung ứng dịch vụ thoát nước dựa trên các nguyên tắc thương mại Mô hình đặt hàng – đấu thầu thực hiện dịch vụ công ích: vận hành, duy tu, bảo dưỡng hệ thống thu gom và xử lý nước thải là hướng đi thích hợp trong giai đoạn hiện nay cho mảng thoát nước đô thị, trong khi khối tư nhân chưa tìm thấy sự hấp dẫn đầu tư trong các hoạt động này vì thu không
bủ bù đắp chi phí
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên việc nghiên cứu những tư liệu có sẵn, từ
đó tổng hợp, phân tích và đưa ra kết luận Hệ thống hóa các chỉ tiêu cần thống kê, tiến hành điều tra thống kê, tổng hợp thống kê, phân tích và dự đoán.Thời gian thực hiện trong tháng 9 và tháng 10, năm 2015
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU :
Nguồn nước sạch, vệ sinh môi truòng gây ảnh hưởng đến các khía cạnh khác của đời sống đô thị :
Theo như kết quả thống kê năm 2010, tuy có nhiều tiến bộ so với những năm
trước, cho đến hết 2010 mới chỉ có 62% người dân đô thị có thể tiếp cận được vớ i nước sạch Chỉ có 35 trong số 67 thành phố được khảo sát (chiếm 60%) đảm bảo cấp nước liên tục 24 giờ/ngày Hầu hết các thành phố còn lại chỉ hoạt động 14 -20 giờ/ngày và có 3-4 thành phố chỉ có thể hoạt động 8-10 giờ/ngày.Tỷ lệ clo dư trong nước tại nhàmáy nước từ 0,3mg/l – 0,5mg/l đạt 90% Tuy nhiên chỉ có khoảng 50% mạng lưới phân phối đạt tiêu chuẩn nước sạch
Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2008 các bệnh liên quan đến nước: tiêu chảy, hội chứng lỵ, lỵ trực khuẩn là 3 trong số 10 bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, trong đó tiêu chảy là bệnh đứng thứ 6 trong các bệnh có tỷ lệ tử vong lớn nhất (0,009/100
000 dân) Năm 2009 tình hình cũng chưa được cải thiên, tỷ lệ mắc/100 000 dân với bệnh tiêu chảy là 1081,66 ; tả là 0,56 ; lỵ trực khuẩn là 30,55 ; lỵ amip là 10,97 ; thương hàn là 1,77 Tỷ lệ mắc các bệnh này chỉ đứng thứ 5 sau một số bệnh đường hô hấp.Số mắc thương hàn ở trẻ em năm 2008 là 1316 trẻ, bệnh tả là
1049 trẻ Năm 2009 các tỷ lệ này có giảm (thương hàn 823 trẻ và tả 474 trẻ), nhưng tỷ lệ chết không thay đổi
Trang 10Bảng 4: Các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe liên quan đến nước và vệ sinh ở Việt Nam
Tỷ lệ trẻ em tử vong trước 1 tuổi/ 1000 trẻ em sinh 24
DALYs do các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh (năm) 765 738
Tỷ lệ % DALYs do các bệnh liên quan đến nước trong tổng DALYs6%
Số tử vong do các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh/năm 14 531
Tỷ lệ chết do các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh 3%
(Nguồn: Đánh giá của WASH: Vietnam Water, Sanitation and Hygiene Sector Brief, 2011).
Các chương trình quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường,đặc biệt giai đoạn 2011-2015 sẽ là tăng tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh hộ gia đình góp phần làm giảm tỷ lệ trẻ mắc bệnh tiêu chảy, bệnh đường tiêu hóa khác, bệnh giun sán , góp phần giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng Cải thiện cấp nước và vệ sinh môi trường sẽ hạn chế tình trạng bệnh tật trong dân cư, đặc biệt
là các bệnh có liên quan đến nước và vệ sinh như thương hàn, tiêu chảy, lỵ, sốt rét,
tả, mắt hột…một số bệnh thường gặp nhất là đối với trẻ em, chị em phụ nữ, giảm chi phí khám chữa bệnh cho gia đình và xã hội, tăng cường sức khoẻ nhân dân Việc sử dụng nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh, thực hiện thói quen vệ sinh an toàn và giữ gìn môi trường xanh-sạch-đẹp góp phần đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng dân cư, nâng cao chất lượng sống của người dân nông thôn Nhân dân càng thêm tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước
Khai thác nguồn nước sạch và hệ lụy cho môi trường ở đô thị:
Vệ sinh môi trường không tốt, đặc biệt là nước thải và rác thải, đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước, đặc biệt là nước mặt Theo số liệu nghiên cứu
từ Sở Tài nguyên - Môi trường và Nhà đất (TNMTNĐ) Hà Nội, lượng nước thải của
TP đang ngày càng tăng cả về lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm Hầu hết lượng nước thải chưa được xử lý đều đổ thẳng ra sông, hồ và trong năm 2010 là khoảng 510.000m3/ngày.Qua số liệu quan trắc, môi trường nước ở 4 sông và một số
hồ ở Hà Nội đã bị ô nhiễm tới mức báo động, nhất là ô nhiễm các chất hữu cơ, nước sông đã bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm không khí xung quanh một cách trầm trọng Nước thải của thành phố Hà Nội đổ vào các hệ thống cống ngầm, sau đó chảy vào 4 con sông của hệ thống sông Tô Lich: sông Kim ngưu, sông Sét, sông Lừ và sông Tô Lịch, rồi sau đó đổ vào sông Nhuệ và ra sông Hồng Một phần của Hà Nội chưa
có hệ thống cồng ngần thu gom thì nước thải được thải trực tiếp vào các kênh hoặc sông kể trên (CEETIA, 2005) Tại Hà Nội tổng cộng có khoảng 458 000 m3nước thải/ ngày đêm, trong đó có 57% là nước thải công nghiệp, 41% nước thải sinh hoạt và