1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trả lời ý kiến cho rằng người nghèo việt nam đang hưởng an sinh xã hội thấp

29 476 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 78,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyền thống tương thân ,hỗ trợ, san sẻ nhau đã xuất hiện từ thửa xưa.Cho đếnngày nay tinh thần ấy vẫn được phát huy mạnh mẽ và được thể hiện dưới nhữnghình thức ngày càng đa dạng như: b

Trang 1

3 Các bộ phận cấu thành ASXH ở Việt Nam

4 Các tổ chức liên quan đến ASXH ở Việt Nam

5 Đối tượng nghèo

Phần 2: Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam

1 Bảo hiểm xã hội

2 Dịch vụ

2.1 Nhà ở, điện, nước và xử lý rác thải

2.1.1 Nhà ở 2.1.2 Điện 2.1.3 Nước sạch 2.1.4 Xử lý rác thải2.2 Hệ thống giáo dục, đào tạo

2.3.2 Tâm lý nhóm người nghèo khi mắc bệnh

2.3.3 Những rào cản tiêu cực khiến người nghèo khó tiếp cận hệ thống y tế 2.3.4 Công bằng y tế

5.Các quỹ tiết kiệm

5.1.Tiêu chí của các quỹ tiết kiệm xã hội

Trang 2

Lời mở đầu

Cuộc sống ngày càng phát triển, ngày càng tiến bộ, con người ngày càng có cuộcsống đầy đủ, phong phú hơn, song quy luật “ sinh lão bệnh tử ” không chừa một ai,luôn luôn tồn tại những khó khăn ,rủi ro khó lường từ các hoạt động của con người,

từ thiên nhiên, dịch bệnh, các quá trình phát triển kinh tế - xã hội … Điều đó cótác động xấu đến chất lượng cuộc sống của con người, để tồn tại và phát triển cònngười đã có nhiều biện pháp để khác phục khó khăn An sinh xã hội ra đời đã ngănchặn và hạn chế bớt những khó khăn, rủi ro trên

Truyền thống tương thân ,hỗ trợ, san sẻ nhau đã xuất hiện từ thửa xưa.Cho đếnngày nay tinh thần ấy vẫn được phát huy mạnh mẽ và được thể hiện dưới nhữnghình thức ngày càng đa dạng như: bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, trợ cấp gia đình,các chương trình xóa đói giảm nghèo, các quỹ tiết kiệm… Đối với nước ta ,bảođảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn củaĐảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ và có ý nghĩa rất quantrọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bên vững của đất nước.Vậy an sinh xã hội là gì? Thực trạng ASXH ở nước ta như thế nào? Người nghèo

đã được hưởng chế độ ASXH một cách tốt nhất hay chưa? Vai trò của chính phủnhư thế nào trong việc giúp cuộc sống của người dân được nâng cao hơn , đảm bảocông bằng hơn? Bằng những phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp nhữngthông tin từ sách báo, internet, những số liệu từ Tổng cục thống kê Việt Nam và

từ những gì thấy được ở thực tế, nhóm KTCC sẽ giải đáp những câu hỏi trên đểthấy rõ được vấn đề “Có ý kiến cho rằng người nghèo Việt Nam đang hưởng an

sinh xã hội thấp nhất” , đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp trong việc thực

hiện an sinh xã hội được tốt hơn, công bằng hơn

Vì những hiểu biêt của chúng em còn hạn chế nên khó có thể tránh được thiếu sóttrong quá trình viết bài này.Rất mong cô và các bạn góp ý them để đề bài hoànthiện hơn Xin chân thành cảm ơn !

Trang 3

Theo tổ chức lao động quốc tê (ILO) đang sử dụng: An Sinh Xã Hội là sự bảo vệ của xã với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do

bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiêp, thương tật, tuổi già và chết, đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

Việc có một hệ thống an sinh xã hội có thể làm thay đổi cuộc sống của mọingười theo chiều hướng tốt lên cũng như không có một hệ thống ASXHcũng làm thay đổi cuộc sống của họ theo một chiều hướng xấu đi

Hệ thống ASXH của mỗi nước có tác động rất lớn đến an sinh khu vực và thậm chí là cả thế giới

2 Đặc điểm của ASXH :

 Trong quan hệ pháp luật của an sinh xã hội, thông thường có một bên thamgia là nhà nước Đối tượng bảo vệ của an sinh xã hội thường rất rộng lớnbao gồm mọi thành viên của xã hội mà không có sự phân biệt thành phầnkinh tế, giới tính, tôn giáo, chủng tộc đẳng phái

 Nội dung của an sinh xã hội chính là sự bảo vệ của xã hội đối với thànhviên của mình

 Mục đích của an sinh xã hội là đảm bảo an toàn cuộc sống cho các thànhviên xã hội trước những rủi ro, biến cố Để đạt được mục đích này cácquốc gia xây dựng những chương trình hành động với các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn phát triển

3 Các bộ phận cấu thành của ASXH ở Việt Nam

Trang 4

3.1 Bảo hiểm xã hội

Đây là bộ phận lớn nhất của an sinh xã hội Có thể nói nếu không có bảohiểm thì không thể có một nền an sinh xã hội vững mạnh Bảo hiểm xã

hội có thể hiểu là sự đảm bảo thay thế hay bù đắp một phần thu nhập cho

người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất việc hoặc giảm khả năng lao động thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm

xã hội nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

3.2.Trợ giúp xã hội

Đó là sự trợ giúp của nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiệnsinh sống thiết yếu khác với mọi thành viên của xã hội trong những điềukiện bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để lo được cuộc sốngtối thiểu của bản thân và gia đình

3.3.Trợ cấp gia đình

Là hình thức áp dụng việc sử dụng cơ cấu thuế gắn với trách nhiệm giađình, người không có gia đình phải nộp thuế cao hơn người có gia đình,gia đình ít con phải đóng thuế nhiều hơn gia đình nhiều con

3.4.Các quỹ tiết kiệm xã hội

Là quỹ tiết kiệm dựa trên sự đóng góp của các cá nhân Những đóng gópđược tích tụ dung để chi trả cho các thành viên khi sự cố xảy ra Đónggóp và khoản sinh lời được chi trả một lần theo những quy định Từng cánhân sẽ nhận khoản đóng góp của mình và khoản sinh lời không chia sẻrủi ro cho người khác…

3.5.Các dịch vụ xã hội được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng…

4 Các tổ chức liên quan đến ASXH ở Việt Nam

- Bộ lao động - thương binh và xã hội

Trang 5

Bảng 1.Chuẩn nghèo của Chính phủ cho giai đoạn 2006 – 2010 (đồng)

Phần 2 Thực trạng của an sinh xã hội ở Việt Nam

Có 5 bộ phận chính cấu thành nên hệ thống ASXH Để thấy rõ được tác độngASXH đến người nghèo, chúng ta sẽ tập trung phân tích thực trạng nhóm dịch vụ

và BHXH.Trong 10 nhóm nhu cầu cơ bản, nhóm dịch vụ: (6) chợ; (7) bưu điện,nhà văn hóa; (8) đường giao thông và (9) tư vấn, trợ giúp pháp lý về cơ bản là sẵn

có, không có sự khác biệt lớn về chất lượng cung cấp; khả năng tiếp cận của cảngười nghèo và không nghèo đô thị cũng dễ dàng như nhau Do vậy, bài viếtkhông phân tích các nhóm này mà sẽ tập trung vào nhóm dịch vụ gồm: (1) nhà ở;(2) nước sạch và vệ sinh môi trường; (3) điện sinh hoạt; (4) trường học và (5) trạm

y tế hay hệ thống khám chữa bệnh; và nhóm BHXH

1.Bảo hiểm xã hội

 Bảo hiểm xã hội gồm : BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, Bảo hiểm thấtnghiệp và Bảo hiểm y tế

 Bảo hiểm xã hội (BHXH) mà trọng tâm là chế độ bảo hiểm hưu trí được coi

là một dịch vụ công để hỗ trợ và thậm chí là đảm bảo nguồn thu nhập chongười dân khi về già Hiện tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên đã chiếm trên 9%dân số và số đối tượng tham gia BHXH mới chỉ bằng 20% lực lượng laođộng cả nước Như vậy, độ bao phủ của BHXH không cao có nghĩa là tỷ lệngười già có lương hưu còn thấp

 Năm 2012, có 10.437.000 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 40,6%,tương ứng tăng hơn 03 triệu người so với năm 2007 (là năm đầu thực hiệnLuật BHXH); gần 140.000 người tham gia BHXH tự nguyện; thu BHXH bắtbuộc đạt hơn 89.612 tỷ đồng; chi trả cho 101.200 người hưởng lương hưu,601.020 người hưởng BHXH một lần Hiện, hằng tháng BHXH Việt Namquản lý, tổ chức chi trả kịp thời cho hơn 2,3 triệu người hưởng lương hưu

Trang 6

thuộc 02 nhóm đối tượng do ngân sách nhà nước và Quỹ BHXH đảm bảo.Hình thức chi trả lương hưu là bằng tiền mặt hoặc thông qua tài khoản thẻATM Ngoài ra, đã tổ chức thí điểm chi trả lương hưu bằng tiền mặt thôngqua hệ thống Bưu điện cấp xã đã triển khai trên phạm vi toàn quốc bắt đầu từ năm 2013.

 Tuy nhiên, có thể thấy diện bao phủ BHXH còn thấp hơn so với yêu cầu;tình trạng trốn đóng, nợ đọng tiền BHXH còn xảy ra khá phổ biến và chưađược xử lý triệt để; Quỹ Hưu trí, tử tuất tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối trongdài hạn; tình trạng lạm dụng quỹ còn phức tạp, chưa được kiểm soát mộtcách hiệu quả; ứng dụng CNTT vào quản lý BHXH còn chậm, chất lượngdịch vụ còn hạn chế; công tác thanh, kiểm tra, phối hợp trong quản lý, giảiquyết, xử lý vi phạm về BHXH chưa đáp ứng nhu cầu

2 Dịch vụ

2.1 Nhà ở, điện, nước và xử lý rác thải

Nhà ở, điện, nước sạch là những thứ cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của mỗi con người nhưng ở nước ta, đối với người nghèo điều đó dường như vẫn còn khá

xa xỉ

2.1.1 Nhà ở:

a Thành thị:

Vấn đề nhà ở cho người nghèo ở khu vực đô thị về cơ bản đã được giải quyết Đã

có 68,4% số hộ thuộc nhóm nghèo ở nhà kiên cố và 13% ở nhà bán kiên cố Tuy vậy, vẫn còn 16,3% số hộ thuộc nhóm nghèo hiện đang sinh sống ở loại nhà thiếu kiên cốvà đặc biệt là có 2,2% sống ở loại nhà đơn sơ, tạm bợ

Bảng 2 Tỷ lệ hộ thành thị có nhà ở chia theo loại nhà

Đơn vị: %

cố

Nhà bán kiên cố

Nhà thiếu kiên cố

Nhà tạm

và nhà khách

(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)

So với các nhóm hộ gia đình có mức sống từ trung bình trở lên thì tỷ lệ hộ thuộcnhóm nghèo phải sống trong các ngôi nhà chất lượng kém hơn còn khá lớn Nhưvậy, các chính sách về nhà ở cho người nghèo ở khu vực đô thị trong thời gian tới

Trang 7

đây cần chuyển từ lượng sang chất để đảm bảo cho người nghèo có được mái ấm

an toàn, hướng đến mục tiêu không để người nghèo ở khu vực đô thị phải sốngtrong các ngôi nhà thiếu kiên cố, nhà tạm bợ ảnh hưởng không chỉ đến sinh hoạthàng ngày mà còn đe dọa cả sự an toàn và sức khỏe của người dân nghèo

Dễ hiểu rằng để sống trong các ngôi nhà có chất lượng cao hơn đòi hỏi chi phí sẽlớn hơn cả về đầu tư ban đầu của nhà nước, của người dân cũng như chi phí thuênhà trong trường hợp người dân không thể sở hữu các căn nhà đó Với ngườinghèo, một trong những nguyên nhân khiến một bộ phận trong số họ không thểtiếp cận được với nhà kiên cố có thể cũng là bởi lý do này Do vậy, các chươngtrình nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, người nghèo đã được triển khai trongvài năm qua nếu không có sự điều chỉnh trong hỗ trợ đầu tư xây dựng cũng nhưcác chính sách hỗ trợ trong việc mua nhà, thuê nhà cũng như cơ chế xét duyệt đốitượng được mua, thuê nhà thì một bộphận người nghèo, cận nghèo sẽ còn gặp khókhăn trong việc nâng cao chất lượng nhà ở của họ

Nhà thiếu kiên cố

Nhà tạm

và nhà khách

(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)

Chương trình 134 (Quyết định 134/2004) về hỗ trợ nhà ở và đất sản xuất cho đồngbào dân tộc và Quyết định 167 về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo đã giải quyết được cơbản nhu cầu về nhà ở và đất sản xuất cho hộ nghèo nhất

2.1.2.Điện:

a Thành thị:

Bảng 4 Tỷ lệ hộ thành thị chia theo nguồn thắp sáng chính của hộ

Trang 8

Đơn vị: %

quy, máy nổ

Đèn dầu các loại

(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)

96,4% số hộ thuộc nhóm nghèo đã tiếp cận và sử dụng điện lưới quốc gia, số phảidùng đèn dầu chỉ là 0,5% Với các nhóm dân cư khác, gần như 100% hộ gia đình

đã sử dụng điện lưới.Điện lưới đã cung tới từng hộ gia đình nghèo ở khu vự đô thịnhưng vẫn còn một tỷ lệ dù nhỏ các hộ gia đình nghèo, cận nghèo không sử dụngđiện lưới cho sinh hoạt hàng ngày của hộ Rõ ràng nhu cầu tối thiểu về sử dụngđiện để thắp sáng là thiết yếu đối với mọi người dân nhưng một bộ phận nhỏ trong

số những người nghèo hiện vẫn không thỏa mãn được nhu cầu này cho thấy chi phí

về giá điện cũng như thiết bị điện là đắt đỏ, vượt quá khả năng của họ

b Nông thôn.

Từ nhiều năm nay, các chương trình phát triển điện lưới quốc gia chủ yếu hướng

về các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa.Hệ thống cung cấp điện sinh hoạt cho người dân vùng sâu, vùng xa đã từng bước được đầu tư nâng cao hiệu quả và mở rộng phạm vi bao phủ của điện lưới quốc gia

Bảng 5 Tỷ lệ hộ nông thôn chia theo nguồn thắp sáng chính của hộ

Trang 9

Đơn vị: %

quy, máy nổ

Đèn dầu các loại

Nướ

c máy công cộng

Nướ

c mua

Giếng khoa

n có bơm

Giến

g khơi, giếng xây

Nướ

c suối

có lọc

Giến

g đất

Nướ

c mưa

(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)

Không như vấn đề nhà ở và điện sinh hoạt, nguồn cung nước ăn uống hàng ngày ở

khu vực đô thị đang là vấn đề bức xúc cần được giải quyết không chỉ với nhóm

người nghèo mà cả người không nghèo

Việc đẩy mạnh các chương trình đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở trong đó có việc

cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư đô thị cần là một trong những hoạt động được

Trang 10

ưu tiên trong thời gian tới đây nhất là trong bối cảnh đô thị hóa có xu hướng diễn

ra với tốc độ nhanh hơn

Tình trạng một bộ phận tương đối lớn nhóm người nghèo ở khu vực đô thị(21,7%)còn phải sử dụng nguồn nước không đảm bảo như nước từ giếng đất, nước mưa làmột trong những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, dễ gây

Nướ

c máy công cộng

Nướ

c mua

Giếng khoa

n có bơm

Giến

g khơi, giếng xây

Nướ

c suối

có lọc

Giến

g đất

Nướ

c mưa

(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)

Cũng là vấn đề nan giải như khu vực thành thị,hệ thống cung cấp nước sinh hoạtcho người dân, nhất là người dân nông thôn vùng sâu, vùng xa được cải thiệnthông qua các chương trình nước sạch quốc gia, chương trình nước sạch củaUNICEF và các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ

Vứt ở khu vực gần nhà

Khác

Trang 11

2006 100,0 74,6 3,8 11,1 10,5

(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)

Tương tự như tiếp cận nguồn nước, gần 70% nhóm người nghèo chưa tiếp cậnđược dịch vụ xử lý rác thải của các công ty vệ sinh môi trường đô thị Rác thải củanhóm nghèo chủ yếu được vứt xuống ao hồ, vứt ở khu vực gần nhà, v.v… Đâycũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường sống và là mầm mống gây ra cácdịch bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân

Ở nhóm cận nghèo, cũng chỉ có 45,7% số hộ tiếp cận được dịch vụ xử lý rác thảicủa hệ thống vệ sinh môi trường đô thị Như vậy, còn nhiều hộ dân đô thị chưa tiếpcận được dịch vụ này Như vậy, chính sách và công tác về vệ sinh môi trường đôthị [dịch vụ thu gom và xử lý rác thải] cần được chú trọng đầu tư hơn nữa để dịch

vụ này có ở mọi khu vực đô thị nước ta và việc có cơ chế hỗ trợ nhóm người nghèo

đô thị chẳng hạn như hỗ trợ một phần phí dịch vụ sẽ tạo điều kiện để các hộ giađình nghèo đô thị dàng tiếp cận được hệ thống này hơn

Vứt ở khu vực gần nhà

(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)

Hiện nay hầu hết rác thải của các khu vực ngoài đô thị, nông thôn đều chưa đượcthu gom và xử lý đúng cách Tại hầu hết các khu vực này, rác thải chỉ được thugom và thải ra một bãi đất trống của địa phương trong khi người dân hầu hết vẫn

sử dụng nước ngầm, nước mưa làm nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu Điềunày khiến môi trường không khí, môi trường sống ngày càng bịô nhiễm, ảnh

Trang 12

hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân Chưa kể đến rằng việc xử lý rác thải

kiểu này gây mất diện tích đất công cộng và sản xuất.

2.2 Hệ thống giáo dục, đào tạo.

“Hàng năm, ngành giáo dục đều vẽ ra kết quả lạc quan nhưng trên thực tế, một số học sinh lớp bốn và lớp năm còn chưa đọc, viết thành thạo.” (Phỏng vấn sâu với

cán bộ Phòng Dân tộc, huyện Tiểu Cần, Trà Vinh)

Tỷ lệ chưa bao giờ đến trường

Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009

Điều này chứng tỏ, người nghèo, đặc biệt là trẻ em nghèo không được hưởng hết tất

cả những ưu đãi, trợ cấp giáo dục của Nhà nước.Dù có chính sách miễn giảm học phínhưng tỷ lệ trẻ em chưa bao giờ được đến trường vẫn rất cao.Tỷ lệ học sinh nghèo bỏhọc vẫn còn tiếp diễn.Tác động của những chính sách trợ cấp giáo dục không hoàntoàn đạt được hiệu quả

2.2.2 Tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi các cấp

Trang 13

Một trong những chỉ số quan trọng đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục đó là tỉ lệnhập học đúng độ tuổi các cấp Năm 2009, tỉ lệ nhập học đúng độ tuổi chung của tiểuhọc là 95,5%; trung học cơ sở là 82,6%; Trung học phổ thông 56,7%; cao đẳng 6,7%

Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009

Phân tích tỉ lệ nhập học đúng độ tuổi theo tình trạng kinh tế- xã hội của hộ gia đìnhcho thấy, cấp học càng cao thì sự khác biệt càng lớn Đối với hộ nghèo nhất, tỉ lệnhập học đúng độ tuổi ở bậc học cơ sở: Tiểu học là 88,9%, THCS 59,0%, còn hộ giàunhất là 98,3% và 94,9% Mặc dù được coi là bậc học phổ cập giáo dục nhưng tỉ lệnhập học đúng độ tuổi, đặc biệt của THCS ở các hộ gia đình nghèo nhất vẫn còn rấtthấp Sự khác biệt lớn nhất là tỉ lệ nhập học đúng độ tuổi bậc học đại học Trong khinhóm hộ gia đình giàu nhất có tỉ lệ nhập học đại học là 26,3% thì tỉ lệ này ở nhóm hộgia đình nghèo là 0,3% (gấp 86,7 lần) Điều này cho thấy cơ hội tiếp cận giáo dục,đặc biệt giáo dục bậc cao cho người nghèo còn rất thấp

2.2.3 Tác động gánh nặng tài chính đè lên vai người nghèo

Mặc dù trong thời gian qua, Nhà nước đã thực hiện nhiều chương trình, chính sách hỗtrợ cho người nghèo như trợ cấp giáo dục, thực hiện xã hội hóa giáo dục… nhằmgiúp họ có cơ hội được học mặc dù họ không đủ điều kiện vào các trường công; tuynhiên, gánh nặng tài chính của việc đi học thì không giảm (thậm chí tăng so với họcsinh có điều kiện tài chính tốt) với đa số học sinh nghèo khi họ phải tham gia học ởcác trường ngoài công lập, bất chấp một số chính sách giảm học phí đã được nhànước ban bố

Trang 14

Bảng 12 Chi giáo dục, đào tạo bình quân 1 người đi học trong năm 2010 theo

Chi cho giáo dục đào tạo của hộ nghèo chỉ bằng 15% của hộ giàu, đây một phần là do

hộ nghèo được hưởng các chính sách ưu đãi trong giáo dục (chính sách miễn giảmhọc phí, v.v…) Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ hộ nghèo hiện nay mới chỉ đáp ứngđược khoảng 50% các chi phí giáo dục của hộ gia đình Do vậy, về cơ bản đầu tư chogiáo dục của hộ nghèo vẫn thấp hơn nhiều so với hộ không nghèo Đầu tư thấp khôngthể có vốn nhân lực cao.Đây là vòng luẩn quẩn đẩy người nghèo rơi vào cảnh nghèotrong xã hội

Việc cho con cái theo học hệ thống trường dân lập-tư thục làm cho chi phí giáo dục,đào tạo của hộ nghèo tăng lên gấp hơn 2 lần so với trường hợp họ cho con cái theohọc hệ thống công lập Nhưng vì nhiều lý do như không có hộ khẩu,… khiến chonhững hộ nghèo buộc phải gửi con cái mình theo học hệ ngoài công lập, dù chi phírất cao

 Trường dân lập là những trường có tỷ lệ học sinh thuộc các hộ nghèo cao hơncác trường công lập

 Các cơ sở tư thục, dân lập (các hình thức cao của xã hội hóa/tư nhân hóa giáodục) không chú ý đến thực hiện các chính sách hỗ trợ (miễn, giảm học phí,miễn phí xây dựng trường, cấp sách giáo khoa, cấp kinh phí ăn ở ) cho con

em các hộ nghèo có thể tiếp cận đến dịch vụ của họ

 Mặc dù XHH giáo dục làm tăng nguồn cung ứng dịch vụ giáo dục cho toàn xãhội, người nghèo vẫn không được hưởng đầy đủ các ưu đãi đi kèm với chínhsách XHH

Ngày đăng: 31/03/2016, 12:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5. Tỷ lệ hộ nông thôn chia theo nguồn thắp sáng chính của hộ - Trả lời ý kiến cho rằng người nghèo việt nam đang hưởng an sinh xã hội thấp
Bảng 5. Tỷ lệ hộ nông thôn chia theo nguồn thắp sáng chính của hộ (Trang 8)
Bảng 7. Tỷ lệ hộ nông thôn chia theo nguồn nước ăn uống chính - Trả lời ý kiến cho rằng người nghèo việt nam đang hưởng an sinh xã hội thấp
Bảng 7. Tỷ lệ hộ nông thôn chia theo nguồn nước ăn uống chính (Trang 9)
Bảng 8. Tỷ lệ hộ thành thị chia theo cách xử lý rác - Trả lời ý kiến cho rằng người nghèo việt nam đang hưởng an sinh xã hội thấp
Bảng 8. Tỷ lệ hộ thành thị chia theo cách xử lý rác (Trang 10)
Bảng 10. Tình hình đi học của dân số từ 5 tuổi trở lên năm 2009 - Trả lời ý kiến cho rằng người nghèo việt nam đang hưởng an sinh xã hội thấp
Bảng 10. Tình hình đi học của dân số từ 5 tuổi trở lên năm 2009 (Trang 11)
Bảng 11. Tỉ lệ nhập học đúng độ tuổi các cấp, 2009 - Trả lời ý kiến cho rằng người nghèo việt nam đang hưởng an sinh xã hội thấp
Bảng 11. Tỉ lệ nhập học đúng độ tuổi các cấp, 2009 (Trang 12)
Bảng 13.Tỷ lệ người khám chữa bệnh trong 12 tháng phân theo 5 nhóm thu - Trả lời ý kiến cho rằng người nghèo việt nam đang hưởng an sinh xã hội thấp
Bảng 13. Tỷ lệ người khám chữa bệnh trong 12 tháng phân theo 5 nhóm thu (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w