Truyền thống tương thân ,hỗ trợ, san sẻ nhau đã xuất hiện từ thửa xưa.Cho đếnngày nay tinh thần ấy vẫn được phát huy mạnh mẽ và được thể hiện dưới nhữnghình thức ngày càng đa dạng như: b
Trang 13 Các bộ phận cấu thành ASXH ở Việt Nam
4 Các tổ chức liên quan đến ASXH ở Việt Nam
5 Đối tượng nghèo
Phần 2: Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam
1 Bảo hiểm xã hội
2 Dịch vụ
2.1 Nhà ở, điện, nước và xử lý rác thải
2.1.1 Nhà ở 2.1.2 Điện 2.1.3 Nước sạch 2.1.4 Xử lý rác thải2.2 Hệ thống giáo dục, đào tạo
2.3.2 Tâm lý nhóm người nghèo khi mắc bệnh
2.3.3 Những rào cản tiêu cực khiến người nghèo khó tiếp cận hệ thống y tế 2.3.4 Công bằng y tế
5.Các quỹ tiết kiệm
5.1.Tiêu chí của các quỹ tiết kiệm xã hội
Trang 2Lời mở đầu
Cuộc sống ngày càng phát triển, ngày càng tiến bộ, con người ngày càng có cuộcsống đầy đủ, phong phú hơn, song quy luật “ sinh lão bệnh tử ” không chừa một ai,luôn luôn tồn tại những khó khăn ,rủi ro khó lường từ các hoạt động của con người,
từ thiên nhiên, dịch bệnh, các quá trình phát triển kinh tế - xã hội … Điều đó cótác động xấu đến chất lượng cuộc sống của con người, để tồn tại và phát triển cònngười đã có nhiều biện pháp để khác phục khó khăn An sinh xã hội ra đời đã ngănchặn và hạn chế bớt những khó khăn, rủi ro trên
Truyền thống tương thân ,hỗ trợ, san sẻ nhau đã xuất hiện từ thửa xưa.Cho đếnngày nay tinh thần ấy vẫn được phát huy mạnh mẽ và được thể hiện dưới nhữnghình thức ngày càng đa dạng như: bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, trợ cấp gia đình,các chương trình xóa đói giảm nghèo, các quỹ tiết kiệm… Đối với nước ta ,bảođảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn củaĐảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ và có ý nghĩa rất quantrọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bên vững của đất nước.Vậy an sinh xã hội là gì? Thực trạng ASXH ở nước ta như thế nào? Người nghèo
đã được hưởng chế độ ASXH một cách tốt nhất hay chưa? Vai trò của chính phủnhư thế nào trong việc giúp cuộc sống của người dân được nâng cao hơn , đảm bảocông bằng hơn? Bằng những phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp nhữngthông tin từ sách báo, internet, những số liệu từ Tổng cục thống kê Việt Nam và
từ những gì thấy được ở thực tế, nhóm KTCC sẽ giải đáp những câu hỏi trên đểthấy rõ được vấn đề “Có ý kiến cho rằng người nghèo Việt Nam đang hưởng an
sinh xã hội thấp nhất” , đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp trong việc thực
hiện an sinh xã hội được tốt hơn, công bằng hơn
Vì những hiểu biêt của chúng em còn hạn chế nên khó có thể tránh được thiếu sóttrong quá trình viết bài này.Rất mong cô và các bạn góp ý them để đề bài hoànthiện hơn Xin chân thành cảm ơn !
Trang 3Theo tổ chức lao động quốc tê (ILO) đang sử dụng: An Sinh Xã Hội là sự bảo vệ của xã với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do
bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiêp, thương tật, tuổi già và chết, đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
Việc có một hệ thống an sinh xã hội có thể làm thay đổi cuộc sống của mọingười theo chiều hướng tốt lên cũng như không có một hệ thống ASXHcũng làm thay đổi cuộc sống của họ theo một chiều hướng xấu đi
Hệ thống ASXH của mỗi nước có tác động rất lớn đến an sinh khu vực và thậm chí là cả thế giới
2 Đặc điểm của ASXH :
Trong quan hệ pháp luật của an sinh xã hội, thông thường có một bên thamgia là nhà nước Đối tượng bảo vệ của an sinh xã hội thường rất rộng lớnbao gồm mọi thành viên của xã hội mà không có sự phân biệt thành phầnkinh tế, giới tính, tôn giáo, chủng tộc đẳng phái
Nội dung của an sinh xã hội chính là sự bảo vệ của xã hội đối với thànhviên của mình
Mục đích của an sinh xã hội là đảm bảo an toàn cuộc sống cho các thànhviên xã hội trước những rủi ro, biến cố Để đạt được mục đích này cácquốc gia xây dựng những chương trình hành động với các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn phát triển
3 Các bộ phận cấu thành của ASXH ở Việt Nam
Trang 43.1 Bảo hiểm xã hội
Đây là bộ phận lớn nhất của an sinh xã hội Có thể nói nếu không có bảohiểm thì không thể có một nền an sinh xã hội vững mạnh Bảo hiểm xã
hội có thể hiểu là sự đảm bảo thay thế hay bù đắp một phần thu nhập cho
người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất việc hoặc giảm khả năng lao động thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm
xã hội nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
3.2.Trợ giúp xã hội
Đó là sự trợ giúp của nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiệnsinh sống thiết yếu khác với mọi thành viên của xã hội trong những điềukiện bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để lo được cuộc sốngtối thiểu của bản thân và gia đình
3.3.Trợ cấp gia đình
Là hình thức áp dụng việc sử dụng cơ cấu thuế gắn với trách nhiệm giađình, người không có gia đình phải nộp thuế cao hơn người có gia đình,gia đình ít con phải đóng thuế nhiều hơn gia đình nhiều con
3.4.Các quỹ tiết kiệm xã hội
Là quỹ tiết kiệm dựa trên sự đóng góp của các cá nhân Những đóng gópđược tích tụ dung để chi trả cho các thành viên khi sự cố xảy ra Đónggóp và khoản sinh lời được chi trả một lần theo những quy định Từng cánhân sẽ nhận khoản đóng góp của mình và khoản sinh lời không chia sẻrủi ro cho người khác…
3.5.Các dịch vụ xã hội được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng…
4 Các tổ chức liên quan đến ASXH ở Việt Nam
- Bộ lao động - thương binh và xã hội
Trang 5Bảng 1.Chuẩn nghèo của Chính phủ cho giai đoạn 2006 – 2010 (đồng)
Phần 2 Thực trạng của an sinh xã hội ở Việt Nam
Có 5 bộ phận chính cấu thành nên hệ thống ASXH Để thấy rõ được tác độngASXH đến người nghèo, chúng ta sẽ tập trung phân tích thực trạng nhóm dịch vụ
và BHXH.Trong 10 nhóm nhu cầu cơ bản, nhóm dịch vụ: (6) chợ; (7) bưu điện,nhà văn hóa; (8) đường giao thông và (9) tư vấn, trợ giúp pháp lý về cơ bản là sẵn
có, không có sự khác biệt lớn về chất lượng cung cấp; khả năng tiếp cận của cảngười nghèo và không nghèo đô thị cũng dễ dàng như nhau Do vậy, bài viếtkhông phân tích các nhóm này mà sẽ tập trung vào nhóm dịch vụ gồm: (1) nhà ở;(2) nước sạch và vệ sinh môi trường; (3) điện sinh hoạt; (4) trường học và (5) trạm
y tế hay hệ thống khám chữa bệnh; và nhóm BHXH
1.Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội gồm : BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, Bảo hiểm thấtnghiệp và Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm xã hội (BHXH) mà trọng tâm là chế độ bảo hiểm hưu trí được coi
là một dịch vụ công để hỗ trợ và thậm chí là đảm bảo nguồn thu nhập chongười dân khi về già Hiện tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên đã chiếm trên 9%dân số và số đối tượng tham gia BHXH mới chỉ bằng 20% lực lượng laođộng cả nước Như vậy, độ bao phủ của BHXH không cao có nghĩa là tỷ lệngười già có lương hưu còn thấp
Năm 2012, có 10.437.000 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 40,6%,tương ứng tăng hơn 03 triệu người so với năm 2007 (là năm đầu thực hiệnLuật BHXH); gần 140.000 người tham gia BHXH tự nguyện; thu BHXH bắtbuộc đạt hơn 89.612 tỷ đồng; chi trả cho 101.200 người hưởng lương hưu,601.020 người hưởng BHXH một lần Hiện, hằng tháng BHXH Việt Namquản lý, tổ chức chi trả kịp thời cho hơn 2,3 triệu người hưởng lương hưu
Trang 6thuộc 02 nhóm đối tượng do ngân sách nhà nước và Quỹ BHXH đảm bảo.Hình thức chi trả lương hưu là bằng tiền mặt hoặc thông qua tài khoản thẻATM Ngoài ra, đã tổ chức thí điểm chi trả lương hưu bằng tiền mặt thôngqua hệ thống Bưu điện cấp xã đã triển khai trên phạm vi toàn quốc bắt đầu từ năm 2013.
Tuy nhiên, có thể thấy diện bao phủ BHXH còn thấp hơn so với yêu cầu;tình trạng trốn đóng, nợ đọng tiền BHXH còn xảy ra khá phổ biến và chưađược xử lý triệt để; Quỹ Hưu trí, tử tuất tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối trongdài hạn; tình trạng lạm dụng quỹ còn phức tạp, chưa được kiểm soát mộtcách hiệu quả; ứng dụng CNTT vào quản lý BHXH còn chậm, chất lượngdịch vụ còn hạn chế; công tác thanh, kiểm tra, phối hợp trong quản lý, giảiquyết, xử lý vi phạm về BHXH chưa đáp ứng nhu cầu
2 Dịch vụ
2.1 Nhà ở, điện, nước và xử lý rác thải
Nhà ở, điện, nước sạch là những thứ cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của mỗi con người nhưng ở nước ta, đối với người nghèo điều đó dường như vẫn còn khá
xa xỉ
2.1.1 Nhà ở:
a Thành thị:
Vấn đề nhà ở cho người nghèo ở khu vực đô thị về cơ bản đã được giải quyết Đã
có 68,4% số hộ thuộc nhóm nghèo ở nhà kiên cố và 13% ở nhà bán kiên cố Tuy vậy, vẫn còn 16,3% số hộ thuộc nhóm nghèo hiện đang sinh sống ở loại nhà thiếu kiên cốvà đặc biệt là có 2,2% sống ở loại nhà đơn sơ, tạm bợ
Bảng 2 Tỷ lệ hộ thành thị có nhà ở chia theo loại nhà
Đơn vị: %
cố
Nhà bán kiên cố
Nhà thiếu kiên cố
Nhà tạm
và nhà khách
(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)
So với các nhóm hộ gia đình có mức sống từ trung bình trở lên thì tỷ lệ hộ thuộcnhóm nghèo phải sống trong các ngôi nhà chất lượng kém hơn còn khá lớn Nhưvậy, các chính sách về nhà ở cho người nghèo ở khu vực đô thị trong thời gian tới
Trang 7đây cần chuyển từ lượng sang chất để đảm bảo cho người nghèo có được mái ấm
an toàn, hướng đến mục tiêu không để người nghèo ở khu vực đô thị phải sốngtrong các ngôi nhà thiếu kiên cố, nhà tạm bợ ảnh hưởng không chỉ đến sinh hoạthàng ngày mà còn đe dọa cả sự an toàn và sức khỏe của người dân nghèo
Dễ hiểu rằng để sống trong các ngôi nhà có chất lượng cao hơn đòi hỏi chi phí sẽlớn hơn cả về đầu tư ban đầu của nhà nước, của người dân cũng như chi phí thuênhà trong trường hợp người dân không thể sở hữu các căn nhà đó Với ngườinghèo, một trong những nguyên nhân khiến một bộ phận trong số họ không thểtiếp cận được với nhà kiên cố có thể cũng là bởi lý do này Do vậy, các chươngtrình nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, người nghèo đã được triển khai trongvài năm qua nếu không có sự điều chỉnh trong hỗ trợ đầu tư xây dựng cũng nhưcác chính sách hỗ trợ trong việc mua nhà, thuê nhà cũng như cơ chế xét duyệt đốitượng được mua, thuê nhà thì một bộphận người nghèo, cận nghèo sẽ còn gặp khókhăn trong việc nâng cao chất lượng nhà ở của họ
Nhà thiếu kiên cố
Nhà tạm
và nhà khách
(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)
Chương trình 134 (Quyết định 134/2004) về hỗ trợ nhà ở và đất sản xuất cho đồngbào dân tộc và Quyết định 167 về hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo đã giải quyết được cơbản nhu cầu về nhà ở và đất sản xuất cho hộ nghèo nhất
2.1.2.Điện:
a Thành thị:
Bảng 4 Tỷ lệ hộ thành thị chia theo nguồn thắp sáng chính của hộ
Trang 8Đơn vị: %
quy, máy nổ
Đèn dầu các loại
(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)
96,4% số hộ thuộc nhóm nghèo đã tiếp cận và sử dụng điện lưới quốc gia, số phảidùng đèn dầu chỉ là 0,5% Với các nhóm dân cư khác, gần như 100% hộ gia đình
đã sử dụng điện lưới.Điện lưới đã cung tới từng hộ gia đình nghèo ở khu vự đô thịnhưng vẫn còn một tỷ lệ dù nhỏ các hộ gia đình nghèo, cận nghèo không sử dụngđiện lưới cho sinh hoạt hàng ngày của hộ Rõ ràng nhu cầu tối thiểu về sử dụngđiện để thắp sáng là thiết yếu đối với mọi người dân nhưng một bộ phận nhỏ trong
số những người nghèo hiện vẫn không thỏa mãn được nhu cầu này cho thấy chi phí
về giá điện cũng như thiết bị điện là đắt đỏ, vượt quá khả năng của họ
b Nông thôn.
Từ nhiều năm nay, các chương trình phát triển điện lưới quốc gia chủ yếu hướng
về các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa.Hệ thống cung cấp điện sinh hoạt cho người dân vùng sâu, vùng xa đã từng bước được đầu tư nâng cao hiệu quả và mở rộng phạm vi bao phủ của điện lưới quốc gia
Bảng 5 Tỷ lệ hộ nông thôn chia theo nguồn thắp sáng chính của hộ
Trang 9Đơn vị: %
quy, máy nổ
Đèn dầu các loại
Nướ
c máy công cộng
Nướ
c mua
Giếng khoa
n có bơm
Giến
g khơi, giếng xây
Nướ
c suối
có lọc
Giến
g đất
Nướ
c mưa
(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)
Không như vấn đề nhà ở và điện sinh hoạt, nguồn cung nước ăn uống hàng ngày ở
khu vực đô thị đang là vấn đề bức xúc cần được giải quyết không chỉ với nhóm
người nghèo mà cả người không nghèo
Việc đẩy mạnh các chương trình đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở trong đó có việc
cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư đô thị cần là một trong những hoạt động được
Trang 10ưu tiên trong thời gian tới đây nhất là trong bối cảnh đô thị hóa có xu hướng diễn
ra với tốc độ nhanh hơn
Tình trạng một bộ phận tương đối lớn nhóm người nghèo ở khu vực đô thị(21,7%)còn phải sử dụng nguồn nước không đảm bảo như nước từ giếng đất, nước mưa làmột trong những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, dễ gây
Nướ
c máy công cộng
Nướ
c mua
Giếng khoa
n có bơm
Giến
g khơi, giếng xây
Nướ
c suối
có lọc
Giến
g đất
Nướ
c mưa
(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)
Cũng là vấn đề nan giải như khu vực thành thị,hệ thống cung cấp nước sinh hoạtcho người dân, nhất là người dân nông thôn vùng sâu, vùng xa được cải thiệnthông qua các chương trình nước sạch quốc gia, chương trình nước sạch củaUNICEF và các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ
Vứt ở khu vực gần nhà
Khác
Trang 112006 100,0 74,6 3,8 11,1 10,5
(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)
Tương tự như tiếp cận nguồn nước, gần 70% nhóm người nghèo chưa tiếp cậnđược dịch vụ xử lý rác thải của các công ty vệ sinh môi trường đô thị Rác thải củanhóm nghèo chủ yếu được vứt xuống ao hồ, vứt ở khu vực gần nhà, v.v… Đâycũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường sống và là mầm mống gây ra cácdịch bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân
Ở nhóm cận nghèo, cũng chỉ có 45,7% số hộ tiếp cận được dịch vụ xử lý rác thảicủa hệ thống vệ sinh môi trường đô thị Như vậy, còn nhiều hộ dân đô thị chưa tiếpcận được dịch vụ này Như vậy, chính sách và công tác về vệ sinh môi trường đôthị [dịch vụ thu gom và xử lý rác thải] cần được chú trọng đầu tư hơn nữa để dịch
vụ này có ở mọi khu vực đô thị nước ta và việc có cơ chế hỗ trợ nhóm người nghèo
đô thị chẳng hạn như hỗ trợ một phần phí dịch vụ sẽ tạo điều kiện để các hộ giađình nghèo đô thị dàng tiếp cận được hệ thống này hơn
Vứt ở khu vực gần nhà
(Nguồn: Tổng cục điều tra dân số và nhà ở)
Hiện nay hầu hết rác thải của các khu vực ngoài đô thị, nông thôn đều chưa đượcthu gom và xử lý đúng cách Tại hầu hết các khu vực này, rác thải chỉ được thugom và thải ra một bãi đất trống của địa phương trong khi người dân hầu hết vẫn
sử dụng nước ngầm, nước mưa làm nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu Điềunày khiến môi trường không khí, môi trường sống ngày càng bịô nhiễm, ảnh
Trang 12hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân Chưa kể đến rằng việc xử lý rác thải
kiểu này gây mất diện tích đất công cộng và sản xuất.
2.2 Hệ thống giáo dục, đào tạo.
“Hàng năm, ngành giáo dục đều vẽ ra kết quả lạc quan nhưng trên thực tế, một số học sinh lớp bốn và lớp năm còn chưa đọc, viết thành thạo.” (Phỏng vấn sâu với
cán bộ Phòng Dân tộc, huyện Tiểu Cần, Trà Vinh)
Tỷ lệ chưa bao giờ đến trường
Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009
Điều này chứng tỏ, người nghèo, đặc biệt là trẻ em nghèo không được hưởng hết tất
cả những ưu đãi, trợ cấp giáo dục của Nhà nước.Dù có chính sách miễn giảm học phínhưng tỷ lệ trẻ em chưa bao giờ được đến trường vẫn rất cao.Tỷ lệ học sinh nghèo bỏhọc vẫn còn tiếp diễn.Tác động của những chính sách trợ cấp giáo dục không hoàntoàn đạt được hiệu quả
2.2.2 Tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi các cấp
Trang 13Một trong những chỉ số quan trọng đánh giá khả năng tiếp cận giáo dục đó là tỉ lệnhập học đúng độ tuổi các cấp Năm 2009, tỉ lệ nhập học đúng độ tuổi chung của tiểuhọc là 95,5%; trung học cơ sở là 82,6%; Trung học phổ thông 56,7%; cao đẳng 6,7%
Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009
Phân tích tỉ lệ nhập học đúng độ tuổi theo tình trạng kinh tế- xã hội của hộ gia đìnhcho thấy, cấp học càng cao thì sự khác biệt càng lớn Đối với hộ nghèo nhất, tỉ lệnhập học đúng độ tuổi ở bậc học cơ sở: Tiểu học là 88,9%, THCS 59,0%, còn hộ giàunhất là 98,3% và 94,9% Mặc dù được coi là bậc học phổ cập giáo dục nhưng tỉ lệnhập học đúng độ tuổi, đặc biệt của THCS ở các hộ gia đình nghèo nhất vẫn còn rấtthấp Sự khác biệt lớn nhất là tỉ lệ nhập học đúng độ tuổi bậc học đại học Trong khinhóm hộ gia đình giàu nhất có tỉ lệ nhập học đại học là 26,3% thì tỉ lệ này ở nhóm hộgia đình nghèo là 0,3% (gấp 86,7 lần) Điều này cho thấy cơ hội tiếp cận giáo dục,đặc biệt giáo dục bậc cao cho người nghèo còn rất thấp
2.2.3 Tác động gánh nặng tài chính đè lên vai người nghèo
Mặc dù trong thời gian qua, Nhà nước đã thực hiện nhiều chương trình, chính sách hỗtrợ cho người nghèo như trợ cấp giáo dục, thực hiện xã hội hóa giáo dục… nhằmgiúp họ có cơ hội được học mặc dù họ không đủ điều kiện vào các trường công; tuynhiên, gánh nặng tài chính của việc đi học thì không giảm (thậm chí tăng so với họcsinh có điều kiện tài chính tốt) với đa số học sinh nghèo khi họ phải tham gia học ởcác trường ngoài công lập, bất chấp một số chính sách giảm học phí đã được nhànước ban bố
Trang 14Bảng 12 Chi giáo dục, đào tạo bình quân 1 người đi học trong năm 2010 theo
Chi cho giáo dục đào tạo của hộ nghèo chỉ bằng 15% của hộ giàu, đây một phần là do
hộ nghèo được hưởng các chính sách ưu đãi trong giáo dục (chính sách miễn giảmhọc phí, v.v…) Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ hộ nghèo hiện nay mới chỉ đáp ứngđược khoảng 50% các chi phí giáo dục của hộ gia đình Do vậy, về cơ bản đầu tư chogiáo dục của hộ nghèo vẫn thấp hơn nhiều so với hộ không nghèo Đầu tư thấp khôngthể có vốn nhân lực cao.Đây là vòng luẩn quẩn đẩy người nghèo rơi vào cảnh nghèotrong xã hội
Việc cho con cái theo học hệ thống trường dân lập-tư thục làm cho chi phí giáo dục,đào tạo của hộ nghèo tăng lên gấp hơn 2 lần so với trường hợp họ cho con cái theohọc hệ thống công lập Nhưng vì nhiều lý do như không có hộ khẩu,… khiến chonhững hộ nghèo buộc phải gửi con cái mình theo học hệ ngoài công lập, dù chi phírất cao
Trường dân lập là những trường có tỷ lệ học sinh thuộc các hộ nghèo cao hơncác trường công lập
Các cơ sở tư thục, dân lập (các hình thức cao của xã hội hóa/tư nhân hóa giáodục) không chú ý đến thực hiện các chính sách hỗ trợ (miễn, giảm học phí,miễn phí xây dựng trường, cấp sách giáo khoa, cấp kinh phí ăn ở ) cho con
em các hộ nghèo có thể tiếp cận đến dịch vụ của họ
Mặc dù XHH giáo dục làm tăng nguồn cung ứng dịch vụ giáo dục cho toàn xãhội, người nghèo vẫn không được hưởng đầy đủ các ưu đãi đi kèm với chínhsách XHH