1. Tính cấp thiết của đề tài Những năm qua, tình hình vi phạm pháp luật ở nước ta xảy ra nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng trong công tác tư¬ pháp nên đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, chất l¬ượng công tác tư pháp nói chung và công tác xét xử nói riêng còn chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, còn bộc lộ nhiều yếu kém, bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân (theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, tuy số
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm qua, tình hình vi phạm pháp luật ở nước ta xảy ra nghiêmtrọng, diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng đến quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các
cơ quan tiến hành tố tụng đã có nhiều cố gắng trong công tác tư pháp nên đã gópphần quan trọng vào việc giữ vững an ninh - chính trị, trật tự, an toàn xã hội Tuynhiên, chất lượng công tác tư pháp nói chung và công tác xét xử nói riêng cònchưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, cònbộc lộ nhiều yếu kém, bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến cácquyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân (theo số liệuthống kê của Tòa án nhân dân tối cao, tuy số lượng án oan có giảm dần, nhưngvẫn còn: năm 2002 toàn bộ ngành Tòa án có 23 trường hợp bị kết tội oan, năm
2003 chỉ còn 7 trường hợp, năm 2004 còn 5 trường hợp), gây nhiều hậu quảđáng tiếc cho người bị kết án oan, người thân và xã hội Có người vì bị kết tộioan nên đang là chủ doanh nghiệp tư nhân mà sau khi bị kết án phải làm thợ mộc
để kiếm sống qua ngày, trường hợp khác đã ở tù một thời gian, bị người thân xalánh, đầy mặc cảm với xã hội, đến khi kẻ phạm tội đích thực nhận tội mới đượctrở về; còn có người vì bị kết án oan nên không biết bao nhiêu năm, thángmiệt mài đưa đơn đi tìm công lý Những điều đó đã tạo nên dư luận xã hộikhông tốt, khiến nhân dân thiếu lòng tin vào tòa án và nền công lý xã hội chủnghĩa
Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ra đời vào ngày 02/01/2002được xem như sự mở đầu cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta Nghịquyết này đề cập nhiều nội dung khác nhau của công tác tư pháp từ hoạt độngđiều tra, truy tố, xét xử cho đến việc đào tạo cán bộ tư pháp, nhưng tăngcường yếu tố tranh tụng trong quá trình xét xử vụ án hình sự được coi là điểmnhấn của cải cách tư pháp và là vấn đề trọng tâm của Nghị quyết Theo đó,
Trang 2việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tạiphiên tòa, phải đảm bảo để bản án, quyết định của Tòa án là hiện thân củacông lý, công bằng xã hội Như vậy, một vấn đề cấp bách được đặt ra đối vớicác cơ quan tư pháp là làm thế nào để đạt được những yêu cầu đó Trong nỗlực chung, thì việc nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của hoạt độngtranh tụng tại phiên tòa là cần thiết.
Đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu và sách chuyên khảo đề cập đến
vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự như: "Tranh tụng trong tố tụng hình sự" của tác giả Nguyễn Đức Mai trong cuốn kỷ yếu: "Những vấn đề lý luận
và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam" - Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 1995; bài "Về tranh tụng tại phiên tòa hình sự" của tác giả Tống Anh Hào trong Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/2003; bài "Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự" đăng trong Tạp chí Kiểm sát, tháng 9/2003 của tác
giả Trần Đại Thắng; bài viết của nhiều tác giả trong Đặc san nghề luật số
5/2003 về chuyên đề mở rộng tranh tụng; cuốn chuyên khảo "Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền" do TSKH
Lê Cảm và TS Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên, có nhiều bài viết của các tácgiả (Nxb Đại học quốc gia, 2004) Nhưng những bài viết đó chỉ đề cập đếnmột số vấn đề nhất định liên quan tranh tụng và còn khá nhiều ý kiến tráingược nhau xung quanh ý tưởng đổi mới hoạt động xét xử của ngành Tòa ánViệt Nam theo hướng tranh tụng
Trước yêu cầu của thực tế, đảm bảo sự dân chủ, bình đẳng trong hoạtđộng tố tụng hình sự tránh bỏ lọt tội phạm làm oan người vô tội; đã thôi thúc
tôi chọn đề tai "¸®ảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án trong luật tố tụng hình sự" làm đề tài của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở lý
luận và thực tiễn, bản chất, nội dung của tranh tụng tại phiên tòa, chỉ ra nhữngbất cập còn tồn tại của việc tranh tụng tại phiên tòa ở nước ta hiện nay, thông
Trang 3qua đó đề xuất những giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả hoạt động tranhtụng tại phiên tòa hướng tới xây dựng một phiên tòa hình sự thực sự côngbằng, dân chủ góp phần thực hiện quá trình cải cách tư pháp.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn được đặt
ra là:
1- Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa như:khái niệm, đặc điểm, điều kiện, yêu cầu của tranh tụng tại phiên tòa; Cơ sởpháp lý quy định về tranh tụng tại phiên tòa; ý nghĩa của tranh tụng tại phiêntòa
2- Sơ lược về lịch sử các qui định của luật tố tụng hình sự Việt Nam vềtranh tụng tại phiên tòa
3- Phân tích, đánh giá thực trạng tranh tụng tại phiên tòa ở Việt Namnhững năm gần đây, qua đó rút ra những mặt tích cực cũng như những tồn tại,hạn chế trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa
4- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và những đánh giá về thực trạng tranhtụng tại phiên tòa luận văn nêu ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt độngtranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự ở nước ta trước yêu cầu cải cách
tư pháp
3 Phạm vi nghiên cứu
Bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa là vấn đề lớn trong hoạt động tốtụng, có nhiều nội dung thể hiện ở các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ ánnên trong phạm vi của một bài tiểu luận văn không thể xem xét và giải quyếthết mọi vấn đề mà chỉ dừng lại nghiên cứu vấn đề đảm bảo quyền bình đẳngtrước tòa trong tòa án hình sự
Với phạm vi nghiên cứu này, đề tài nghiên cứu về tranh tụng tại phiên tòađảm bảo quyền đẳng giữa các bên dưới góc độ lý luận, phân tích những quy địnhcủa pháp luật, và chỉ ra vướng mắc trong hoạt động thực tiễn Từ đó đưa ranhững quan điểm, kiến nghị góp phần nhằm nâng cao chất lượng của hoạtđộng xét xử nói riêng và của các cơ quan tư pháp nói chung
Trang 44 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để hoàn thành đề tài, tôi đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịchsử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phápluật, về cải cách tư pháp
Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thểsau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phươngpháp lịch sử; phương pháp đàm thoại (trao đổi ý kiến với những chuyên giađầu ngành, những người làm công tác thực tiễn lâu năm); phương pháp khảosát thực tiễn tranh tụng tại những phiên tòa hình sự
5 Những điểm mới của bài tiểu luận
Bài tiểu luận có những điểm mới sau:
1- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về tranh tụng tại phiên tòa, góp phần nângcao nhận thức về nội dung, bản chất của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa
2- Luận văn khảo cứu các quy định pháp luật về tranh tụng tại phiêntòa, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định đó khi xét xử và chỉ ra nhữnghạn chế tồn tại trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự, cũng như làm
rõ nguyên nhân và điều kiện của tồn tại đó
3- Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật, về cơ chế tổ chức, về đội ngũcán bộ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự
mà luận văn đưa ra sẽ giúp ích cho các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung vàTòa án nói riêng nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
đề tài bao gồm ba chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Tranh tụng tại phiên tòa va cac giai doan tranh tung
ới tổ chức và hoạt động của các cơ quan Tư pháp nói chung và hoạtđộng tranh tụng tại phiên tòa nói riêng là một trong những yêu cầu cấp thiết,
là một trong những nội dung quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước
Trang 5pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các quan điểm của Đảng ta về cảicách tư pháp được đề cập trong các Văn kiện của Đảng ta trong những nămgần đây Tại Nghị quyết 08/NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị Banchấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về một số nhiệm vụ trọngtâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ: “… Nâng cao chất lượngcông tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật
sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… Việc phán quyếtcủa Tòa án (TA) phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên
cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, củangười bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợiích hợp pháp để đưa ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sứcthuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định… Các cơ quan tư pháp cótrách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng…”
Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) hiện hành về cơ bản đã đáp ứngđược yêu cầu theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW, đó là đã quy định đầy
đủ và cụ thể hơn về trình tự, thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩmhình sự Đây là những cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng tranh tụng tại cácphiên tòa ở nước ta Tranh tụng là một đề tài rất rộng và phức tạp, trong phạm
vi của bài viết này chúng tôi xin trao đổi về một số vấn đề sau:
1 Về phạm vi tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự
Chúng tôi cho rằng trước hết phải xác định phạm vi tranh tụng, tức làxác định quá trình tranh tụng tại phiên tòa được bắt đầu từ thời điểm nào vàkết thúc vào khi nào? Bởi vì, có xác định chính xác phạm vi tranh tụng thìmới có thể xác định đầy đủ và chính xác nội dung hoạt động của kiểm sátviên khi tranh tụng tại phiên tòa Về vấn đề này, hiện nay trong khoa học Tốtụng Hình sự (TTHS) ở nước ta còn có nhận thức khác nhau
Quan điểm thứ nhất: cho rằng tranh tụng tại phiên tòa chỉ bao gồmphần tranh luận tại phiên tòa khi cho rằng tranh luận theo tinh thần Nghị
Trang 6quyết 08/NQ-TW có thể hiểu là* nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa,lấy kết quả tranh luận tại phiên tòa để ra bản án, quyết định1.
Quan điểm thứ hai: cho rằng tranh luận tại phiên tòa gắn liền với phiêntòa và không chỉ bao gồm phần tranh luận mà được thực hiện trong suốt quátrình xét xử, cuộc tranh tụng chỉ thực sự kết thúc khi Tòa tuyên án2 Điều đó
có nghĩa là quá trình tranh tụng tại tòa được bắt* đầu từ thời điểm khai mạcphiên tòa và bao gồm cả phần thủ tục phiên tòa, phần xét hỏi, tranh luận, nghị
án và tuyên án
Quan điểm khác lại cho rằng quá trình tranh tụng tại phiên tòa được bắtđầu từ thời điểm kiểm sát viên đọc cáo trạng và kết thúc sau khi tuyên án, tức
là bao gồm phần xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án3
Chúng tôi cho rằng quan điểm thứ nhất đã quá thu hẹp phạm vi tranhtụng Để có căn cứ tranh luận về vụ án, các chủ thể tham gia tranh tụng phảikiểm tra, xác minh các chứng cứ, tài liệu về vụ án để từ đó lựa chọn đượcnhững chứng cứ hợp pháp, có giá trị chứng minh làm căn cứ cho các lập luậncủa mình khi đề xuất với Hội đồng xét xử về hướng giải quyết các vấn đề về
vụ án Mặt khác, nếu chỉ giới hạn phạm vi tranh* tụng trong phạm vi tranhluận tại phiên tòa thì chưa xác định được quá trình tranh tụng về vụ án giữacác bên sẽ kết thúc ra sao Vì vậy, theo quan điểm của chúng tôi thì tranh luậnchỉ là một thủ tục – một phần độc lập của phiên tòa, trong đó thể hiện tậptrung và rõ nét nhất nội dung tranh tụng Tranh luận có nội hàm hẹp hơn tranhtụng* và chỉ là một bộ phận cấu thành của cả quá trình tranh tụng BLTTHS(từ Điều 217 đến Điều 221) ghi nhận thủ tục tranh luận với tư cách là mộtphần của phiên tòa sơ thẩm, được tiến hành ngay sau phần xét hỏi
Theo quan điểm thứ hai thì phạm vi tranh tụng được mở rộng hơn baogồm cả* phần thủ tục phiên tòa, phần xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án.Chúng tôi cho rằng cách hiểu mở rộng phạm vi tranh tụng này có thể chấpnhận được, vì trong thực tiễn xét xử, phần thủ tục phiên tòa chỉ được coi làgiai đoạn chuẩn bị của quá trình tranh tụng
Trang 7Theo chúng tôi, quan điểm thứ ba cho rằng quá trình tranh tụng tạiphiên tòa bao gồm* phần xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án là chính xác.Bởi vì, chỉ sau khi Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án, thì kết quả tranh tụnggiữa các bên tại phiên tòa về vụ án mới được xác định và khi đó quá trìnhtranh tụng tại phiên tòa mới kết thúc.
Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa chính là quá trình xác định sự thậtkhách quan về vụ án Bản chất này chi phối và định hướng mọi hoạt động vàhành vi tố tụng của các chủ thể tham gia phiên tòa Tại đây, thông qua hoạtđộng thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng nhưthẩm phán, kiểm sát viên cùng với sự tham gia của những người tham gia tốtụng khác như luật sư; của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sựngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng… Hội đồng xét xử
có trách nhiệm xác định sự thật khách quan và ra phán quyết để giải quyết vụ
án Bản chất của tranh tụng được thể hiện ở một số điểm sau đây:
- Tranh tụng tại phiên tòa là một cuộc điều tra công khai do các chủ thể(thẩm phán, kiểm sát viên, người bào chữa,…) cùng tiến hành dưới sự điềukhiển của Hội đồng xét xử (chủ tọa phiên tòa) Tại đây các chứng cứ về vụ ánđược các chủ thể của các bên và Hội đồng xét xử kiểm tra, đánh giá công khaitrên cơ sở các quy định pháp luật
- Hoạt động tranh tụng được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nghiêmngặt, phức tạp về nội dung, thể hiện sự xung đột về lợi ích, về tâm lý giữa cácbên buộc tội và bên gỡ tội và bị hạn chế về mặt không gian và thời gian dopháp luật tố tụng quy định tức là hoạt động này chỉ có thể thực hiện tại phiêntòa và trong thời gian diễn ra phiên tòa
- Mục đích của tranh tụng là xác định sự thật khách quan về vụ ánthông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá công khai chứng cứ và giá trị chứngminh của các chứng cứ về vụ án trên cơ sở các quy định pháp luật làm căn cứcho các nhận định, kết luận hoặc quyết định của Hội đồng xét xử về các vấn
đề cần giải quyết trong vụ án theo quy định tại Điều 63 BLTTHS
Trang 8- Kết quả tranh tụng tại phiên tòa giữa các bên về vụ án do Hội đồngxét xử quyết định khi nghị án và được thể hiện bằng phán quyết (bản án hoặcquyết định) nhân danh Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây làvăn bản pháp lý kết thúc quá trình tranh tụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm giữacác bên về vụ án.
2 Về các giai đoạn của qúa trình tranh tụng và nhiệm vụ của kiểm sátviên trong từng giai đoạn
Từ phân tích trên, căn cứ vào nội dung hoạt động của các chủ thể có thểphân quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự thành 4 giai đoạn sau:
- Giai đoạn chuẩn bị tranh tụng;
- Giai đoạn kiểm tra công khai các chứng cứ về vụ án;
- Giai đoạn tranh luận giữa các bên;
- Giai đoạn đánh giá và công bố kết quả tranh tụng
2.1 Giai đoạn chuẩn bị tranh tụng:
Đây là giai đoạn mở đầu chuẩn bị cho hoạt động tranh tụng Nó đượcbắt đầu từ thời điểm khai mạc phiên tòa của chủ tọa phiên tòa và kết thúctrước khi kiểm sát viên công bố cáo trạng ở giai đoạn này, chủ tọa phiên tòatiến hành các thủ tục cần thiết trước khi tiến hành tranh tụng như: kiểm tra sự
có mặt, vắng mặt (lý do vắng mặt) của những người được triệu tập tham giavào quá trình chứng minh tại phiên tòa Hội đồng xét xử xem xét và quyếtđịnh chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của các bên về hoãnphiên tòa, triệu tập thêm người làm chứng, bổ sung chứng cứ mới…
Theo quy định của Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) vàQuy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các
vụ án hình sự số 121/2004/QC-VKSTC ngày 16/9/2004 (sau đây gọi là Quychế)* thì tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, Kiểm sát viên (KSV) tham gia phiêntòa với trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo phápluật của Hội đồng xét xử (HĐXX), của những người tham gia tố tụng Cụ thểlà,* Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên
Trang 9toà của Hội đồng xét xử (về việc khai mạc phiên tòa, kiểm tra căn cước củanhững người tham gia tố tụng được tòa triệu tập ; giải thích cho họ về quyền
và nghĩa vụ, giải quyết việc hoãn phiên tòa, giải quyết việc đề nghị thay đổithẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư ký tòa án, người giám định, ngườiphiên dịch…), của thư ký Toà án và những người tham gia tố tụng ( về sự cómặt của bị cáo; về sự có mặt của người bào chữa …) từ khi bắt đầu đến khikết thúc phiên toà, nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của những ngườitham gia tố tụng, bảo đảm cho việc xét xử được công minh đúng quy định củapháp luật Kiểm sát viên phải đề nghị hoãn phiên toà trong các trường hợpsau:
- Bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng; người bào chữa bắt buộc vắngmặt; người tham gia tố tụng khác vắng mặt sẽ gây trở ngại cho việc xét xử vụán;
- Thành phần Hội đồng xét xử không đúng với quy định của BLTTHS;
- Bị cáo yêu cầu hoãn phiên toà, nếu việc giao nhận bản cáo trạng vàquyết định đưa vụ án ra xét xử không đúng quy định tại khoản 2 Điều 49 vàkhoản 1 Điều 182 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Trường hợp Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử thì Kiểm sát viên phảitham gia phiên toà và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giảiquyết vụ án Sau phiên toà phải báo cáo ngay với lãnh đạo Viện cấp mình đểbáo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên xem xét quyết định
2.2 Giai đoạn kiểm tra công khai các chứng cứ về vụ án
Đây là giai đoạn đầu của quá trình tranh tụng Giai đoạn này được bắtđầu từ thời điểm kiểm sát viên công bố cáo trạng và kết thúc trước khi kiểmsát viên trình bày lời luận tội Đây là giai đoạn kiểm tra công khai các chứng
cứ về vụ án do Hội đồng xét xử tiến hành với sự tham gia của kiểm sát viên,luật sư bào chữa, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự và những người thamgia tố tụng khác Thông qua việc xét hỏi bị cáo, người bị hại, người làmchứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan…; công bố lời khai của những
Trang 10người vắng mặt tại phiện tòa, công bố các kết luận giám định, các tài liệu cóliên quan và xem xét vật chứng, các thành viên của Hội đồng xét xử, kiểm sátviên, luật sư tiến hành kiểm tra tính hợp pháp và giá trị chứng minh của cácchứng cứ về các tình tiết của vụ án Trên cơ sở đó, HĐXX xác định có tộiphạm xảy ra hay không, có đúng bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tộihay không, động cơ mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, hậu quảcủa tội phạm…để ra các quyết định đúng đắn, phù hợp với diễn biến tại phiêntòa.
Theo quy định tại Điều 17 Luật tổ chức VKSND và* Điều 21 Quy chế
121 thì trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng hoặcquyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và quyết định khác của Viện kiểm sátliên quan đến việc giải quyết vụ án và trình bày ý kiến bổ sung làm rõ thêmnội dung cáo trạng nếu có Bản cáo trạng là văn bản pháp lý, là quyết địnhtruy tố của Viện Kiểm sát (VKS), vì vậy khi đọc cáo trạng, Kiểm sát viên(KSV) phải thật nghiêm túc, trình bày rõ ràng mạch lạc
Một trong* những nhiệm vụ quan trọng của KSV ở giai đoạn này làtham gia xét hỏi Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, trước khi tham gia phiên toàKiểm sát viên phải dự thảo đề cương xét hỏi và những nội dung cần làm sáng
tỏ tại phiên toà để tham gia xét hỏi nhằm xác định sự thật của vụ án và cáctình tiết khác có liên quan đến việc định tội và đề xuất hình phạt.Trong đềcương xét hỏi, KSV đặc biệt chú ý các mâu thuẫn và cách xét hỏi để giảiquyết các mâu thuẫn, và bác bỏ những lời chối tội không có cơ sở; kiểm sátviên không nhất thiết phải dự kiến nội dung bào chữa và chuẩn bị các câu hỏi
để làm sáng tỏ vấn đề mà người bào chữa quan tâm.Tại phiên toà Kiểm sátviên theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung xét hỏi của Hội đồng xét xử, củangười bào chữa và ý kiến trả lời của người được xét hỏi để chủ động tham giaxét hỏi làm sáng tỏ hành vi của bị cáo, xác định sự thật khách quan của vụ án.Khi xét hỏi, Kiểm sát viên phải đặt câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, tránh giải thích,kết luận ngay Khi có người tham gia tố tụng xuất trình tài liệu mới tại phiên
Trang 11toà, Kiểm sát viên cần kiểm tra và xét hỏi về nguồn gốc, nội dung tài liệu đó
để có kết luận chính xác Trường hợp chưa đủ điều kiện kết luận mà tài liệumới đó có thể làm thay đổi nội dung, tính chất vụ án thì Kiểm sát viên đề nghịHội đồng xét xử hoãn phiên toà để xác minh
2.3 Tranh luận giữa các bên
Đây là giai đoạn trung tâm, là đỉnh điểm của quá trình tranh tụng giữacác bên tại phiên tòa Giai đoạn này được bắt đầu từ thời điểm kiểm sát viêntrình bày lời luận tội và kết thúc trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị
án Trên cơ sở những quy định của pháp luật, các chủ thể của bên buộc tội vàbên bào chữa tiến hành đánh giá chính thức công khai giá trị chứng minh củacác chứng cứ về vụ án để đưa ra quan điểm, nhận định, kết luận của mình về
vụ án; các bên thể hiện rõ quan điểm của mình là chấp nhận hay bác bỏ cácchứng cứ, quan điểm hay kết luận của “bên kia” về các vấn đề cụ thể cần giảiquyết trong vụ án Nội dung tranh tụng trọng tâm của các bên được thể hiệntrong lời luận tội của kiểm sát viên, lời bào chữa của luật sư (lời tự bào chữacủa bị cáo), ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bịhại, cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoặc của chính bản thân họ vàlời đối đáp qua lại giữa các bên ở giai đoạn này, HĐXX không trực tiếp thamgia vào quá trình tranh luận* giữa các bên mà nhiệm vụ chủ yếu của HĐXX,
cụ thể là của thẩm phán - chủ toạ phiên tòa là điều khiển quá trình tranh tụng
để hướng sự tranh luận của các bên* tập trung vào việc làm sáng tỏ quanđiểm còn mâu thuẫn với nhau và ghi nhận quan điểm, ý kiến của các bêntranh tụng về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án
Điều 217 BLTTHS, Điều 17 Luật tổ chức VKSND quy định: sau khikết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, KSV trình bày lời luận tội Với tư cách làngười đại diện cho VKS thực hành quyền công tố nhà nước, KSV thể hiệnquan điểm của mình về việc đánh giá hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, hậuquả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bịcáo để đề xuất mức hình phạt cần thiết áp dụng với bị cáo Để luận tội đạt
Trang 12hiệu quả, trước khi tham gia phiên toà Kiểm sát viên phải viết bản dự thảoluận tội theo mẫu hướng dẫn của Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao Đối với vụ
án trọng điểm, phức tạp hoặc xét xử lưu động, bản dự thảo luận tội của Kiểmsát viên phải báo cáo lãnh đạo Viện cho ý kiến Tại phiên toà Kiểm sát viênphải ghi chép những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra và ý kiến của bị cáo,người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người thamgia tố tụng khác để bổ sung và sửa chữa bản dự thảo luận tội Sau khi kết thúcviệc xét hỏi Kiểm sát viên trình bày luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn
bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn Luận tộicủa Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tratại phiên toà, ngoài việc đề xuất việc áp dụng hình phạt chính, KSV phải chú
ý đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo, đề nghị việc xử lý vậtchứng và trách nhiệm bồi thường dân sự nếu có
Nhiệm vụ rất quan trọng của KSV trong giai đoạn này là tranh luận vàđối đáp với người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.Khi tranh luận Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối vớitừng ý kiến có liên quan đến vụ án mà người bào chữa, bị cáo và những ngườitham gia tố tụng khác đã nêu ra KSV phải căn cứ vào kết quả điều tra đượcthể hiện trong hồ sơ và kết quả điều tra công khai tại phiên tòa để lập luận,đối đáp trở lại Khi tranh luận Kiểm sát viên phải bình tĩnh, khách quan và tôntrọng ý kiến của những người tham gia tố tụng Trường hợp chủ toạ phiên toà
đề nghị Kiểm sát viên đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án, của ngườibào chữa và những người tham gia tố tụng khác chưa được tranh luận thìKiểm sát viên thực hiện theo đề nghị của chủ tọa phiên toà Cần chú ý, nếunội dung đề nghị của chủ toạ phiên toà chưa được tranh luận thì Kiểm sát viêntiếp tục tranh luận, nếu đã tranh luận một phần thì Kiểm sát viên tranh luận bổsung cho đầy đủ
2.4 Giai đoạn đánh giá và công bố kết quả tranh tụng
Trang 13Đây là giai đoạn có vai trò quyết định toàn bộ quá trình tranh tụng Giaiđoạn này được bắt đầu từ thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và kết thúc saukhi tuyên án Hội đồng xét xử thực hiện hoạt động này một cách độc lập tạiphòng nghị án, không có sự tham gia của bất cứ ai Tại đây các thành viên củaHội đồng xét xử thảo luận về tính hợp pháp, tính liên quan và tính khách quancủa các chứng cứ đã được kiểm tra xác minh tại phiên tòa; xem xét các yêucầu, đề nghị và quan điểm của các bên về vụ án trên cơ sở các quy định củapháp luật tố tụng và pháp luật nội dung như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự,Luật thương mại… Sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử tiến hành biểu quyếttheo đa số về từng vấn đề cụ thể của vụ án Hội đồng xét xử chấp nhận haykhông chấp nhận quan điểm, yêu cầu, đề nghị của các bên buộc tội, bên bàochữa và quyết định về các vấn đề cụ thể cần giải quyết trong vụ án như về tộidanh, về điều, khoản, điểm của BLHS cần áp dụng cũng như các tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ cần áp dụng với bị cáo; mức hình phạt; mức bồi thường thiệthại… hoặc HĐXX tuyên bố bị cáo không phạm tội Việc đánh giá chính thứckết quả tranh tụng của các bên về vụ án được HĐXX thể hiện bằng phánquyết ở dạng bản án hoặc quyết định.
Bản án hoặc quyết định của HĐXX là văn bản pháp lý ghi nhận kết quảtranh tụng giữa các bên về vụ án ở giai đoạn xét xử sơ thẩm Phán quyết này
là nhân danh Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam, được Thẩmphán chủ tọa phiên tòa tuyên đọc công khai kể cả trong những trường hợp xét
xử kín ở giai đoạn này, KSV phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Khi một thành viên của Hội đồng xét xử đọc bản án, Kiểm sát viênphải chú ý ghi lại những nhận định quan trọng và nội dung quyết định của bản
án sơ thẩm để làm căn cứ kiểm tra biên bản phiên toà, bản án sơ thẩm vàchuẩn bị nội dung kháng nghị, nếu cần thiết;
-Ngay sau khi HĐXX tuyên án, Kiểm sát viên phải kiểm sát việc Hộiđồng xét xử trả tự do cho bị cáo hoặc bắt tạm giam bị cáo theo quy định tạiĐiều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Trang 14.- Sau khi kết thúc phiên toà, Kiểm sát viên phải kiểm tra biên bảnphiên toà, nếu phát hiện biên bản phiên toà ghi không đầy đủ hoặc khôngchính xác thì yêu cầu Hội đồng xét xử ghi những sửa chữa bổ sung vào biênbản phiên toà;
-* Kiểm sát viên phải kiểm tra bản án hoặc quyết định của Toà án nhằmphát hiện những sai sót và vi phạm của Toà án trong việc ra bản án hoặcquyết định, đồng thời phải kiểm sát việc giao bản án, các quyết định của Toà
án và việc gửi hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị theo đúng quy định củacác Điều 229 và 237 Bộ luật Tố tụng Hình sự.;
- Khi phát hiện bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án có vi phạmpháp luật, Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với lãnh đạo Viện kiểm sát cấpmình để kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Từ những nội dung đã nêu và phân tích ở trên có thể khẳng định rằng:1) Các giai đoạn của quá trình tranh tụng có mối liên hệ chặt chẽ vàbiện chứng không thể tách rời Mỗi giai đoạn này tuy có sự khác nhau về tínhchất, mức độ, nội dung và hình thức nhưng kết quả của giai đoạn trước là tiền
đề cho hoạt động của các chủ thể ở giai đoạn tranh tụng tiếp theo
2) Chỉ có phiên tòa sơ thẩm, thì bản chất của tranh tụng mới được thểhiện đầy đủ, tập trung và rõ nét nhất Bởi vì, Tòa án cấp sơ thẩm có nhiệm vụxét xử đối với toàn bộ vụ án nên tại phiên tòa này mới có sự tham gia đầy đủcủa tất cả các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và những người thamgia tố tụng khác (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch,…)
3) Tại phiên tòa sơ thẩm, KSV tham gia phiên tòa với nhiệm vụ thựchành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX và nhữngngười tham gia tố tụng khác Đây là hai nhiệm vụ có mối liên hệ chặt chẽ vàkhông tách rời nhau Tại phiên tòa, KSV thực hiện tốt chức năng thực hànhquyền công tố chính là tạo điều kiện thuận lợi, hiệu quả để kiểm sát việc tuântheo pháp luật và làm tốt việc kiểm sát tuân theo pháp luật tại phiên tòa sẽ
Trang 15đảm bảo cho việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phầngiảm thiểu oan sai và không để lọt tội phạm.
3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của kiểm sát viêntại phiên tòa hình sự
3.1 Sự cần thiết nâng cao chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tạiphiên tòa hình sự
Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa hình sự nói chung vàchất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự nói riêng là mộtđòi hỏi, nhu cầu tất yếu khách quan của công cuộc đổi mới ở nước ta tronggiai đoạn hiện nay Đòi hỏi này xuất phát từ các yếu tố sau đây:
1) Một trong những nội dung cơ bản của công cuộc đổi mới đất nướctrong giai đoạn hiện nay là tiến hành cải cách tổ chức và hoạt động của hệthống các cơ quan Tư pháp Ngành Kiểm sát nhân dân là một trong những bộphận giữ vai trò quan trọng trong hệ thống các cơ quan Tư pháp TrongTTHS, Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp nói chung và trong giaiđoạn xét xử tại phiên tòa nói riêng Vì vậy, Viện kiểm sát chỉ có thể hoànthành tốt chức năng này khi đội ngũ kiểm sát viên làm tốt nhiệm vụ tranh tụngcủa mình tại phiên tòa hình sự
2) Tình hình tội phạm ở nước ta trong những năm gần đây ngày càngdiễn biến phức tạp, thủ đoạn phạm tội cũng ngày càng tinh vi xảo quyệt hơn.Cuộc đấu tranh chống tội phạm đòi hỏi chúng ta một mặt phải xử lý kiênquyết nghiêm minh đối với mọi hành vi phạm tội, nhưng mặt khác, phải bảođảm tôn trọng và bảo vệ ngày càng có hiệu quả hơn các quyền tự do cơ bảncủa công dân, không được bỏ lọt tội phạm đồng thời không được làm oan chongười vô tội Viện kiểm sát là chủ thể thực hiện chức năng công tố là buộc tội
bị cáo trong quá trình xét xử vụ án tại phiên tòa Hoạt động tranh tụng củakiểm sát viên tại phiên tòa có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và kết quảxét xử vụ án
Trang 163) Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đánh dấu một bướcngoặt với sự thay đổi chức năng của Viện kiểm sát Nhân dân, theo đó Việnkiểm sát nhân dân không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo phápluật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội mà chỉ thực hiện chức năngcông tố và chức năng kiểm sát các hoạt động Tư pháp mà phạm vi thực hiệnchức năng công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS;
Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành quy định đầy đủ và cụ thể hơn vềquyền và nghĩa vụ của Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Việnkiểm sát nhân dân các cấp tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các kiểm sát viênthực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong TTHS nói chung và trongtranh tụng tại các phiên tòa nói riêng
4) Kiểm sát là một nghề trong đó hoạt động tranh tụng của kiểm sátviên tại phiên tòa là một nội dung quan trọng trong hoạt động nghề nghiệpcủa kiểm sát viên Chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa trướchết phụ thuộc vào kỹ năng nghề nghiệp – kỹ năng tranh tụng của kiểm sátviên Thực tiễn hoạt động kiểm sát đã chứng minh rằng: kỹ năng tranh tụngcủa kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đượcyêu cầu của công cuộc đổi mới và những bất cập này cần được khắc phục
5) Theo quy định của pháp luật, từ ngày 01/7/2009, tất cả các Tòa ánnhân dân cấp huyện sẽ thực hiện việc xét xử các vụ án có khung hình phạtquy định đến 15 năm tù Như vậy, số lượng án hình sự do Viện kiểm sát cấphuyện thực hành quyền công tố sẽ tăng lên Trong khi đó đội ngũ kiểm sátviên nói chung và kiểm sát viên chuyên trách kiểm sát điều tra xét xử án hình
sự ở Viện kiểm sát cấp huyện chưa được kiện toàn đầy đủ, trình độ lại khôngđồng đều Đây là một khó khăn mà ngành kiểm sát phải nỗ lực phấn đấu đểđáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tranh tụngcủa kiểm sát viên tại phiên tòa cũng là một trong những yêu cầu cấp báchtrong giai đoạn cải cách tư pháp