1.Khái niệm Hành chính so sánh Hành chính so sánh là một bộ phận quan trọng cấu thành nên hành chính học. Trong các lĩnh vực nghiên cứu hành chính, hành chính so sánh có vị trí đặc biệt: hành chính so sánh cung cấp các tri thức mới, những hiểu biết về các nền hành chính khác nhau để làm nền tảng cho sự phát triển của khoa học hành chính. Đó là lĩnh vực đặc biệt nghiên cứu các đặc điểm, môi trường phát triển của các mô hình hành chính và những bộ phận cấu thành của nền hành chính khác nhau nhằm tìm kiếm các quy luật chung và cả những điểm khác biệt giữa chúng.
Trang 1MỞ ĐẦU
“Chúng ta thừa nhận những chân lý tự nhiên rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hoá cho họ những quyền không thể tước đoạt đó là quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc Để đảm bảo những quyền này người ta đã tạo nên một chính phủ với những quyền hạn được trao bởi những người nó cai trị” - Tuyên ngôn độc lập Mỹ – 1776.
Trong dòng chảy của lịch sử nhân loại, nhà nước- như chúng ta đã biết
ra đời từ những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được Vì vậy, nhà nước luôn mang bản chất giai cấp thông trị, sử dụng những công cụ của nó
để ổn định trật tự xã hội Và tuỳ theo bản chất, nhà nước đó phục vụ cho đa
số hay thiểu số mà nó thể hiện tính dân chủ đối với một phận giai cấp hay đông đảo quần chúng nhân dân Riêng đối với nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập ở nước ta vào ngày 02 tháng 09 năm 1945, là kết quả của cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân ta dưới sự tổ chức lãnh đạo của Đảng, nhà nước này do nhân dân lập nên cho nên tính chất của nó được thể hiện rộng rãi - đó là nền dân chủ của tuyệt đại quần chúng lao động - được
thể hiện ngay trong tên gọi của nó đó là Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà- một nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng
Chính vì Đảng là của giai cấp công nhân đồng thời là Đảng của dân tộc, lãnh đạo cả dân tộc cùng với chính phủ của dân tộc đó thực hiện
“những chân lý tự nhiên” cho nên dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, nhất là trong giai đoạn khó khăn của đất nước, vừa kháng chiến bảo vệ, vừa xây dựng đất nước (1945 – 1975) nhà nước ta luôn được xây dựng theo hướng pháp quyền của dân, do dân, vì dân Nhà nước luôn sát cánh, cụ thể hoá đường lối chính sách của Đảng tổ chức, đoàn kết toàn dân tiến hành thành công cuộc kháng chiến chống Pháp, đế quốc Mỹ giành lại độc lập, thống nhất đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Trang 2Ba mươi năm (1945 – 1975) Đảng lãnh đạo nhà nước giành được những thắng lợi ở các mặt như thế nào ? Đó là những thắng lợi gì ? Nhà nước thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng tự xây dựng và hoàn thiện ra sao về pháp luật, tổ chức để phát triển theo hướng pháp quyền của dân, do dân, vì dân ? Và trong điều kiện ngày nay việc cải cách nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân là chủ” thực hiện như thế nào ? Vì những lý do trên tôi chọn đề tài “Đảng lãnh đạo nhà nước trong thời kỳ (1945 – 1975) làm tiểu luận cho học phần môn các chuyên đề Hành chính so sánh
Nghiên cứu về Hành chính nhà nước không phải là một vấn đề mới
mẻ, nhất là trong giai đoạn đầu thành lập rồi xây dựng chính quyền vững mạnh, đánh thắng hai đế quốc lớn (1945 – 1975) Vì vậy, có nhiều công trình trước đó, tiếp xúc ở các khía cạnh khác nhau của vấn đề Do vậy, tác giả chọn đề tài “So sánh Hành chính trong Hiến pháp năm 1946 với năm 1980” làm đề tài kết thúc môn học chính so sánh
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung
Chương 2: So sánh hành chính trong Hiến pháp năm 1946 và hiến pháp năm 1980
Chương 3: Đánh giá chung
Trang 3Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
I Một số khái niệm cơ bản
1 Khái niệm Hành chính so sánh
Hành chính so sánh là một bộ phận quan trọng cấu thành nên hành chính học Trong các lĩnh vực nghiên cứu hành chính, hành chính so sánh
có vị trí đặc biệt: hành chính so sánh cung cấp các tri thức mới, những hiểu biết về các nền hành chính khác nhau để làm nền tảng cho sự phát triển của khoa học hành chính Đó là lĩnh vực đặc biệt nghiên cứu các đặc điểm, môi trường phát triển của các mô hình hành chính và những bộ phận cấu thành của nền hành chính khác nhau nhằm tìm kiếm các quy luật chung và cả những điểm khác biệt giữa chúng
Các nhà nghiên cứu về hành chính đều tương đối thống nhất quan điểm cho rằng hành chính so sánh tập trung vào nghiên cứu sự giống và khác nhau giữa các nền hành chính trên thế giới tuy nhiên, các nghiên cứu
so sánh trong lĩnh vực hành chính còn được áp dụng rộng rãi để so sánh sự giống và khác nhau trong phương thức tổ chức và nguyên tắc hoạt động của bộ máy hành chính trong nội bộ một quốc gia, qua đó tìm ra các quy luật vận động chung cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả lao động của chúng
Việc nghiên cứu các mô hình hành chính khác nhau trên thế giới cho phép rút ra các bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động hành chính nhà nước ở mỗi quốc gia Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng các yếu tố lịch sử, địa lý, văn hoá
có thể ảnh hưởng rất lớn tới cách thức tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính và khiến cho nền hành chính ở các nước khác nhau được tổ chức và hoạt động không giống nhau Tuy nhiên, cũng có những nguyên tắc chung chi phối tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính của mọi quốc gia trên thế giới Nhận xét về vấn đề này, Leonard D White cho rằng,
Trang 4một nguyên tắc hành chính “là hữu ích với tư cách hướng dẫn các hành động trong nền hành chính công của nước Nga thì cũng hữu ích đối với nền hành chính công của Vương quốc Anh, Irắc và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”
Hành chính so sánh đã xuất hiện từ thời cổ đại trong các nghiên cứu
so sánh về nhà nước và chính trị Tuy nhiên, lĩnh vực này mới chỉ được quan tâm và phát triển mạnh mẽ trong nửa đầu của Thế kỷ XX, đặc biệt từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai Ở Mỹ, vào cuối thập kỷ 40 của Thế kỷ
XX, hành chính so sánh đã xuất hiện với tư cách là một môn học trong các chương trình đào tạo hành chính Đến những năm 1950 đã có hàng loạt các hội thảo bàn về hành chính so sánh và năm 1960 Hội Hành chính so sánh thuộc Hiệp hội Hành chính công Hoa Kỳ đã ra đời
Ở Việt Nam, hành chính so sánh là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ Trong tiến trình đổi mới và hội nhập, việc nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các nước để vận dụng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam để
“đi tắt đón đầu”, thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển có ý nghĩa quan trọng Trong bối cảnh hiện nay, khi cải cách hành chính đã và đang được Đảng và Nhà nước ta xác định là trọng tâm của cải cách nhà nước, các nghiên cứu trong lĩnh vực hành chính so sánh giành được sự quan tâm mạnh mẽ và có cơ hội để phát triển Chính phủ đã xác định một trong các bài học của cải cách hành chính là: Cải cách hành chính phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam với đặc điểm, truyền thống, bản sắc Việt Nam; đồng thời tham khảo, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm của các nước về tổ chức và hoạt động quản lý để vận dụng thích hợp
2 Phương pháp so sánh trong nghiên cứu hành chính học
2.1 Phương pháp so sánh trong nghiên cứu khoa học
So sánh là một trong những phương pháp nghiên cứu quan trọng đối với hầu hết các khoa học, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Mục đích của phương pháp so sánh là qua việc nghiên cứu so sánh các trường hợp cụ thể để rút ra nhận thức về các quy luật vận động chung của sự vật
Trang 5và hiện tượng trong tự nhiên và xã hội Nhiều nhà khoa học đã dánh giá so sánh không chỉ là một phương pháp nghiên cứu khoa học mang tính thực nghiệm mà đã từ rất lâu nó được sử dụng như một biện pháp để tìm ra các quy luật và những nét đặc thù riêng của sự vật, hiện tượng
2.2 Sử dụng phương pháp so sánh trong hành chính học
Trong các nghiên cứu về hành chính học, phương pháp so sánh đóng vai trò quan trọng Hành chính so sánh không chỉ chỉ ra những khác biệt giữa các nền hành chính khác nhau ở các quốc gia mà còn góp phần quan trọng chỉ ra những quy luật chung, chi phối tổ chức và hoạt động của các nền hành chính khác nhau trên thế giới, không phụ thuộc vào những đặc điểm riêng có của mỗi quốc gia Trên cơ sở các nghiên cứu so sánh, các quốc gia có thể rút ra các bài học, vận dụng các kinh nghiệm của các quốc gia khác một cách thích hợp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động hành chính ở quốc gia mình
Thêm vào đó, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế ngày càng tăng đặt ra yêu cầu cấp bách phải hội nhập, tương đồng cả về cấu trúc tổ chức, thể chế và hoạt động hành chính của nhà nước nhằm đáp ứng các yêu cầu giải quyết công việc chung, mang tính toàn cầu Các kết quả nghiên cứu hành chính so sánh sẽ góp phần tích cực vào việc hình thành những kết cấu tương đồng ở các nền hành chính khác nhau, phục vụ cho quá trình quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập
Trong khi thừa nhận vai trò quan trọng của nghiên cứu hành chính so sánh, cần phải khẳng định rằng hoạt động của bộ mày hành chính ở mỗi quốc gia chỉ là một bộ phận cấu thành hoạt động của nhà nước và cả hệ thống chính trị của quốc gia đó Do đó, hoạt động hành chính bị chi phối mạnh mẽ bởi định hướng chính trị đang chi phối quốc gia, lịch sử hình thành quốc gia cũng như những đặc điểm phát triển khác của quốc gia đó Các nghiên cứu so sánh về hành chính có mối liên hệ mật thiết với các
Trang 6nghiên cứu so sánh về chính trị và phải được bắt nguồn từ thực tiễn vận hành của cả hệ thống chính trị trong quốc gia
Trang 7PHẦN NỘI DUNG Chương 2
I SO SÁNH HÀNH CHÍNH TRONG HIẾN PHÁP NĂM 1946
VÀ HIẾN PHÁP NĂM 1980
1 Tổ chức Nghị viện nhân dân theo Hiến pháp 1946
Cơ quan lập pháp được gọi là Nghị viện nhân dân Nghị viện nhân dân theo Hiến pháp 1946 có vị trí pháp lý là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được bầu 3 năm một lần theo chế độ phổ thông đầu phiếu, thực tiếp và bỏ phiếu kín Số lượng các nghị viên được xác định theo số lượng dân cư: cứ 5.000 dân được bầu một nghị viện đại diện Vì là cơ quan không hoạt động thường xuyên nên Nghị viện nhân dân thành lập một Ban Thường vụ gồm một Nghị trưởng, hai Phó Nghị trưởng, 12 ủy viên chính thức và 03 ủy viên dự khuyết
Bên cạnh quyền lập pháp, với tư cách là cơ quan có quyền cao nhất, Nghị viện nhân dân còn “giải quyêt mọi vấn đề chung cho toàn quốc,…, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà chính phủ ký với nước ngoài” (Điều 23) Trong trường hợp Nghị viện nhân dân không họp được,
“Ban Thường vụ cùng với chính phủ có quyền quyết định tuyên chiến hay đình chiến” (Điều 38) Trong Hiến pháp năm 1946 cũng xác định quyền tham gia trưng cầu dân ý của công dân khi khẳng định Những việc quan hệ
đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phán quyết, nếu hai phần ba số
nghị viên đồng ý” (Điều 32)
2 Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo Hiến pháp 1946
2.1 Tổ chức bộ máy hành chính trung ương
Theo Hiến pháp 1946, tổ chức hành chính nhà nước ở Việt Nam có hình thức tương đối giống với mô hình hành pháp lưỡng nghi với quyền hành pháp được phân chia chủ yếu giữa hai vị trí quyền lực là Chủ tịch nước và Thủ tướng-người đứng đầu Nội các
Trang 8Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất được xác định là Chính phủ, bao gồm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch và Nội các Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng và có thể có Phó Thủ tướng Như vậy, các thành viên của Nội các có thể đồng thời là thành viên nghị viện, có thể không nhưng tất cả các vị trí chủ chốt trong Nội các đều do các thành viên của Nghị viện nắm giữ Nhân viên Ban Thường vụ Nghị viện không được tham
dự vào Chính phủ
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nguyên thủ quốc gia, được lựa chọn trong số các thành viên của Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận Chủ tịch nước Việt Nam được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại (Điều 45)
Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng trong số các thành viên Nghị viện và đưa ra Nghị viện biều quyết Nếu được Nghị viện tín nhiệm, Thủ tướng chọn các Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách Thứ trưởng có thể chọn ngoài Nghị viện và do Thủ tướng đề cử ra Nghị viện duyệt y Theo quy định trong Hiến pháp 1946, các Bộ trưởng sẽ phải từ chức và Nội các phải giải tán khi không còn được Nghị viện tín nhiệm (Điều 54)
Với vị trí pháp lý là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc (Điều 43), Chính phủ là cơ quan hành pháp trung ương quan trọng Quyền hạn của Chính phủ được thể hiện qua các mặt sau (Điều 52):
- Thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện
- Đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện
- Đề nghị những dự án luật ra trước Ban Thường vụ, trong lúc Nghị viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt
- Bãi bỏ những mệnh lệnh và nghị quyết của cơ quan cấp dưới, nếu cần
- Bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chính hoặc chuyên môn
Trang 9- Thi hành luật động viên và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn đất nước
- Lập dự án ngân sách hàng năm
2.2 Tổ chức bộ máy chính quyền địa phương
Về bộ máy chính quyền địa phương, Hiến pháp 1946 quy định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có 4 cấp chính quyền địa phương gồm cấp bộ (3 bộ là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ, tương đương với “kỳ” trước đây), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã (Điều 57) Trừ ở bộ và huyện, mỗi đơn vị hành chính ở các cấp còn lại đều được tổ chức một Hôi đồng nhân dân và một Ủy ban hành chính Hội đồng nhân dân được hình thành qua việc bầu
cử chính quyền địa phương theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín (Điều 58), còn Ủy ban hành chính do Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, thị xã hay xã bầu ra và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà cước cấp trên
Khác ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã, ở bộ và huyện chỉ có Ủy ban hành chính (Ủy ban hành chính bộ do Hội đồng các tỉnh và thành phố và
Ủy ban hành chính huyện do Hội đồng các xã bầu ra) Cấp huyện là cấp trung gian đặc biệt nằm giữa tỉnh và xã Trước đây, theo Hiến pháp 1946, cấp huyện không được thừa nhận là một cấp chính quyền hoàn chỉnh nên không tổ chức HĐND mà chỉ tổ chức Ủy ban hành chính Sau đó, trong những năm 70 và 80, do quan niệm cấp huyện là cấp chính quyền hoàn chỉnh nên Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều quy định mở rộng thẩm quyền cho cấp huyện Hiện nay, cấp huyện vẫn là cấp trung gian giữa tỉnh
và xã, có nhiệm vụ đôn đốc, chỉ đạo và kiểm tra cấp xã trong việc thực hiện Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Hình thức tổ chức chính quyền địa phương này tương tự như hình thức tổ chức chính quyền không tổ chức Hội đồng nhân dân ở quận, huyện và xã mà chúng ta đang tiến hành thí điểm tại 10 tỉnh, thành phố theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X)
Trang 10Hội đồng nhân dân quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình Những nghị quyết ấy không được trái với chỉ thị của các cấp trên
Ủy ban hành chính ở các cấp với tư cách là cơ quan hành chính ở địa phương có trách nhiệm:
- Thi hành các mệnh lệnh của cấp trên
- Thi hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân địa phương mình sau khi được cấp trên chuẩn y
- Chỉ huy công việc hành chính trong địa phương
3 Tổ chức bộ máy tư pháp theo Hiến pháp 1946
Bộ máy tư pháp theo Hiến pháp năm 1946 được tổ chức 3 cấp, bao gồm: Tòa án tối cao, các Tòa án phúc thẩm và các Tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp Ngay từ những ngày đầu tiên xây dựng chính quyền mới, hệ thống Tòa
án đã được thiết kế theo hướng nhằm bảo đảm tính khách quan trong xét
xử Theo quy định, trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp (Điều 69)
II HÀNH CHÍNH TRONG HIẾN PHÁPNĂM 1980
1 Sự ra đời của Hiến pháp 1980
Chiến thắng tháng 4 năm 1975 đã đập tan bộ máy chính quyền tay sai của Đế quốc Mỹ ở miền Nam, thống nhất đất nước về một mối Nhiệm
vụ đặt ra cho giai đoạn mới là đưa cả nước đi lên CNXH
Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 14 đến 20 tháng 12 năm
1976 là bước ngoặt quan trọng trong hoạt động xây dựng chính quyền nhà nước ở nước ta Đại hôi đã khẳng định sự tất yếu và tầm quan trọng của việc đưa cả nước đi lên CNXH Đường lối chung của cách mạng XHCN và đường lối xây dựng kinh tế XHCN ở nước ta trong giai đoạn này đã được Đại hội đề ra trên cơ sở kinh nghiệm của công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc (từ 1954 đến 1975) và đặc điểm của tình hình đất nước trong giai đoạn mới