1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao học Đảng bộ tỉnh bến tre lãnh đạo công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay

28 620 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 175,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay đã thu được những thành tựu rất đáng khích lệ. Một trong những nguyên nhân cơ bản của những thắng lợi đó là do Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những chính sách đối nội và đối ngoại đúng đắn. Kế tục tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và truyền thống đối ngoại của dân tộc, ngoại giao của Việt Nam trong 25 năm đổi mới đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, tiếp tục “được mùa” trong những năm đầu của thế kỉ XXI, đóng góp quan trọng vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng nước ta.

Trang 1

Đề tài :

ĐẢNG BỘ TỈNH BẾN TRE LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Hà Nội., Tháng 10 năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI 2

1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại 21.2 Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại trong 25 năm đổi mới 31.3 Nội dung Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay 61.4 Nguyên tắc Đảng lãnh công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay 81.5 Phương thức Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay 9

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH BẾN TRE LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI CỦA TỈNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 12

2.1 Khái quát về Bến Tre 122.2 Thực trạng Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo công tác đối ngoại

trong giai đoạn hiện nay 13

2.3 Một số hạn chế và nguyên nhân của sự hạn chế trong công tác đối ngoại tỉnh Bến Tre trong thời gian qua 20

2.4 Một số giải pháp nhằn tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ

tỉnh Bến Tre đối với công tác đối ngoại của tỉnh 22

KẾT LUẬN 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 3

MỞ ĐẦU

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởixướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay đã thu được những thành tựu rất đángkhích lệ Một trong những nguyên nhân cơ bản của những thắng lợi đó là do ĐảngCộng sản Việt Nam đã có những chính sách đối nội và đối ngoại đúng đắn Kế tục

tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và truyền thống đối ngoại của dântộc, ngoại giao của Việt Nam trong 25 năm đổi mới đã vượt qua nhiều khó khăn,thử thách, tiếp tục “được mùa” trong những năm đầu của thế kỉ XXI, đóng gópquan trọng vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng nước ta

Trong tình hình hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện chínhsách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với các nước trên thế giới, trungthành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hộichủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các lực lượng tiến bộ đấutranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Đồng thời phát triểnquan hệ với các nước lớn, các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới

Trên cơ sở những định hướng về đối ngoại của Trung ương và thực tế tìnhhình địa phương Đại hội Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ IX (2010) đã đề ra đường

lối đối ngoại trong giai đoạn hiện nay là “Tăng cường công tác đối ngoại, hợp tác

giao lưu văn hóa, du lịch với các tổ chức quốc tế và một số vùng, địa phương nước ngoài tạo môi trường thuận lợi phát triển kinh tế, du lịch, giao lưu văn hóa…”.1

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì công tác đối ngoại củaViệt Nam nói chung và của tỉnh Bến Tre nói riêng vẫn còn một số tồn tại cần đượckhắc phục Để công công cuộc đổi mới đất nước ta tiếp tục đạt được những thànhtựu và nâng cao vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế thì công tác đối ngoại là

một trong những ngành phải đi đầu chính vì vậy tôi đã chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh

Bến Tre lãnh đạo công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài tiểu

luận của mình

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lẫn thứ XI

Nxb Chính trị quốc gia, HN 2011, Tr 235.

Trang 4

NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẢNG

LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI

1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại

Hòa bình, hợp tác và phát triển luôn là nội dung xuyên suốt của ngoại giaoViệt Nam Hòa bình, độc lập tự chủ để phát triển và phát triển nhằm bảo vệ hòabình, độc lập tự chủ là khát khao cháy bỏng và là mục tiêu của sự nghiệp đấu tranhanh dũng của dân tộc Việt Nam với sự hy sinh xương máu của biết bao thế hệngười Việt Dưới thời đại Hồ Chí Minh, Người đã phát triển đường lối đối ngoại vìhòa bình, hợp tác và phát triển lên tầm cao mới

Hồ Chí Minh đã khẳng định đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm bạn với tất cảcác nước dân chủ Một phần quan trọng trong đường lối đối ngoại của Hồ ChíMinh là hợp tác với các nước láng giềng ở châu Á Đặc biệt, Người hết sức chútrọng đến quan hệ với các nước láng giềng có chung đường biên giới như TrungQuốc, Lào và Campuchia

Bằng trí tuệ ưu việt và tài năng ngoại giao xuất chúng, Hồ Chí Minh đã viếtnên một chương mới đặc sắc cho lịch sử bang giao giữa hai nước láng giềng mà ở

giai đoạn này được Người khái quát một cách chính xác “vừa là đồng chí, vừa là

anh em” Với Lào và Campuchia, Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện chính sách

dân tộc tự quyết và tăng cường đoàn kết giữa ba nước Đông Dương nhằm đấutranh chống kẻ thù chung Nước Việt Nam độc lập do Người làm Chủ tịch khẳng

định: “đặc biệt đối với nhân dân bạn Khmer và Lào, nước Việt Nam đặt mối quan

hệ dựa trên nguyên tắc dân tộc tự quyết” Trong ứng xử với các nước lớn, Người

luôn dựa trên cơ sở các nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ, tranh thủ hợp tác quốc

tế, vừa hợp tác, vừa đấu tranh và bảo đảm lợi ích chính đáng của dân tộc

Trang 5

Trong hoạt động ngoại giao, Hồ Chủ tịch căn dặn: “Người ta cương thì

mình phải nhu, phải khôn khéo lấy nhu thắng cương thì mới là biết mình biết người” và “phải hiểu cả hai bên mới có thể làm tròn nhiệm vụ”.

Đường lối đối ngoại vì hòa bình, hợp tác và phát triển giữa các dân tộc của

Hồ Chí Minh có sức sống vượt thời gian Trên con đường phát triển của mình,Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục đường lối đối ngoại Hồ Chí Minh

vì hòa bình, hợp tác và phát triển bởi lẽ đường lối ấy có lợi cho Việt Nam, có lợicho các dân tộc ở khu vực và trên thế giới

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại tiếp tục là kim chỉ nam dẫn đường chocách mạng Việt Nam nói chung và sự nghiệp đối ngoại của Việt Nam nói riêng.Trong mỗi bước tiến của dân tộc, những người chiến sĩ trên mặt trận đối ngoại lạitìm được những triết lý và chỉ dẫn quý báu từ Tư tưởng Hồ Chí Minh và càng nhậnthức sâu sắc hơn kho tư tưởng đó, để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ đối ngoại đượcĐảng, Bác Hồ và Nhà nước giao phó

1.2 Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại trong 25 năm đổi mới

Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc, do chủ quan, nóngvội, duy ý chí và sự yếu kém của mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp,đất nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng Đời sống nhân dân hếtsức khó khăn, trong khi đất nước rơi vào tình thế bị bao vây, cấm vận nặng nề.Trên cơ sở phân tích một cách khoa học tình hình thế giới với thái độ nhìn thẳngvào sự thật, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã phân tích một cách kháchquan những sai lầm, khuyết điểm và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng và đi đếnquyết định lịch sử là tiến hành đổi mới đất nước một cách toàn diện, trước hết là

đổi mới về kinh tế Về đối ngoại, Đại hội VI nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu là "

tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc" và " cần hoà bình để phát triển kinh tế" 1 Nghị quyết của Đại hội

VI và các nghị quyết của Trung ương đã chuyển hướng chính sách ngoại giao.Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở theo đường lối đổi mới của Đảng, nhiệm vụ

hàng đầu của ngoại giao lúc này là phải phá cho được "tảng băng" bao vây, cấm vận

1 Nguyễn Trọng phúc Các Đại hội Đại biểu toàn quốc từ 1930 – 2006 Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Tr.111.

Trang 6

Đại hội VI, Đảng ta đã chính thức tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng đàm phánvới Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thườnghoá quan hệ giữa hai nước Đến năm 1991 hai nước đã bình thường hóa quan hệvới nhau Quan hệ giữa hai Đảng cũng đã được phục hồi trên nguyên tắc tôn trọngđộc lập, tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và không can thiệp vàocông việc nội bộ của nhau.

Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (khóa VI) tháng 5-1988 là mốc khởi đầucủa quá trình đổi mới tư duy, nhận thức và đường lối đối ngoại của Đảng ta Nghịquyết nhận định rằng, tình trạng kinh tế yếu kém, tình thế bị bao vây về kinh tế và

cô lập về chính trị sẽ thành nguy cơ lớn đối với an ninh và độc lập dân tộc Hộinghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), Hội nghị Trung ương 7 (tháng 8-1989) và Hội

nghị Trung ương 8 (tháng 3-1990) của khóa VI với "các nguyên tắc cơ bản cần

được quán triệt trong quá trình đổi mới" và các nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách

về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay", "Tình hình các nước xã hội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta" đã tập trung đánh giá tình hình thế giới liên quan đến những biến

động xảy ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, đề ra các quyếtsách đối phó với những tác động phức tạp từ diễn biến của tình hình thế giới đốivới nước ta và công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Trên tinh thần đó, trong "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội" và "Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm2000" tiếp tục khẳng định mục tiêu chiến lược nhất quán là "tiếp tục sự nghiệp đổimới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội"

Thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, ngoại giao Việt Nam đã tỏ ra năngđộng và sáng tạo hơn, đẩy mạnh các hoạt động nhằm góp phần vào việc phá vỡ thếbao vây cô lập Kết quả là ngày 3-2-1994 Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận kinh tế đối vớiViệt Nam và ngày 11-7-1995 Tổng thống B.Clintơn tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn lệnhcấm vận, chính thức đặt dấu mốc bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt

Trang 7

Nam Việc bình thường hoá quan hệ với Mỹ đã giúp ta khai thông quan hệ vớiLiên minh châu Âu(EU), Nhật Bản, Hàn Quốc, gia nhập Tổ chức Hợp tác kinh tếchâu Á - Thái Bình Dương(APEC) và các tổ chức quốc tế khác Quan hệ giữa tavới các nước bạn bè cũ ở Đông Âu được xác định lại trên cơ sở mới Ngày 28-7-

1995, chúng ta đã gia nhập ASEAN, ta đã nhanh chóng tham gia Hiệp địnhThương mại tự do ASEAN (AFTA)

Hội nghị Trung ương 3, khóa VII (tháng 6-1992) đã ra Nghị quyết chuyên

đề về công tác đối ngoại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII(tháng 1-1994) và Đại hộiVIII (tháng 6-1996) của Đảng ta đã chính thức khẳngđịnh đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa

quan hệ với tinh thần "Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng

thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".

Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) khẳng định Đảng và Nhà nước ta tiếptục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại đó với một tinh thần mạnh mẽ hơn và

một tâm thế chủ động hơn bằng tuyên bố "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy

của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" 1

Đại hội X của Đảng (tháng 4-2006) đã khẳng định: "Thực hiện nhất quán

đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực" 2

Tính đến năm 2010, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 179 nước trênthế giới Lần đầu tiên trong lịch sử, ta có quan hệ bình thường và đầy đủ với tất cảcác nước lớn G-8, trong đó nhiều nước đã trở thành đối tác chiến lược của ta Đồngthời, ta trở thành thành viên tích cực của Liên hợp quốc, Phong trào Không liênkết, ASEAN, APEC, Cộng đồng Pháp ngữ v.v Mặt khác, cơ quan đại diện của ta

ở nước ngoài cũng tăng lên (91 cơ quan) với 65 đại sứ quán, 20 tổng lãnh sự quán,

4 phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế, 1 văn phòng kinh tế văn hoá

1, 2 Nguyễn Trọng Phúc Các Đại hội Đại biểu toàn quốc Nxb Chính trị quốc

gia Hà Nội, 2007 Tr 629, 714.

Trang 8

kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả

của hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa " và

"Việt Nam là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới".

Sau hơn 11 năm chuẩn bị và đàm phán, tháng 11-2006 Việt Nam được kết nạp làmthành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Hiện nay ta có quan

hệ đầu tư với khoảng 70 quốc gia và vùng lãnh thổ Các chuyến thăm nước ngoàicủa lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta với nội dung kinh tế phong phú đã tạo nhữngbước đột phá lớn trong việc thiết lập khuôn khổ hợp tác kinh tế, đưa quan hệ giữanước ta với các đối tác lên tầm cao mới; đồng thời làm cho thế giới có những đánhgiá tích cực về triển vọng phát triển của kinh tế Việt Nam

Như vậy, nhờ sự điều chỉnh đúng đắn đường lối đối ngoại, trên cơ sở nhận

thức sâu sắc những biến chuyển của thời cuộc, chúng ta đã đạt được thành tựubước đầu quan trọng là phá bỏ sự bao vây cấm vận, gỡ bỏ những trở ngại trongquan hệ quốc tế và khu vực, khơi thông dòng chảy hội nhập, bước vào trường quốc

tế với một tư cách, vị thế và hình ảnh mới, tạo đà cho bước phát triển tiếp theo củangoại giao Việt Nam trong 25 năm đổi mới

1.3 Nội dung Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay

Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ XI diễn ra khi đất nước ta bước vào thậpniên thứ hai của thế kỷ 21 Ðại hội Ðảng đã thông qua ba văn kiện quan trọng:Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và Báocáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X tại Ðại hội đại biểutoàn quốc lần thứ XI của Ðảng

Ba văn kiện quan trọng này đã nêu nội dung cơ bản chỉ đạo cả lâu dài, trunghạn và ngắn hạn về đường lối đối ngoại, tạo thành một thể thống nhất Chiến lược

cụ thể hóa đường lối đối ngoại nhằm phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xãhội giai đoạn 2011 - 2020

Trang 9

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác

và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhậpquốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốctế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh

Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệquốc tế vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực,giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác độngtiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế

Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơchế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến

Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi íchquốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chươngLiên hợp quốc Thực hiện tốt công việc tại các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc

Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việcđối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là tình trạng biến đổikhí hậu; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liênquan về vấn đề dân chủ, nhân quyền; chủ động, kiên quyết đấu tranh, làm thất bạimọi âm mưu, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam

Thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, việc xácđịnh ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở nhữngnguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực; làm tốtcông tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp táccùng phát triển

Củng cố, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nướcláng giềng có chung biên giới Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng cácnước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, tăng cường quan hệ với các đối

Trang 10

tác, tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong các khuôn khổ hợp tác ở khu vực châu Á Thái Bình Dương.

-Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các đảngcầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độclập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; mở rộng tham gia các cơchế, diễn đàn đa phương ở khu vực và thế giới Coi trọng và nâng cao hiệu quả củacông tác ngoại giao nhân dân

Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu về đốingoại; chăm lo đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại; thườngxuyên bồi dưỡng kiến thức đối ngoại cho cán bộ chủ chốt các cấp

Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhànước đối với các hoạt động đối ngoại Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại củaĐảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị vớingoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh

1.4 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại trong giai đoạn hiện nay

Về nguyên tắc của Đảng lãnh đạo đối ngoại, văn kiện Ðại hội XI nêu: " Vì lợi ích quốc gia, dân tộc” Cùng với lợi ích quốc gia, dân tộc, Ðại hội XI cũng đặt

nguyên tắc đối ngoại là " vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh" Hai

mục tiêu này thống nhất với nhau Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là cơ sở cơbản để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Xây dựng một nước ViệtNam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh là phù hợp lợi ích quốc gia dân tộc và là điềukiện cần để thực hiện các lợi ích đó

Lần đầu tiên, nguyên tắc đối ngoại "vì lợi ích quốc gia, dân tộc" được nêu rõtrong phần đối ngoại của Cương lĩnh và Báo cáo Chính trị tại Ðại hội Ðảng Nóinhư vậy không có nghĩa Ðảng ta chưa từng xác định mục tiêu đối ngoại là vì lợiích quốc gia, dân tộc Từ khi Ðảng ra đời, lợi ích quốc gia, dân tộc luôn luôn làmục tiêu phấn đấu của Ðảng ta Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI đã khẳng

định "lợi ích cao nhất của Ðảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa

Trang 11

bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế" Nghị quyết Trung ương 8,

khóa IX nhấn mạnh "bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc" là một trong những nguyên tắc

then chốt của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tuy nhiên, việc nêu rõ lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu đối ngoại trong

văn kiện Ðại hội XI của Ðảng có ý nghĩa rất quan trọng, khẳng định rõ hơn địnhhướng: Ðảng ta hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại trên cơ sở lợi íchquốc gia, dân tộc, từ đó tái khẳng định sự thống nhất và hòa quyện giữa lợi ích củagiai cấp và lợi ích của dân tộc Khẳng định lợi ích quốc gia, dân tộc là nguyên tắcĐảng lãnh đạo đối ngoại cũng có nghĩa là Ðại hội đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lànguyên tắc cao nhất của các hoạt động đối ngoại Nói cách khác, bảo đảm lợi íchquốc gia, dân tộc là nguyên tắc mà tất cả các hoạt động đối ngoại, từ ngoại giaoNhà nước, đối ngoại Ðảng đến ngoại giao nhân dân, đều phải tuân thủ

1.5 Phương thức Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại trong giai đoạn hiện nay

Về phương thức của đường lối đối ngoại, các văn kiện của Ðại hộikhẳng định: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòabình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động

và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có tráchnhiệm trong cộng đồng quốc tế Ðiểm mới trong phương thức đối ngoại của

Ðại hội XI là "hội nhập quốc tế" và "thành viên có trách nhiệm".

Về hội nhập quốc tế, Ðại hội XI chuyển từ chủ trương "Chủ động và

tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác" được thông qua tại Ðại hội X sang "chủ động và tích cực hội nhập quốc tế" Với chủ trương này, hội nhập quốc tế không còn bó hẹp

trong lĩnh vực kinh tế mà mở rộng ra tất cả các lĩnh vực khác, kể cả chínhtrị, quốc phòng, an ninh và văn hóa - xã hội

Hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực mang đến cho chúng ta nhiều

cơ hội, nhất là khả năng tranh thủ hiệu quả hơn các nguồn lực bên ngoài.Cùng với hội nhập kinh tế, hội nhập trong các lĩnh vực khác sẽ tạo cơ hội

Trang 12

lớn hơn trong tiếp cận tới tri thức tiên tiến của nhân loại, gia tăng mức độđan xen lợi ích, từng bước làm cho đất nước trở thành bộ phận hữu cơ củakhu vực và thế giới, chiếm vị trí ngày càng cao trong nền kinh tế, chính trị

và văn hóa toàn cầu Hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực cũng tạo cho chúng

ta khả năng tận dụng được sự tác động qua lại, bổ sung lẫn nhau giữa hộinhập trong từng lĩnh vực Tuy nhiên, từ hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộnghợp tác trong các lĩnh vực khác chuyển sang hội nhập quốc tế trên tất cả cáclĩnh vực đặt ra cho chúng ta một số thách thức mới Tác động tiêu cực từ cácdiễn biến bên ngoài sẽ gia tăng Những bất ổn không chỉ về kinh tế mà cả về

an ninh, chính trị, xã hội từ bên ngoài sẽ nhanh chóng tác động tới nước ta;các loại tội phạm xuyên biên giới như: Buôn bán ma túy, rửa tiền, thâmnhập tiền giả, tài liệu phản động, văn hóa phẩm không lành mạnh và cácthách thức an ninh phi truyền thống khác có thể gây tác hại đến mọi mặt của

an ninh quốc gia, từ an ninh kinh tế đến an ninh chính trị xã hội Phạm vi vàtốc độ lây lan của các cú sốc từ bên ngoài cũng gia tăng Ðồng thời, yêu cầu

bổ sung và hoàn thiện thể chế; cải cách và hiện đại hóa nền hành chính quốcgia, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, v.v sẽngày càng lớn

Theo đó, để giảm các tác động tiêu cực và khai thác tối đa các cơ hội

từ hội nhập quốc tế, nội hàm và lộ trình của hội nhập trong các lĩnh vựcchính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa - xã hội cần phải được xác địnhphù hợp với thế, lực của đất nước và bối cảnh tình hình đất nước sao cho hộinhập quốc tế phục vụ hiệu quả nhất mục tiêu phát triển, bảo vệ Tổ quốc Xãhội chủ nghĩa và vị thế quốc gia

Từ đường lối đối ngoại trên cơ sở tuyên bố "muốn là bạn" (Ðại hội Ðảng lần thứ VII, lần thứ VIII), "là bạn, là đối tác tin cậy" (Ðại hội Ðảng lần

thứ IX), Ðại hội Ðảng lần thứ XI hoàn chỉnh và bổ sung thêm cụm từ là

"thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế" Nội hàm này thể hiện

bước trưởng thành của ngoại giao Việt Nam với sự tham gia ngày càng tích

Trang 13

cực, chủ động, có trách nhiệm của nước ta tại các cơ chế tổ chức, diễn đànkhu vực, đa phương và toàn cầu (ngoại giao đa phương), góp phần củng cố,nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, bổ sung, hỗ trợ hiệu quảcho ngoại giao song phương Nội hàm mới này là một trong những cơ sở đểxác định một trong những ưu tiên đối ngoại trong thời gian tới là "xây dựngCộng đồng ASEAN vững mạnh" Tuy vậy, trách nhiệm bao gồm những gì vàthực hiện trách nhiệm như thế nào luôn luôn cần được tính toán kỹ trên cơ

sở lợi ích quốc gia dân tộc, năng lực thực hiện của ta trong từng vấn đề,từng giai đoạn Trách nhiệm cần được xác định theo các cấp độ: Tráchnhiệm đối với dân tộc của mình; trách nhiệm đối với khu vực của mình;trách nhiệm đối với những vấn đề chung của nhân loại

Trang 14

Chương 2

ĐẢNG BỘ TỈNH BẾN TRE LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI

CỦA TỈNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 Khái quát về Bến Tre

Tỉnh Bến Tre là một trong 13 tỉnh nằm trong khu vực Đồng bằng sông CửuLong, có diện tích tự nhiên là: 2.315 km2, được hình thành bởi các cù lao An Hoá,

cù lao Bảo, cù lao Minh và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ mà thành(gồm sông Tiền dài 83 km, sông Ba Lai 59 km, sông Hàm Luông 71 km, sông CổChiên 82 km)

Địa hình của Bến Tre bằng phẳng, Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía namgiáp tỉnh Trà Vinh, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía đông giáp biển Đông, vớichiều dài bờ biển là 65 km Những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửasông chính (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên), ngược về phíathượng nguồn đến tận Campuchia; Từ Bến Tre, tàu bè có thể đến thành phố HồChí Minh và các tỉnh miền Tây Ngược lại, tàu bè từ thành phố Hồ Chí Minh vềcác tỉnh miền Tây đều phải qua Bến Tre Song song với giao thông thủy, ở BếnTre, hệ thống giao thông đường bộ cũng có một vị trí rất đặc biệt Từ thành phốBến Tre đi thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận trong vùng rất thuận lợi

Đầu năm 2009 Cầu Rạch Miễu, và đầu năm 2010 cầu Hàm Luông công trìnhthế kỷ và là niềm mong ước của bao thế hệ người dân Bến Tre đã được khánhthành nối hai bờ sông Tiền, giúp Bến Tre thoát khỏi thế cô lập về giao thông, rútngắn khoảng cách giữa Bến Tre với các tỉnh có nền kinh tế phát triển trong khuvực và Thành phố Hồ Chí Minh Trong tương lai khi cầu Hàm Luông nối liền cùlao Bảo, cù lao Minh sẽ cùng với hệ thống cầu đường nội tỉnh, ba dải cù lao AnHoá - Bảo - Minh thông thương là điều kiện giúp cho những tiềm năng kinh tế -văn hoá - xã hội của Bến Tre được khơi dậy và phát triển mạnh mẽ

Ngày đăng: 30/03/2016, 23:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w