1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn khối 2 trường tiểu học xã phan

29 462 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 234,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài đưa ra giải pháp mới: - Nắm vững mục tiêu, yêu cầu, nội dung của từng dạng bài, từng tiết, giúp họcsinh hình thành các kỹ năng giải toán có lời văn.. giáo dục học sinh, đồng thời

Trang 1

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI

- Tên đề tài: Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn khối 2 trường Tiểu học Xã Phan

- Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Thiện Trở và Nguyễn Thị Ngọc Xuân

- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Xã Phan

1 Lý do chọn đề tài:

- Xuất phát từ tình hình thực tế của học sinh khối 2, đa số các em chưa hiểu tầmquan trọng các kỹ năng giải toán có lời văn Khả năng phân tích, xác định bài toán cólời văn của các em còn hạn chế Bên cạnh đó giáo viên chưa có giải pháp, biện phápphù hợp để hướng dẫn học sinh rèn các kỹ năng giải toán đúng Học sinh biết giải toán

có lời văn một cách thành thạo là một trong những điều cần thiết để đánh giá trình độcủa học sinh

- Là giáo viên và cán bộ quản lý chúng tôi muốn góp một phần kinh nghiệmcủa mình nâng cao chất lượng dạy và học, đồng thời nâng cao năng lực sư phạm cho

bản thân, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải

toán có lời văn khối 2 trường Tiểu học Xã Phan”.

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

- Đối tượng: Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn học sinhkhối 2 trường Tiểu học Xã Phan

- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điềutra, phương pháp quan sát, phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm, phương pháp sosánh đối chiếu

3 Đề tài đưa ra giải pháp mới:

- Nắm vững mục tiêu, yêu cầu, nội dung của từng dạng bài, từng tiết, giúp họcsinh hình thành các kỹ năng giải toán có lời văn

- Giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản để vận dụng vào giải toán có lờivăn theo 4 bước: (Đọc kỹ bài toán xác định dạng toán, tóm tắt đề toán, phân tích bàitoán để tìm cách giải, giải bài toán và thử lại)

- Kết quả của bài toán giúp cho học sinh nhận ra cái đúng, cái sai của mình để

có hướng khắc phục, sửa chữa

4 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 2

Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn khối 2 trường Tiểu học

Đề tài được áp dụng trong học sinh khối 2 trường Tiểu học Xã Phan, năm học

2014-2015 và các trường trong cụm xã Phan, Thị Trấn A

Dương Minh Châu, ngày 12 tháng 3 năm 2015

Nhóm thực hiện

Nguyễn Thị Thiện Trở

Nguyễn Thị Ngọc Xuân

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

1 Lý do chọn đề tài:

- Trong thực tiễn đời sống hàng ngày, muốn làm việc một cách khoa học, sángtạo và đạt hiệu quả cao thì cần phải tính tốn chính xác Muốn làm được điều đĩ thìhọc sinh cần cĩ những kiến thức cơ bản về tốn học, nắm vững được cách thực hiệncác phép tính và giải tốn

- Ở Tiểu học phần lớn thời gian của học sinh dành cho việc học bốn phép tính(số học) và giải các dạng bài tốn cĩ lời văn, trong đĩ việc học bốn phép tính (cộng,trừ, nhân, chia) thường khơng khĩ với đa số học sinh cịn việc học giải tốn cĩ lời vănlại khơng dễ dàng đối với hầu hết các em Vì sao vậy? Đĩ là vì trong các bài tốn cĩlời văn bốn phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) khơng hiện ra một cách rõ ràng, mà chúng

ẩn náo đằng sau các câu chữ (nhiều khi rất khĩ nhận thấy); mơ tả những tình huốngtrong đời sống, sinh hoạt, lao động và học tập thường ngày Nếu khơng cĩ sự độc lậpsuy nghĩ, tìm hiểu thì khơng thể phát hiện ra cách giải Do đĩ, đa số học sinh Tiểu họcrất thích các bài tốn số mà thường khơng thích các bài tốn cĩ lời văn, nhất là các em

cĩ kiến thức kỹ năng chưa hồn thành

- Hơn nữa, việc tính tốn luơn gắn bĩ chặt chẽ với đời sống con người Vì thếrèn kỹ năng thực hiện các phép tính để giải tốn cĩ lời văn rất cần thiết trong chươngtrình tốn Tiểu học và đặc biệt dạy theo mơ hình VNEN Thực tế một tiết hoạt độngthực hành ở mơn Tốn, dạy theo mơ hình VNEN học sinh làm bài một cách độc lậptheo từng cá nhân Qua một học kỳ trực tiếp giảng dạy ở khối 2, chúng tơi nhận thấyhọc sinh khối 2 đạt chất lượng mơn Tốn chưa cao, nhất là giải tốn cĩ lời văn các emthường gặp nhiều khĩ khăn Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em thường vội vànghấp tấp, đơn giản hĩa vấn đề nên đơi khi học sinh chưa hiểu kỹ đề đã làm bài của mìnhdẫn đến kết quả nhiều khi bị sai, thiếu hoặc đúng nhưng chưa đủ Các em thích giốngbạn khơng tin tưởng vào bài làm của mình dẫn đến những sai sĩt giống nhau Thậmchí bài làm đúng rồi nhưng lại bỏ đi, chép bài sao cho giống bạn, các em chưa tintưởng vào bản thân mình

- Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay;xuất phát từ mục đích yêu cầu của chương trình tốn lớp 2 dạy theo mơ hình VNEN,

từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học nĩi chung và trình độ nhận thức của họcsinh khối 2 nĩi riêng Với mong muốn gĩp một phần kinh nghiệm của mình trong việc

Trang 4

giáo dục học sinh, đồng thời nâng cao năng lực sư phạm cho bản thân, để giúp họcsinh giải đúng và học tốt các dạng toán có lời văn mà không cần sự hỗ trợ của cácnhóm trưởng hay của cô giáo nên chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu về:

“Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn khối 2 trường Tiểu học Xã Phan”.

2 Mục đích nghiên cứu:

- Tìm hiểu nguyên nhân vì sao học sinh khối 2 giải toán có lời văn còn chậm

kỹ năng để từ đó có những biện pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng môn Toánnhất là giải toán có lời văn

- Đề tài giúp học sinh tiếp thu kiến thức mới nhằm nâng cao chất lượng giảitoán có lời văn Thông qua đó giúp các em nắm vững tất cả các dạng toán và giải đúngcác dạng toán đang học trong chương trình lớp 2 Từ đó biết vận dụng những điều đãhọc vào thực tế cuộc sống, phát huy năng lực sáng tạo của học sinh trong việc giảitoán có lời văn

3 Đối tượng nghiên cứu:

- Học sinh khối 2 trường Tiểu học Xã Phan

- Phương pháp dạy học sinh giải các dạng toán có lời văn trong chương trìnhlớp 2

4 Phạm vi nghiên cứu:

Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn khối 2 trường Tiểu học

Xã Phan”.

5 Phương pháp nghiên cứu:

* Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Qua quá trình đọc và nghiên cứu các tài liệu, chúng tôi đã chọn lọc và thu thậpđược một số thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu

* Phương pháp điều tra (kiểm tra bài, 15 phút đầu giờ, kiểm tra học kỳ I):

- Thông qua các tiết dự giờ và trao đổi với bạn đồng nghiệp cũng như việc theodõi học sinh khối 2, chúng tôi đã nắm được tình hình học giải toán có lời văn của họcsinh và hiểu được một số nguyên nhân các em giải chưa đúng các dạng toán có lời văn

để từ đó có cơ sở nghiên cứu, đúc rút ra những kinh nghiệm giúp các em giải đúng vàhọc tốt hơn

Trang 5

- Sau mỗi lần áp dụng một kinh nghiệm, chúng tôi thường đối chiếu kết quả họcsinh đạt được ở thời điểm hiện tại với kết quả ở thời điểm áp dụng đề tài Qua đó,chúng tôi tiến hành chọn lọc và phối hợp những ưu điểm giữa hai biện pháp trên để rút

ra kinh nghiệm tốt trong dạy giải toán có văn

* Phương pháp quan sát:

Trong quá trình dạy học, chúng tôi luôn quan sát thái độ học tập của học sinh

và hứng thú học toán có lời văn của học sinh Chúng tôi thường xuyên theo dõi sựchuyển biến kết quả học tập của các em để từ đó, chúng tôi có cơ sở để tiếp tục pháthuy những kinh nghiệm hướng dẫn học sinh có hiệu quả

* Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm:

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, chúng tôi luôn tổng kết lạinhững kinh nghiệm có hiệu quả trong việc giúp học sinh học tốt giải toán có văn.Phương pháp này đã giúp chúng tôi tìm hiểu được bản chất, nguyên nhân và cách giảiquyết trong quá trình nghiên cứu, tổng kết được những kinh nghiệm, từ đó định hướng

cụ thể cho những lần áp dụng sau

* Phương pháp so sánh, đối chiếu:

Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, giữa kếtquả khi chưa vận dụng đề tài với kết quả lúc vận dụng đề tài để thấy được hiệu quảcủa đề tài

6 Giả thuyết khoa học:

Nếu giáo viên có sự đầu tư đúng mức và lựa chọn được phương pháp, giảipháp dạy học phù hợp để hướng dẫn cho học sinh thì sẽ giúp học sinh giải đúng bàitoán có lời văn và nâng cao chất lượng học tập môn Toán ngày càng cao hơn Qua đócác em sẽ cảm thấy tự tin, yêu thích, hứng thú hơn và sáng tạo hơn khi giải toán có lờivăn

Trang 6

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận của đề tài:

a Các văn bản chỉ đạo của Trung ương, địa phương của ngành:

- Căn cứ vào Nghị quyết đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông (số 40/2000/

QH ban hành tại kỳ họp Quốc hội khóa IX)

- Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học ban hành kèm theo Quyết định

số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006

- Công văn số 1842/BGDĐT-GDTH ngày 10 tháng 4 năm 2014 của Bộ Giáodục và Đào Tạo về việc sử dụng hồ sơ đánh giá học sinh Mô hình trường học mớiViệt Nam (VNEN)

- Căn cứ Thông tư 30/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của BộGiáo dục và Đào tạo ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học

- Áp dụng các nội dung và phương pháp dạy học theo mô hình mới (VNEN) đãđược tập huấn nghiệp vụ hè 2014

b Sơ lược về nội dung và phương pháp dạy môn Toán:

Các vấn đề liên quan đến môn Toán:

- Nội dung chủ yếu của dạy học giải toán có lời văn trong môn Toán lớp 2 bao

gồm: Tiếp tục giải các bài toán đơn đã học từ lớp 1 và phát triển các bài toán đó đốivới các phép tính cộng, trừ, nhân, chia mới học ở lớp 2 Đồng thời toán có lời văn lớp

2 đề cập những dạng bài toán mới phù hợp với giai đoạn nhận thức của học sinh lớp 2.Trong chương trình Toán lớp 2, giải toán có lời văn bao gồm các dạng toán điển hìnhsau:

+ Bài toán về “Nhiều hơn, ít hơn”

+ Bài toán về “Cả hai, tất cả (Tìm tổng của hai số hạng)

+ Bài toán về “Tìm một số hạng trong một tổng”

+ Bài toán về “Tìm số trừ”

+ Bài toán về “Còn lại”

+ Bài toán về “Gấp một số lần, giảm đi một số lần”

+ Bài toán có nội dung hình học (chu vi hình tam giác)

- Vị trí, vai trò của toán có lời văn: Góp phần hệ thống hóa về củng cố các kiến

thức, kỹ năng về số tự nhiên, yếu tố hình học và bốn phép tính (cộng, trừ, nhân, chia)với các kiến thức đã học làm cơ sở để học tiếp ở lớp 3 Nó còn đặt nền móng cho quá

Trang 7

trình đào tạo tiếp theo ở cấp học cao hơn; hình thành kỹ năng tính toán; giúp học sinhnhận biết được mối quan hệ về số lượng, hình dạng không gian của thế giới hiện thực;hình thành phát triển hứng thú học tập và năng lực phẩm chất trí tuệ của học sinh gópphần phát triển trí thông minh, óc suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo Đồng thờichương trình toán có lời văn lớp 2 còn kế thừa giải toán có lời văn lớp 1, mở rộng vàphát triển nội dung giải toán phù hợp với sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 2.

- Dạy học sinh giải toán có lời văn: Là dạy học sinh biết cách giải bài toán

(phương pháp giải toán) Việc dạy học theo mô hình mới (VNEN) học sinh phải ngồihọc theo nhóm nên các em dễ nhìn bài lẫn nhau từ đó ỷ lại không chịu động não suynghĩ Do đó, giáo viên không được làm thay, không được áp đặt cách giải, cần phảidẫn dắt học sinh tự tìm ra cách giải bài toán

c Một số quan niệm khác:

- Trong quá trình học môn Toán việc giải toán là một vấn đề hết sức cần thiếtgiúp cho học sinh phát triển tư duy một cách lành mạnh và thông hiểu một cách sâusắc các vấn đề thông qua việc giải toán

- Chương trình toán Tiểu học giải toán được xem là một vị trí quan trọng.Thông qua các bài toán giúp cho học sinh phát triển năng lực tự tìm tòi, có đầu ócthẩm mĩ sáng tạo

- Trong giải toán học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, trongnhiều trường hợp phải biết phát hiện những điều chưa được nêu ra một cách rõ ràng,phải biết suy nghĩ năng động sáng tạo Vì vậy có thể coi giải toán là một trong nhữngbiểu hiện năng động của một hoạt động trí tuệ của học sinh dưới sự hướng dẫn củagiáo viên nhằm cuốn hút vào những hoạt động học tập

- Rèn cho học sinh tính cẩn thận, kiên trì vượt khó, tính toán chính xác

- Giải bài toán có lời văn giúp các em phát triển thông minh, óc sáng tạo, cóthói quen làm việc một cách khoa học

2 Cơ sở thực tiễn của đề tài:

a Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:

- Giáo viên: Giáo viên chưa linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp dạy

học theo mô hình mới (VNEN)

Trang 8

- Học sinh: Qua một học kỳ giảng dạy lớp 2 theo mô hình mới (VNEN), đa số

học sinh khi được hỏi, các em đều thích học toán nhưng các em không thích giải toán

có lời văn vì cảm thấy nó “khô khan, khó học”

Tuy nhiên Toán có lời văn giữ một vị trí rất quan trọng bởi vì phần lớn thờigian học Toán của học sinh dành cho việc học giải các bài toán ấy Kết quả học Toáncủa học sinh cũng được đánh giá trước hết qua khả năng giải toán, cả kết quả kiểm tracuối bậc Tiểu học cũng vậy Biết giải thành thạo các bài toán có lời văn là một trongnhững tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá trình độ toán học của mỗi học sinh

b Sự cần thiết của đề tài:

Hiện nay chất lượng giải toán có lời văn của khối 2 của trường Tiểu học XãPhan vẫn chưa cao Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Toán, bản thân chúng tôiluôn ý thức và mong muốn tự rèn luyện cho giáo viên phương pháp dạy toán có lờivăn, nhằm tránh lối dạy máy móc một chiều áp đặt cho học sinh, góp phần nâng caochất lượng dạy học Qua quá trình điều tra việc dạy của giáo viên và việc học của họcsinh bản thân chúng tôi nhận thấy:

- Giáo viên: Trong quá trình dạy học theo mô hình VNEN người giáo viên chưa

có sự chú ý đúng mức tới việc làm thế nào để học sinh nắm vững lượng kiến thức, đặcbiệt là dạng toán có lời văn Nguyên do là giáo viên mới tiếp cận với chương trình dạyhọc theo kiểu mới này Thời gian dành nghiên cứu, tìm tòi những phương pháp dạyhọc mới này còn hạn chế Bên cạnh đó việc ý thức về tầm quan trọng của việc giảitoán có lời văn của các em chưa đầy đủ Nhìn chung, giáo viên chưa có biện pháp phùhợp để rèn cho học sinh các kỹ năng làm bài theo trình tự của giải toán có văn: Đọc kỹbài toán xác định dạng toán, tóm tắt bài toán, phân tích bài toán để tìm ra cách giải,giải bài toán và thử lại các kết quả

- Học sinh: Môn Toán là môn học khô khan, khó học Trình độ nhận thức của

học sinh không đồng đều; một số em còn chậm, nhút nhát; kỹ năng tóm tắt còn hạnchế; chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kỹ bài toán dẫn tới chưa xác định được dạngtoán nên chưa định hướng được cách giải; lựa chọn sai phép tính; chưa bám sát vàoyêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính Kỹ năng tính nhẩm vớicác phép tính (hàng ngang) và kỹ năng diễn đạt bằng lời còn hạn chế Một số em tiếpthu bài thụ động, ghi nhớ máy móc, chóng quên các dạng bài toán vì thế phải cóphương pháp rèn các kỹ năng giải toán có lời văn, khắc sâu kiến thức từng dạng bài

Trang 9

Sau đây là bảng thống kê kết quả giải toán có lời văn của học sinh đầu năm học

Tóm tắt bài toán

Chọn và thực hiện đúng phép tính

Lời giải và đáp số

Hoànthành

Chưahoànthành

Hoànthành

Chưahoànthành

Hoànthành

Chưahoànthành

Hoànthành

ChưahoànthànhKhối

2

74.8%

2725.2%

7973.8%

2826.2%

7569.2%

3230.8%

7165.4%

3634.6%

Qua kết quả khảo sát trên cho thấy kỹ năng giải các bài toán có lời văn của các

em còn rất nhiều hạn chế Chính vì thực trạng này đặt ra cho giáo viên một yêu cầucần thiết là phải tìm ra giải pháp mới để việc dạy và học giải toán có lời văn có hiệuquả hơn

3 Nội dung vấn đề:

a Vấn đề đặt ra:

Để học sinh giải toán có lời văn đúng, đồng thời giúp học sinh rèn luyện trí óc,tính tư duy, suy nghĩ, óc xét đoán có căn cứ, xác định được nội dung yêu cầu của đềbài để sắp xếp các bước giải, biết tư duy, sáng tạo, cuối cùng là lựa chọn cách giải vàlập kế hoạch giải một cách chính xác Chúng ta cần có những phương pháp dạy họcphù hợp theo từng nội dung, yêu cầu của từng dạng bài Qua đó học sinh thấy đượcmỗi đề toán là một bức tranh nhỏ của cuộc sống Khi giải mỗi bài toán, học sinh phảibiết rút ra từ bức tranh ấy cái bản chất toán học của nó, phải biết lựa chọn những phéptính thích hợp, biết làm đúng các phép tính đó, biết đặt lời giải chính xác,… Vì thế,quá trình giải toán sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát, sử dụng Tiếng Việt

và giải quyết các vấn đề của cuộc sống qua con mắt Toán học của mình Điều đóchẳng những sẽ giúp các em học tốt môn Toán mà nó còn giúp các em học tốt các mônhọc khác Đó cũng chính là mục tiêu chung của mỗi giáo viên khi dạy học sinh giảitoán có lời văn

b Giải pháp chứng minh vấn đề được giải quyết:

Trang 10

Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi đã nghiên cứu tìm ra một số giải pháp,

kinh nghiệm dạy học thiết thực để dạy giải toán có lời văn đúng và đạt chất lượng tốthơn Những giải pháp và kinh nghiệm đó cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Đảm bảo quy trình thực hiện khi giải toán có văn: Giải toán có văn đối với học

sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp Việc hình thành kỹ năng giải bài toánquan trọng hơn so với kỹ năng tính toán vì bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều kháiniệm, quan hệ toán học,…Chính vì đặc trưng đó mà giáo viên cần phải hướng dẫn chohọc sinh có được thao tác chung trong quá trình giải toán như sau:

+ Bước 1: Đọc kỹ bài toán xác định dạng toán.

Đây là một bước rất quan trọng, giáo viên cần nhắc nhở học sinh đọc kỹ đề,đọc nhiều lần (đọc thầm trong nhóm) Có đọc kỹ đề bài học sinh mới tập trung suynghĩ về ý nghĩa, nội dung của bài toán và đặc biệt chú ý đến câu hỏi của bài toán Tức

là đọc để xác định đâu là những cái đã cho, đâu là cái phải tìm Khi học sinh đọc cầnhướng sự tập trung chú ý của các em vào những từ ngữ quan trọng của đề toán, từ nàochưa hiểu hết ý nghĩa của nó thì phải tìm hiểu ý nghĩa của nó Đồng thời cũng giúphọc sinh phân biệt rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán, những gì không thuộc vềbản chất của đề toán, để hướng sự chú ý của học sinh vào những chỗ cần thiết Nếuchưa có thói quen đọc, đọc ít hoặc đọc qua loa chiếu lệ đề toán thì chưa xác định dạngtoán, chưa thể tìm ra cách giải Nên khi giải bài toán cần cho học sinh đọc ít nhất từ 2đến 3 lần

+ Bước 2: Tóm tắt bài toán.

Tóm tắt bằng hình vẽ, ngôn ngữ, hoặc ký hiệu ngắn gọn Thông qua đó đểthiết lập mối liên hệ giữa phần đã cho và cái phải tìm của bài toán để làm rõ trọng tâm,thể hiện bản chất toán học của bài toán Trong lớp giáo viên phải quan sát, nếu cónhóm đưa thẻ cứu trợ thì giáo viên đến nhóm đó để hướng dẫn Trường hợp có nhiềunhóm cùng đưa thẻ cứu trợ thì giáo viên nên cho các em cùng quay mặt lên bảng đểgiáo viên hướng dẫn

+ Bước 3: Phân tích bài toán để tìm cách giải.

Ở bước này học sinh cần phải trả lời câu hỏi của bài toán tức là: Muốn trả lờicâu hỏi của bài toán thì phải biết những gì đã cho, cần phải làm những tính gì ? Trongnhững điều ấy cái gì đã biết, cái gì chưa biết ? Cứ như thế ta đi dần đến những điều

Trang 11

đã cho trong đề toán Từ những suy nghĩ trên học sinh sẽ tìm ra con đường tính toán(hoặc suy luận), đi từ những điều đã cho tới đáp số bài toán

+ Bước 4: Giải bài toán và thử lại kết quả.

Dựa vào kết quả phân tích bài toán ở bước 3 và xuất phát từ những điều đãbiết cho trong đề toán, ta lần lượt thực hiện các phép tính để tìm ra đáp số Quá trìnhtìm tòi cách giải quyết, học sinh tự trình bày bài giải của mình có thể làm vở ô ly, vởnháp Hoặc tạo sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau các đối tượng trong nhóm, học sinh trongnhóm trao đổi ý kiến về cách làm hoặc giải bài toán Sau khi đã hướng dẫn, giáo viêncho các nhóm làm bài vào vở Bài toán này có một phép tính nhưng có thể có nhiều lờigiải khác nhau mà vẫn phù hợp Việc cho học sinh tự tìm nhiều lời giải khác nhau cótác dụng lớn trong việc gây hứng thú cho học sinh, thúc đẩy các em cố gắng tìm tòi,sáng tạo và rèn óc suy nghĩ linh hoạt, độc lập

Cần chú ý thử lại (kiểm tra lại) sau khi làm xong phép tính, cũng như thử lạiđáp số xem có phù hợp với đề toán không ? Cũng cần soát lại câu lời giải cho phéptính xem đã đủ ý và ngắn gọn chưa? phù hợp với đề toán chưa? Việc kiểm tra nàynhằm phân tích cách giải đúng hay sai, sai chỗ nào để sửa chữa Từ đó giúp các em cóthói quen kiểm tra, đánh giá, sửa bài

+ Ngoài ra còn có bước khai thác bài toán dành cho học sinh có kiến thức, kỹ năng: Sau khi giải xong bài toán, cần suy nghĩ xem có thể giải bài toán bằng cách

khác không ? Từ bài toán này có thể rút ra nhận xét gì, kinh nghiệm gì? Từ bài toán

này có thể đặt ra các bài toán khác như thế nào ? Giải chúng ra sao ?

- Trong 4 bước trên, hầu hết các hoạt động đều được làm trên giấy nháp hoặcnghĩ thầm trong đầu; chỉ riêng việc trình bày bài giải là bắt buộc học sinh phải làm vào

vở (hoặc bài kiểm tra) mà thôi

- Với một số bài toán đơn giản thì có thể bớt một vài bước hoặc một vài hoạtđộng trong các bước trên

- Riêng phần tóm tắt đề toán, học sinh chỉ cần viết vào bài kiểm tra khi có yêu

cầu; hoặc trong trường hợp:“Phần tóm tắt ấy là một bộ phận không thể thiếu của bài

giải”, nếu thiếu phần tóm tắt ấy thì không thể hiểu được bài giải.

- Đảm bảo yêu cầu thực hành: Lấy thực hành làm hoạt động chính của tiết học.

Lấy sự hình thành kỹ năng giải toán có lời văn (luyện kỹ năng tìm hiểu đề bài toán

xác định dạng toán, tóm tắt bài toán, tìm cách giải bài toán, trình bày bài giải và thử

Trang 12

lại kết quả) làm yêu cầu chính của tiết học Trên cơ sở thầy hướng dẫn, trò tiến hành

các hoạt động học tập để qua đó rút ra lý thuyết của dạng bài toán có lời văn Nói cáchkhác là có sự liên tục, kế tiếp nhau giữa các tiết học giải toán có lời văn, giữa các dạngtoán có lời văn sao cho việc rèn luyện kỹ năng, nắm vững yêu cầu của các dạng toánlời văn ngày càng tốt hơn

- Dạy học theo mô hình VNEN đòi hỏi người giáo viên khi chia nhóm giáo viênchia các đối tượng có kiến thức năng lực hoàn thành và chưa hoàn thành xen kẻ nhau.Khi học tập, làm việc theo nhóm, học sinh thường mạnh dạn trao đổi ý kiến, khuyếnkhích học sinh tìm tòi, sáng tạo, biết đánh giá ý kiến của bạn Chẳng hạn một bài toánkhó, nếu nhiều em cùng bàn bạc, phân tích thì nhất định sẽ tìm cách giải hay Nhờ vậycác em tự tin hơn khi làm bài

- Tổ chức học sinh có kiến thức, năng lực hoàn thành trong nhóm thường xuyêngiúp đỡ các em chậm kỹ năng nếu các bạn có yêu cầu

- Giáo viên cần động viên, tuyên dương kịp thời khi đến từng nhóm kiểm tra đểhọc sinh có sự hứng thú trong học tập Nhất là các học sinh chậm kỹ năng Giáo viênphải theo dõi nhận xét, bổ sung khuyến khích, khen các em khi các em trả lời đúng

- Đảm bảo phương pháp giải riêng cho từng dạng bài toán: Học sinh cần phải

nắm vững kiến thức cơ bản sau:

Ví dụ:

Đề bài: Hàng trên có 8 quả cam, hàng dưới có ít hơn hàng trên 3 quả cam Hỏi

hàng dưới có mấy quả cam?

Bước 1: Học sinh tự đọc đề

Bước 2: Học sinh tự phân tích đề bài

- Hàng trên có mấy quả cam? (Quả cam)

- Hàng dưới ít hơn hàng trên mấy quả cam? (Hàng dưới ít hơn hàng trên 3 quảcam)

- Bài toán hỏi gì? (hàng dưới có mấy quả cam)

- Bài toán này thuộc dạng toán gì? (Bài toán thuộc dạng ít hơn)

- Ít hơn thực hiện phép tính gì? (Tính trừ)

- Bài toán có lời giải thế nào? (Số quả cam hàng dưới có là)

- Vậy muốn biết được hàng dưới có mấy quả cam ta làm sao? (Ta lấy số quả camcủa hàng trên trừ đi số quả cam ít hơn của hàng dưới)

Trang 13

- Đơn vị bài toán là gì? (Quả cam)

Bước 3: Lập trình tự giải – tóm tắt

- Học sinh tự hỏi nhẩm lại để khắc sâu và tóm tắt

+ Bài toán cho biết hàng trên có mấy quả cam ? (8 quả cam)

+ Hàng dưới có ít hơn hàng trên mấy quả cam? (3 quả cam)

+ Đề toán hỏi gì? (Hỏi hàng dưới có mấy quả cam)

+ Đơn vị bài toán là gì? (Quả cam)

Bước 4: Tóm tắt (học sinh)

Hàng trên: 8 quả cam

Hàng dưới ít hơn hàng trên: 3 quả cam

Hàng dưới: … quả cam?

Bước 5: Giải (học sinh)

Số quả cam ở hàng dưới là:

8 – 3 = 5 (quả cam) Đáp số: 5 quả cam

* Ngoài các bước trên giáo viên cần khắc sâu cho học sinh biết xác định (nhậndạng) các bài toán thuộc dạng toán gì? Để khi gặp bài toán thì phải biết cách tóm tắt vàgiải đúng

- Bài toán về “nhiều hơn” thì thực hiện phép cộng khi:

+ Đề toán cho biết số thứ nhất Còn số thứ hai không cho biết mà chỉ nói lànhiều hơn số thứ nhất Hỏi số thứ hai

+ Muốn biết số thứ hai ta phải lấy “số thứ nhất cộng với phần nhiều hơn của

số thứ hai thì sẽ tìm ra số thứ hai”.

Ví dụ: Bạn Hòa có 4 bông hoa, bạn Bình có nhiều hơn Hòa 2 bông hoa Hỏi bạn

Bình có mấy bông hoa?

Bạn Hòa : 4 bông hoa Số bông hoa Bình có là:

Bạn Bình nhiều hơn bạn Hòa : 2 bông hoa 4 + 2 = 6 (bông hoa) Bạn Bình : … bông hoa? Đáp số: 6 bông hoa

- Bài toán về “ít hơn” thì thực hiện phép trừ khi:

Trang 14

+ Đề toán cho biết số thứ nhất Còn số thứ hai thì không cho biết, mà chỉ nói íthơn số thứ nhất Hỏi số thứ hai.

+ Muốn biết số thứ hai, ta phải lấy “số thứ nhất trừ đi phần ít hơn của số thứ hai, thì sẽ tìm ra số thứ hai.

Ví dụ: Bạn Bình có 6 bông hoa, bạn Hòa có ít hơn bạn Bình 2 bông hoa Hỏi bạn

Hòa có mấy bông hoa?

Tóm tắt Giải

Bạn Bình : 6 bông hoa Số bông hoa Bình có là:

Bạn Hòa ít hơn bạn Bình : 2 bông hoa 6 - 2 = 4 (bông hoa) Bạn Bình : … bông hoa? Đáp số: 4 bông hoa

- Bài toán về “ Tìm tổng của hai số hạng” (hoặc tất cả) khi:

+ Đề toán cho biết số thứ nhất (số hạng thứ nhất) và số thứ hai (số hạng thứhai) Hỏi tất cả hai số (tổng)

+ Muốn tìm tất cả hai số (tổng) thì ta lấy số thứ nhất (số hạng thứ nhất) cộng với số thứ hai (số hạng thứ hai) thì sẽ tìm được tất cả hai số (tổng).

Ví dụ: Dưới ao có 9 con vịt, trên bờ có 6 con vịt Hỏi có tất cả bao nhiêu con vịt?

Tóm tắt Giải

Dưới ao : 9 con vịt Số con vịt có tất cả là:

Trên bờ : 6 con vịt 9 + 6 = 15 (con )

Tất cả: … con vịt? Đáp số: 15 con

- Bài toán về “Tìm một số hạng trong một tổng” khi:

+ Đề toán cho biết tổng và trong tổng cho biết số hạng kia Hỏi số hạng này

+ Muốn tìm số hạng trong một tổng thì ta lấy “tổng trừ đi số hạng kia thì sẽ tìm được số hạng này”.

Ví dụ: Một lớp học có 35 học sinh, trong đó có 20 học sinh nam Hỏi có bao nhiêu

Ngày đăng: 30/03/2016, 21:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w