1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có văn dạng bài toán về ít hơn lớp 2d trường tiểu học lộc ninh

27 779 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 163,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Một số giải pháp dạy toán có lời văn về dạng bài toán “Ít hơn” lớp 2Dtrường Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu.. Mỗibài toán có lời văn thường là

Trang 1

BẢNG TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Tên đề tài: “Kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có văn dạng Bài toán

về ít hơn lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh”.

1 Lý do chọn đề tài:

Hiện nay, việc đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai đủ năng lực và phẩm chất

để phục vụ cho đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập là một việc làm rấtquan trọng và cần thiết Vì thế, việc hình thành nhân cách và phát triển tư duy,

kĩ năng, năng lực của trẻ là việc làm thường xuyên mà Đảng và Nhà nước giaocho Ngành Giáo dục Trong đó bậc Tiểu học là bậc học quan trọng nhất, bậc họchình thành cho trẻ kĩ năng tư duy, tính toán, nhạy bén, hình thành nhân cách Chính vì lẽ đó, đòi hỏi người giáo viên chúng ta phải đổi mới phương pháp

và có sự đầu tư thật tốt nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các môn nói chungcũng như môn Toán nói riêng Đặc biệt cần lưu ý đến cách dạy giải Toán có lờivăn ở lớp 2 Toán có lời văn khó là phải chỉ ra các mối quan hệ, các yếu tố chứatrong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để tìm ra đáp số bài toán Do vậy tôixác định việc dạy “Giải Toán có lời văn” ở lớp 2 là một dạng toán rất quan trọng

và cần thiết Nên tôi chọn đề tài : “Kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có văn dạng Bài toán về ít hơn lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh”.

2 Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:

Một số giải pháp dạy toán có lời văn về dạng bài toán “Ít hơn” lớp 2Dtrường Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu

Phương pháp đọc tài liệu, phương pháp thu thập thông tin, phương phápđiều tra, phương pháp đối chiếu

Trang 2

Hiện nay, việc đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai đủ năng lực và phẩm chất

để phục vụ cho đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập là một việc làm rấtquan trọng và cần thiết Vì thế, việc hình thành nhân cách và phát triển tư duy,

kĩ năng, năng lực của trẻ là việc làm thường xuyên mà Đảng và Nhà nước giaocho Ngành Giáo dục Trong đó bậc Tiểu học là bậc học quan trọng nhất, bậc họchình thành cho trẻ kĩ năng tư duy, tính toán, nhạy bén, hình thành nhân cách

Ở bậc Tiểu học, cùng với các môn học khác, môn Toán có vị trí rất quantrọng Toán là công cụ rất cần thiết để học các môn học khác và để nhận thứcthế giới xung quanh Môn Toán giúp cho học sinh phát triển trí thông minh, tưduy độc lập, linh hoạt sáng tạo trong việc hình thành và rèn luyện nề nếp phongcách, tác phong làm việc, góp phần giáo dục ý chí và những đức tính tốt như:Cần cù, nhẫn nại, ý thức vượt khó

Trang 3

Trong quá trình dạy toán, việc dạy giải toán có lời văn có vị trí đặc biệtquan trọng và chiếm khoảng thời gian tương đối lớn trong nhiều tiết học Mỗibài toán có lời văn thường là một tình huống có vấn đề cần giải quyết.

Chính vì lẽ đó, đòi hỏi người giáo viên chúng ta phải đổi mới phương pháp

và có sự đầu tư thật tốt nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các môn nói chungcũng như môn Toán nói riêng Đặc biệt cần lưu ý đến cách dạy giải Toán có lờivăn ở lớp 2 Toán có lời văn khó là phải chỉ ra các mối quan hệ, các yếu tố chứatrong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để tìm ra đáp số bài toán Do vậy,tôi xác định việc dạy “Giải Toán có lời văn” ở lớp 2 là một dạng toán rất quantrọng và cần thiết Nên tôi chọn đề tài :

“Kinh nghiệm giúp học sinh giải toán có văn dạng Bài toán về ít hơn, lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh”.

2 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra cơ sở lí luận định hướng và đưa

ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải toán có lời văn về dạng bài toán “Íthơn” lớp 2D trường Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu

3 Đối tượng nghiên cứu:

Một số giải pháp dạy toán có lời văn về dạng bài toán “Ít hơn” lớp 2Dtrường Tiểu học Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu

4 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài này tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi lớp 2D trường Tiểu học LộcNinh, huyện Dương Minh Châu

5 Phương pháp nghiên cứu:

5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Phương pháp này giúp chúng tôi tìm được cơ sở lí luận có liên quanđến đề tài qua các tài liệu:

- Giáo trình phương pháp dạy học môn toán lớp 2

- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểuhọc

- Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học ở lớp 2 - tập 1

Trang 4

- Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 2 - tập 1.

- Sách giáo viên Toán lớp 2

- Sách giáo khoa Toán lớp 2

- Một số vấn đề cơ bản của chương trình Tiểu học mới

5.2 Phương pháp thu thập thông tin:

Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp trong và ngoài đơn vị các vấn đề cóliên quan đến phương pháp dạy toán có lời văn về dạng bài toán “Ít hơn”

5.3 Phương pháp điều tra:

Điều tra nắm được số lượng học sinh hạn chế về giải toán có lời văn.Đặc biệt về dạng toán “Ít hơn” và nguyên nhân thực hiện không tốt khi giải dạngtoán này

5.4 Phương pháp đối chiếu:

Thống kê đối chiếu kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài

6 Giả thuyết khoa học:

Việc giải toán có lời văn lớp 2 học sinh còn bỡ ngỡ Một số học sinh chưaxác định được đề toán, chưa nắm chắc cách giải, trình bày bài giải chưa đúng.Nếu giáo viên có phương pháp dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh, gần gũihọc sinh, giúp học sinh biết phân tích đề toán, xác định cái cần tìm… thì các em

sẽ đạt được kết quả cao trong việc giải các bài toán có lời văn nói chung haydạng toán “Ít hơn” nói riêng

Trang 5

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận:

Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp Hai là dễ nhớ nhưng mau quên, sự tậptrung chú ý trong giờ học toán chưa cao, trí nhớ chưa bền vững thích học nhưngchóng chán Vì vậy giáo viên phải làm thế nào để khắc sâu kiến thức cho họcsinh và tạo ra không khí sẵn sàng học tập, chủ động tích cực trong việc tiếp thukiến thức Trí nhớ trực quan hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ, kháiquát, lôgic Các em nhớ và khắc sâu chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thểnhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Học sinhlớp 2 (ở đầu năm học) có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặplại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ ý nghĩa của tài liệu học tập đó

mà vẫn có thể học thuộc Cho nên, cũng dễ hiểu các em thường học thuộc lòngtài liệu học tập theo đúng từng câu, từng chữ và không sắp xếp lại, không diễnđạt bằng lời lẽ của mình

Trang 6

Vì thế, việc truyền thụ kiến thức của giáo viên đến đối tượng học sinh giúphọc sinh lĩnh hội và khắc sâu kiến thức là một việc làm quan trọng và không dễthực hiện Giáo viên phải tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp tìm ranhững phương pháp phù hợp với từng đối tượng, phải thật sự gần gũi, độngviên, giúp đỡ, tin tưởng vào các em, không buông trôi, thả lỏng hay để các em tựmài mò… Có như thế thì các em mới lĩnh hội và khắc sâu các kiến thức đã đượchọc.

Bên cạnh đó, nhằm quán triệt các Chỉ thị và Nghị quyết của Đại hội Đảngcộng sản Việt Nam về Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dụctrong tình hình mới Đảm bảo tốt cuộc vận động: “Nói không với tiêu cực trongthi cử và bệnh thành tích trong giáo dục; Nói không với vi phạm đạo đức nhàgiáo và tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp”; thực hiện xây dựng phong trào

“Trường học thân thiện, học sinh tích cực”

Vì thế, Bộ Giáo dục Ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cho các trường tiểuhọc thực hiện, gồm các văn bản sau:

Công văn 896/BGD&ĐT – GDTH ngày 13 tháng 02 năm 2006 của BộGiáo dục và Đào tạo, về việc hướng dẫn điều chỉnh việc dạy và học cho học sinhTiểu học;

Quyết định số 16/2006/QĐ – BGD&ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, về việc Ban hành Chương trình giáo dục phổthông;

Thông tư 30/2014/TT - BGD & ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về việc Ban hành quy định đánh giá học sinhTiểu học;

Từ những nhận định trên, một lần nữa đã khẳng định: Việc giúp các emlĩnh hội và khắc sâu những kiến thức là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên, gópphần giúp học sinh hoàn thành chương trình lớp học Đó là mục tiêu mà NgànhGiáo dục đã đề ra

Trang 7

2 Cơ sở thực tiễn:

Trong năm qua, thực trạng học sinh lớp 2 khi giải toán có lời văn, đặc biệtdạng toán về “Ít hơn” còn nhiều vấn đề cần quan tâm và giúp đỡ Qua khảo sáttình hình chung của học sinh lớp 2D và toàn khối Hai trường Tiểu học LộcNinh, huyện Dương Minh Châu thì tình hình giải toán có lời văn của học sinh cónhững tồn tại sau:

2.1 Nguyên nhân:

2.1.1 Về phía giáo viên :

Một số giáo viên chưa chú trọng đến việc nghiên cứu nội dung bàidạy nên việc vận dụng phương pháp còn lúng túng, chưa phát huy tính tích cực,chủ động của học sinh Một số giáo viên hướng dẫn giải toán có lời văn chưa rõràng làm cho bài toán trở nên phức tạp, học sinh khó hiểu

Một nguyên nhân cơ bản mà hầu hết giáo viên đều mắc phải đó là chưadám thoát ly sách giáo khoa, sách giáo viên mà còn rập khuôn, máy móc

Do giáo viên chưa thật sự quan tâm đến việc nghiên cứu nội dung bài vàphương pháp giảng dạy một cách chu đáo, nhiệt tình và sáng tạo

Giáo viên chưa khuyến khích và giúp đỡ một cách hợp lý và kịp thời cácnhóm, các đối tượng học sinh trong quá trình học

Giáo viên ít quan tâm đến học sinh, chưa phân chia đối tượng học sinh,chưa thường xuyên liên lạc với phụ huynh

2.1.2 Về phía học sinh :

Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều

Học sinh đọc đề chưa trôi chảy, chưa hiểu đề toán

Học sinh không biết tóm tắt, không biết phân tích đề, không biết yêucầu của đề là gì

Một số học sinh chưa hiểu được cách ghi lời giải, ghi chưa đúng đơnvị

Một số học sinh khi nói đến giải toán còn lo sợ, không tự tin khi làmbài hoặc một số em làm được phép tính nhưng đặt lời giải chưa chính xác

Trang 8

Thường học sinh giải đề toán theo kiểu học thuộc lòng, máy móc, rậpkhuôn, chưa khoa học.

2.1.3 Về phía phụ huynh học sinh:

Phần lớn học sinh lớp 2D là con gia đình nông dân, phụ huynh rất bậnrộn công việc nên chưa quan tâm đến việc học của con em mình, các em chủ yếuchỉ được học ở trường, chưa có ý thức tự học ở nhà dẫn đến việc học của các emcòn chậm

Một số gia đình còn khoán trắng việc dạy học con mình cho nhàtrường và giáo viên chủ nhiệm Không bao giờ kiểm tra việc học của con ởtrường

2.2 Sự cần thiết của đề tài:

Giải toán có lời văn là một phần quan trọng trong suốt quá trình học toáncủa học sinh Tiểu học Nó giúp cho học sinh phát triển tư duy, óc sáng tạo, tínhcẩn thận, tính kiên trì vượt khó, tính chính xác và có thói quen làm việc có khoahọc Thông qua việc giải toán, học sinh có thể rèn luyện khả năng áp dụng toán

lí, trình độ nhận thức, khả năng tiếp thu của mỗi đối tượng học sinh Đồng thời,phải chuẩn bị cho mình một hệ thống kiến thức lôgic, phong phú sát với nộidung bài học và phải xác định thật chính xác các dạng toán để hướng dẫn chohọc sinh dễ hiểu, dễ nhớ, giúp học sinh tìm ra cách giải đúng nhất, hợp lí nhất.Không nên giảng dạy một cách rập khuôn, máy móc, mà cần tạo điều kiện

để tất cả mọi đối tượng học sinh đều được làm việc theo đúng khả năng củamình Có như vậy các em mới tự tin và có sự phấn đấu hơn ở các bài học tiếptheo

Trang 9

Từ thực trạng trên, tôi thấy: muốn nâng cao chất lượng việc giải toán có lờivăn, giáo viên phải giúp học sinh tìm hiểu đề toán, tóm tắt đề toán Giáo viênnghiên cứu kĩ từng loại bài để có phương pháp phù hợp.

Điều quan trọng là phải giúp cho các em xác định được dạng toán, từ đóhọc sinh mới giải được bài toán

Do đặc điểm của học sinh Tiểu học, các em còn nhỏ nên trong giờ họcgiáo viên thường phải vận dụng linh hoạt các phương pháp trực quan, vấn đáp,thực hành… nhằm tạo cho học sinh hứng thú và say mê học toán, tạo không khílớp học nhẹ nhàng,

3.2 Giải pháp:

Để nâng cao hiệu quả của việc giải toán có lời văn, bản thân tôi đã thựchiện những giải pháp sau:

3.2.1 Đọc kĩ đề và hiểu đề:

Rèn cho học sinh có thói quen đọc kĩ đề là việc làm rất quan trọng, từ

đó học sinh mới nắm được nội dung bài toán, hiểu rõ một số từ khóa quan trọng:nhiều hơn, ít hơn và xác định được đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm Từ đócác em biết bài toán đó thuộc dạng toán nào hay bài toán đó tương tự bài toánnào đã giải rồi Để hiểu được nội dung bài toán, yêu cầu học sinh tự đọc, tri giácnhận biết đề toán

Để tập cho các em có thói quen đọc kĩ đề và hiểu đề, trước khi giải toán tôithường gọi 2, 3 học sinh đọc to đề cho cả lớp cùng nghe Hoặc cho cả lớp đọcthầm rồi tôi hỏi lại các dữ kiện của đề toán để kiểm tra xem các em có đọc kĩ đềkhông và hiểu được đề chưa Muốn giải được bài toán học sinh nào cũng phảixác định được hai bộ phận đó và mối quan hệ giữa chúng, cho nên giáo viên cầnphải hướng dẫn, gợi ý để học sinh chú ý vào các từ, cụm từ quan trọng của đềtoán

Ví dụ:

Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai ít hơn số học sinh gái 3 bạn.

Hỏi lớp 2A có bao nhiêu số học sinh trai? Bài toán yêu cầu tìm số học sinh trai,

Trang 10

ta biết số học sinh trai ít hơn số học sinh gái là 3 bạn, mà số học sinh gái lớp 2A

là 15, vậy để tìm số học sinh trai ta lấy: 15 - 3 = 12 (bạn trai)

Sau khi học sinh đọc đề, phân tích bài toán và xác định đây là dạng toán íthơn Học sinh tiến hành giải bài toán

Bên cạnh đó, giáo viên còn chú tâm giúp đỡ các em hạn chế kĩ năng đọcqua các tiết tăng và các tiết ngoại khóa nhằm giúp em tiến bộ hơn về kĩ năngđọc Đa phần các em ở đầu năm lớp 2 đọc vẫn còn chậm nên dẫn đến kết quảkhông cao ở giải toán có lời văn, thậm chí các em không thực hiện được bàitoán

3.2.2 Phân tích và tóm tắt đề toán

Giáo viên tổ chức cho các em cùng nhau phân tích đề Gọi một học sinh

có kĩ năng vượt trội điều khiển cả lớp tìm hiểu đề Người điều khiển đặt câu hỏi:

“Bài toán cho biết gì?”, “Bài toán hỏi gì?” sau mỗi câu hỏi gọi một bạn trả lời,

cả lớp nhận xét Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh phân tích dưới dạng tiếpsức, một học sinh hỏi “Bài toán cho biết gì?” gọi bạn trả lời, nếu bạn trả lời đúngthì được quyền đặt tiếp câu hỏi Sau đó giáo viên chốt lại

Trong bước phân tích đề toán này, giáo viên không thể thực hiện qua loa,

có lệ, mà chính giáo viên sẽ làm trọng tài nghe các em phân tích đề toán, gợi ýcho các em biết tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh và vận dụng đúng yêu cầu bàitoán và giáo viên phải biết kết hợp vận dụng đúng mức, đúng lúc, đúng chỗ cácphương pháp, phát huy tối đa mặt mạnh của từng phương pháp, giúp học sinhđạt kết quả cao và tự mình chiếm lĩnh kiến thức mới

Tuy nhiên, giáo viên không nên nóng vội, mà phải qua quá trình rèn luyệnlâu dài cho học sinh

Tóm tắt đề toán chính là cơ sở để giải toán cho nên giáo viên cần hướngdẫn học sinh tóm tắt đề toán một cách khoa học, có thể bằng sơ đồ hoặc ngônngữ ngắn gọn Thông qua đó thiết lập mối quan hệ cái đã cho và cái phải tìm.Tóm tắt được đề toán tức là các em hiểu được đề toán

Trang 11

Hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng, giáo viên cần lưu ýthứ tự thực hiện thao tác nhằm giúp học sinh dễ dàng khi tìm một yếu tố chưabiết nào đó của đề toán

Qua tóm tắt học sinh sẽ nhận thấy được 2 quả là số quả hàng trên nhiềuhơn số quả hàng dưới Các em sẽ xác định được dạng toán gì? Sau đó các emtiến hành giải

Ngoài ra, ta có thể hướng dẫn học sinh dùng ngôn ngữ ngắn gọn để tómtắt Khi tóm tắt cần phải ngắn gọn, dễ hiểu

* Tóm tắt bằng lời văn:

Hàng trên có: 7 quả cam

Hàng dưới có ít hơn hàng trên: 2 quả

Hàng dưới có : …quả ?

Giáo viên cho học sinh đọc kĩ đề Chỉ định một em học sinh đặt câu hỏi:

“Bài toán cho biết gì?” gọi bạn trả lời (Bài toán cho biết: Hàng trên có 7 quảcam, hàng dưới có ít hơn hang trên 2 quả) Bạn trả lời đúng được quyền đặt câuhỏi tiếp “Bài toán hỏi gì?” gọi bạn trả lời (Bài toán hỏi hàng dưới có bao nhiêuquả cam) giáo viên nhận xét bổ sung Học sinh xác định đây là dạng toán ít hơn

Trang 12

Như vậy các em có thể tóm tắt bài toán bằng nhiều cách, bằng lời hay sơ

đồ đoạn thẳng để dễ dàng làm toán và giải toán đúng

Đọc đề phân tích đề là một khâu rất quan trọng của bài toán có lời văn.Tình trạng phổ biến hiện nay trong phần lớn học sinh là đọc đề không kĩ, chưachịu phân tích đề nên dẫn đến làm bài bị sai sót nhiều

Yêu cầu học sinh đọc đề nhiều lần, phân tích mối quan hệ giữa dữ kiện đãbiết và dữ kiện chưa biết để giải đúng, bằng cách phân tích đề theo hướng tổnghợp Và trong bài soạn cũng như trong mỗi tiết học giáo viên dạy theo từng

nhóm học sinh, nêu câu hỏi phù hợp với từng nhóm đối tượng

3.2.3 Hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải và xác định đơn vị

Điều quan trọng trong giải toán có văn là lời giải, nhiều học sinh còn đặtlời giải chưa chính xác, các em còn viết chưa đúng đơn vị

Vì thế, việc giáo viên hướng dẫn học sinh đặt được lời giải tương đối chínhxác thì đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn học sinh dựa vào đâu để đặt lời giải củabài toán được chính xác, đó là yếu tố quan trọng nhất Giáo viên kiên trì để họcsinh tự diễn đạt câu trả lời bằng lời, sau đó viết câu lời giải Lúc đầu học sinh cólúng túng giáo viên nên chấp nhận các diễn đạt tuy có "vụn về" nhưng đúng ý làđược, cái khó nhất của bài giải toán có lời văn ở lớp 2 chính là trình bày câu lờigiải, do đó giáo viên tập cho học sinh diễn đạt câu lời giải theo nhiều cách khácnhau, không vội vàng mà làm thay cho học sinh Tôi hướng dẫn học sinh diễnđạt câu lời giải bằng các cách sau:

Ví dụ:

Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai ít hơn số học sinh gái 3 bạn.Hỏi lớp 2A có bao nhiêu số học sinh trai?

Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán bỏ bớt từ "Hỏi" ở đầu câu và "Bao

nhiêu học sinh trai" ở cuối câu rồi thêm từ "Là" để có câu lời giải: "Lớp 2A cólà" (đối với học sinh chậm kĩ năng)

Cách 2: Dựa vào câu hỏi của bài toán bỏ từ "Hỏi" và thay từ "Bao nhiêu"

bằng từ "Số" rồi thêm từ "Là" vào cuối câu, để có câu lời giải: "Lớp 2A có sốhọc sinh trai là"

Trang 13

Cách 3: Cũng như trên dựa vào các câu hỏi của bài toán đưa từ "Học sinh

trai" ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ "Hỏi" và thêm từ "Số" ở đầu câu, bỏ

từ "Bao nhiêu", rồi thêm từ "Là" ở cuối câu để có: "Số học sinh trai lớp 2A cólà"

Tôi vẫn khuyến khích học sinh trình bày câu lời giải đầy đủ và hoàn chỉnhnhư cách 2 và cách 3 Sau đó cho học sinh chậm kĩ năng nhắc lại Từ đó khắcsâu và nhấn mạnh cho học sinh hiểu muốn tìm được câu lời giải đúng với yêucầu của bài toán phải dựa vào cái cần tìm (đây cũng chính là câu hỏi của bàitoán)

Ngoài ra, giáo viên cần giúp đỡ học sinh xác định được đơn vị của bàitoán, đây cũng là vấn đề rất quan trọng trong giải toán có lời văn mà giáo viêncần lưu ý và hướng dẫn học sinh nhận biết được đơn vị khi giải toán

3.2.4 Hướng dẫn cách làm bài và trình bày bài giải

Đối với dạng toán có lời văn giáo viên nên nêu vấn đề, gợi ý để các emtìm hiểu vấn đề, đọc kĩ đề toán, nhận dạng toán để tìm ra cách giải đúng

Từ tư duy đúng các em tìm được lời giải, phép tính, cách ghi tên đơn vị vàghi đáp số đúng Bước này tuy đơn giản vẫn tương đối khó với học sinh của lớp.Lời văn ngắn gọn, chính xác, đúng nội dung bài để trả lời theo thứ tự : Lời giải –phép tính – đáp số

Phép tính trong bài giải toán có lời văn không ghi tên đơn vị trong phéptính, nên đặt tên đơn vị trong ngoặc đơn

Tóm tắt đề toán đúng sẽ giúp các em biết cách trình bày bài giải và thựchiện phép tính đúng Câu lời giải viết trước, phép tính viết sau kèm theo đơn vị

và cuối cùng là đáp số

Học sinh nắm được các bước giải toán giáo viên cần cho các em thực hànhgiải bài tập để rèn luyện kỹ năng giải toán, nhằm đánh giá việc chiếm lĩnh kiếnthức mới Đối với học sinh tiếp thu bài chậm giáo viên cần cho các em làm thêmcác bài tập cùng dạng để các em nắm vững rồi nâng dần lên, còn học sinh có kĩnăng vượt trội ngoài những bài tập khó ở Sách giáo khoa, giáo viên nên sưu tầm

Ngày đăng: 30/03/2016, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w