Trong quá trình dạy học giáo viên... Qua đó,từng bước giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suyluận lôgíc... Giáo viên cho học sinh nhắc lại.
Trang 1I MỞ ĐẦU:
1 Lí do chọn đề tài :
Ngày nay, đất nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên rất cầnnhững con người có tri thức, có trình độ khoa học kỹ thuật Trước yêu cầu củasự phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam phải thay đổi mụctiêu đào tạo cải tiến nội dung và phương pháp dạy học Đó là việc làm rất quantrọng và cần thiết hiện nay được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm Chính vìvậy chất lượng dạy và học trong nhà trường đang là vấn đề được các nhà giáodục hết sức quan tâm, đây là một trong những việc làm hết sức quan trọng, gópphần đào tạo nhân tài cho đất nước
Giáo dục Tiểu học là bậc học bắt buộc đối với trẻ em từ 6 đến 14 tuổi Giáodục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự pháttriển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẫm mĩ và các kĩ năng cơ bản đểgiúp học sinh tiếp tục học trung học cơ sở Ở giai đoạn 6 - 8 tuổi, hệ thần kinh,hệ vận động và các hệ cơ quan khác của cơ thể đang phát triển Vai trò của hệthống tín hiệu thứ hai đang phát triển tốt, các em dần biết hình thành có chủ địnhvà hành động theo sự chỉ dẫn của người khác ở mức nhất định
Từ thực tế nhiều năm giảng dạy, bản thân nhận thấy việc giải toán có lờivăn (dạng toán giảm đi một số lần) có vị trí rất quan trọng trong chương trìnhtoán lớp 3 Việc giải toán có văn của học sinh lớp 3 còn rất yếu, kĩ năng đọc vàphân tích đề toán, xác định dạng toán, tìm cách giải của các em còn rất chậm chỉcó đối tượng học sinh khá giỏi mới thực hiện tương đối tốt các bước này, các đốitượng còn lại kĩ năng đọc đề phân tích đề bài, tìm cách giải của các em còn rấtchậm, nên việc giải toán có văn đối với các em là một việc làm vô cùng khókhăn Vì vậy đây cũng là một vấn đề mà bản thân tôi luôn phải trao đổi, thảoluận trong những buổi sinh hoạt tổ chuyên môn, chuyên đề do nhà trường tổchức Làm thế nào để học sinh hiểu được đề toán, viết được tóm tắt, nêu đượclời giải, thực hiện được phép tính đúng điều đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự
nỗ lực không biết mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp Xuất phát từ những lí
Trang 2do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Kinh nghiệm dạy toán có văn (dạng toán
giảm đi một số lần)”cho học sinh lớp 3B trường tiểu học Thuận Tân.
Vì vậy để rèn học sinh tính cẩn thận kiên trì, tìm tòi, ham học hỏi, tích cựcphát biểu xây dựng bài để học môn Toán tốt hơn, tôi luôn tìm biện pháp thíchhợp rèn luyện cho học sinh giải thành thạo đúng phương pháp toán có văn nhằmnâng cao chất lượng dạy và học, luôn là vấn đề rất cần thiết và cấp bách của giáoviên hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu:
Giúp cho học sinh lớp 3B có kĩ năng đọc, phân tích đề toán và giải được bàitoán có lời văn là tiêu chí hàng đầu, là vấn đề cần được quan tâm để nâng dầnchất lượng giảng dạy môn Toán và nâng cao tỉ lệ học sinh khá giỏi của lớp 3Bnói riêng và của trường Tiểu học Thuận Tân nói chung
3 Đối tượng nghiên cứu:
+ Đối tượng nghiên cứu: Kinh nghiệm dạy toán có văn (dạng toán giảm đimột số lần) cho học sinh lớp 3B trường tiểu học Thuận Tân
+ Khách thể nghiên cứu: Giáo viên và học sinh lớp 3B năm học 2014
-2015 trường Tiểu học Thuận Tân
4 Phạm vi nghiên cứu:
Do thời gian nghiên cứu có hạn, khả năng còn hạn chế nên đề tài này tôi
chỉ tìm hiểu trong phạm vi sách giáo khoa, sách giáo viên Toán lớp 3 về giảitoán có văn dạng toán giảm đi một số lần cho học sinh lớp 3B trường Tiểu họcThuận Tân năm học 2014 - 2015
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, bản thân tôi vận dụng nhữngphương pháp nghiên cứu cần thiết phù hợp Vì thế để hoàn thành đề tài này tôi
sử dụng những phương pháp nghiên cứu như sau:
5.1 Phương pháp đọc tài liệu:
Là phương pháp mà người nghiên cứu lựa chọn và đọc những tài liệu cóliên quan đến vấn đề cần nghiên cứu:
- Sách giáo viên, Sách giáo khoa Toán lớp 3
Trang 3- Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học Toán
- Phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học
- Chuẩn kiến thức kĩ năng dạy học các môn học cấp Tiểu học lớp 3
- Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học các môn cấp Tiểuhọc
5.2 Phương pháp điều tra thực tiễn:
- Dự giờ bạn đồng nghiệp, dự chuyên đề cụm, dự chuyên đề của trường,dự chuyên đề của phòng Giáo dục và Đào tạo học hỏi và rút kinh nghiệm để cóphương pháp dạy học tốt hơn
- Đàm thoại: Bản thân trao đổi với các giáo viên có nhiều kinh nghiệm
trực tiếp dạy lớp 2, lớp 3 trong trường và các bạn đồng nghiệp trường khu vựcliên xã trong huyện để tìm hiểu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cũng như phươngpháp dạy học môn Toán làm thế nào giúp học sinh thực hiện thành thạo, giảiđúng phương pháp về toán có văn Bên cạnh đó tôi còn trao đổi với học sinh vềhọc giờ Toán để nắm tâm tư, nguyện vọng của các em từ đó giáo viên có hướnggiúp đỡ kịp thời
- Thực nghiệm: tôi đã thử nghiệm các phương pháp dạy học từ đó điềuchỉnh kế hoạch dạy học sao cho phù hợp với mọi đối tượng của học sinh
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu kết quả:
- Đối chiếu so sánh giữa phương pháp giảng dạy mà tôi nghiên cứu vớicách dạy trước kia để rút ra điểm ưu việt nhất trong giảng dạy toán có văn
6 Giả thuyết khoa học:
Việc dạy học cho học sinh làm tốt giải toán có lời văn của giáo viên lớp 3trường tiểu học Thuận Tân trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả quantrọng nhưng cũng còn tồn tại, hạn chế ở việc vận dụng các phương pháp dạytoán dạng toán giảm đi một số lần Trên cơ sở lý luận và thực trạng, có thể vậndụng những kinh nghiệm dạy toán có văn (dạng toán giảm đi một số lần) giúpviệc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh lớp 3B nói riêng và học sinhtrường tiểu học Thuận Tân nói chung
Trang 4II NỘI DUNG:
1 Cơ sở lí luận:
1.1 Các văn bản chỉ đạo của Ngành, của Trung ương, của địa phương.
Trong giai đoạn hiện nay sự nghiệp Giáo Dục - Đào tạo ở Việt Nam đượcĐảng, Nhà nước và xã hội quan tâm Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là quốcsách hàng đầu Vì thế, Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành nhiều văn bản chỉ đạocho các trường Tiểu học thực hiện, gồm các văn bản sau:
- Công văn 5842/BGD&ĐT- GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2011 về hướngdẫn điều chỉnh việc dạy và học cho học sinh Tiểu học;
- Quyết định số 16/2006/QĐ- BGD&ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông cấpTiểu học;
- Công văn số 9832/ BGD & ĐT-GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006 về việc
hướng dẫn thực hiện chương trình cấp Tiểu học;
- Thông tư 30/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành quy định đánh giá về xếp loạihọc sinh tiểu học;
- Chuẩn kiến thức kĩ năng, lớp 3 các môn học cấp Tiểu học giúp người giáoviên có định hướng đúng đắn về chuẩn kiến thức cơ bản tối thiểu của từng mônhọc, bài học
1.2 Các quan điểm về giáo dục:
- Trong dạy học và giáo dục, người giáo viên phải thực hiện mục tiêu:
“Hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có văn hoá, có kĩ thuật, có kỉ luật và giàu tính sáng tạo, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội”. Để làm được điều đó ta cần đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáodục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện cho học sinh kỹnăng kỹ xảo cơ bản cần thiết, tư duy sáng tạo, từng bước áp dụng các phươngpháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy- học, bảo đảm điều kiện
Trang 5và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh Tài liệu BDTX chu kỳ
1997-2000 đã định hướng cho giáo viên kiểu dạy học: “Hướng tập trung vào học sinh”. Như vậy, trong dạy học giáo viên cần phối hợp nhuần nhuyễn cácphương pháp, các hình thức tổ chức dạy học phù hợp với các đối tượng học sinhnhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh ở mỗitiết học Chính vì thế, việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh là nhiệm vụquan trọng của nước ta nói chung và của Ngành Giáo dục và Đào tạo nói riêng,trong đó đội ngũ giáo viên là lực lượng nồng cốt để thực hiện nhiệm vụ ấy
- Một số phụ huynh học sinh cho rằng các em chỉ cần thực hiện được bốnphép tính: cộng, trừ, nhân, chia là đủ còn việc giải toán có lời văn là không cầnthiết chính vì vậy còn rất nhiều học sinh chưa tích cực trong học tập nên việcgiải được các bài toán có văn còn rất hạn chế Trong khi đó mục tiêu của giáodục là phải phát triển con người toàn diện, làm tính, giải toán thành thạo là nềntảng để học các môn khác và cũng là hành trang để giúp các em học tốt các lớptrên và bậc học trung học cơ sở
2 Cơ sở thực tiễn:
2.1 Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Qua việc dạy và học Toán lớp 3, tôi đã nhận thấy chương trình Toán lớp 3có rất nhiều dạng toán về phép tính cộng, trừ, nhân, chia nhưng quan trọng hơnlà giải toán có lời văn học sinh gặp rất nhiều khó khăn vì thế giáo viên cần phảihướng dẫn thật cụ thể, rõ ràng, chi tiết, phù hợp với từng đối tượng của học sinhnhằm giúp các em thành thạo về làm tính giải toán Giáo viên phải hình thànhcho các em biết cách phân tích đề, xác định dạng toán, tìm cách giải, đặt lời vănhợp lý cho mỗi bài toán đã là việc làm hết sức quan trọng
Để rèn kĩ năng giải toán có văn (dạng toán giảm đi một số lần) đây là vấnđề cần giải quyết và làm sáng tỏ Về kiến thức đòi hỏi học sinh phải nắm vữngvà thực hiện thành thạo bốn phép tính: cộng, trừ, nhân, chia Như vậy giáo viênphải hướng dẫn kĩ năng làm tính và giải toán cho học sinh nắm vững, thậm chíhiểu và thực hành thành thạo ngay tại lớp Trong quá trình dạy học giáo viên
Trang 6phải hệ thống kiến thức từ đơn giản đến phức tạp, giáo viên hướng dẫn từngbước và cho một số bài tập để rèn cho học sinh kĩ năng làm tính, giải toán.
Việc dạy học Toán về giải toán có văn lớp 3, trước hết là giáo viên giúp các
em luyện tập, vận dụng kiến thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn Qua đó,từng bước giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suyluận lôgíc Thông qua giải toán mà học sinh rèn được phong cách của người laođộng mới: làm việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và cần cù, chịu khó trongcông việc
- Nhưng thực tế trong quá trình hướng dẫn, tổ chức cho học sinh học tập,với khả năng phân tích, tổng hợp còn hạn chế, đặc biệt là thiếu kĩ năng phân tíchnhững hiện tượng, những thay đổi trong sinh hoạt, học tập, nên các em luôn ởtrong tình trạng bị động, thiếu tự tin Để hình thành những hiểu biết ban đầu vềkiến thức kĩ năng, các em còn rập khuôn, máy móc bắt chước làm theo giáoviên, theo anh chị, theo cha mẹ một cách máy móc không sáng tạo
Qua thực tế giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy: do kĩ năng đọcmột số em còn hạn chế, đọc chậm nên ảnh hưởng đến khả năng phân tích tổnghợp dẫn đến kết quả như sau:
- Học sinh chưa xác định được dạng toán
- Học sinh chưa tóm tắt được đề bài
- Học sinh chưa chọn và thực hiện đúng phép tính
- Viết câu có lời giải và đáp số chưa chính xác
Qua kết quả điều tra học sinh về giải toán có văn (dạng toán giảm đi một
số lần) của học sinh lớp 3 năm học 2013 - 2014 như sau:
Trang 7KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NĂM HỌC 2013 - 2014
SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
2 2 Sự cần thiết của đề tài:
Đề tài có tính khả thi, rất cần thiết đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy,nhằm giới thiệu những kinh nghiệm và phương pháp phù hợp đồng thời pháthuy tính tích cực, sáng tạo của học sinh lớp 3B trong giờ học Toán một cáchhiệu quả, đúng tinh thần đổi mới sách giáo khoa hiện nay
3 Nội dung vấn đề
3.1 Vấn đề đặt ra:
Khi dạy học môn Toán lớp 3 về giải toán có văn, cuối tiết học tôi tiếnhành kiểm tra chất lượng học sinh nhưng kết quả chưa cao, tiết học diễn ra nặngnề, không đảm bảo thời gian tiết dạy, học sinh uể oải, chán học, sợ học, tiết họccác em rất thụ động; giáo viên rất lo lắng, trăn trở khi dạy tiết này Khi lên lớp
dù tôi chuẩn bị chu đáo, nghiên cứu thật kĩ nội dung bài dạy và cố gắng khắc sâukiến thức nội dung bài học, cho áp dụng thực hành nhiều bài tập nhưng các emhọc sinh khó nhớ, dễ làm sai, lời giải và phép tính không chính xác Để bản thânkhi lên lớp mạnh dạn, tự tin không lo lắng việc dạy giải toán có lời văn, tôi luôntìm ra biện pháp đổi mới làm sao để giúp học sinh có phương pháp dễ học, dễnhớ, dễ làm và làm nhanh làm đúng
Mục đích của giải toán có lời văn là giúp học sinh tự tìm hiểu được mốiquan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm, mô tả mối quan hệ đó bằng cấu trúcphép tính, trình bày lời giải và ghi đáp số Để đạt được mục đích đó quả là mộtvấn đề vô cùng khó đối với học sinh lớp 3
Trang 83.2 Giải pháp, chứng minh vấn đề được giải quyết:
Từ thực trạng trên để nâng cáo hiệu quả môn Toán, giáo viên phải lựa chọnvà phối kết hợp các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với mọi đối tượnghọc sinh nhằm giúp các em phát huy tốt tính tích cực, sáng tạo, hứng thú tronghọc tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả môn Toán trong nhà trường nói chung vàchất lượng giải toán có văn nói riêng Tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp giảitoán có lời văn cho học sinh lớp 3 như sau:
3.2.1 Để các em học tốt thì việc đầu tiên là phải thống nhất biện pháp giáo dục giữa gia đình và nhà trường:
Chúng ta đều biết học sinh lớp 3 đến trường còn phụ thuộc vào sự quantâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô Các em chưa có ý thức tự giác học tập,chính vì vậy giáo dục ý thức tích cực học tập cho các em là một yếu tố khôngkém phần quan trọng Trong lớp học, trình độ của các em không đồng đều, ýthức học tập của một vài em chưa cao Để thực hiện tốt cuộc vận động “Haikhông” của Ngành giáo dục và giúp phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việcchỉ dạy, giáo dục con em mình, tôi mạnh dạn trao đổi với phụ huynh học sinhtrong buổi họp phụ huynh về chỉ tiêu phấn đấu của lớp và những yêu cầu cầnthiết giúp các em có đủ điều kiện để học tập như: mua sắm đầy đủ sách vở, đồdùng học tập, … và cách hướng dẫn các em tự học ở nhà, thường xuyên quantâm, nhắc nhở đến việc học của con em mình
3.2.2 Chuẩn bị cho việc giải toán:
Để giúp cho học sinh có kĩ năng thành thạo trong việc giải toán thì giáoviên không chỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toán mà còn một yếu tố không kémphần quan trọng là luyện kĩ năng đọc trong giờ Tiếng Việt
Chúng ta đã biết, học sinh lớp 3 còn thụ động, rụt rè trong giao tiếp.Chính vì vậy, để các em mạnh dạn tự tin khi phát biểu, trả lời câu hỏi thì ngườigiáo viên cần phải: Luôn luôn gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp, tổ chứccác trò chơi học tập, được trao đổi, trình bày ý kiến, chia sẻ thông tin giữa họcsinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên trong giờ học sẽ giúp các emmạnh dạn, tự tin đóng góp ý kiến xây dựng bài Bên cạnh đó, người giáo viên
Trang 9cần phải chú ý nhiều đến kĩ năng làm tính, giải toán của học sinh nhanh nhẹn,chính xác.
Để giúp học sinh thực hiện tốt về giải toán có lời văn, tôi luôn luôn chú ýrèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho các em trong giờ học Tiếng Việt, bởivì học sinh đọc thông, viết thạo là yếu tố “đòn bẩy” giúp học sinh hiểu rõ vấn đềvà tìm cách giải bài toán có lời văn một cách thành thạo
3.2.3 Giúp học sinh xác định đề bài đã cho thuộc dạng toán nào đã học:
Giáo viên phải giúp học sinh biết được bài toán có lời văn thuộc dạng toánnào đã học ?
Học sinh có hiểu được cấu trúc của bài toán, phân tích được nội dung bàitoán, các em mới tìm ra cách giải toán phù hợp
Bài tập hướng dẫn:
Đoạng thẳng AB dài 4cm, đoạn thẳng CD giàm đi 2 lần đoạn thẳng AB Hỏiđoạn thẳng CD dài mấy xăng-ti-mét ? (giáo viên hướng dẫn tóm tắt và lời giải).Tóm tắt
Giáo viên vẽ sơ đồ đoạn thẳng và hướng dẫn học sinh tóm tắt
Học sinh đọc đề toán Sau đó giáo viên nêu câu hỏi phân tích đề bài
Giáo viên hỏi: Bài toán cho biết gì ?
Học sinh trả lời: Đoạn thẳng AB dài 4cm, đoạn thẳng CD giảm đi 2 lần.Bài toán hỏi gì ?
Học sinh trả lời: Đoạn thẳng CD dài mấy cm ?
Trang 10Bài giải.
Đoạn thẳng CD dài là:
4 : 2 = 2 (cm)
Đáp số: 2 cm
Giáo viên gợi ý học sinh nhận xét và rút ra kết luận
Giáo viên chốt ý, kết luận: “Muốn giảm một số đi nhiều lần ta chia số đó
cho số lần ”.
Giáo viên cho học sinh nhắc lại Yêu cầu học sinh phải nắm được phần kết luận để vận dụng thực hành
Học sinh thực hành ở ví dụ 1
Ví dụ 1 : Năm nay chị 10 tuổi Tuổi em giảm đi 2 lần tuổi chị Hỏi năm nay
em bao nhiêu tuổi ?
- Học sinh đọc đề toán, phân tích đề bài
- Giáo viên giới thiệu cho học sinh biết 2 bộ phận của bài toán:
+ Những cái đã cho (dữ kiện): Năm nay chị 10 tuổi, tuổi em
giảm đi 2 lần tuổi chị
+ Và cái phải tìm (câu hỏi) Hỏi năm nay em bao nhiêu tuổi ?
+ Giáo viên cho học sinh xác định dạng toán gì đã học ? (Dạng toán giảm đi một số lần)
+ Học sinh nhắc lại nêu cách thực hiện muốn giảm một số đi nhiều lần
ta chia số đó cho số lần
- Giáo viên hướng dẫn tóm tắt đề toán, phân tích đề toán để tìm cách giải.+ Bài toán cho biết gì ? (Tuổi chị 10 tuổi, tuổi em giảm đi 2 lần)
+ Bài toán hỏi gì ? (Năm nay em bao nhiêu tuổi ?)
+ Muốn biết em năm nay bao nhiêu tuổi, ta thực hiện như thế nào ? (Ta lấy số tuổi của chị chia cho số lần giảm của tuổi em)
- Giao việc học sinh giải bài toán, sửa bài, nhận xét
Bài giải
Số tuổi em là:
10 : 2 = 5 (tuổi)
Trang 11Ví dụ 2 : Mẹ hái được 18 quả cam, em hái giảm 3 lần số cam của mẹ Hỏi
em hái được bao nhiêu quả cam ?
- Học sinh đọc đề toán, phân tích đề bài
- Giáo viên cho học sinh xác định dạng toán gì đã học ? (Dạng toán giảm đimột số lần)
- Hỏi lại cách thực hiện giảm đi một số lần
+ Học sinh nêu cách thực hiện muốn giảm một số đi nhiều lần ta chia số đó cho số lần
- Giáo viên hướng dẫn tóm tắt đề toán, phân tích đề toán để tìm cách giải.+ Bài toán cho ta biết gì ? (Mẹ hái được 18 quả cam, em hái giảm 3 lần
số cam của mẹ)
+ Bài toán hỏi gì ? (Em hái được bao nhiêu quả cam ?)
+ Muốn biết em hái được bao nhiêu quả cam, ta thực hiện như thế nào? (Ta lấy số cam của mẹ hái được chia cho số lần cam em hái)
- Giao việc học sinh giải bài toán, sửa bài, nhận xét
Bài giải
Số quả cam em hái được là :
18 : 3 = 6 (quả cam)Đáp số: 6 quả cam
Trang 12Ví dụ 3: Một buổi tập múa có 25 bạn nữ, số bạn nam giảm 5 lần số bạn nữ
Hỏi buổi tập múa có bao nhiêu bạn nam ?
- Học sinh đọc đề toán, phân tích đề bài
- Giáo viên cho học sinh xác định dạng toán gì đã học ? (Dạng toán giảm đimột số lần)
- Hỏi lại cách thực hiện giảm đi một số lần
+ Học sinh nêu cách thực hiện muốn giảm một số đi nhiều lần ta chia số đó cho số lần
- Giáo viên hướng dẫn tóm tắt đề toán, phân tích đề toán để tìm cách giải.+ Bài toán cho ta biết gì ? (Buổi tập múa có 25 học sinh nữ)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa ? (số bạn nam giảm 5 lần số bạn nữ)+ Bài toán hỏi gì ? (buổi tập múa có bao nhiêu bạn nam ?)
+ Muốn biết buổi tập múa có bao nhiêu bạn nam ta làm như thế nào? (Ta lấy số bạn nữ chia cho số lần giảm các bạn nam)
- Giao việc học sinh giải bài toán, sửa bài, nhận xét
Bài giải
Số bạn nam trong buổi tập múa là:
25 : 5 = 5 (bạn nam) Đáp số: 5 bạn nam
* Khi dạy toán có văn giáo viên phải rèn cho học sinh kĩ năng đọc đề, phân tích đề bài và xác định bài toán thuộc dạng toán nào đã học, từ đó giúp học sinh giải toán đúng với yêu cầu của đề bài một cách thành thạo, chính xác góp phần nâng cao hiệu quả môn Toán
3.2.5 Rèn kỹ năng trình bày bài giải.
Như chúng ta đã biết, các dạng toán có lời văn học sinh phải biết trình bàybài giải theo các bước: tóm tắt đề bài, lời giải, phép tính, đáp số
Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học,hợp lý cũng là yêu cầu quan trọng trong quá trình dạy học môn Toán Muốnthực hiện yêu cầu này trước tiên giáo viên phải tuân thủ cách trình bày bài giảitheo hướng dẫn, theo quy định