Muốn hiểu và biết được cách sửdụng từ chính xác các em phải nắm được mục đích, yêu cầu dựa trên cơ sở mởrộng vốn từ theo chủ điểm, từ những hiện tượng cụ thể ấy phân môn Luyện từ và câu
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài:
Môn Tiếng Việt là môn học góp phần quan trọng trong việc giúp họcsinh học tốt các môn khác Dạy Tiếng Việt ở Tiểu học là dạy phát triển ngônngữ cho người bản ngữ vì bản thân các em đã biết tiếng mẹ đẻ, chúng ta cầndạy cho các em biết cách sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp Trong môn TiếngViệt ở Tiểu học bao gồm nhiều phân môn như: Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện,Tập làm văn, Tập viết, Luyện từ và câu Mỗi phân môn đều có vai trò quantrọng riêng, trong đó phân môn Luyện từ và câu phần mở rộng vốn từ có vaitrò đối với việc phát triển ngôn ngữ của học sinh Phân môn này có nhiệm vụrèn luyện tư duy, làm giàu vốn từ cho học sinh; giúp học sinh mở rộng, pháttriển vốn từ phong phú, nắm nghĩa của từ chính xác; luyện cách sử dụng từ saocho phù hợp với ngữ cảnh Ngoài ra, phân môn Luyện từ và câu còn có nhiệm
vụ dạy với tư cách là một phân môn độc lập Muốn hiểu và biết được cách sửdụng từ chính xác các em phải nắm được mục đích, yêu cầu dựa trên cơ sở mởrộng vốn từ theo chủ điểm, từ những hiện tượng cụ thể ấy phân môn Luyện từ
và câu phần mở rộng vốn từ còn cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản
về các phép tu từ, so sánh, nhân hoá, nhằm rèn cho học sinh cách dùng từ trongđặt câu để vận dụng vào những kĩ năng đã học, những kiến thức ấy giúp các
em sử dụng từ một cách chính xác khi nói cũng như khi viết Nhưng trong thực
tế học sinh đã nắm được những vốn kiến thức đó hay chưa? Các em đã biếtcách dùng từ hay hiểu nội dung mình cần diễn đạt chưa? Đó là điều quan trọng
mà chúng ta cần quan tâm
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 3, qua dự giờ, trao đổi kinhnghiệm với các anh, chị đồng nghiệp; qua tiết dạy trên lớp, tôi nhận thấy số họcsinh học tốt phân môn Luyện từ và câu phần mở rộng vốn từ còn hạn chế Một
số em trong quá trình học tập còn thụ động, cách dùng từ chưa chính xác, chưa
tự tin khi nói trước lớp Từ những yêu cầu và tồn tại nêu trên, tôi luôn phân vân
Trang 2làm thế nào để tất cả học sinh lớp 3C học tốt hơn phân môn này Đây cũng chính
là lí do tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ
và câu phần mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3C” với mong muốn qua đề tài
này sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập phân môn Luyện từ và câu nóiriêng và môn Tiếng Việt nói chung cho học sinh lớp 3
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu sự sắp xếp nội dung về từ trong các bài học Nghiên cứu cáctài liệu có liên quan cho việc dạy phân môn Luyện từ và câu Từ đó giúp họcsinh hiểu cái hay, cái đẹp của tiếng Việt, có ý thức giữ gìn và phát huy cái đẹp,
sự trong sáng của tiếng Việt
- Giúp học sinh rèn luyện tư duy, mở rộng vốn từ và giáo dục thẩm mĩcho các em một cách hiệu quả nhất
3 Đối tượng nghiên cứu:
Giải pháp nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu phần mở rộngvốn từ cho học sinh lớp 3C, trường Tiểu học Phước Hội
4 Phạm vi nghiên cứu:
Tập thể học sinh lớp 3C trường Tiểu học Phước Hội năm học 2014
-2015
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện được mục đích của đề tài đặt ra, tôi mạnh dạn nghiên cứu,học hỏi, tìm tòi áp dụng những phương pháp sau:
a Nghiên cứu tài liệu:
- Tôi đã đọc, nghiên cứu nội dung, chương trình môn Tiếng Việt nói chung
và phân môn Luyện từ và câu lớp 3 nói riêng Đồng thời nghiên cứu sách giáokhoa, vở bài tập Tiếng Việt lớp 3 cũng như sách giáo viên môn Tiếng Việt lớp 3.Đọc và tìm hiểu kỹ những yêu cầu cơ bản về chuẩn kiến thức, kỹ năng; về
Trang 3hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học các môn học ở Tiểu học Đọc và nghiêncứu những yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng giáo dục thái độ thẩm mĩ chohọc sinh.
- Tôi nghiên cứu các loại sách báo như: Tạp chí “Giáo dục Tiểu học”,
“Phương pháp dạy học các môn học lớp 3 - Tập hai - NXBGD” Giáo trình
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt 3” ở Tiểu học - NXB Đại học sư phạm Giáotrình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 NXB Đại học sư phạm”
- Đồng thời, tôi thu thập thông tin từ các bạn đồng nghiệp và tham khảo cáctài liệu có liên quan về Hướng dẫn giảng dạy phân môn Luyện từ và câu, chọn ranhững phương pháp phù hợp để vận dụng vào thực tế của lớp mình dạy
- Đây là phương pháp quan trọng, giúp cho người nghiên cứu có cơ sở lýluận chung để thực hiện đề tài
b Điều tra thực trạng:
Tôi đã điều tra và tìm hiểu thực tế trình độ, hoàn cảnh của từng học sinhtrong lớp, tìm hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý của từng em Đồng thời quan sát sảnphẩm của từng em qua việc thường xuyên trò chuyện thân mật với các em đểnắm được khả năng của từng học sinh
6 Giả thuyết khoa học:
Trang 4Phân môn Luyện từ và câu phần mở rộng vốn từ chiếm vị trí vô cùngquan trọng ở bậc Tiểu học, bởi vì giai đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt trongquá trình hình thành kĩ năng cho học sinh Đặc biệt giúp cho học sinh lớp tôihiểu biết về cách dùng từ khi nói cũng như khi viết hợp lý Đồng thời phân mônLuyện từ và câu phần mở rộng vốn từ giúp các em vận dụng các kỹ năng đã học
để học sinh nói, viết một cách chính xác vào tất cả các môn học Nếu các emkhông đạt được các yêu cầu trên thì các em sẽ không có kiến thức để làm cầunối cho các môn học khác Vì thế, nếu đề tài nghiên cứu thành công đưa vào ápdụng trong thực tế giảng dạy sẽ giúp tôi và giáo viên trong trường nâng cao chấtlượng dạy học Cũng có nghĩa là tôi đã tìm ra con đường tốt nhất để giúp họcsinh sử dụng từ một cách phong phú, chính xác, phù hợp khi nói cũng như khiviết đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện nay
Trang 5
II NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận:
1.1 Các văn bản chỉ đạo của Ngành:
- Thực hiện Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg, ngày 11 tháng 6 năm 2001 củaThủ tướng Chính phủ ban hành về việc đổi mới nội dung Chương trình giáo dụcphổ thông
- Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT, ngày 5 tháng 5 năm 2006 của BộGiáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông - cấp Tiểu học,trong đó có Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học
- Công văn số 9832/2006/BGDĐT-GDTH của Bộ Giáo dục và Đào tạongày 01 tháng 9 năm 2006 về Hướng dẫn thực hiện chương trình các môn họclớp 1, 2, 3, 4, 5
- Công văn số 5842/2011/BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 01tháng 9 năm 2011, về việc Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy họccác môn học cấp Tiểu học
- Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 28tháng 8 năm 2014: Thông tư Ban hành Quy định đánh giá học sinh Tiểu học
1.2 Các quan niệm khác nhau về giáo dục:
- Giáo dục là một nhu cầu có tính chất sống còn của xã hội loài người Làmột quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ, những hành vi,thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng, chính trị,đạo đức, lao động, thẩm mỹ và thể chất của học sinh
- Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong môitrường giáo dục nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học đề ra
- Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếngViệt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kỹ năng dùng từ khi nói hay khi viếtcho học sinh
Trang 6- Phân môn Luyện từ và câu phần mở rộng vốn từ giúp học sinh tạo ranhững môi trường giao tiếp có chọn lọc theo định hướng, trang bị những tri thứcnền tảng và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt khi thực hành nói cũngnhư thực hành viết.
2 Cơ sở thực tiễn:
2.1 Thực tiễn vấn đề cần nghiên cứu:
- Chất lượng giáo dục được nâng cao phù hợp với yêu cầu phát triển của
xã hội, đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức, chương trình quy định, dùng
từ phải đúng, phải chính xác trong từng hoàn cảnh khi nói cũng như khi viết.Nhưng thực tế học sinh lớp tôi khả năng dùng từ còn hạn hẹp, đơn điệu, chưahiểu nghĩa, chưa biết phân loại và sử dụng từ thiếu chính xác dẫn đến chưa tự tinkhi nói cũng như khi viết:
- Đối với giáo viên:
+ Qua các tiết dự giờ tham khảo, hầu hết các tiết dạy phân môn Luyện từ
và câu chưa được giáo viên đầu tư nhiều mà chủ yếu dựa vào sách giáo khoa vàsách giáo viên là chính;
+ Chưa đi sâu vào cách tổ chức lớp học như thế nào cho sinh động để gâyhứng thú và phát huy tính tích cực học tập của học sinh;
+ Trong công tác giảng dạy phân môn Luyện từ và câu đa số giáo viênchưa thật sự quan tâm đến cách dùng từ khi nói cũng như khi thực hành làm bàiviết; chưa biết vận dụng kiến thức xen vào khi dạy các môn học khác;
+ Bên cạnh đó còn tồn tại một thực trạng phổ biến hiện nay là: Nhiều giáoviên khi dạy còn mang tính áp đặt, đơn điệu, chưa phù hợp với từng đối tượnghọc sinh;
+ Giáo viên chưa khai thác được ý đồ của các bài học dẫn đến việc giảinghĩa từ, mở rộng vốn từ giáo viên còn lúng túng
- Đối với học sinh:
Trang 7+ Vốn từ của bản thân học sinh còn quá ít ỏi, các em chưa chịu khó suynghĩ, nhiều em còn chưa hiểu rõ nghĩa của từ nên khi sử dụng từ khi nói cũngnhư khi viết dùng từ chưa phù hợp với hoàn cảnh, độ chính xác chưa cao;
+ Học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng từ khithực hành nói cũng như thực hành viết dẫn đến tiếp thu bài mơ hồ, học sinhchưa hiểu hết được vốn từ nên khả năng chọn từ không phù hợp càng lớn, độchính xác thấp, sự trình bày tư tưởng tình cảm không rõ ràng, tính đặc sắc củabài thấp
- Ngoài ra, gia đình cũng chưa quan tâm đến việc học của con em mình,luôn giao phó việc học tập cho nhà trường, chưa tạo điều kiện phối hợp với giáoviên để giúp các em học tốt hơn Gia đình cứ nghĩ rằng cho con em đến trường
là đủ, không cần bận tâm Từ những ý nghĩ sai lầm ấy đã dẫn đến chất lượng họctập của con em chưa cao
2.2 Sự cần thiết của đề tài:
Cũng như các môn học khác, trong việc giảng dạy phân môn Luyện từ vàcâu phần mở rộng vốn từ rất quan trọng Học sinh phải hiểu được nghĩa của từ
để khi các em sử dụng từ mới phù hợp được mục đích của hoàn cảnh mà các emmuốn sử dụng Vậy dạy và học tốt về phân môn Luyện từ và câu phần mở rộngvốn từ có ý nghĩa quyết định thành công của việc dạy và học môn Tiếng Việt thìhọc sinh cần phải đạt được các kiến thức - kĩ năng sau:
+ Phải hiểu nghĩa của từ;
+ Phải biết dùng từ phù hợp với mục đích bài học;
+ Phải hệ thống, phân loại được vốn từ;
+ Phải có kĩ năng sử dụng từ
Để đạt được những mục tiêu trên cần thông qua quá trình rèn luyện thườngxuyên, liên tục và lâu dài của từng học sinh cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ tậntình, chu đáo của giáo viên trên cơ sở phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạocủa học sinh thì chất lượng học Tiếng Việt nói chung, và học phân môn Luyện
từ và câu phần mở rộng vốn từ chắc chắn sẽ được nâng cao
Trang 83 Nội dung đề tài:
3.1 Vấn đề đặt ra:
Nội dung chủ yếu dạy học ở sách giáo khoa phân môn Luyện từ và câuphần mở rộng vốn từ được sắp xếp đan xen nhau thông qua các hệ thống học tậptheo quan điểm tích hợp từng chủ điểm phù hợp với những kiến thức và rènluyện kĩ năng gắn bó chặt chẽ với nhau Các chủ điểm được dạy và học: Măngnon, mái ấm, tới trường, cộng đồng, quê hương, Bắc - Trung - Nam, anh em mộtnhà, thành thị - nông thôn, bảo vệ Tổ quốc, sáng tạo, nghệ thuật, thể thao, ngôinhà chung, bầu trời và mặt đất Học sinh muốn học tốt những chủ điểm trên thìphải hiểu rõ đặc điểm cụ thể của từng chủ điểm mà phân môn Luyện từ và câucung cấp Qua các bài mở rộng vốn từ học sinh được thực hành qua các dạng bàitập chủ yếu:
+ Kỹ năng phong phú hóa và hệ thống hóa vốn từ tức là giúp học sinh biếtcách dựa vào những dấu hiệu ngữ nghĩa hoặc mô hình cấu tạo nào đó để mởrộng thêm vốn từ ngữ của mình;
+ Kĩ năng giải nghĩa từ giúp các em nắm chắc nghĩa của các từ đã đượchọc;
+ Kĩ năng sử dụng từ, tích cực hóa vốn từ tức là giúp học sinh biết lựachọn, kết hợp các từ ngữ trong vốn từ của mình để tạo nên câu, đoạn theo nhữngquy tắc nhất định tức là tạo ra các sản phẩm lời nói đúng đắn và biểu cảm đểphục vụ giao tiếp một cách sinh động Một trong những nội dung quan trọng củaviệc rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc Tiểu học là giúp học sinh biết sử dụng
từ một cách phù hợp với nội dung văn cảnh, giúp các em thể hiện ý văn sáng
Trang 9sủa, rõ ràng giúp người đọc hiểu nội dung bài văn, câu văn một cách dễ dàng,chính xác
3.2 Giải pháp, chứng minh vấn đề được giải quyết:
Với đặc trưng của phân môn Luyện từ và câu phần mở rộng vốn từ cùngcác mâu thuẫn giữa những yêu cầu của xã hội, nhu cầu hiểu biết của học sinhvới thực trạng giảng dạy của giáo viên Đồng thời để nâng cao kiến thức - kĩnăng làm các bài tập Luyện từ và câu phần mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3.Tôi mạnh dạn đưa ra những giải pháp sau:
3.2.1 Các bước hướng dẫn học sinh làm bài tập Luyện từ và câu phần mở rộng vốn từ:
- Đọc và xác định yêu cầu của bài tập (Giáo viên giúp học sinh nắm yêu
cầu của bài)
- Giáo viên hướng dẫn mẫu
- Hướng dẫn học sinh thực hành làm bài tập bằng nhiều hình thức như:làm vào vở, bảng con, vở bài tập, phiếu học tập, qua các hoạt động như: làm cánhân, nhóm đôi, nhóm bốn, nhóm tổ,
- Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điềucần nhớ nhất về kiến thức Đây là bước rất quan trọng vì học sinh có hiểu bài thìmới nhận xét được đúng, sai
3.2.2 Mội số lưu ý khi dạy phân môn Luyện từ và câu phần mở rộng vốn từ
- Giáo viên cần nắm vững nội dung và mức độ yêu cầu của từng bài tập đểhướng dẫn học sinh thực hành cho sát với trình độ học sinh vùng miền
- Kết hợp phát huy tác dụng kênh hình trong sách giáo khoa và một số đồdùng dạy học đơn giản nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức và tích cực thamgia vào hoạt động thực hành về dùng từ, đặt câu
Trang 10- Khi hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ theo chủ điểm thông qua nhiềubiện pháp như tìm từ có cùng hình thức cấu tạo như:
+ Từ gần nghĩa, ví dụ: Khi dạy về chủ điểm cộng đồng giáo viên cho họcsinh tìm từ gần nghĩa với từ “đồng chí” học sinh sẽ tìm được từ gần nghĩa là từ
“đồng đội” hoặc từ “đồng bào” học sinh sẽ tìm được từ “đồng hương”
+ Từ cùng nghĩa, ví dụ: Khi dạy về chủ điểm bảo vệ Tổ quốc tìm từ cùngnghĩa với từ “Tổ quốc” học sinh sẽ tìm được các từ như: Đất nước, non sông,nước nhà,
+ Từ trái nghĩa, ví dụ: Khi dạy chủ điểm thể thao bài từ ngữ về thể thao.Dấu phẩy Ở bài tập 2 sách giáo khoa Tiếng Việt 3, tập 2, trang 93 Khi học sinhtìm được những từ ngữ nói về kết quả thi đấu thể thao, giáo viên có thể cho họcsinh tìm hiểu và giải thích thêm từ “được” và “thua” là từ trái nghĩa, từ đó mởrộng thêm cho học sinh vốn kiến thức Muốn đạt được những điều đó thì giáoviên phải tăng cường luyện kĩ năng dùng từ trong nói, viết cho học sinh Tổchức cho học sinh hoạt động tích cực trong tất cả các môn học thông qua tổ chứccác trò chơi học tập
- Thường xuyên kiểm tra, sửa chữa bài tỉ mỉ cho học sinh Tuyên dươngkịp thời những em học tập có cố gắng Đặc biệt cần kết hợp hài hòa giữa ba môitrường giáo dục: Nhà trường - gia đình - xã hội
3.2.3 Sử dụng các phương pháp dạy học:
3.2.3.1 Phương pháp luyện tập theo mẫu: Đây là phương pháp được sử
dụng nhiều nhất khi dạy Luyện từ và câu phần mở rộng vốn từ lớp 3 Thông quaviệc hướng dẫn học sinh làm mẫu một phần của bài tập, giáo viên giúp các emnhận biết cách làm bài tập để tự mình hoàn thành bài tập
Ví dụ: Khi dạy bài “Từ ngữ về sáng tạo Dấu phẩy” Sách giáo khoa TiếngViệt 3, tập 2, trang 35
Bài tập 1: Dựa vào những bài tập đọc và chính tả đã học ở các tuần 21, 22,
em hãy tìm các từ ngữ:
+ Chỉ trí thức: M: bác sĩ
Trang 11+ Chỉ hoạt động của trí thức: M: nghiên cứu
3.2.3.2 Phương pháp phân tích ngôn ngữ: Thường được sử dụng khi
hướng dẫn học sinh giải nghĩa từ hoặc mở rộng vốn từ theo cấu tạo Phươngpháp này hay được sử dụng trong tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu, khi nào cầncung cấp từ ngữ hoặc thuật ngữ Vì vậy khi dạy trước tiên giáo viên phải hiểunghĩa của từ và phải biết cách giải nghĩa cho phù hợp với hoàn cảnh, đối tượnghọc sinh
Ví dụ: Khi dạy bài “Từ ngữ về cộng đồng Ôn tập câu Ai làm gì?” Sáchgiáo khoa Tiếng Việt 3, tập 1, trang 65
Bài tập 1: Em có thể xếp những từ nào vào mỗi ô trong bảng phân loạisau?
- Cộng đồng: những người cùng sống trong một tập thể hoặc một khu vực,gắn bó với nhau
- Cộng tác: cùng làm chung một việc
- Đồng bào: người cùng nòi giống
- Đồng đội: người cùng đội ngũ
- Đồng tâm: cùng một lòng
- Đồng hương: người cùng quê
Những người trong cộng đồng Thái độ, hoạt động trong cộng đồng
Muốn làm được dạng bài tập này giáo viên phải giúp học sinh hiểu đượcnghĩa của từ bằng cách giải nghĩa từ qua đó học sinh sẽ sắp xếp các từ một cáchnhanh chóng, chính xác
Trang 123.2.3.3 Phương pháp giao tiếp: Thông qua việc dạy từ dựa vào lời nói,
vào những thông báo sinh động, vào giao tiếp ngôn ngữ Giáo viên hướng dẫnhọc sinh vào những tình huống để tạo ra sản phẩm giao tiếp (là việc hiểu vàdùng từ đúng và hay của học sinh) Với phương pháp này tùy thuộc vào từng bàitập và từng hoàn cảnh tiếp thu bài của học sinh để sử dụng vào giảng dạy có thể
là dạng bài tập mở rộng
Ví dụ: Yêu cầu điền tiếp vào chỗ trống trong câu sau: Người làm nghề càyruộng, trồng trọt trên đồng ruộng được gọi là ? Học sinh phải trả lời được là(bác nông dân) chứng tỏ các em đã hiểu và biết cách dùng từ đúng, dùng hìnhảnh nhân hóa hay
3.2.4 Dạy theo các kiểu bài
Phân môn Luyện từ và câu lớp 3 các bài có nội dung mở rộng vốn từ đượcdạy trong 15 tiết thực hiện trong 15 tuần Cách sắp xếp trong sách giáo khoaTiếng Việt 3 là cách một tuần có một bài học về mở rộng vốn từ Nội dung bàihọc mở rộng vốn từ thường gắn với một nội dung về ngữ pháp Nghiên cứu cụthể, tôi thấy nội dung dạy học về mở rộng vốn từ có các đặc điểm như sau:
- Học sinh được mở rộng vốn từ qua chủ điểm và bước đầu làm quen vớimột số từ ngữ địa phương thông qua các bài tập Luyện từ và câu
- Các kĩ năng - kiến thức về mở rộng vốn từ được đưa vào nội dung dạyhọc là sự kế thừa và mở rộng của lớp 2 Các bài tập không quá khó, kiến thứcđược nâng lên hợp lí Đây là cơ sở trọng tâm để các em phát triển năng lực sửdụng từ
- Các kiểu bài mở rộng vốn từ có nhiều kiểu khác nhau nhưng đều cóchung một mục đích là giúp học sinh mở rộng và phát triển vốn từ phong phú
3.2.4.1 Kiểu bài mở rộng vốn từ theo chủ điểm:
Các bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm, các chủ điểm này có phạm virộng, hẹp khác nhau, vì thế các bài tập rất đa dạng và phong phú Nhóm từ theochủ điểm bao gồm các từ thuộc nhiều loại chủ điểm khác nhau Vậy khi dạy học
Trang 13sinh thực hành những dạng bài tập này giáo viên cần định hướng cho học sinhtìm những từ có nét nghĩa phù hợp với chủ điểm thì các em thực hiện được mộtcách dễ dàng, tự nhiên và đạt hiệu quả cao Đồng thời ở dạng bài tập này giúphọc sinh mở rộng vốn từ phong phú còn có tác dụng giúp học sinh hình thành vàphát triển tư duy.
* Tìm từ ngữ cùng chủ điểm
Ví dụ: Luyện từ và câu (tuần 15)
Bài: Từ ngữ về các dân tộc So sánh Sách giáo khoa /126, Tiếng Việt 3,tập một
Bài tập 1: Hãy kể tên một số dân tộc thiểu số ở nước ta mà em biết
Đối với lớp tôi trình độ học sinh chênh lệch quá lớn do vậy khi hướng dẫnhọc sinh làm bài tập này tôi phải giúp học sinh hiểu rõ yêu cầu của bài bằngnhững câu hỏi gợi ý sau:
+ Em hiểu thế nào là dân tộc thiểu số?
+ Dân tộc thiểu số thường sống ở đâu?
+ Dân tộc kinh có phải là dân tộc thiểu số không? Vì sao?
Khi học sinh đã hiểu được dân tộc thiểu số là dân tộc có ít người, họthường sống ở vùng cao và vùng núi, dân tộc kinh không phải là dân tộc thiểu số
vì có số lượng người dân rất đông, lúc này tôi mới chia lớp thành 4 nhóm theođối tượng học sinh Ba nhóm tôi cho các em thảo luận trình bày kết quả, nhómcòn lại là những em tiếp thu chậm yêu cầu chỉ cần thảo luận nêu được nhữngdân tộc mà các em được học trong chủ điểm anh em một nhà Học sinh trình bày
kết quả theo nhóm, lớp nhận xét kết quả của từng nhóm
Trang 14Học sinh đang thảo luận nhóm ở tiết học Luyện từ và câu.
* Tìm từ cùng nghĩa vối từ cho sẵn:
Ví dụ: Luyện từ và câu (tuần 20)
Bài Từ ngữ về Tổ quốc Dấu phẩy Sách giáo khoa trang 17, Tiếng Việt 3,tập 2
Bài tập 1: Xếp các từ sau đây vào nhóm thích hợp: đất nước, dựng xây,nước nhà, giữ gìn, non sông, gìn giữ, kiến thiết, giang sơn
Trang 15a) Những từ cùng nghĩa với tổ quốc.
b) Những từ cùng nghĩa với bảo vệ
c) Những từ cùng nghĩa với xây dựng
Muốn học sinh thực hiện tốt dạng bài tập này, trước tiên giáo viên phải chohọc sinh xác định được đề bài này yêu cầu làm gì? (xếp các từ vào nhóm thíchhợp) Sau khi học sinh đã xác định được yêu cầu, tôi sẽ tổ chức cho học sinhthực hành làm bài tập theo nhóm đôi, vì tác dụng của việc học theo nhóm đôi cóhiệu quả rất cao, qua đó giáo viên có thể theo dõi phát hiện những em chưa xếpđược các từ vào nhóm thích hợp do các em này chưa hiểu nghĩa của từ, để cóhướng giúp đỡ kịp thời bằng cách giáo viên giải nghĩa cho học sinh hiểu thêm
về từ đó
* Mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ:
Như chúng ta đã biết dựa vào mô hình cấu tạo từ ta có thể tạo ra được rấtnhiều những từ có cùng kiểu cấu tạo
Ví dụ: Luyện từ và câu (tuần 29)
Bài: Từ ngữ về thể thao Dấu phẩy Sách giáo khoa trang 93, Tiếng Việt 3,tập 2
Bài tập 1: Hãy kể tên các môn thể thao bắt đầu bằng những tiếng sau:
a) Bóng M: bóng đá
b) Chạy M: chạy vượt rào
c) Đua M: đua xe đạp
d) Nhảy M: nhảy cao
Khi dạy kiểu bài tập này, trước tiên tôi khai thác các ví dụ mẫu được ghi ởsách giáo khoa bằng những câu hỏi gợi ý để hướng dẫn học sinh tìm từ, tìmđược càng nhiều từ càng tốt Dạng bài tập này tôi thường tổ chức dưới dạng tròchơi tiếp sức và quan trọng nhất là khi dạy phải lưu ý học sinh dạng bài tập nàyphải đưa ra một cụm từ chứ không phải một từ
3.2.4.2 Kiểu bài mở rộng vốn từ giúp học sinh nắm nghĩa của từ.