BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI Tên đề tài: Kinh nghiệm rèn học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Bàu NăngB thực hiện tốt phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số trong phạm vi 10000.. Trên cơ sở giúp các em
Trang 1BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI Tên đề tài: Kinh nghiệm rèn học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Bàu Năng
B thực hiện tốt phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số trong phạm vi 10000 Tác giả: Phạm Thị Thúy Hằng
Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy chất lượng môn Toán ở lớp 3chưa đạt kết quả như mong muốn Đa số các em chưa có kỹ năng tính toán vớibốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia Đây là một mảng kiến thức quan trọng đượcthực hành xuyên suốt trong chương trình toán và được vận dụng trực tiếp với tất
cả các dạng toán cơ bản Nếu học sinh không có được kỹ năng tính toán thìkhông thể học tốt môn Toán và ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của các
em Trong học toán, khi thực hiện bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phần lớn các
em không biết cách tính, chưa hiểu được tính chất cơ bản và các mối quan hệ củacác phép tính Đa số các em ít suy nghĩ, ít tư duy để phát hiện kiến thức mới cũngnhư không biết vận dụng kiến thức đã biết vào bài học
Trên cơ sở giúp các em thực hành luyện tập thành thạo bốn phép tính cơ bảncủa số học, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Kinh nghiệm rèn học sinh lớp 3Trường Tiểu học Bàu Năng B thực hiện tốt phép tính cộng, trừ, nhân, chia các sốtrong phạm vi 10000”
2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: “Kinh nghiệm rèn học sinh lớp 3 trường Tiểu học BàuNăng B thực hiện tốt phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số trong phạm vi10000.”
Trang 2Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu; Điều tra (dự giờ, thựcnghiệm, trắc nghiệm, đàm thoại)
3 Đề tài đưa ra giải pháp mới:
Những kinh nghiệm để giúp học sinh nắm vững bản chất của bốn phép tínhcộng, trừ, nhân, chia Có biện pháp tính, kỹ năng tính và sự thuần thục khi thực hiệntính Biết vận dụng những kiến thức toán học vào các dạng bài học cơ bản Giáo viênluôn khuyến khích động viên kịp thời, kích thích niềm say mê tạo không khí lớp họcsinh động Rèn cho học sinh kỹ năng suy nghĩ, kỹ năng làm tính và vận dụng chínhxác vào bài làm Giúp cho bài làm của các em hoàn thiện chính xác hơn
4 Hiệu quả áp dụng:
Qua việc áp dụng đề tài trên chúng tôi nhận thấy học sinh có tiến bộ rõ Kỹnăng tính toán thành thạo Các em thực hiện nhanh, đúng các phép tính và khôngcòn cảm giác lo ngại khi thực hiện bốn phép tính cơ bản về số tự nhiên, nhất làphép nhân và phép chia các số tự nhiên Các em cảm thấy tự tin mạnh dạn tronghọc toán
Trang 3trọng trong tất cả các cấp học Đây là bậc học nền tảng nhằm cung cấp cho các
em những kĩ năng cơ bản nhất để tiếp tục học ở các lớp trên Trong chương trìnhTiểu học môn Toán góp phần làm giàu vốn tri thức cho học sinh và góp phầnrèn luyện cho các em những đức tính cần thiết về tư duy toán học Học tốt mônToán sẽ giúp các em vận dụng những kĩ năng, kiến thức về toán học vào thực tế,góp phần bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, rèn luyện tinh thần ham hiểu biết, giúpcác em ý thức hơn việc học tập của mình, từ đó giúp các em tự tin hòa nhập vào
xã hội ngày một văn minh, hiện đại
Trong chương trình Toán lớp 3, các em được học các chuẩn kiến thức, kĩnăng ở thời điểm kết thúc giai đoạn đầu của bậc Tiểu học, chuẩn bị học tiếp giaiđoạn sau, cho nên các em phải nắm chắc được tất cả các cơ sở ban đầu về toánhọc nói riêng và các kĩ năng tính toán nói chung Các yếu tố về số học được biểuđạt bằng các dạng toán như: đọc, viết số; thực hành tính nhẩm và viết; tính giátrị của biểu thức Bốn phép tính số học như: cộng, trừ, nhân, chia được sử dụnghầu hết vào các bài học xuyên suốt trong quá trình học toán Trong đó phépnhân, phép chia là các khái niệm trừu tượng nhưng được hình thành từ các phépcộng, phép trừ các số bằng nhau Nếu muốn học tốt nhân, chia thì học sinh phải
có kỹ năng cộng, trừ (có nhớ) một cách thành thạo Học sinh đã có kỹ năng tínhtoán nhanh, chính xác thì dễ dàng vận dụng tốt vào các dạng toán cơ bản khác
Vì các phép tính số học là kiến thức quan trọng được thực hiện trong suốt mônhọc kể cả học tiếp toán ở lớp trên Nhưng thực tế, chúng tôi nhận thấy kỹ năngtính toán của các em rất chậm Trong lớp trình độ tiếp thu bài của học sinhkhông đồng đều, các em không biết vận dụng những kiến thức đã biết vào bàihọc Còn một số học sinh chưa nắm chắc một số tính chất cơ bản của các phéptính, mối quan hệ giữa các phép tính như phép cộng với phép nhân, phép nhânvới phép chia
Vì vậy việc nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng thực hành các phép tínhcộng, trừ, nhân, chia là một vấn đề cấp bách và là việc làm hết sức cần thiết.Mỗi chúng ta đều hiểu rằng giảng dạy và giáo dục luôn luôn đi đôi với nhau.Nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, việc hình thành kỹ năng tính toán giúp học
Trang 4sinh phát triển năng lực tư duy, năng lực thực hành và rèn luyện phẩm chất vềnhân cách tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong việc chiếm lĩnh tri thức mớiluôn là nỗi băn khoăn suy nghĩ của người giáo viên nói riêng và của nhữngngười làm công tác giáo dục nói chung Đó cũng là lí do để chúng tôi thực hiện
đề tài “Kinh nghiệm rèn học sinh lớp 3 trường Tiểu học Bàu Năng B thực hiệntốt phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số trong phạm vi 10000” nhằm nâng caochất lượng dạy và học môn Toán
2 Mục đích nghiên cứu:
Vận dụng những kinh nghiệm trong giảng dạy phù hợp nội dung chotừng phép tính giúp các em thực hiện đúng các phép tính cộng, trừ, nhân, chiacác số tự nhiên Nắm chắc được các bước tính cơ bản của phép tính, hình thành
kỹ năng tính toán thuần thục, chính xác và yêu thích học toán hơn Tạo cho các
em có những thói quen học tập và làm việc có suy nghĩ, có ý chí vượt khó khăn,
tự tin hơn trong học tập và phát huy năng lực tư duy sáng tạo, giúp các em tiếpthu kiến thức một cách nhẹ nhàng đạt hiệu quả cao
3 Đối tượng nghiên cứu:
Kinh nghiệm rèn học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Bàu Năng B thực hiện tốt
phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số trong phạm vi 10000
4 Phạm vi nghiên cứu:
Học sinh lớp 3A, 3D trường Tiểu học Bàu Năng B
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài “Kinh nghiệm rèn học sinh lớp 3 TrườngTiểu học Bàu Năng B thực hiện tốt phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số trongphạm vi 10000” chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp đọc tài liệu: giáo viên nghiên cứu các tài liệu về cấp Tiểuhọc như: Báo chuyên đề Giáo dục Tiểu học; Sách tham khảo có liên quan đếnmôn Toán; Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học theo yêu cầu đổi mớilớp 3; Tài liệu Hướng dẫn Chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học ở Tiểu học;
Trang 5Hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học các môn học cấp Tiểu học.Phương pháp giảng dạy môn Toán lớp 3.
- Phương pháp điều tra, tìm hiểu thực tế để nắm được trình độ học toán củatừng học sinh trong khối lớp qua kiểm tra khảo sát đầu năm và theo dõi qua từngtiết từng bài, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng và phụ đạo học sinh
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh, đối chiếu số liệu từng giai đoạnnhư: Trước khi thực hiện đề tài và sau khi thực hiện đề tài
- Dự giờ, kiểm tra bài tập của học sinh để giáo viên nắm được kết quả vậndụng của học sinh, nắm được các khó khăn mà học sinh gặp phải trong bài làm
để kịp thời khắc phục
6 Giả thuyết khoa học:
Nếu vận dụng những kinh nghiệm rèn cho các em kỹ năng cộng, trừ, nhân,chia thành thạo có kết quả tốt trong giảng dạy thì chắc chắn các em sẽ thực hiệnnhanh và đúng các phép tính, khơi dậy lòng say mê hứng thú trong học toán.Giúp cho các em tự tin hơn khi làm toán và vận dụng có hiệu quả vào các dạngtoán trong chương trình lớp 3, từ đó phát triển năng lực học toán cho học sinh.Đây là mảng kiến thức cơ bản làm nền tảng cho việc học toán để các em họctiếp ở lớp trên
Trang 6II NỘI DUNG
“Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học ở Tiểu học”
- Công văn 9832/BGD-ĐT-GDTH ngày 1/09/2006 về việc hướng dẫn thựchiện chương trình các môn học từ lớp 1 đến lớp 5 trong đó có môn Toán lớp 3
- Công văn số 5842/GDĐT – VP ngày 1/9/2011 về việc hướng dẫn điềuchỉnh nội dung dạy học giáo dục phổ thông
- Thực hiện theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học.Nghề dạy học là một nghề thật đặc biệt đó là giáo dục con người Sản phẩmcủa giáo dục là đào tạo cho xã hội những con người có trình độ Bởi thế đội ngũthầy cô giáo chúng ta phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, đặc biệt là một tấm gương
tự học và sáng tạo, có trách nhiệm cao với sự nghiệp giáo dục Không nên chạytheo bệnh thành tích mà luôn đặt chất lượng giáo dục học sinh lên hàng đầu,không được để học sinh ngồi nhầm lớp Chúng ta biết rằng số và các phép tính
số học là hạt nhân của chương trình toán Tiểu học Muốn học sinh tiểu học họctốt môn Toán thì trước hết các em phải biết cộng, trừ, nhân, chia thành thạo.Việc rèn kỹ năng thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia được vận dụngtrong tất cả các dạng toán và góp phần vào việc nâng cao chất lượng học toán.Cho nên giáo viên vận dụng các nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học để xác
Trang 7định mục đích, yêu cầu đặt ra vừa sức với học sinh, cần tổ chức các hoạt độnghọc tập cho học sinh, tìm ra phương pháp lôi cuốn học sinh tự phát hiện vàgiải quyết vấn đề Huy động các kiến thức và các công cụ đã có để tìm racách tính phù hợp nhất và nhanh đúng nhất Giáo viên nên áp dụng các kĩthuật dạy học mới trong tiết dạy nhằm nâng cao chất lượng trong học tập Tạo
cơ sở để phát triển tư duy cho học sinh sau này
2 Cơ sở thực tiễn:
a Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Chương trình Toán lớp 3 các em được học bốn phép tính số học cụ thểnhư bài: Cộng, trừ các số có ba chữ số (không nhớ); Cộng các số có ba chữ số(có nhớ một lần); Trừ các số có ba chữ số (có nhớ một lần); Ôn bảng nhân,chia từ 2 đến 5 và hình thành bảng nhân, chia từ 6 đến 9 Sau đó các em sẽthực hiện nhân, chia với số có ba chữ số Mức độ làm toán được nâng cao dần
từ dễ tới khó, từ thấp đến cao
Tuy vậy trong quá trình giảng dạy chúng tôi nhận thấy phần đông các emvẫn chưa thực hiện được bốn phép tính cơ bản cộng, trừ, nhân, chia Kỹ năngtính toán chậm thường tính sai kết quả nhất là các phép tính cộng, trừ có nhớ vànhân, chia các số có nhiều chữ số Bên cạnh có em còn lúng túng và lơ là tronghọc toán Qua tìm hiểu và quan sát chúng tôi nhận biết có rất nhiều nguyên nhândẫn đến học sinh làm sai khi thực hiện cộng, trừ, nhân, chia như sau:
+ Chưa thuộc bảng cộng, bảng trừ đã học ở lớp 2
+ Chưa thuộc bảng nhân, bảng chia từ 2 đến 9
+ Thường quên số nhớ khi thực hiện tính
+ Kỹ năng tính toán chậm nhất là đối với phép chia
Để giúp các em có kỹ năng tính và thực hiện các phép tính hiệu quả hơnchính là giúp cho các em có những cơ sở vững chắc để học tốt môn toán ở cáclớp trên, đồng thời các em có đủ kiến thức cơ bản để áp dụng thực hiện tính toántrong thực tế cuộc sống Do đó việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp vớitrình độ và đặc điểm của từng đối tượng học sinh trong lớp là điều quan trọng
Trang 8nhất, phải thực hiện trong suốt cả năm học nên đòi hỏi giáo viên phải có sựthống nhất, linh hoạt sáng tạo để đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay
b Sự cần thiết của đề tài:
Động cơ học tập không có sẵn trong mỗi học sinh mà nó được hình thànhdần dần trong quá trình học sinh chiếm lĩnh tri thức mới dưới sự tổ chức vàđiều khiển của người thầy Mỗi học sinh tuy có cùng độ tuổi nhưng khả năngnhận thức, sự phát triển tư duy cũng như trí nhớ không đồng đều nên mọi hoạtđộng suy nghĩ cũng đều khác nhau Do vậy giáo viên phải thực sự tâm huyết vớinghề, xác định rõ nội dung của từng bài dạy nói chung và kỹ năng thực hiện tínhnói riêng Vận dụng những kinh nghiệm thiết thực nhất, tối ưu nhất phù hợp vớitrình độ và đặc điểm của từng đối tượng học sinh trong khối lớp, biết khích lệđúng lúc và khơi dậy lòng mê say chăm chỉ miệt mài của học sinh trong họctoán Giúp các em nhớ được bài, nắm vững đặc điểm cơ bản của mỗi phép tính
và nâng cao chất lượng học toán cho học sinh Trong giảng dạy luôn chú trọngđến những đối tượng học sinh học chậm trong học tập để đưa ra những biệnpháp kịp thời, phù hợp giúp cho các em tiến bộ theo kịp các bạn trong lớp
3 Nội dung vấn đề:
3.1 Vấn đề đặt ra:
Để thực hiện có hiệu quả công tác giảng dạy và giáo dục Giáo viên phảinghiên cứu kỹ nội dung bài dạy, nắm được từng đặc điểm cơ bản của các phéptính Hiểu rõ từng đối tượng học sinh và những sai sót mà các em thường mắcphải để có hướng khắc phục điều chỉnh kịp thời Mỗi học sinh phải nắm chắc kiếnthức của các dạng toán chủ yếu về số học Nắm được đặc điểm và mối quan hệcủa các phép tính Kỹ năng thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia thànhthạo Biết vận dụng những kiến thức đã biết vào bài học giúp cho việc học toán dễdàng, có chất lượng hơn Từ đó học sinh được hoàn thiện kỹ năng tính toán tạotiền đề cơ sở cho học sinh ở các lớp học tiếp theo Vì vậy đề tài vận dụng một sốkinh nghiệm cụ thể như:
+ Rèn kỹ năng cộng, trừ có nhớ
+ Rèn kỹ năng thực hiện phép tính nhân
Trang 9+ Rèn kỹ năng thực hiện phép tính chia.
3.2 Giải pháp chứng minh vấn đề được giải quyết:
3.2.1 Rèn kỹ năng cộng, trừ có nhớ:
a Những lỗi sai mà học sinh hay mắc phải:
Khi thực hiện các phép tính cộng, trừ (có nhớ) các em còn nhầm lẫn tínhsai Tìm hiểu nguyên nhân chúng tôi nhận thấy các em chưa thuộc các bảngcộng, trừ đã học ở lớp 1, 2 để vận dụng vào tính toán Có em khi trừ có nhớ thìlại lấy chữ số ở số trừ trừ đi chữ số ở số bị trừ, vì thấy chữ số ở số trừ lớn hơnchữ số ở số bị trừ
Trang 10184 - 4 thêm 1 bằng 5, 6 trừ 5 bằng 1, viết 1
Có em khi thực hiện tính phải gạch từng gạch trên giấy nháp để tính cộnghoặc trừ Phần đông các em hay quên đi số nhớ Đối với các bài tập nhớ đến 2, 3lần thì các em chỉ nhớ 1 lần mà thôi
b Cách khắc phục:
b1 Đối với phép tính cộng:
Trang 11Để giúp các em rèn luyện kỹ năng tính cộng có nhớ thành thạo, một mặtchúng tôi cho các em ôn lại các bảng cộng có nhớ ở lớp 2, mặt khác chúng tôihướng dẫn các em thực hiện thuật tính để nhớ bảng cộng và thực hành trong khitính bằng cách sau:
Đối với bảng cộng “9 cộng với một số” chúng tôi hướng dẫn các em nhẩmnhanh bằng cách bớt 1 ở số hạng thứ hai, bù 1 vào 9 để được 10
Ví dụ: 9 + 5 = ? Ta lấy 5 bớt 1 còn 4, lấy 1 bù vào 9 được 10 Vậy 9 + 5 =
14 Hoặc 9 + 8 = ? Ta lấy 8 bớt 1 còn 7 Lấy 1 bù vào 9 được 10 Vậy 9 + 8 =
17
Qua đó giáo viên chỉ cần nhắc học sinh biết khi thực hiện cộng 9 với một số(số có một chữ số) trừ số 0 thì kết quả hàng chục là 1 và hàng đơn vị bằng số đótrừ đi 1 Thực tế chỉ cần giảng cho các em hiểu và sau đó áp dụng thành kỹ năng
là chỉ nêu đúng kết quả phép tính là được
Ví dụ: 9 + 7 = ? thì học sinh sẽ nhẩm và biết được 7 bớt 1 bằng 6 nên 9 + 7
= 16 Hoặc 9 + 3 = ? thì học sinh sẽ biết được 3 bớt 1 bằng 2 nên 9 + 3 = 12.Tương tự với bảng cộng 8 cộng với một số thì ta bớt số đó đi 2 để nêunhanh kết quả Ví dụ như 8 + 7 = 15 vì 7 bớt 2 còn 5 hoặc 8 + 4 = 12 vì 4 bớt 2còn 2
Bảng cộng 7 với một số thì ta bớt số đó đi 3 để nhẩm, 6 cộng với một số thì
ta bớt số đó đi 4 để nhẩm Bằng cách biết vận dụng như vậy các em sẽ tính toánnhanh hơn thay vì đếm tay hay gạch từng gạch trên giấy nháp để tính khi cộng
có nhớ
Sau khi các em đã nắm chắc thủ thuật tính nhẩm, giáo viên hướng dẫn các
em vận dụng vào bài cộng các số có nhiều chữ số rất dễ dàng Nhưng khi họcsinh đặt tính, giáo viên nên hướng dẫn cách đặt tính cho đúng Thực hiện tính từphải sang trái, kết quả viết phải thẳng cột, ngay hàng, đúng vị trí các chữ số.Điều quan trọng cần lưu ý cho các em nắm được khi thực hiện phép cộng có nhớthì số cần nhớ là số nào ? Làm gì với số cần nhớ ? Vì sao lại có số cần nhớ ? Sốcần nhớ có quan hệ gì trong phép tính ? Đó là các câu hỏi mà giáo viên cần phảitừng bước giải thích, hướng dẫn trong khi thực hiện bài toán
Trang 12- Ở phép tính này ta phải thực hiện 3 lượt tính theo thứ tự từ phải sang trái
là 7 cộng 8, 1 cộng 6, 4 cộng 1 Sau đó giáo viên hướng dẫn từng bước
- Nhẩm bảng cộng 7 ta có 7 + 8 = 15 Kết quả là số có hai chữ số nên ta chỉviết chữ số hàng đơn vị vào kết quả, nhớ chữ số hàng chục Vậy ta chỉ viết 5,nhớ 1
- Tiếp đến lấy 1 cộng 6 bằng 7, thêm 1 nhớ vào nữa là 8, viết 8 vào kếtquả
- Cuối cùng lấy 4 cộng 1 bằng 5, viết 5
Trang 13Để giúp các em rèn luyện kỹ năng tính trừ (có nhớ) thành thạo, chúng tôihướng dẫn các em thực hiện thuật tính để nhớ bảng trừ và thực hành trong khi tínhbằng cách sau:
Với bảng trừ 11 trừ đi một số ta thực hiện như sau: lấy 1 chục ở hàng chụctrừ số trừ, còn bao nhiêu cộng với số bị trừ ở hàng đơn vị
* Ví dụ: 12 – 5 thì lấy 1 chục trừ 5 bằng 5, lấy 5 cộng 2 bằng 7 nên 12 – 5
số trừ Nếu số bị trừ nhỏ hơn số trừ thì ta phải mượn thêm một chục để trừ, sau
đó phải nhớ số mượn mà trừ lại cho lượt tính tiếp theo Như vậy gọi là phép trừ
Trang 14- Lượt đầu tiên lấy 4 trừ 5, nhưng 4 nhỏ hơn 5 nên ta lấy 14 trừ 5 Ở đây các
em vận dụng bảng trừ 14 trừ một số nên dễ dàng biết được 14 – 5 = 9 Tại đây giáoviên hướng dẫn các em biết số bị trừ 4 nhỏ hơn số trừ 5 nên ta đã mượn 1 chục để
có 14 – 5 nên ta phải nhớ 1 chục để trừ lại cho lượt trừ tiếp theo Vậy 14 trừ 5 bằng
- Ở phép tính này ta thực hiện 4 lượt tính lần lượt là 3 trừ 8, 6 trừ 0, 5 trừ 9
và 7 trừ 4 Lưu ý cho các em nhận biết phép trừ có nhớ hay không nhớ trước khilàm tính Nhìn các chữ số ở mỗi lượt tính ta thấy 3 trừ 8 và 5 trừ 9 là thực hiệntrừ có nhớ Vì số bị trừ nhỏ hơn số trừ
- Sau đó, các em thực hiện trừ như hướng dẫn
Khi học sinh nắm chắc kỹ năng trừ nhẩm như thế thì các em làm toán sẽnhanh hơn và hạn chế được sai sót khi tính Bằng cách đó chúng tôi từng bướcrèn luyện và ôn tập cũng như hướng dẫn các em thực hành cộng trừ có nhớ ở lớp
3 dễ dàng hơn Khi đã biết cộng trừ có nhớ nhanh hơn thì các em mới học làmtính nhân chia theo chương trình được, khắc phục dần tình trạng kéo dài giờ họctoán một cách có hệ thống như đã nêu thực trạng ở trên
Ngoài ra chúng tôi còn hướng dẫn các em cách nhớ trong thực hiện cộng,trừ có nhớ như sau:
* Đối với học sinh nhanh nhẹn và nhạy bén:
Trang 15- Nhớ ngầm là cách phổ biến đối với những em đã tương đối thành thạo cácphép tính cộng, trừ có nhớ Trong quá trình làm bài các em sẽ nhẩm hoặc viếtphép tính và nhớ ngầm số cần chuyển lên kết quả phép tính hàng trên (nếu làphép cộng) hay chuyển vào số trừ hàng trên (nếu là phép trừ) Ưu điểm cơ bảncủa cách này là giúp làm tính nhanh.
- Ghi bằng số là cách ghi số nhớ vào phía dưới hàng trên của hàng đã thựchiện để khi chuyển sang thực hiện hàng trên này thì thêm vào kết quả (phépcộng) hay thêm vào số trừ (phép trừ) Ưu điểm của cách này là đơn vị cần nhớ
rõ ràng
* Đối với học sinh chậm:
- Nhớ bằng ký hiệu là cách biểu diễn số nhớ bằng ký hiệu Ký hiệu thế nào
là do người thực hiện phép tính lựa chọn và chỉ cần người đó hiểu Tuy nhiên kýhiệu bằng dấu chấm (.) là hợp hơn cả, nhất là đối với học sinh lớp 2, 3, vì những
lý do cơ bản như học sinh chưa thể nhớ ngầm, chữ viết của học sinh còn to, chưaviết được thật nhỏ để ghi số cần nhớ vào phía dưới hàng trên của hàng đã thựchiện, các phép cộng trừ có nhớ trong toán 3 thì số cần nhớ không lớn (thường sốcần nhớ chưa vượt quá 3 nên không cần nhiều dấu chấm), bài làm của các em rõràng sạch đẹp đảm bảo tính kỹ thuật học sinh không bị nhầm khi chữa bài chonhau, rèn kỹ năng nhớ ngầm cho học sinh bằng cách chuyển từ nhớ các dấu trựcquan
Đối với phép cộng:
Ví dụ a: (SGK trang 5) Đối với phép cộng có nhớ 1 lần.
- 5 cộng 7 bằng 12, viết 2, nhớ 1 (chấm 1 dấu dưới chữ số của hàngtiếp theo)
+ 127
435
- 3 cộng 2 bằng 5, thêm 1 bằng 6, viết 6
562 - 4 cộng 1 bằng 5, viết 5
- Ở phép tính này giáo viên hướng dẫn kỹ cho các em, lượt đầu tiên 5 cộng
7 là tính cộng có nhớ Nên ghi dấu chấm vào dưới chữ số 2 ở hàng chục
.
Trang 16- Sang lượt thứ 2 lấy 3 cộng 2 bằng 5, thêm 1 nhớ bằng 6, viết 6 Khi tínhđến đây các em không thể quên được số nhớ vì nhìn thấy dấu chấm đã được ghitrong lần thực hiện đầu tiên.
- Cuối cùng lấy 4 cộng 1 bằng 5, viết 5
Ví dụ b: (SGK trang 102) Đối với phép cộng có nhớ 2 lần:
- 6 cộng 9 bằng 15, viết 5, nhớ 1 (ghi dấu chấm sang hàngchục)
Ví dụ a: (SGK trang 7) Đối với phép trừ có nhớ 1 lần.
- 2 không trừ được 5, lấy 12 trừ 5 bằng 7, viết 7, nhớ 1 (chấm 1 ởhàng chục)
- 215
432
- 1 thêm 1 bằng 2, 3 trừ 2 bằng 1, viết 1
217 - 4 trừ 2 bằng 2, viết 2
Ví dụ b: (SGK trang 104) Đối với phép trừ có nhớ 2 lần.
- 2 không trừ được 7, lấy 12 trừ 7 bằng 5, viết 5, nhớ 1 (chấm 1 ởhàng chục)
Trang 17Bằng tâm huyết của nghề chúng tôi từng bước hướng dẫn các em thựchiện cộng, trừ có nhớ bằng cách vận dụng các thủ thuật tính cộng, trừ nhẩm,cách sử dụng dấu chấm để ghi nhớ số cần nhớ khi làm phép tính giúp em các em
dễ nhận ra và tính được kết quả đúng nhất Góp phần nâng cao chất lượng họctoán
3.2.2 Rèn kỹ năng thực hiện phép tính nhân cho học sinh:
a Những lỗi sai mà học sinh hay mắc phải:
Khi thực hiện phép tính nhân số có hai hoặc ba chữ số cho số có một chữ số(có nhớ), một số học sinh thường sai lầm vì không biết khi nhân lên thì phải viếtchữ số nào vào kết quả và chữ số nào cần phải nhớ để cộng thêm vào kết quả ở lượtnhân thứ hai
Ví dụ 1: Thông thường khi thực hiện tính viết thì 6 x 4 = 24 ta viết 4 nhớ 2.
Trong khi đó, học sinh sẽ tính 6 x 4 = 24 thì lại viết 2 nhớ 4 hoặc 5 x 7 = 35 thìviết 3 nhớ 5
Một số em lại chỉ nhớ 1 vào lượt nhân thứ hai mặc dù khi nhân với chữ sốhàng đơn vị có kết quả là 24 hay 45 thì cũng chỉ nhớ 1 thôi vì cứ nghĩ nhân cũngnhư cộng
Ví dụ 2:
Học sinh lấy 6 x 4 = 24 thì viết 4 nhớ 1
Hoặc 9 x 5 = 45 thì lại viết 5 nhớ 1
Có em lại nhân với chữ số hàng đơn vị rồi lại cộng với chữ số hàng chục