ôn tập nhưng lại không được sử dụng các bài học khác.Do đó trong những năm gần đây việc tiếp cận với các phương pháp dạy học mới.Trong đó, đặc biệt là Bản đồ tư duy BĐTD đã tạo một bước
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I Tóm Tắt đề tài 02
II Giới thiệu 04
1 Hiện trạng 04
2 Giải pháp thay thế 05
3 Vấn đề nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 07
III Phương pháp 08
1 Khách thể nghiên cứu 08
2 Thiết kế nghiên cứu 08
3 Quy trình nghiên cứu 09
4 Đo lường và thu thập dữ liệu 11
IV Phân tích dữ liệu và kết quả 13
V Bàn luận 14
VI Kết luận và khuyến nghị 15
Tài liệu tham khảo 17
Phụ lục 18
Phụ lục 1: Kế hoạch bài học 19
Phụ lục 2: Đề kiểm tra trước và sau tác động 36
Phụ lục 3: Sơ đồ tư duy 39
Phụ lục 4: Bảng tính độ tin cậy 45
Phụ lục 5: Bảng điểm 47
Phụ lục 6: Bảng so sánh dữ liệu 48
Trang 2ôn tập nhưng lại không được sử dụng các bài học khác.
Do đó trong những năm gần đây việc tiếp cận với các phương pháp dạy học mới.Trong đó, đặc biệt là Bản đồ tư duy (BĐTD) đã tạo một bước tiến dài trong việc đổimới phương pháp dạy học và bên cạnh đó thì khoa học công nghệ đang phát triểnmạnh mẽ mà đặc biệt là công nghệ thông tin Từ đó việc sử dụng BĐTD (kết hợp phầnmềm ImindMap và PowerPoint) thay thế cho những mô hình, biểu đồ,… vì nó cónhiều ưu điểm hơn Đó là kích thích tư duy sáng tạo và hứng thú với môn học giúp HSghi nhớ kiến thức một cách có phương pháp, có hệ thống cho nên tôi tâm đắc nhất là
sử dụng phương pháp dạy học (PPDH) này trong dạy học Ngữ văn 9 ( phân môn TiếngViệt) ở các tiết tổng kết từ vựng bằng BĐTD Phương pháp này giúp các em nắmthông tin nhanh, khắc sâu kiến thức một cách có hiệu quả tránh được việc ghi nhớ kiếnthức một cách máy móc và cũng tránh được cảm giác nhàm chán đối với môn học Kiến thức Ngữ văn 9 khá rộng bao gồm nhiều bài có nội dung ôn tập, tổng kếtkiến thức từ lớp 6 đến lớp 9 nên để nắm bắt được đầy đủ nội dung kiến thức ấy họcsinh mất khá nhiều thời gian ghi chép, ôn tập nhưng chất lượng không cao, kiến thứckhông khắc sâu vì học sinh ôm đồm khi học Do đó tôi quyết định nghiên cứu việc sửdụng BĐTD trong dạy học Ngữ văn 9 nhằm nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương là lớp thực nghiệm 9A 1,lớp 9A2 đối chứng Lớp thực nghiệm được thực hiện bằng giải pháp thay thế khi dạyhọc trên lớp, kết quả cho thấy tác động đã có sự ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập
Trang 3của học sinh: Lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là: 8.3 Điểm bài kiểm tra lớp đốichứng có giá trị trung bình là: 6.75 Kết quả kiểm chứng T-test cho thấy p=0.001 <0.05 có nghĩa là sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đốichứng Điều này cho thấy giải pháp mới có hiệu quả.
Trang 4
II GIỚI THIỆU
1 Hiện trạng
Trong các môn học KHXH thì môn Ngữ văn chiếm vị trí quan trọng bởi thờilượng kiến thức dài và độ khái quát lớn Chính vì vậy, việc dạy văn cũng gặp nhiềukhó khăn
Trong thực tế dạy học Ngữ văn hiện nay tôi luôn tự hỏi: Có phải học sinh không thích học môn Ngữ văn? Để trả lời câu hỏi này thì chúng ta thấy rằng thực trạng ở một
số cách dạy và học nói chung đặc biệt dạy học Ngữ văn nói riêng đã chưa đem lại kếtquả cao trong giảng dạy Một số học sinh có xu hướng không thích học môn Ngữ văn
vì khi học tập học sinh thường rất ngại bởi dung lượng kiến thức cần nhớ nhiều chủyếu là kênh chữ nên việc ghi nhớ kiến thức thường lúng túng Từ đó nảy sinh sự chánnản, kém hứng thú Bên cạnh, nhiều học sinh chưa biết cách học thường học một cáchmáy móc, không nhớ kiến thức trọng tâm, không nắm được kiến thức nào nổi bật vàtiêu biểu cũng như kiến thức liên quan để vận dụng, Do đó học sinh học yếu mônNgữ văn Vì những điều đó không có nghĩa là chúng ta phủ nhận kết quả tất cả nổ lựccác thầy cô giáo đầy huyết tâm đối với học sinh và trách nhiệm đối với môn học, đã có
Trang 5nhiều cố gắng cải tiến phương pháp dạy học Học sinh coi môn Ngữ văn là môn họcnhàm chán, buồn ngủ, chán ngắt,… Thái độ đó thật đáng buồn nhưng hoàn toànkhông thuộc trách nhiệm của học sinh mà là trách nhiệm của người giáo viên làm thếnào gây được hứng thú học tập ở học sinh có hiệu quả.
Quả đúng như thực tế, thực trạng cách học của học sinh ở trường THCS Chà Làcũng rất đáng lo ngại, vẫn còn nhiều học sinh học yếu môn Ngữ văn trong đó đặc biệt
là ở các tiết “Tổng kết về từ vựng” của học sinh lớp 9 Theo tôi, sở dĩ có thực trạngtrên là do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, học sinh không thích học các tiết “Tổng kết về từ vựng” vì cho rằngđây là những tiết học khô khan, nhàm chán… nên thường xuyên không thuộc bài,không nghiên cứu bài… Giáo viên cung cấp bao nhiêu thì học bao nhiêu, chưa có thóiquen sưu tầm tư liệu, tìm hiểu và mở rộng kiến thức Bởi vì kiến thức từ vựng có độkhái quát lớn bao gồm các kiến thức từ lớp 6 đến lớp 9 Thời gian học tập dài mà đểnắm bắt các kiến thức từ vựng lớp dưới các em còn chưa biết cách, còn mơ hồ chưanắm vững kiến thức trọng tâm để làm nền kiến thức cho lớp trên và cũng không cóđiều kiện nghiên cứu tài liệu, tư liệu tham khảo Do đó các em e ngại, thiếu tự tinkhông xác định được phương hướng học tập Điều này là hợp lí, do xuất phát từ điềukiện thực tế là học sinh ở nông thôn tài liệu tra cứu không nhiều, lượng kiến thức họchỏi từ các bậc phụ huynh cũng rất hạn chế Đây chính là sự khó khăn cho việc dạy củagiáo viên và học của học sinh
Thứ hai, học sinh chưa có thói quen lập kế hoạch học cụ thể nên việc phân bốthời gian chưa hợp lí Chủ yếu dành nhiều thời gian cho các môn tự nhiên như: Toán,
Lí, Hóa…., xem nhẹ các môn học xã hội
Thứ ba, phương pháp dạy học bộ môn chưa phù hợp Qua dự giờ các tiết dạy củađồng nghiệp (dự giờ các bộ môn như: Giáo dục công dân, Địa lý, Lịch sử…), nhất làcác tiết dạy mà giáo viên có sử dụng BĐTD, tôi nhận thấy rằng trong những năm gầnđây việc đổi mới phương pháp dạy học đã đưa phương pháp này dạy học trong nhàtrường và cũng đạt được hiệu quả đáng kể Từ đó, việc tiếp tục sử dụng BĐTD trongdạy học Ngữ văn là rất cần thiết và góp phần giúp giáo viên vừa đổi mới phương phápdạy học có hiệu quả, vừa giúp học sinh thích thú hơn, ham học hơn và chất lượng dạyhọc Ngữ văn sẽ được nâng cao Tuy nhiên, một số giáo viên chưa thật sự đổi mớiphương pháp dạy học, sợ không kịp thời gian, sợ không đảm bảo nội dung bài học…
Trang 6nếu sử dụng các phương pháp mới trong giờ dạy học Họ còn sử dụng các phươngpháp dạy học truyền thống mà chủ yếu là thuyết trình nên học sinh chủ yếu ngồi nghegiảng bài và ghi bài vào tập (Học sinh thụ động)…
Từ thực trạng trên, cần tìm ra giải pháp phải làm sao để đổi mới phương phápmột cách hiệu quả Muốn học sinh tích cực thì giáo viên cũng phải có những phươngpháp tích cực Do đó ngoài các phương pháp cần thiết tôi tiếp tục sử dụng BĐTD trongdạy học Ngữ văn đặc biệt là các tiết “Tổng kết về từ vựng” nhằm giúp học sinh tự hệthống lại kiến thức, có kĩ năng và thói quen học tập một cách có tư duy và sáng tạo đểđạt kết quả cao trong học tập
2 Giải pháp thay thế.
Hiện nay trong dạy học việc sử dụng BĐTD là hết sức cần thiết đối với các mônhọc Đặc biệt đối với môn Ngữ văn từ nhiều năm nay, giáo viên cũng đã nghiên cứu,tìm hiểu và tiếp tục sử dụng BĐTD trong các tiết học mang tính tổng kết, hệ thống nộidung giúp tiết học sinh động, gây hứng thú cho học sinh tự phát huy tư duy sáng tạogóp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn nói chung và cáctiết học “Tổng kết về từ vựng” (Phân môn Tiếng Việt) nói riêng
Từ trước đến nay có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về việc sử dụngBĐTD vào giảng dạy Ngữ Văn THCS:
- Đề tài NCKHSPUD “Sử dụng sơ đồ tư duy để nâng cao chất lượng dạy họcmôn Ngữ văn 9”của giáo viên Lê Thị Mỹ Dung trường THCS Lộc Ninh, Dương MinhChâu, Tây Ninh
- Đề tài NCKHSPUD “Giải pháp nâng cao hứng thú và kết quả học tập của họcsinh lớp 6A1 bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy để hệ thống hóa kiến thức phần “Từloại” phân môn Tiếng Việt 6 trường THCS Đồng Rùm”của giáo viên Trần Thị HuyềnSương, Tân Châu, Tây Ninh
- Đề tài NCKHSPUD “Giải pháp phát huy tính tích cực thông qua kĩ thuật sơ đồ
tư duy trong giờ dạy học ngữ văn 6”của giáo viên Trần Thị Ngọc trường THCSNguyễn Bỉnh Khiêm
Sau khi tham khảo một số tài liệu, bài viết của đồng nghiệp Từ đó tôi tiến hành
nghiên cứu việc sử dụng BĐTD nâng cao kết quả học tập các tiết “Tổng kết về từ
vựng” Ngữ văn 9.
Trang 7BĐTD (MindMap) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy (phần phía sau ngườiviết gọi BĐTD bằng SĐTD - kiến thức củng cố chỉ mang tính tương đối khôngnhiều) hình thức ghi chép chủ yếu là nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệthống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức Thực hiện bằng cách kết hợp việc sửdụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực(côđọng) Đặc biệt có thể sử dụng SĐTD mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ nhưbản đồ địa lí, có thể vẽ thêm bớt nhánh tùy theo mỗi người Do đó việc lập SĐTD pháthuy tối đa sáng tạo của người học.
Nội dung kiến thức chương trình Ngữ văn 9 gồm nhiều tiết mang tính tổng kếtkiến thức từ lớp 6 đến lớp 9 nên việc học tập không nắm bắt kịp thời thì cũng đồngnghĩa với việc kết quả học tập không cao Do đó, tôi khắc phục kết quả cuối học kì I(tuần 9 đến tuần 12) bằng việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học (sử dụngSĐTD) Tôi đã tiến hành tổ chức dạy học bằng SĐTD trong phần kiểm tra miệng, hệthống củng cố kiến thức liên quan (cùng chủ đề, hệ thống kiến thức qua các tiết ôn tậpkiến thức cũ hoặc các tiết học được phân thành nhiều tiết học) và hệ thống lại kiếnthức của bài học (một phần bài học)
Bước 1: Học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân với gợi ý, hướng dẫn củagiáo viên
Bước 2: Học sinh hoặc đại diện nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh vềSĐTD mà nhóm đã hình thành
Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về kiến thứccủa bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ
đồ, từ đó dẫn dắt nắm kiến thức của bài học
Bước 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặcSĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sữa hoàn chỉnh, cho học sinh lên trình bày, thuyếtminh về kiến thức đó
SĐTD được sử dụng khi học các bài thích hợp từ tuần 9 - tuần 12
Thời gian thực hiện vấn đề NCKHSPUD: 4 tuần bắt đầu giữa học kì I (tuần 9 –tuần 12) năm học 2014 - 2015
3 Vấn đề nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu.
3.1 Vấn đề nghiên cứu.
Trang 8Sử dụng SĐTD trong dạy học Ngữ văn lớp 9 có làm tăng kết quả học tập mônNgữ văn cho học sinh lớp 9A1 trường THCS Chà Là không ?
3.2 Giả thuyết nghiên cứu.
Có, Sử dụng SĐTD trong dạy học Ngữ văn lớp 9 có làm tăng kết quả học tậpmôn Ngữ văn cho học sinh lớp 9A1 trường THCS Chà Là
+ Hai lớp được chọn tham gia nghiên cứu
Giáo viên dạy cả hai lớp thực nghiệm và đối chứng
Bảng 1: Hai nhóm đối chứng và thực nghiệm có sự tương đồng về số lượng và
giới tính trường THCS Chà Là:
Trang 9+ Về thành tích học tập của 2 nhóm của 2 lớp đều tích cực, chủ động.
+ Về thành tích học tập của hai nhóm tương đương nhau
2 Thiết kế nghiên cứu
Chọn 2 nhóm của 2 lớp: 9A1 thực nghiệm, 9A 2 đối chứng, tôi dùng bài kiểm tra
15 phút làm bài kiểm tra trước tác động
Dùng phép kiểm chứng t-test để kiểm chứng chênh lệch giữa điểm số trung bìnhcủa hai nhóm trước khi tác động
Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu
3 Quy trình nghiên cứu
3.1 Chuẩn bị bài của giáo viên
Lớp đối chứng: Soạn giáo án bài dạy không sử dụng SĐTD .
Lớp thực nghiệm: Soạn giáo án bài dạy có sử dụng SĐTD ở các bước lên lớp
khác nhau, SĐTD được trình bày ở nhiều hình thức khác nhau: trình chiếu thông quaviệc kết hợp phần mềm ImindMap và Powerpoint, trình bày trên bảng, trình bày trêngiấy khổ lớn
3.2 Tiến hành dạy thực nghiệm
Trang 10Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhàtrường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan
Bảng 4 : Kế hoạch bài dạy
3.2.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc kiểm tra miệng
Kiểm tra miệng là một quy trình không thể thiếu trong một tiết dạy Tuy nhiên giáoviên có thể tiến hành kiểm tra bằng nhiều hình thức khác nhau: tự luận, trắc nghiệm,SĐTD Việc kiểm tra cũng có thể lồng ghép quá trình dạy bài mới Do thời lượngkiểm tra tương đối ngắn nên giáo viên có thể lựa chọn câu hỏi phù hợp Trong quátrình nghiên cứu tôi thường sử dụng SĐTD đã chuẩn bị có thể là sơ đồ câm hoặc sơ đồthiếu thông tin, sau đó yêu cầu học sinh hoàn tất Cách này giúp học sinh phát triển tưduy đồng thời phát hiện nội dung còn thiếu hoặc sai
Ví dụ: Khi kiểm tra miệng (kiểm tra bài cũ) bài “Tổng kết từ vựng” (tiết 53) với
câu hỏi thứ nhất “Thế nào là từ tượng hình, từ tượng thanh và tác dụng của từ
tượng hình tượng thanh?” tôi sử dụng SĐTD câm (Nhánh thứ nhất từ tượng hình
tượng thanh được trình chiếu không có thông tin trên Powerpoint hoặc trên bảng phụbằng giấy khổ lớn) Học sinh điền nội dung khái niệm và tác dụng ta thu được sảnphẩm nhánh thứ nhất (Thể hiện nội dung in đậm) ( Phụ lục 3: Tiết 53 - hình 1)
Câu hỏi thú hai “Xác định biện pháp tu từ trong câu “Bê con nũng nịu bên mẹ”
và trình bày biện pháp tu từ vừa tìm?” ta thu được nhánh thứ hai với biện pháp tu từ
nhân hóa (Thể hiện nội dung in đậm) ( Phụ lục 3: Tiết 53 - hình 1)
Sau khi hoàn thiện sơ đồ, giáo viên cho học sinh thuyết trình nội dung mà mìnhvừa điền (Nhánh 1: từ tượng hình – từ gợi hình ảnh, dáng vẻ trạng thái sự vật, hiệntượng; tượng thanh – mô phỏng âm thanh tự nhiên; tác dụng: gợi hình ảnh, âm thanh
cụ thể; Nhánh 2: Nhân hóa: từ ngữ gọi, tả người chỉ con vật, cây cối, Tác dụng: thếgiới loài vật, cây cối gần gũi) giúp học sinh khả năng diễn đạt Sau đó giáo viên chohọc sinh khác nhận xét và giáo viên nhận xét, ghi điểm
3.2.2 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc giảng bài mới
Trang 11Sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình giảng bài mới có thể thực hiện ở nhiều dạngkhác nhau:
* Sử dụng sơ đồ tư duy cho toàn bài: Giáo viên sử dụng giấy khổ lớn hoặc trìnhchiếu SĐTD đã được hình thành sẵn Sau đó, giáo viên kết hợp các phương pháp dạyhọc khác, đặc biệt là gợi ý giúp học sinh phát hiện nội dung chính của bài, lần lượt họcsinh điền nội dung vào hoàn thành sơ đồ Trong quá trình tìm hiểu có thể học sinh hoạtđộng cá nhân hoặc nhóm Sơ đồ với các thông tin đầy đủ, từ đó lần lượt học sinhthuyết minh nội dung theo sơ đồ và đồng thời các học sinh khác vẽ sơ đồ vào tập Chú
ý giáo viên cần kiểm tra việc vẽ sơ đồ của học sinh ở tiết học sau Nhận xét cụthể(Không áp đặt, cần phát hiện sự sáng tạo )
Ví dụ: khi dạy bài “Tổng kết về từ vựng” (Tiết 49) tôi đã hướng dẫn học sinh thuđược sản phẩm (Phụ lục 3 - hình 5)
* Sử dụng sơ đồ tư duy ở một phần của bài: Nếu một bài học có nội dung tươngđối dài hoặc không thích hợp sử dụng SĐTD cho toàn bài thì giáo viên sẽ hướng dẫnhọc sinh chọn một phần bài học để vẽ Qua đó giúp các em nắm vững kiến thức trọngtâm Dạng SĐTD này dễ thực hiện, không mất nhiều thời gian
Sau khi cung cấp kiến thức cơ bản, giáo viên cho học sinh thảo luận hoàn thiện sơ
đồ Đại diện một nhóm trình bày các nhóm khác nhận xét để hoàn thiện sơ đồ, giáoviên có thể tuyên dương động viên tinh thần và chọn sơ đồ hoàn chỉnh nhất làm chuẩn
Ví dụ: Khi dạy bài “Tổng kết về từ vựng” (Tiết 53)giáo viên cho học sinh thảo
luận với câu hỏi “Hãy trình bày các phép tu từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ,
nói quá, nói giảm nói tránh, điệp ngữ, chơi chữ và tác dụng của nó?”được sản
phẩm(Phụ lục 3 - hình 3)
3.2.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức bài học
Việc sử dụng SĐTD trong bước củng cố kiến thức có tác dụng rất lớn giúp họcsinh hệ thống hóa kiến thức và củng cố lại các kiến thức có liên quan hoặc cùng mộtchủ đề
Để giúp học sinh củng cố lại các kiến thức liên quan từ lớp dưới qua nội dung ôntập giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị sơ đồ bằng giấy khổ lớn những nội dungcần ôn tập, học sinh trình bày Sau đó giáo viên cùng cả lớp hoàn chỉnh nội dung vớinhững kiến thức liên quan Cần chú ý, vì đây là phần củng cố kiến thức giáo viên cầnchú ý đến nội dung, thông tin cần tránh tập trung vào hình thức (đường nét, màu sắc )
Trang 12Ví dụ: khi dạy bài “Tổng kết về từ vựng” (Tiết 44) nội dung bài học này các em
đã được học ở chương trình Ngữ văn 7 Học sinh sau khi đã được hướng dẫn các nộidung bài học theo sự dẫn dắt của giáo viên thu được SĐTD hoàn chỉnh (Phụ lục 3 –hình 4) mà giáo viên đã chuẩn bị
Việc củng cố kiến thức liên quan đến nội dung bài học trước và sau Giáo viên cóthể thực hiện bằng cách cho học sinh trình bày một phần của sơ đồ (kiểm tra miệng)các nội dung còn lại theo sự hướng dẫn củng cố lại kiến thức đã học ở tiết trước (Líthuyết) để tiến hành luyện tập tổng hợp Giáo viên có thể chuẩn bị sơ đồ trên giấy khổlớn hoặc phần mềm một sơ đồ hoàn chỉnh của các tiết học trước
Ví dụ: Khi dạy bài “Tổng kết về từ vựng” (Tiết 59) (Luyện tập tổng hợp) ở phầnkiểm tra miệng (Tiết 53 – Từ tượng hình, từ tượng thanh và phép tu từ nhân hóa) haihọc sinh đã hoàn thành được một phần sơ đồ Sau đó theo sự dẫn dắt giáo viên họcsinh hoàn chỉnh các nội dung còn lại (Phụ lục 3 – hình 1) Học sinh nhớ lại các kiếnthức đã học (Tiết 43, 44, 49, 53)
4 Đo lường và thu thập dữ liệu
Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra 15 phút dạng đề tự luận
Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra 15 phút dạng đề tự luận
Đo độ tin cậy của dữ liệu bằng cách chia đôi dữ liệu (Bảng 5)
* Tiến hành kiểm tra và chấm điểm
Kiểm tra trước tác động ở tiết 43 (Xem đề và đáp án ở phần phụ lục 2)
Kiểm tra sau tác động ở tiết 59 (Xem đề và đáp án ở phần phụ lục 2)
Trang 13Cách chấm bài: cá nhân, đáp án của giáo viên Trần Phi Phượng (nội dung kiểmtra trình bày ở phần phụ lục 2)
Trang 14IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ
Bảng 6: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
- Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T-test cho kết quả
p = 0.001 Điều này cho thấy sự chệnh lệch điểm trung bình giữa các nhóm thựcnghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa
- Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0.82 chothấy mức độ ảnh hưởng của giải pháp cho thấy sử dụng SĐTD là có ảnh hưởng lớnđến kết quả học tập của học sinh giúp học sinh sẽ hứng thú hơn, hiểu rõ, nhớ chính xáccác tri thức
Giả thuyết của đề tài được kiểm chứng đúng
Biểu đồ so sánh kết quả
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9
TRƯỚC TÁC ĐỘNG
SAU TÁC ĐỘNG
LỚP ĐỐI CHỨNG LỚP THỰC NGHIỆM
Trang 15V BÀN LUẬN
Kết quả giá trị trung bình của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là8.3; kết quả bài kiểm tra của nhóm đối chứng là 6.75 Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 1.55; Điều đó cho thấy điểm giá trị trung bình của hai lớp đối chứng và thựcnghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớpđối chứng
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0.82 Điều này
có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn
Phép kiểm chứng T-test giá trị trung bình sau tác động của hai lớp là p =0.001<0.05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch giá trị trung bình của hai nhóm khôngphải là do ngẫu nhiên mà là do tác động
Qua kết quả thu nhận được trong quá trình sử dụng SĐTD, tôi nhận thấy rằngviệc hướng dẫn cho học sinh cách học bằng phương pháp vẽ SĐTD đã nâng cao khảnăng tiếp thu kiến thức cho học sinh, học sinh tích cực, hứng thú học tập hơn, đồngthời tạo được hứng thú trong quá trình giảng dạy cho cả giáo viên và học sinh Lớphọc sôi nổi và tất cả các em đều được tham gia hoạt động về cả thể chất lẫn tinh thần.Các em hăng hái vào hoạt động học tập, tinh thần thoải mái
Trang 16VI KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận
- Việc dạy học có sử dụng SĐTD là một giải pháp tốt mang lại hiệu quả thiếtthực giúp giáo viên củng cố lại kiến thức cho học sinh một cách rõ ràng, cụ thể và đầy
đủ, chính xác hơn, giúp học sinh có thể dễ dàng hơn trong hệ thống hóa kiến thức
- Bài học trở nên sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh do có màu sắc trênhình vẽ, sống động đẹp mắt (hình ảnh SĐTD trình chiếu Powerpoint, trên các SĐTDhọc sinh vẽ) Giáo viên tiết kiệm được nhiều thời gian thuyết giảng và không quá vất
vả khi giới thiệu, trình bày những nội dung kiến thức mới Từ đó học sinh dễ tiếp thubài học Hơn nữa bài học đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm trí học sinh
- Lợi ích quan trọng nhất là học sinh không còn sợ, không còn chán ghét mônNgữ văn nữa, đặc biệt là các tiết tổng kết về từ vựng Đây chính là điều kiện cần thiết
để văn chương thực thi sứ mệnh giáo dục nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh
Có được như vậy sẽ kích thích ở học sinh niềm đam mê, tìm tòi học hỏi, tạo lập nhữngvăn bản có chất lượng
- Không có phương pháp dạy học nào là tối ưu, không phải cứ vận dụng SĐTDvào giảng dạy đã là đổi mới PPDH, thành công trong giờ dạy là nghệ thuật sư phạmcủa giáo viên, sử dụng SĐTD là một hướng đi trong xu thế đổi mới hiện nay mà giáoviên nên vận dụng, điều này không hoàn toàn bắt buộc song chính nó sẽ làm mỗi giờlên lớp của chúng ta phong phú hơn bởi chúng ta đang làm mới chính mình Vì vậy,việc kết hợp các ưu thế của các yếu tố mới, của khoa học công nghệ (SĐTD trình
Trang 17chiếu Powerpoint)vào giảng dạy là cần thiết nhưng phải kết hợp linh họat với phươngpháp dạy học truyền thống sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể, có hiệu quả và pháthuy tốt tính tích cực, độc lập học tập của học sinh là giải pháp tốt nhất.
1 Khuyến nghị
- Đối với các cơ quan quản lí giáo dục:
+ Tổ chức các chuyên đề bàn về chọn lựa các tình huống sử dụng SĐTD trongdạy học Ngữ văn
+ Cần tập trung nghiên cứu và ban hành những tài liệu, thiết kế một số bài dạy
thử nghiệm mang tính định hướng cho giáo viên các trường và cán bộ quản lí ở cáccấp về việc lựa chọn các tình huống sử dụng BĐTD trong dạy học môn Ngữ văn ởtrường THCS
- Đối với lãnh đạo trường:
+ Đáp ứng các nhu cầu về tư liệu, đồ dùng dạy học để phục vụ cho cách dạyhọc nêu trên Nhân rộng cách thức cho các lớp khác, giáo viên khác trong tổ
- Đối với giáo viên:
+ Trong dạy – học Ngữ văn, chỉ nên sử dụng SĐTD khi thật cần thiết Ngườigiáo viên luôn hiểu rằng trong quá trình giảng dạy, giáo viên là người hướng dẫn họcsinh học tập chứ không đơn giản chỉ là người phát động, cung cấp thông tin Do vậy,giáo viên phải biết đánh giá và lựa chọn nội dung, kiến thức bài học phục vụ bài dạy
có tính thiết thực, làm rõ nội dung bài dạy, tránh tham lam, nhồi nhét không phù hợplàm giảm hiệu quả bài dạy
+ Với những mặt tích cực của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữvăn, tôi nghĩ rằng, đề tài hoàn toàn có thể áp dụng rộng rãi ở các khối lớp của trườngTHCS Do đó tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia sẻ để tạo hứng thú vànâng cao kết quả học tập môn Ngữ văn cho học sinh
Chà Là ngày 09 tháng 03 năm 2015
Trang 18Người thực hiện
Trần Phi Phượng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Sách giáo khoa Ngữ văn 6, 7, 8, 9, sách giáo viên Ngữ văn 6, 7, 8, 9 NXB giáo dục.
2.Tài liệu tập huấn Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng – Dự án Việt - Bỉ (BộGiáo dục và Đào tạo)
3 Một số chuyên đề bồi dưỡng Cán bộ quản lý và giáo viên THCS – Dự án pháttriển giáo dục THCS II (Bộ Giáo dục và Đào tạo)
4 Mạng internet: http://thuvientailieu.bachkim.com, http://flash.violet.vn,
http://giaovien.net , http://thuvienbaigiangdientu.bachkim.com; …
5 Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (20042007) NXB Giáo dục
Trang 19-6 Tài liệu ôn tập môn Ngữ văn 9 cấp THCS do SGD&ĐT tỉnh Tây Ninh biênsoạn
7 Ôn tập củng cố kiến thức Ngữ văn 9 - Kiều Văn Bức, Lê Đình Thuần – NXBGiáo dục
8 Ngữ văn 9 từ tiếp nhận đến thực hành (tập 1)– Đỗ Kim Hồi (chủ biên)Trần ThịThành, Lê Bảo – NXB Giáo dục
9 Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kỹ năng môn Ngữ Văn THCS, tập hai(Phạm Thị Ngọc Trâm) – NXB Giáo dục
10 Tiếng Việt nâng cao THCS 9 – Lê Văn Hoa, Lê Duy Anh – NXB Đại học Quốcgia TP HCM
PHỤ LỤC
Phụ lục 1:
KẾ HOẠCH BÀI HỌC CHO NHÓM THỰC NGHIỆM (Giáo án kèm theo)
Phụ lục 2:
I ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN KIỂM TRA TRƯỚC TÁC ĐỘNG
II ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN KIỂM TRA SAU TÁC ĐỘNG
Phụ lục 3:
SƠ ĐỒ TƯ DUY MINH HỌA
Phụ lục 4 :
I BẢNG TÍNH ĐỘ TIN CẬY TRƯỚC TÁC ĐỘNG
II BẢNG TÍNH ĐỘ TIN CẬY SAU TÁC ĐỘNG
Phụ lục 5:
Trang 20GDKNS(KNS) - Giáo dục kĩ năng sống(kĩ năng sống)
GV - HS - Giáo viên - học sinh
Trang 21PHỤ LỤC 1
KẾ HOẠCH BÀI HỌC (Giáo án có thiết kế cho nhóm tác động)
- Học sinh hiểu hệ thống hóa những kiến thức về từ vựng đã học từ lớp 6 đến lớp
9, nắm vững lại, sâu hơn kiến thức về từ đồng âm, đồng nghĩa, từ trái nghĩa, cấp độkhái quát nghĩa của từ, trường từ vựng
- Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học khi giao tiếp đọc - hiểu và tạo lập vănbản
2.Kỹ năng: dùng từ, đặt câu chính xác, có hình ảnh, biểu cảm.
- Cách sử dụng hiệu quả trong nói, viết, đọc – hiểu văn bản và tạo lập văn bản
3.Thái độ: sử dụng đúng, chính xác từ ngữ trong giao tiếp.
Giáo dục kĩ năng sống: Giao tiếp: trao đổi và hệ thống hóa những vấn đề cơ bản của từ vựng tiếng Việt; Ra quyết định: lựa chọn và sử dụng từ phù hợp với mục đích giao tiếp
II/.TRỌNG TÂM :
Từ đồng âm
III/ CHUẨN BỊ:
Trang 221 Đối với giáo viên: bảng phụ, ví dụ minh họa.
2 Đối với học sinh: ôn lại kiến thức đã học ở lớp 7,8
IV/ TIẾN TRÌNH
1.Ổn định tổ chức và kiểm diện: Sỉ số, cán sự môn báo cáo tình hình chuẩn bị của
lớp
2.Kiểm tra miệng : (5’)
Câu 1 ( 9đ) ( Câu hỏi kiểm tra bài cũ )
? Thế nào là từ đơn, từ phức ? Các loại từ phức? Viết đoạn văn có sử dụng thànhngữ (9đ)
Từ đơn là từ chỉ có một tiếng (1đ)
Từ phức là từ có hai tiếng trở lên Từ phức láy và từ phức ghép (1đ)
Từ láy: các tiếng có quan hệ về ngữ âm: láy hoàn toàn và láy bộ phận(1đ)
Từ ghép: các tiếng có quan hệ về nghĩa: ghép đẳng lập, ghép chính phụ (1đ) Viết đoạn văn đúng, mạch lạc (5đ)(Kiểm tra đoạn văn làm ở nhà)
Câu 2 ( 1đ) ( Câu hỏi kiểm tra nội dung tự học )
? Kể tên các từ vựng đã học ở lớp 7, 8
Từ đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa ,…
3 Bài mới:
Hoạt động của
giáo viên và học sinh
Nội dung bài học
Hoạt động 1: Vào bài (1’)
Hôm nay, chúng ta sẽ tiếp tục
tổng kết lại những kiến thức có
liên quan đến từ vựng…
Hoạt động 2: Hướng dẫn nội
dung ôn tập Thảo luận (10’)
Giáo viên phân các đơn vị kiến
thức ôn tập cho các tổ nhóm
thảo luận – trình bày(thảo luận
nhóm đôi trong 10 phút)(Thảo
luận GDKNS: giao tiếp)
V.Từ đồng âm.
Khái niệm: từ đồng âm là những từ giống nhau vể
âm thanh nhưng nghĩa khác xa nhau không liên quan
gì với nhau
a Hiện tượng từ nhiều nghĩa, vì nghĩa của từ látrong lá phổi có thể coi là kết quả chuyển nghĩa của
từ lá xa cành
Trang 23- Dãy 1: Từ đồng âm
- Dãy 2: Từ đồng nghĩa
- Dãy 3: Từ trái nghĩa
- Dãy 4: Cấp độ khái quát
nghĩa của từ ngữ và trường từ
=> Từ nhiều nghĩa: Từ biểu
thị nhiều nét nghĩa (từ chân)
Từ đồng âm: phát âm
giống nhau nhưng nghĩa khác
nhau.( kho trong kho cá và kho
trong chuyển hàng về kho)
* HS cho VD :
Lành: nguyên vẹn(lành lặn,
hiền hậu – hiền từ – từ tâm)
Bài tập 3: Cơ sở từ “xuân”
thay cho từ “tuổi”
Khái niệm: từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa
giống nhau hoặc gần giống nhau
+ Từ đồng nghĩa hoàn toàn: không có sắc thái biểucảm khác nhau
+ Từ đồng nghĩa không hoàn toàn: có sắc thái biểucảm khác nhau
Khi tìm từ đồng nghĩa, cần phải đặt vào ngữ cảnh
để có chung cơ sở
Bài tập 2:
- Chọn cách d(các từ đồng nghĩa với nhau có thểkhông thay thế được cho nhau trong nhiều trườnghợp sử dụng
- Không chọn câu a vì các ngôn ngữ đều có đồngnghĩa, câu b: đồng nghĩa có quan hệ nhiều từ, câu c:đồng nghĩa không hoàn toàn giống nhau
Bài tập 3:
- Xuân là từ chỉ mùa trong năm, khoảng thời gian
tương ứng với một tuổi => chuyển nghĩa theophương thức hoán dụ
- Từ xuân thể hiện niềm lạc quan của tác giả ngoài
ra, dùng từ này để tránh lặp từ tuổi tác
VII.Từ trái nghĩa:
Khái niệm: Là những từ có nghĩa trái ngược nhau.
Khi dùng trong câu sẽ có sắc thái nhấn mạnh, biểu lộcảm xúc
Trang 24- Bộ phân của mắt: lòng đen,
lòng trắng, con ngươi, lông
- Cùng nhóm với già-trẻ có: yêu – ghét, cao – thấp,nông – sâu , giàu – nghèo
VIII.Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ.
Khái niệm: Nghĩa của từ ngữ có ơn(khái quát
hơn)hoặc hẹp hơn nghĩa của từ khác
Một từ ngữ được coi là có nghĩa rộng khi phạm vinghĩa của từ ngữ đó bao hàm phạm vi nghĩa một số
từ ngữ khác
Một từ ngữ được coi là nghĩa hẹp khi phạm vi nghĩacủa từ ngữ đó được bao hàm trong phạm vi nghĩa củamột số từ ngữ khác
* Vận dụng :
Từ(xét về đặc điểmcấu tạo)
Từ phức
Từ ghép đẳng lập
Từ ghépChính phụ
Từ láyHoàn toàn
Từ láy bộPhận
Từ láy âm Từ láy vần
Từ đơn
Trang 25* Đối với bài vừa học:
- Học bài, ôn tập những kiến thức vừa ôn tập -
- Hoàn chỉnh vở bài tập
- Làm bài tập viết đoạn
* Đối với bài học ở tiết học tiếp theo :
- Xem lại các bài học tuần 5-7 để chuẩn bị cho bài sau
- Soạn “ Tổng kết về từ vựng” (tiếp theo )
Trang 26dung: -Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy
học: -VI/ PHỤ LỤC: BẢN ĐỒ TƯ DUY CỦNG CỐ NỘI DUNG TIẾT 44
Trang 27- Học sinh hiểu và vận dụng tốt từ ngữ tiếng Việt trong giao tiếp, đọc, hiểu và tạolập văn bản.
2 Kỹ năng: vận dụng bài tập vào giao tiếp.
- Nhận diện được từ nượn, từ Hán việt, thuật ngữ và biệt ngữ xã hội
- Hiểu và sử dụng từ vựng chính xác trong giao tiếp, đọc, hiểu và tạo lập văn bản
3.Thái độ: học tập và trau dồi vốn từ tiếng Việt
Giáo dục kĩ năng sống: Giao tiếp - trao đổi và hệ thống hóa những vấn đề cơ bản của từ vựng tiếng Việt; Ra quyết định: lựa chọn và sử dụng từ phù hợp với mục đích giao tiếp
II/.TRỌNG TÂM :
- Các cách phát triển của từ vựng tiếng Việt
III/.CHUẨN BỊ:
1 Đối với giáo viên: lược đồ, bảng phụ
2 Đối với học sinh: ôn lại kiến thức đã học
Trang 28IV/ TIẾN TRÌNH:
1.Ổn định tổ chức và kiểm diện : Sỉ số, cán sự môn báo cáo sự chuẩn bị của lớp.
2.Kiểm tra miệng: (5’ )
Câu 1: (9đ)(Câu hỏi kiểm tra bài cũ)
? Thế nào là từ đồng âm? Xác định từ lợi trong bài ca dao là từ đồng âm hay từ nhiều
nghĩa?
Bà già đi chợ Cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi hàm răng chẳng còn.
Lợi 1: lợi ích, lợi 2: phần thịt bao quanh chân răng Đồng âm khác nghĩa
Câu 2: (1đ)(Câu hỏi kiểm tra nội dung tự học)
Kiểm tra vở bài tập HS
? Những nội dung tổng kết ở tiết học này?
Nội dung; Sự phát triển của từ vựng, từ mượn, từ Hán Việt, thuật ngữ - biệt ngữ, trau dồi vốn từ(1đ)
3 Bài mới :
Hoạt động của
giáo viên và học sinh
Nội dung bài học Hoạt động 1: Vào bài
* hôm nay, chúng ta tiếp tục
tổng kết lại những đơn vị kiến
thức từ sự phát triển của từ
vựng đến hình thức trau dồi
Trang 29
GV phát vấn câu hỏi lí thuyết
đối với bất kỳ thành viên trong
Tạo từ mới Mượn tiếng
nước ngoài
Trang 30?Nêu nguyên tắc mượn từ?
Nếu không vay mượn thì tiếng
Việt gặp khó khăn gì?
Mượn từ là một cách làm
giàu tiếng Việt nhưng không
nên tùy tiện Nếu không vay
mượn thì phải tạo từ ngữ mới
để diễn đạt khái niệm mới xuất
hiện Con đường này rất khó
nhất là khi tạo từ mới trong
- Chuột: dưa chuột, con chuột(trong máy tính)
- Siêu người mẫu, sách đỏ, rừng phòng hộ
- In-tơ -nét, cô ca
3 Không thể từ vựng chỉ phát triển về số lượng
từ ngữ vì không đáp ứng nhu cầu giao tiếp
II/ Từ mượn:
1 Khái niệm: từ mượn là những từ vay mượn của
tiếng nước ngoài
2 Chọn nhận định c, vay mượn của tiếng nướcngoài để đáp ứng nhu cầu giao tiếp, lí giải:
a Đi ngược với qui luật
b Vì nhu cầu thực tế
d Nhu cầu giao tiếp phát triển không ngừng
3 Trình bày cảm nhận
- Nhóm 1: được Việt hoá
- Nhóm 2: chưa được Việt hoá, từng âm tiết chưa