Khái niệm Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, khi thực hiện thanh toán giữa các nước với nhau, cần thiết phải sử dụng đồng tiền nước này hay nước khác, nói chung là phải sử dụng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN MÔN THANH TOÁN QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Sinh Viên: Lê Thị Kim Anh Lớp: QT001
MSSV: 31111021331
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1
1 Khái niệm 1
2 Các loại tỷ giá hối đoái 1
2 1 Căn cứ vào đối tượng xác định tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá chính thứcvà tỷ giá thị trường 1
2 2 Căn cứ vào kỳ hạn thanh toán, có thể chia làm tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn… 1
2 3 Căn cứ vào giá trị của tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thự
1
2 4 Căn cứ vào phương thức chuyển ngoại hối, có thể chia làm tỷ giá điện hối và tỷ giá thư hối 2
2 5 Căn cứ vào thời điểm mua/bán ngoại hối 2
3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá 3
3.1 Cán cân thanh toán 3
3.2 Lạm phát 3
3.3 Lãi suất 3
3.4 Một số nhân tố khác 4
4 Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoại 4
4.1 Chính sách lãi suất tái chiết khấu 5
4.2 Chính sách hối đoái 5
4.3 Phá giá tiền tệ 6
4.4 Nâng giá tiền tệ 6
5 Chính sách tỷ giá 6
1 Tác động của tỷ giá tới lạm phát 7
2 Tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại 9
3 Tác động của tỷ giá đến nguồn vốn đầu tư 11
PHẦN III: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ TỶ GIÁ CỦA VIỆT NAM 13
Trang 3PHẦN IV: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 14
1 Nhận xét 14
2 Kiến nghị 15
Trang 4PHẦN I: LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1 Khái niệm
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, khi thực hiện thanh toán giữa các nước với nhau, cần thiết phải sử dụng đồng tiền nước này hay nước khác, nói chung là phải sử dụng đến ngoại tệ cũng như các phương tiện có thể thay cho ngoại tệ
Tỷ giá hối đoái: là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền với nhau Hoặc người ta có thể nói tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng
số lượng đơn vị tiền tệ nước khác
2 Các loại tỷ giá hối đoái
2 1 Căn cứ vào đối tượng xác định tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá chính thứcvà tỷ giá thị trường.
- Tỷ giá chính thức là tỷ giá do Ngân hàng trung ương của nước đó xác định Trên cơ
sở của tỷ giá này các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao nghy, có kỳ hạn, hoán đổi
- Tỷ giá thị trường là tỷ giá được hình thành trên có sở quan hệ cung cầu trên thị
trường hối đoái
2 2 Căn cứ vào kỳ hạn thanh toán, có thể chia làm tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn.
- Tỷ giá giao ngay (SPOT) là tỷ giá do tổ chức tín dụng yết giá tại thời điểm giao
dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biểu độ do ngân hàng nhà nước quy định Việc thanh toán giữa các bên phải được thực hiện trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo, sau ngày cam kết mua hoặc bán
- Tỷ giá giao dịch kỳ hạn (FORWARDS) là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng tự
tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo trong biên độ qui định về tỷ giá kỳ hạn hiện hành của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng
Trang 52 3 Căn cứ vào giá trị của tỷ giá, có thể chia làm tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực.
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá của một loại tiền tệ được biểu hiện theo giá
hiện tại, không tính đến bất kỳ ảnh hưởng nào của lạm phát
- Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá có tính đến tác động của lạm phát và sức mua trong
một cặp tiền tệ phản ảnh giá cả hàng hóa tương quan có thể bán ra nước ngoài và hàng tiêu thụ trong nước Tỷ giá này đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc tế của nước đó
2 4 Căn cứ vào phương thức chuyển ngoại hối, có thể chia làm tỷ giá điện hối và tỷ giá thư hối.
- Tỷ giá điện hối là tỷ giá thường được niêm yết tại ngân hàng Đó là tỷ giá chuyển
ngoại hối bằng điện Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác
- Tỷ giá thư hối, tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư Tỷ giá điện hối thường cao
hơn tỷ giá thư hối
2 5 Căn cứ vào thời điểm mua/bán ngoại hối
- Tỷ giá mua là tỷ giá của ngân hàng mua ngoại hối vào
- Tỷ giá bán là tỷ giá của ngân hàng bán ngoại hối ra
Tỷ giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoản chênh lệch đó là lợi nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng
Thông thường thì ngân hàng không công bố tất cả tỷ giá của các hợp đồng đã ký kết trong một ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợp đồng ký kết cuối cùng trong ngày đó, người ta gọi đó là tỷ giá đóng của Tỷ giá đóng cửa được coi là chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động của tỷ giá trong ngày hôm đó Tỷ giá được công bố vào đầu giờ của đầu ngày giao dịch được gọi là tỷ giá mở cửa.Trong nghiệp vụ mua bán ngoại hối của ngân hàng còn chia ra tỷ giá tiền mặt và tỷ giá chuyển khoản Tỷ giá chuyển khoản bao giờ cũng cao hơn tỷ giá tiền mặt
Trong khuôn khổ chế độ quản lý ngoại hối ở các nước kém phát triển, ngoài thị trường ngoại hối chính thức c òn tồn tại thị trường ngoại hối tự do, do đó bên cạnh tỷ giá chính thức
Trang 6do nhà nước quy định còn có tỷ giá chợ đen do quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường này quyết định
3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá
3.1 Cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh tình hình thu – chi thực tế bằng ngoại tệ của một
số nước so với các nước khác trong giao dịch quan hệ quốc tế lẫn nhau Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện vị thế tài chính của quốc gia thâm hụt hoặc thặng dư
Nếu cán cân thanh toán thường xuyên thâm hụt ( chi>thu) thì dự trữ ngoại hối của quốc gia có thể giảm, tình hình ngoại tệ căng thẳng, từ đó tạo ra nhu cầu ngoại tệ tăng lên, giá ngoại
tệ tăng
Nếu cán cân thanh toán thặng dư ( thu>chi), dự trữ ngoại hối có thể tăng, cung ngoại tệ trên thị trường tăng, giá ngoại tệ có khuynh hướng giảm
3.2 Lạm phát
Lạm phát là sự suy giảm sức mua của nội tệ và được đo lường bằng chỉ số giá cả chung ngày càng tăng lên Để chứng minh mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát, Gustav Cassel (1772-1823) đã đưa ra lý thuyết ngang giá sức mua- Purchasing Power Parity
Theo lý thuyết này, giả thiết trong một nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo và cước phí vận chuyển, thuế hải quan được giả định bằng không Do đó, nếu các hàng hóa đều đồng nhất thì người tiêu dùng sẽ mua hàng ở nước nào mà giá thật sự thấp
3.3 Lãi suất
Phần lớn các nhà đầu tư với quy mô lớn trên thị trường như các tập đoàn, các công ty
đa quốc gia có thể chuyển đổi đầu tư một cách dễ dàng giữa các đồng tiền khác nhau khi tỷ giá
và lãi suất các đồng tiền này có chuyển hướng thay đổi Vấn đề quan trọng được đặt ra là cần phải so sánh đối chiếu thu nhập đầu tư từ các đồng tiền khác nhau để có thể chắc chắn rằng họ
có thể thu được kết quả đầu tư tốt nhất Thông thường, các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao, được thực hiện một cách khá phổ biến là đi vay đồng tiền có lãi suất
Trang 7thấp chuyển đồi sang đồng tiền có lãi suất cao, sau đó đầu tư đồng tiền có lãi suất cao bằng nhiều hình thức nhằm hưởng lợi nhuận chênh lệch suất của hai đồng tiền Điều này sẽ tạo nên
sự thay đổi cung cầu ngoại tệ trên thị trường, từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá Vì thế các nhà đầu tư ngày càng quan tâm so sánh giữa thu nhập do chênh lệch lãi suất mang lại phải lớn hơn sự gia tăng tỷ giá trong suốt thời gian đầu tư Đối chiếu, so sánh lãi suất của các đồng tiền khác nhau theo phương cách như trên là kỹ thuật quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư trên thị trường
Tuy nhiên, trong suốt thời gian đầu tư hay cho vay, tỷ giá biến động tăng hoặc giảm sẽ tác động đến gia tăng thu nhập hoặc lỗ, nhà đầu tư bị rủi ro do sự gia tăng tỷ giá lớn hơn thu nhập do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền Thực tế, thông thường đồng tiền có lãi suất cao
có khuynh hướng lên giá, bởi vì sẽ có nhiều nhà đầu tư mua đồng tiền có lãi suất cao để cho vay nhằm thu lãi nhiều hơn
3.4 Một số nhân tố khác
Sự điều chỉnh các chính sách tài chính tiền tệ, các sự kiện kinh tế, xã hội, chiến tranh , thiên tai, sự biến động của các chỉ số thống kê về việc làm-thất nghiệp-tăng trưởng kinh tế Đặc biệt là các chỉ số và các sự kiện tại Mỹ sẽ ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái trên thị trường thế giới Cụ thể là các nhân tố:
- Chỉ số thất nghiệp tăng, giảm trong tháng
- Chỉ số bán lẻ
- Kết quả các hội nghj G7,EU, Asian…
- Sản lượng công nghiệp, GDP, GNP…
Ngoài ra, khi thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi thì tỷ giá rất nhạy cảm với các sự kiện kinh teea, chính trị, xã hội, chiến tranh kể cả các yếu tố tâm lí…
Tóm lại, những biến động của các nhân tố nêu trên có thể tạo ra những tác động riêng lẻ hoặc đồng thời tác động lên cung hoặc cầu ngoại tệ, từ đó, tác động đến tỷ giá Việc hiểu và phần tích tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá rất quan trọng vì nó giúp chúng ta dự
Trang 8báo và hình thành kỳ vọng hợp lý về tỷ giá để từ đó làm cơ sở ra quyết định liên quan đến giao dịch ngoại tệ
4 Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoại
Dưới tác động của tỷ giá xuất hiện những biểu hiện bất lợi cho quá trình phát triển kinh
tế Chủ động can thiệp của Nhà nước nhằm bình ổn tỷ giá trên thị trường là điều kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu chiến lược kinh tế Bao gồm các biện pháp chủ yếu sau đây:
4.1 Chính sách lãi suất tái chiết khấu
Khi tỷ giá biến động, NHTW với vai trò quản lý vĩ mô điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu, sẽ làm thay đổi lãi suất tín dụng trên thị trường Điều này có tác dụng kích thích đối với việc di chuyển các luồng vốn ngoại tệ ngắn hạn từ nước này sang nước khác, từ đó dẫn đến sự thay đổi cung và cầu ngoại hối làm cho tỷ giá được bình ổn Cụ thể:
Khi tỷ giá hối đoái tăng lên, NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu dẫn tới lãi suất tiền gửi
sẽ tăng lên Thu hút vốn ngắn hạn chạy vào trong nước, làm tăng khả năng cung ngoại tệ và giảm bớt sự căng thẳng của tình hình cung đang nhỏ hơn cầu trên thị trường
4.2 Chính sách hối đoái
Nguyên lý cơ bản của biện pháp này là NHTW thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ mua-bán ngoại hối tạo ra khả năng trực tiếp thay đổi quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường để điều chỉnh tỷ giá Cụ thể như sau:
Khi tỷ giá hối đoái tăng, NHTW sẽ tung ngoại hối ra bán, cung ngoại hối trên thị trường tăng lên và làm giảm bớt căng thẳng về cung cầu ngoại hối trên thị trường ( cầu đang lớn hơn cung), dẫn tới tỷ giá từ từ giảm xuống
Khi tỷ giá hối đoái giảm, NHTW mua vào ngoại hối, sẽ tăng nhu cầu ngoại hối trên thị trường và làm giảm bớt căng thẳng quan hệ cung cầu trên thị trường (cung đang lớn hơn cầu), dẫn tới tỷ giá hối đoái từ từ tăng lên
Trang 9Tuy nhiên, biện pháp này chỉ có tác dụng tạm thời, với điều kiện NHTW phải có một khối lượng dự trữ ngoại hối lớn Trong trường hợp cán cân thanh toán quốc tế thiếu hụt
NHTW tung ngoại hối ra bán có thể làm tăng thêm sự hao hụt dự trữ ngoại hối mà thôi
Đối với một số quốc gia đã thiết lập được quỹ bình ổn hối đoái thì có thể sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái
4.3 Phá giá tiền tệ
Nhà nước chủ động giảm giá trị tiền tệ trong nước làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên Trong trường hợp cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt, hoặc do yêu cầu chính sách ngoại thương của quốc gia, Chính phủ có thể thực hiện chính sách phá giá tiền tệ Phá giá tiền tệ sẽ làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên, qua đó khuyến khích xuất khẩu hay hạn chế nhập khẩu bên cạnh đó đòi hỏi Nhà nước phải tìm mọi biện pháp để phát triển kinh tế, kiểm soát lạm phát
4.4 Nâng giá tiền tệ
Nhà nước chính thức nâng giá tiền tệ trong nước, nên giá ngoại tệ có xu hướng giảm xuống, nâng giá tiền tệ xuất phát từ áp lực của một số quốc gia khác trong cạnh tranh thương mại quốc tế nhằm, hoặc do yêu cầu thực hiện chính sách tiền tệ
Với nhiều biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái, tùy theo tình hình cụ thể mà mỗi quốc gia cần cân nhắc lựa chọn biện pháp hợp lý cho mình, bên cạnh đó Nhà nước cần kết hợp với các chính sách liên quan đến phát triển kinh tế, tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng, thuế quan…
5 Chính sách tỷ giá
Khái niệm: Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ( mà đại diện thường là
NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định( hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia
Vì là một bộ phận của chính sách tiền tệ nên mục tiêu của chính sách tỷ giá theo nghĩa rộng cũng phải phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ
Trang 10- Về mục tiêu ổn định giá cả: Với các yếu tố khác không đổi, khi tỷ giá tăng làm cho
giá hàng hoá nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng Giá hàng hoá nhập khẩu tăng làm cho mặt bằng giá cả chung cảu nền kinh tế tăng, tức gây lạm phát Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu càng lớn thì tỷ lệ lạm phát càng cao Ngược lại, khi tỷ giá giảm làm cho giá hàng hoá nhập khẩu tính bằng nội tệ giảm, tạo áp lực giảm lạm phát Muốn duy trì giá cả ổn định NHTW phải sử dụng chính sách tỷ giá ổn định và cân bằng
- Về mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm: Khi các yếu khác
không đổi, tỷ giá tăng sẽ kích thích tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, trực tiếp làm tăng thu nhập quốc dân và tăng công ăn việc làm Ngược lại, với các yếu tố khác không đổi, khi tỷ giá giảm sẽ tác động làm giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăng thất nghiệp
- Về mục tiêu cân bằng cán cân vãng lai: Có thể nói chính sách tỷ giá tác động trực
tiếp đến cán cân vãng lai Với chính sách tỷ giá định giá thấp nội tệ sẽ có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, giúp cải thiện được cán cân vãng lai từ trạng thái thâm hụt trở
về trạng thái cân bằng hay thặng dư Với chính sách tỷ giá định giá cao nội tệ sẽ có tác dụng kìm hãm xuất khẩu và kích thích nhập khẩu, giúp điều chỉnh cán cân vãng lai từ trạng thái thặng dư về trạng thái cân bằng hay thâm hụt Với chính sách tỷ giá cân bằng sẽ có tác dụng làm cân bằng xuất khẩu và nhập khẩu, giúp cán cân vãng lai tự động cân bằng
PHẦN II: TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Tỷ giá là một biến số kinh tế, tác động đến hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế, nhưng hiệu quả ảnh hưởng của tỷ giá lên các hoạt động khác nhau là rất khác nhau Trong đó, hiệu quả tác động của tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu là rõ ràng và nhanh chóng, chính vì vậy, trong điều kiện mở cửa, hợp tác, hội nhập và tự do hoá thương mại, các quốc gia luôn sử dụng tỷ giá trước hết như là công cụ hữu hiệu điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu
1 Tác động của tỷ giá tới lạm phát
Trên lý thuyết, khi một nước có lạm phát sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không đổi, hàng hóa dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nước ngoài Theo quy luật
Trang 11cung cầu, người dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ; điều tất yếu xảy ra là nhập khẩu sẽ tăng, kéo theo cầu ngoại tệ tăng, làm cho tỷ giá hối đoái cũng tăng Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn Hoạt động xuất khẩu giảm sút, làm cho cung ngoại tệ trên thị trường giảm, đây cũng là nguyên nhân làm tỷ giá hối đoái tăng Như vậy, lạm phát ảnh hưởng đến cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại
tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn Trên thị trường tiền tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng Trong trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa các quốc gia Quốc gia nào
có tỷ lệ lạm phát cao hơn thì đồng nội tệ của quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối và tỷ giá hối đoái tăng Đối với nước ta hiện nay, lạm phát đang ở mức cao nên việc tăng tỷ giá là điều không thể tránh khỏi
Tuy nhiên, áp lực lạm phát ở Việt Nam 2011 chủ yếu đến từ các nguồn khác chứ không phải từ việc điều chỉnh tỷ giá vừa rồi
Thứ nhất, việc điều chỉnh giá điện (tăng 15.28% so với năm 2010) bắt đầu từ ngày
1/3/2011 và việc cho phép các hàng hóa năng lượng quan trọng như xăng, dầu, than “ vận hành theo cơ chế thị trường” chắc chắn sẽ là một cú hích đáng kể đối với lạm phát
Thứ hai, xu thế giá thế giới của các hàng hóa cơ bản (đặc biệt là năng lượng, thực
phẩm, vật tư nông nghiệp và kim loại) tiếp tục tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mặt bằng giá trong nước vì nền kinh tế của chúng ta đã mở cửa hơn trước Không những thế, như một hiện tượng có tính quy luật, giá hàng hóa cơ bản ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) một khi đã tăng thì thường tăng thì sẽ cao hơn nhiều so với các nước phát triển Chẳng hạn như trong năm 2010, chỉ số giá hàng hóa cơ bản ở các nước đang phát triển là 31% trong khi trên toàn thế giới là 19%
Thứ ba, trong năm 2010, với tốc độ tăng cung tiền và tín dụng đều ở mức trên 25% và
tỷ lệ đầu tư trên 40% trong khi tốc độ tăng trưởng GDP thực chỉ là 6,8% thì lạm phát tiền tệ sau một độ trễ nhất định sẽ được thể hiện trong chỉ số giá Điều chỉnh tỷ giá và tăng giá điện đều là những việc không thể không làm để giảm sự méo mó trong giá thị trường, vốn là điều