Linux là tên gọi của một hệ điều hành máy tính mã nguồn mở và cũng là tên hạt nhân của hệ điều hành. Phiên bản linux đầu tiên do linus torvalds viết vào năm 1991, lúc ông còn là một sinh viên đại học Helsinki tại Phần Lan. Ông làm việc một cách hăng say trong vòng 3 năm liên tục và cho ra đời phiên bản Linux 1.0 vảo năm 1994. Bộ phận chủ yếu này được phát triển và tung ra trên thị trường dưới bản quyền GNU General Public License. Do đó mà bất cứ ai cũng có thể tải và xem mã nguồn của Linux. Vài năm qua, Linux đã thực sự tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực máy tính. Sự phát triển và những gì chúng mang lại cho máy tính thật đáng kinh ngạc: một hệ điều hành đa nhiệm, đa người dùng. Linux có thể chạy trên nhiều bộ vi xử lý khác nhau như: Intel, Motorola, MC68K, Dec Alpha. Nó tương tác tốt với các hệ điều hành:Apple, Mcrosoft và Novell. Không phải ngẫu nhiên mà ngành công nghê thông tin Việt Nam trong Linux làm hệ điều hành nền cho các chương trình ứng dụng chủ đạo về kinh tế và quốc phòng. Với mã nguồn mở, sử dụng Linux an toàn hơn các ứng dụng Windows. Linux đem đến cho chúng ta lợi ích về kinh tế với rất nhiều phần mềm miễn phí. Mã nguồn mở của hệ điều hành và cac chương trình trên Linux là tài liệu vô giá để chúng ta học hỏi về kỹ thuật lập trình vốn là những tài liệu không được công bố đối với các ứng dụng Windows. Trong đồ án này, chúng ta sẽ tìm hiểu một phần rất quan trọng trong hệ điều hành Linux đó là: quản lý bộ nhớ trong Linux. Một hệ điều hành muốn chạy ổn định thì phải có một cơ chế quản lý bộ nhớ hiệu quả. Cơ chế này sẽ được trình bày một cách chi tiết trong đồ án và có kèm theo các chương trình minh họa. Trong quá trình tìm bài tuy có nhiều cố gắng nhưng không thể tránh được những sai sót, nhóm em hy vọng nhận được những nhận xét của thầy để đề tài được hoàn thành tốt hơn.
Trang 1BÀI TẬP LỚN NGUYÊN LÝ HỆ ĐIỀU HÀNH
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU TÌM HIỂU VỀ QUẢN LÝ BỘ NHỚ TRONG
TRONG HỆ ĐIỀU HÀNH LINUX
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN TUẤN TÚ
LỚP: KHOA HỌC MÁY TÍNH 4 – K9
NHÓM SỐ 4
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
1 NGUYỄN THỊ DỊU
2 ĐỖ TUẤN ANH
3 TRẦN THỊ KIỀU HOA
4 VI THÙY DƯƠNG
5 LÊ THỊ CẨM LINH
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BỘ NHỚ TRONG CỦA HỆ ĐIỀU HÀNH CỦA LINUX 2
1.1.GIỚI THIỆU VỀ HỆ ĐIỀU HÀNH LINUX 2
1.2.: TỔNG QUAN VỀ BỘ NHỚ TRONG LINUX 3
CHƯƠNG II: CƠ CHẾ QUẢN LÝ BỘ NHỚ ẢO 4
2.1.: CÁC KHÁI NIỆM BỘ NHỚ ẢO, KHÔNG GIAN HOÁN ĐỔI 4
2.2.: TẠO KHÔNG GIAN HOÁN ĐỔI ( CƠ CHẾ Swapping ) 5
2.3.: SỬ DỤNG KHÔNG GIAN HOÁN ĐỔI 7
CHƯƠNG III: CƠ CHẾ PHÂN TRANG PHÂN ĐOẠN 10
3.1.: CƠ CHẾ PHÂN ĐOẠN 10
3.2.: CƠ CHẾ PHÂN TRANG 10
CHƯƠNG IV: CƠ CHẾ QUẢN LÝ BỘ NHỚ VẬT LÝ, ÁNH XẠ BỘ NHỚ 15 4.1.: BỘ ĐỊNH VÙNG 15
4.2.: CÁC VÙNG 15
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Linux là tên gọi của một hệ điều hành máy tính mã nguồn mở và cũng là tên hạt nhân của hệ điều hành
Phiên bản linux đầu tiên do linus torvalds viết vào năm 1991, lúc ông còn là một sinh viên đại học Helsinki tại Phần Lan Ông làm việc một cách hăng say trong vòng 3 năm liên tục và cho ra đời phiên bản Linux 1.0 vảo năm 1994 Bộ phận chủ yếu này được phát triển và tung ra trên thị trường dưới bản quyền GNU General Public License Do đó mà bất cứ ai cũng có thể tải và xem mã nguồn của Linux
Vài năm qua, Linux đã thực sự tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực máy tính Sự phát triển và những gì chúng mang lại cho máy tính thật đáng kinh ngạc: một hệ điều hành đa nhiệm, đa người dùng Linux có thể chạy trên nhiều
bộ vi xử lý khác nhau như: Intel, Motorola, MC68K, Dec Alpha Nó tương tác tốt với các hệ điều hành:Apple, Mcrosoft và Novell Không phải ngẫu nhiên mà ngành công nghê thông tin Việt Nam trong Linux làm hệ điều hành nền cho các chương trình ứng dụng chủ đạo về kinh tế và quốc phòng Với mã nguồn mở, sử dụng Linux an toàn hơn các ứng dụng Windows Linux đem đến cho chúng ta lợi ích về kinh tế với rất nhiều phần mềm miễn phí Mã nguồn mở của hệ điều hành và cac chương trình trên Linux là tài liệu vô giá để chúng ta học hỏi về kỹ thuật lập trình vốn là những tài liệu không được công bố đối với các ứng dụng Windows Trong đồ án này, chúng ta sẽ tìm hiểu một phần rất quan trọng trong
hệ điều hành Linux đó là: quản lý bộ nhớ trong Linux Một hệ điều hành muốn chạy ổn định thì phải có một cơ chế quản lý bộ nhớ hiệu quả Cơ chế này sẽ được trình bày một cách chi tiết trong đồ án và có kèm theo các chương trình minh họa
Trong quá trình tìm bài tuy có nhiều cố gắng nhưng không thể tránh được những sai sót, nhóm em hy vọng nhận được những nhận xét của thầy để đề tài được hoàn thành tốt hơn
Trang 5CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BỘ NHỚ TRONG CỦA HỆ ĐIỀU HÀNH
CỦA LINUX.
1.1.GIỚI THIỆU VỀ HỆ ĐIỀU HÀNH LINUX
Linux là một hệ điều hành dạng Unix (Unix – Like Operating System) chạy trên máy PC với bộ vi điều khiển trung tâm Intel 80386 trở lên hay các bộ vi xử
lý trung tâm tương thích AMD, Cyric Phiên bản Linux đầu tiên do Linus Torvalds viết vào năm 1991, phiên bản Linux 1.0 ra đời vào 3 năm sau, năm
1994 Bộ phần chủ yếu này được phát triển và tung ra trên thị trường dưới bản quyền GNU General Public License Do đó mà bất cứ ai cũng có thể tải và xem
mã nguồn của Linux
Khởi đầu, Linux được phát triển cho dòng vi xử lý 386, hiện nay hệ điều hành hỗ trợ một số lượng lớn các kiến trúc vi xử lý, và được sử dụng trong nhiều ứng dụng khác nhau, từ máy tính cá nhân cho đến các siêu máy tính, netbook và các thiết bị nhúng ví dụ như: máy điện thoại di động
Hình 1.1: Các thuộc tính và các phân khúc của Linux được tập trung vào
PROGRAMS
KERNEL
↓
HARDWARE
Hình 1.2: Các thành phần chính của Linux.
Trang 6Hiện nay, Linux đã có được sự hỗ trợ bởi các công ty lớn như IBM, Hewlett – Packard, đồng thời nó cũng bắt kịp các phiên bản Unix độc quyền và thậm chí
là một thách thức đối với sự thống nhất của Microsoft, Windows trong một số lĩnh vực
Tuy nhiên, hiện tại số lượng phần cứng được hỗ trợ bởi Linux vẫn còn rất khiêm tốn so với Windows vì các trình điều khiển thiết bị tương thích với Windows nhiều hơn Linux Nhưng trong tương lai số lượng phần cứng được hỗ trợ cho Linux sẽ tăng lên
1.2.: TỔNG QUAN VỀ BỘ NHỚ TRONG LINUX
Trong hệ thống máy tính, bộ nhớ là một tái nguyên hữu hạn Do vậy, nhu cầu
tổ chức, quản lý bộ nhớ là một trong những nhiệm vụ cơ bản của hệ điều hành
Bộ nhớ được tổ chức như mảng một chiều các từ nhớ (word), mỗi từ nhớ có một địa chỉ
Hệ điều hành chịu trách nhiệm cấp phát không gian nhớ cho các tiến trình khi
có yêu cầu
Cho dù có bao nhiêu bộ nhớ đi chăng nữa thì vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu của người sử dụng Các máy tính c nhân hiện nay đã trang bị ít nhất 1GB bộ nhớ Các máy chủ server có thể lên đến hàng GB bộ nhớ Thế nhưng nhu cầu bộ nhớ vẫn được thỏa mãn
Linux có cách tiếp cận vào quản lý bộ nhớ rất rõ ràng Các ứng dụng trên Linux không bao giờ được phép truy cập trực tiếp vào địa chỉ vật lý của bộ nhớ Linux cung cấp cho các chương trình chạy dưới hệ điều hành – còn gọi là tiến trình – một mô hình đánh địa chỉ phẳng không phân đoạn segment: offset như DOS Mỗi tiến trình chỉ thấy được một vùng không gian địa chỉ của riêng nó Hầu hết tất cả các phiên bản Unix đều cung cấp cách bảo vệ bộ nhớ theo cơ chế bảo đảm không có tiến trình nào có thể ghi đè lên vùng nhớ của tiến trình khác đang hoạt động hoặc vùng nhớ của hệ thống Nói chung, bộ nhớ mà hệ thống cấp phát cho một tiến trình không thể nào đọc hoặc ghi bởi một tiến trình khác Trong hầu hết các hệ thống Linux và Unix, con trỏ được sử dụng là một số
32 bit trở lên đến một ô nhớ cụ thể Với 32 bit, hệ thống có thể đánh địa chỉ lên đến 4GB bộ nhớ Mô hình bộ nhớ phẳng này dễ truy xuất và xử lý hơn bộ nhớ phân đoạn segment: offset
Ngoài ra, một vài hệ thống còn sử dụng mô hình địa chỉ 64 bit, như vậy, không gian địa chỉ có thể mở rộng ra đến tearabyte
Các sơ đồ quản lý bộ nhớ trong là: sơ đồ phân hoạch cố định, sơ đồ phân hoạch động, sơ đồ hoán đổi (swapping), sơ đồ phân trang, sơ đồ phân đoạn, sơ
đồ kết hợp phân trang phân đoạn Trong đó, Linux sử dụng sơ đồ hoán đổi (swapping), phân trang, phân đoạn và bộ nhớ ảo để quản lý bộ nhớ trong Chúng
ta sẽ tìm hiểu những cơ chế đó trong những chương sau để hiểu rõ hơn quá trình quản lý bộ nhớ trong trong hệ điều hành Linux
Trang 7CHƯƠNG II: CƠ CHẾ QUẢN LÝ BỘ NHỚ ẢO 2.1.: CÁC KHÁI NIỆM BỘ NHỚ ẢO, KHÔNG GIAN HOÁN ĐỔI.
Khái niệm bộ nhớ ảo
Trong hệ thống máy tính, bộ nhớ ảo (virtual memory) là một kỹ thuật cho phép bộ xử lý một tiến trình được nạp toàn bộ vào bộ nhớ vật lý Bộ nhớ ảo mô hình hóa bộ nhớ như một bảng lưu trữ rất lớn và đồng nhất, tách biệt hẳn khái niệm không gian địa chỉ và không gian vật lý Người sử dụng chỉ nhìn thấy và làm việc trong không gian địa chỉ ảo, việc chuyển đổi sang không gian vật lý do
hệ điều hành thực hiện với sự trợ giúp của các cơ chế phần cứng cụ thể
Linux hỗ trợ bộ nhớ ảo, nghĩa là nó sử dụng một phần của đĩa như là RAM để tăng kích thước của bộ nhớ Kernel sẽ ghi nội dung của một khối nhớ hiện không sử dụng lên đĩa cứng để bộ nhớ được sử dụng cho mục đích khác Việc đọc và ghi trên đĩa thì chậm hơn ( khoảng 1 nghìn lần ) so với sử dụng bộ nhớ thật, vì vậy chương trình chạy không nhanh
Không gian hoán đổi
Phần đĩa cứng được sử dụng như là bộ nhớ ảo được gọi là không gian hoán đổi
Khi máy tính cần chạy những chương trình lớn hơn khả năng có thể của bộ nhớ vật lý, hệ điều hành sẽ sử dụng thuật toán swapping Swapping sẽ dùng đến những mảng bộ nhớ tạm được lưu trên đĩa cứng, trong khi phần dữ liệu khác vẫn được chuyển vào RAM để tăng hiệu năng sử dụng
Linux chia bộ nhớ vật lý thành các pages, swapping là một tiến trình thực hiện việc copy một page của bộ nhớ đến một không gian được cấu hình trước trên đĩa để giải phóng các page của bộ nhớ Có 2 loại swap page: swap partition
và swap file
2.1 : MÔ HÌNH BỘ NHỚ ẢO
Để cho sự chuyển đổi dễ dàng hơn thì bộ nhớ ảo và bộ nhớ vật lý được chia thành nhiều khúc gọi là trang Linux trên hệ thống Alpha AXP sử dụng trang 8
KB Mỗi trang được cung cấp một số duy nhất gọi là số phân trang ( PFN: Page Frame Number )
Trang 8Hình 2.2.1: Mô hình trừu tượng của sự ánh xạ từ địa chỉ ảo đến địa chỉ vật lý.
Trong mô hình này, một địa chỉ ảo bao gồm 2 phần: địa chỉ offset và số khung trang ảo Nếu kích thước trang là 4KB (tương ứng địa chỉ offset từ 0→4095) thì từ bit 11 đến bit 0 của chỉ ảo chứa địa chỉ offset, còn từ bit 12 trở lên là số khung trang ảo Mỗi lần bộ xử lý bắt gặp một địa chỉ ảo, nó sẽ lấy địa chỉ offset và số khung trang ảo ra Bộ xử lý phải chuyển từ số khung trang ảo sang số khung trang vật lý và sau đó truy cập vào địa chỉ offset trong trang vật lý
đó Để làm được điều này thì bộ xử lý xử dụng bảng trang
Bộ xử lý số khung trang ảo như là chỉ mục vào bảng trang các tiến trình để truy xuất vào từng mục của bảng trang Nếu mục của bảng trang tại địa chỉ offset đó là hợp lệ thì bộ xử lý sẽ lấy số khung trang vật lý từ mục này Nếu mục này không hợp lệ thì tiến trình sẽ truy cập vào một vùng không tồn tại của bộ nhớ ảo Trong trường hợp này, bộ xử lý sẽ không thể làm việc với địa chỉ này
mà chuyển điều khiển cho hệ điều hành để khắc phục lỗi đó
Bằng cách ánh xạ địa chỉ ảo và địa chỉ vật lý như thế này, bộ nhớ ảo có thể được ánh xạ vào bộ nhớ vật lý của hệ thống theo bất kỳ thứ tự nào Ví dụ: trong hình 2.2.1 ở trên
2.2.: TẠO KHÔNG GIAN HOÁN ĐỔI ( CƠ CHẾ Swapping )
Khi máy tính cần chạy những chương trình lớn hơn bộ nhớ vật lý (RAM) có sẵn, hầu hết các hệ điều hành ngày nay sử dụng công nghệ hoán đổi có tên gọi là swapping Đây là công nghệ mà trong đó một phần bộ nhớ tạm thời được lưu trên ở cứng (đĩa cứng) trong khi các dữ liệu khác vẫn được chuyển vào trong không gian bộ nhớ vật lý (RAM) Công nghệ này giúp ta quản lý việc hoán đổi (swapping) tốt hơn cũng như tăng hiệu năng sử dụng
Linux chia bộ nhớ vật lý (RAM) thành cac pages Swapping là một tiến trình thực hiện việc copy một page của bộ nhớ đến một không gian đã được cấu hình
Trang 9trước trên đĩa cứng (gọi là swap space), để giải phóng các page của bộ nhớ Tổng dung lượng RAM và không gian hoán đổi (swap space) chính là bộ nhớ ảo (virtual memory)
Có 2 lý do quan trọng mà cần phải thực hiện việc hoán đổi Trước tiên, khi
hệ thống yêu cầu bộ nhớ lớn hơn bộ nhớ vật lý hiện tại đang có thì nhân hệ thống sẽ được chuyển sang các trang được sử dụng ít hơn và nhường bộ nhớ cho các ứng dụng đang cần sử lý ngay Thứ hai, số lượng các trang quan trọng được
sử dụng ở một ứng dụng trong suốt giai đoạn khởi động có thể chỉ được dùng để khởi tạo rồi sau đó không dùng lại nữa Hệ thống có thể chuyển đổi giữa các trang này và giải phóng bộ nhớ cho các ứng dụng khác hay thậm chí cho cả cache lưu trữ ổ
Một file swap là một file thông thường, không có gì đặc biệt đối với kernel Điều duy nhất mà nó có nghĩa đối với kernel là nó không có vùng trống Nó được chuẩn bị để sử dụng với hàm mkswap(), nó phải thường trú trên đĩa cục bộ
Một phân cùng swap cũng không có gì đăc biệt Ta tạo nó giống như các phân vùng khác Sự khác nhau duy nhất là nó được sử dụng như là một phân vùng thô, nó sẽ không chứa bất kỳ file hệ thống nào Phân vùng swap được đánh dấu là loại 82 (Linux swap), điều này giúp cho việc liệt kê sự phân vùng rõ ràng hơn mặc dù nó không hoàn toàn cần thiết đối với kernel Sau khi ta tạo một phân vùng, ta cần ghi một chữ ký lên nơi bắt đầu của nó Chữ ký này được sử dụng bởi kernel và chứa một số thông tin về việc quản lý Đoạn lệnh để làm việc này
là hàm mkswap(), được sử dụng như sau:
$ mkswap/extra-swap 1024
Setting up swapspace, size = 1044480
Bytes $
Chú ý là không gian hoán đổi vẫn chưa được sử dụng nó tồn tại nhưng kernel không sử dụng nó để cung cấp bộ nhớ nào
Tuy nhiên việc hoán đổi cũng không hoàn toàn tốt So với bộ nhớ, các ổ chạy rất chậm Tốc độ bộ nhớ có thể được đo bằng nano giây (ns) trong khi tốc độ ổ bằng mili giây (ms), do đó truy cập chậm hơn hàng chục nghìn lần truy cập vào
bộ nhớ vật lý (RAM) Càng thực hiện hoán đổi nhiều thì hệ thống càng chậm Đôi khi hoán đổi quá mức hoặc nhiều lần liên tiếp sẽ xảy ra ở một trang được chuyển ra rồi ngay lập tức lại được chuyển vào rồi lại chuyển ra cứ thế tiếp tục Trong mỗi trường hợp thì hệ thống sẽ tìm ra các vùng nhớ trống và cùng lúc đưa vào chạy ứng dụng Trường hợp này chỉ cần thêm RAM
Ta nên cẩn thận khi sử dụng hàm mkswap() bởi vì nó không kiểm tra file hay phân vùng này sử dụng chưa Ta có thể dễ dàng ghi đè lên file hay phân vùng quan trọng với hàm mkswap() Tốt hơn hết là ta chỉ nên sử dụng hàm này khi cài đặt hệ thống của bạn
Trang 102.3.: SỬ DỤNG KHÔNG GIAN HOÁN ĐỔI
Linux sử dụng hai loại không gian hoán đổi là partition hoán đổi và tập tin hoán đổi
a : Partition hoán đổi.
Partition hoán đổi là môt phần đọc lập của ổ cứng được sử dụng chỉ để hoán đổi không một tập tin nào khác được lưu trữ ở đây
Để biết được dung lượng không gian hoán đổi mà ta có, ta sử dụng lệnh swapon-s Ta thực hiện kết quả như sau:
Mỗi dòng liệt kê một không gian hoán đổi riêng được sử dụng bởi hệ thống
ở đây, trường “Type” chỉ ra rằng không gian hoán đổi này là Partition chứ không phải là file, và tại trường “ Filename” ta thấy rằng hoán đổi xảy ra ở ổ đĩa sda5 “Size” hiển thị dạng kilobyte và trường “Used” cho biết số lượng kilobyte không gian hoán đổi đã sử dụng (trường hợp này là 0) “Priority” cho Linux biết không gian hoán đổi nào được sử dụng đầu tiên một điều tiện lợi khi Linux hoán đổi hệ thống con là nếu ta có 2 hay nhiều không gian hoán đổi (trên hai thiết bị khác nhau) với cùng một độ ưu tiên, thì Linux sẽ xen kẽ hoán chuyển các hoạt động giữa chúng, do đó có thể nâng tốc độ thực thi
Để thêm các Partition hoán đổi vào hệ thống trước hết ta cần phải chuẩn bị:
Đảm bảo các Partition đó được đánh dấu như Partition hoán đổi
Tạo các hoán đổi tập tin hệ thông Để kiểm tra Partiton đã được đánh dấu chưa ta cần chạy lệnh:
Fdisk-l/dev/hdb
Thay thế /dev/hdb bằng thiết bị của ổ cứng trên hệ thống của ta với Partittion hoán đổi trên nó Kết quả như sau:
Device Boot Start End Blocks Id System
/dev/hdb1 2328 2434 859446 82 Linux swap/Solaris
Nếu Partition chưa được đánh dấu thì ta phải sửa lại nó bằng cách chay fdisk
và dùng tùy chọn ‘t’ Hãy cẩn thận khi làm việc với các Partition Ta không muốn xóa đi những Partittion quan trọng bởi bị lỗi hay thay đổi ID của Partition khi hệ thống mắc lỗi trong việc hoán đổi Tất cả các dữ liệu trên một Partition hoán đổi sẽ bị mất do đó hãy kiểm tra lại thay đổi ta tạo ra Đồng thời chú ý rằng Solaris sử dụng cùng ID giống không gian hoán đổi Linux, phải cẩn thận để không xóa các Partition Solaris đó
Trang 11Ngay khi Partition được đánh dấu hoán đổi, ta hãy dùng lệnh mkswap (make swap) như sau:
Mkswap /dev/hdb1
Nếu không có lỗi xảy ra thì hoán đổi của bạn đã sẵn sàng được sử dụng Để kích hoạt hãy nhập:
Swapon /dev/hdb1
Ta có thể kiểm tra bằng lệnh swapon-s Để cài đặt không gian hoán đổi tự động khi khởi động ta cần thêm một entry cho /etc/fstab file, nơi chứa một danh sách các tập tin hệt thống và các không gian hoán đổi cần cài đặt tại thời gian khởi động Mỗi dòng có định dạng như sau:
<file system> <mount point> <type> <options> <dump>
<pass>
Khi không gian hoán đổi là một loại đặc biệt của tập tin hệ thống thì rất nhiều các tham số không tương đương Đối với không gian hệ thống, hãy thêm:
Trong đó dev/hdb là một ngăn hoán đổi Ngăn này không có điểm lắp đặt cố định, do đó ta có none Loại hoán đổi với tùy chọn sw và hai tham số cuối cùng không được sử dụng nên chúng có giá trị là 0 Để kiểm tra xem không gian hoán đổi đã được tự động cài đặt mà không cần phải khởi động lại thì bạn có thể dùng
lệnh: swapoff – a (tắt các không gian hoán đổi) rồi sau đó dùng lênh : swapon –
a (cài đặt tất cả mọi không gian hoán đổi liệt kê tại tập tin /etc/fstab) rồi kiểm tra lại bằng lệnh swapon – s.
Một không gian hoán đổi đã khởi tạo sẽ lấy được để sử dụng nhờ lệnh swapon Lệnh này bào cho kernel bằng không gian hoán đổi có thể sử dụng Đường dẫn đến không gian hoán đổi được cấp như là đổi số, vì vậy để bắt đầu hoán đổi trên một file swap tạm thời, ta có thể sử dụng đoạn lệnh sau:
$ swapon/extra-swap $
Không gian hoán đổi có thể được sử dụng tự động bằng cách liệt kê chũng trong file /etc/fstab
/dev/hda5 none swap sw 0 0
/swapfile none swap sw 0 0
Đoạn mã khởi động sẽ chạy lệnh swapon – a, lệnh này sẽ bắt đầu thực hiện hoán đổi trên tất cả các không gian hoán đổi được liệt kê trong file /etc/fstab Do