1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài tập lớn du lịch: Nghiên cứu chiếc nón lá của các vùng khác nhau trên đất nước.

32 4,5K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn đề tài: Nón lá là hình ảnh bình dị, thân quen gắn liền với tà áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.Từ xưa đến nay, nhắc đến Việt Nam du khách nước ngoài vẫn thường trầm trồ khen ngơị hình ảnh chiếc nón lá – tượng trưng cho sự thanh tao của người phụ nữ Việt.Nón lá đã đi vào ca dao, dân ca và làm nên văn hóa tinh thần lâu đời của Việt Nam.Có thể thấy rằng đề tài chiếc nón lá Việt Nam đã trở nên rất quen thuộc không chỉ đối với học giả, những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, mà còn là đề tài khá phổ biến cho các bạn sinh viên. Vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu này với mong muốn mang lại một cái nhìn toàn diện hơn cho những ai chưa hoàn toàn am hiểu về lịch sử cũng như sự phát triển của chiếc nón lá.

Trang 1

2 Lịch sử nghiên cứu:

Chiếc nón lá có lịch sử rất lâu đời Hình ảnh tiền thân của chiếc nón đã đượcchạm khắc trên trống đồng Ngọc Lữ, thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500- 3000năm trước công nguyên Từ xa xưa, nón lá đã hiên diện trong đời sống hằng ngàycủa người Việt Nam trong những cuộc chiến đấu dựng và giữ nước, qua nhiềuchuyện kể và truyền thuyết.Bài tổng kết này sẽ đem đến nhiều kiến thức cụ thể hơn

về chiếc nón lá từ thời phong kiến cho đến nay

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Chiếc nón lá được coi là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam.Nghiên cứu

về chiếc nón lá và những nét đặc trưng cơ bản của chiếc nón lá có thể quảng bá

Trang 2

hình ảnh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam dịu dàng, duyên dáng, cùng với đómang lại cảm giác về quê hương Việt Nam đang hiện ra trước mắt.

4 Đối tượng- phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Chiếc nón lá của các vùng khác nhau trên đất nước

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu về chiếc nón ở những nơi tiêu biểu từ Bắc vào Nam, cụ thể là từthời phong kiến cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp chủ yếu được sử dụng để xác định mục đích, đối tượng

và phạm vi nghiên cứu đề tài là hệ thống hóa các lý luận Để làm rõ đề tài thìphương pháp phân tích dữ liệu, so sánh, thống kê, tổng hợp đã được áp dụng

6 Bố cục đề tài:

Gồm 3 phần chính:

1 Vài nét về chiếc nón lá Việt Nam

2 Chiếc nón lá của 3 miền

3 Giá trị của chiếc nón lá trong đời sống Việt

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG

1 Vài nét về chiếc nón lá

Nón lá là một loại nón đội đầu truyền thống của các dân tộc Đông Á vàĐông NamÁ như Nhật Bản, Lào, Trung Quốc, Thái Lan trong đó có Việt Nam Cùng với áo dài, áo cánh, váy lĩnh, yếm đào, thắt lưng bao chiếc nón được coilàmột thứ phục trang phục, vì thế chiếc nón được xem là một trong những biểutượngtruyền thống của người Việt Nam, gắn bó với người Việt, không phân biệtgiới tính,tuổi tác, địa vị

1.1 Lịch sử chiếc nón lá ở Việt Nam

Có lẽ từ ngàn xưa, do đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với thời tiếtnắng lắm mưa nhiều, người Việt xưa đã biết lấy lá kết vào nhau để làm vật dụngđội lên đầu để che nắng che mưa, qua năm tháng dần dần nó được cải tiến thànhnhững chiếc nón có hình dạng khác nhau và hình ảnh chiếc nón đã hiện diện trongđời sống thường ngày của người Việt Nam, trong cuộc chiến đấu giữ nước, quanhiều câu chuyện kể và tiểu thuyết.Nón lá có lịch sử lâu đời đã khắc trên trốngđồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khỏang 2500-3000 năm Nón lá gầnvới đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng cho người congái Việt Nam và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, Nón lá ởViệt Nam có nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử:

Nón dấu : nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa

Nón gò găng hay nón ngựa: sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cưỡingựa

Nón rơm : Nón làm bằng cộng rơm ép cứng

Trang 5

Nón quai thao : người miền Bắc thường dùng trong lễ hội

Nón gõ : Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa

Nón lá sen: cũng gọi là nón liên diệp

Nón thúng: thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng

Nón khua :Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa

Nón chảo : thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng

Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang

Nón bài thơ : ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơHoạ sĩ Đặng Mậu Tựu – Phó chủ tịch Hội Văn hóa nghệ thuật Thừa Thiên Huế chobiết: “Lịch sử nón Việt Nam qua nhiều giai đoạn, có những biến thiên, từ nón hìnhtròn (nón miền Bắc xưa), nón tròn dẹt (nón quai thao) đến nón hình chóp (nónHuế).Về mặt tạo hình, hình chóp tạo khối vững vàng trong không gian, nâng hiệuquảthẩm mỹ lên cao, nón có chiều sâu nên vừa che được nắng nhiều hơn, lại vừatạo sự gọn gàng, duyên dáng”

Về thời điểm ra đời, nhiều tài liệu cho rằng Chiếc nón lá xuất hiện ở Việt nam vàothế kỉ thứ 13, đời nhà Trần Hình ảnh tiền thân của chiếc nón đã được chạm khắctrên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500 - 3000 năm

về trước

Như vậy, có thể thấy chiếc nón đã xuất hiện ở Việt nam từ xa xưa dưới nhiều hìnhthức khác nhau

1.2 Cấu tạo chiếc nón lá

Theo sự phát triển của lịch sử qua các thời đại, nón lá ở Việt Nam có nhiềubiến đổivề kiểu dáng và chất liệu Ban đầu khi chưa có dụng cụ để khâu thắt, nónđược tết đan, sau đó từ khi có sự ra đời của chiếc kim, vào thời kỳ con người chế

Trang 6

luyện được sắt (khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên), chiếc nón khâu như ngàynay ra đời.

Trước kia, chiếc nón được phân thành 3 loại với tên gọi nón mười (hay nón batầm),nón nhỡ và nón đầu Nhìn chung nón cổ vành rộng, tròn, phẳng như cái mâm

Ở vành ngoài cùng có đường viền quanh làm cho nón có hình dáng giống nhưcáichiêng.Giữa lòng có đính một vòng nhỏ đan bằng giang vừa đủ ôm khít đầungười đội.Nón ba tầm có vành rộng nhất Phụ nữ thời xưa thường đội nón này đichơi hộihay lên chùa Nón đấu là loại nhỏ nhất và đường viền thành vòng quanhcũng thấp nhất

Trước kia người ta còn phân loại nón theo đẳng cấp của người chủ sở hữu nón.Cácloại nón dành cho ông già, có loại cho nhà giàu và hàng nhà quan, nón cho trẻem,nón cho lính tráng, nón nhà sư

Người Việt từ nông thôn cho tới thành thị đều dùng nón lá, nhưng ít người để ý nón

lá có bao nhiêu vành, đường kính rộng bao nhiêu cm ? Nón lá tuy giản dị rẻ tiềnnhưng nghệ thuật làm nón cần phải khéo tay Nghề chằm nón không chỉ dành riêngcho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đình cũng có thể giúp chuốtvành, lên khung nón Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành mộtcách công phu ; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy Người phụ nữ thìchằm nức vành Để có được lá đẹp, họ thường chọn lá nón non vẫn giữ được màuxanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng.Khi xây và lợp lá, người ta phải khéoléo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh vàmỏng.Nghề làm nón lá thường sản xuất từ miền Bắc và miền Trung trong các làngquê sau các vụ mùa, ở các tỉnh miền Nam không thấy người ta chằm nón

Vật dụng làm nón gồm: lá, chỉ và khung nón Vật liệu làm nón tuy đơn sơ nhưngkhó tìm loại lá làm nón, lá mọc ở những vùng núi, sau nầy người ta đem giống vềtrồng ở vườn, có tên Du Qui Diệp là lá làm tơi thời gian văn minh chưa phát triển,

Trang 7

người ta dùng loại lá nầy làm cái tơi để mùa đông chống mưa gió Một loại khác là

Bồ Qui Diệp là loại mỏng và mền hơn để làm nón lá.Lá thì có vùng lấy từ hai loạicây giống như cây lá kè, có sứa nhỏ, mọc ở những vùng đồi núi.Một loại có tên là

lá tơi (tên chữ là du quy diệp), mềm và mỏng hơn.Ngày nay dù đã phát triển nhưngtrên những cánh đồng lúa xanh tươi ngoài Bắc, trong những trưa hè nắng gắt, người

ta còn dùng lá tơi để che nắng, giống như con công đang xòe cánh.Ngoài ra, nón cóthể được đan bằng các loạilá khác nhau như lá cọ, rơm, tre, lá cối, lá hồ chuyên làmnón v.v Sợi chỉ khâu lángày xưa người dân dùng sợi nón – một loại sợi rất dai lấy

từ bẹ cây móc, ngày nay người ta thường là sợi cước (người Huế thì lại dùng sợichỉ đoác) Lá non lúc khô có màu trắng xanh, người mua phải phơi lá vào sươngđêm cho lá bớt độ giòn vì khô, mở lá từ đầu tới cuồng lá, cắt bỏ phần cuối cùng,dùng lưỡi cày cũ hay một miếng gan, đặt trên nồi than lửa nóng đỏ, dùng cục vảinhỏ độn giống như củ hành tây, người ta đè và kéo lá nón thẳng như một tờ giấydài màu trắng, có nổi lên những đường gân lá nhỏ, lựa những lá đẹp để làm phầnngoài của nón Người ta dùng cái khung hình giống như Kim Tự Tháp Ai Cập, có 6cây sườn chính, khoảng cách giống nhau để gài 16 cái vành nón tròn lớn nhỏ khácnhau lên khung Cái khung nầy phải do thợ chuyên môn làm kích thước đúng cỡkhi lợp lá và chằm nón xong, tháo nón ra dễ dàng Nón thường chỉ 16 vành trònlàm bằng tre cật vót nhỏ đều nhau nối lại, Nón bài thơ nhẹ mỏng chỉ 2 lớp lá trongchen hình cảnh và các câu thơ, nón thường độ bền lâu hơn dày có 3 lớp phần tronglót thêm loại lá đót, (loại cây nầy giống cây sậy, khi trổ bông người ta lấy bông làmchổi) Chằm xong nón tháo khỏi khung, cắt lá thừa nức miệng nón và làm quai, nónrộng đường kính thường 41 cm, người ta phết phiá ngoài lớp mỏng sơn dầu trongsuốt nước mưa không thấm qua các lỗ kim vào bên trong Để có được một chiếcnón, phải trải qua 15 khâu, từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độnvành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ Mỗi chiếc nón cóhoặc không có dây đeo làmbằng vải mềm hoặc nhung, lụa để giữ trên cổ

Trang 8

Tàu lá nón khi đem về vẫn còn xanh răn reo, được đem là bằng cách dùng mộtmiếng sắt được đốt nóng, đặt lá lên dùng nắm giẻ vuốt cho phẳng Lửa phải vừa độ,nếunóng quá thì bị ròn, vàng cháy, nguội quá lá chỉ phẳng lúc đầu, sau lại răn nhưcũ.Người ta đốt diêm sinh hơ cho lá trắng ra, đồng thời tránh cho lá khỏi mốc.Với loại lá non còn búp, chưa xòe ra hẳn, người ta phơi khô, nhưng không đểchokhô quá, rồi đem ủi cẩn thận.Người ta “ủi” bằng cách lấy giẻ nhúng nước, đemhơtrên lửa cho nóng trước khi chà nhẹ lên lá, để “ủi” cho lá thẳng và những đườnggân lá cũng bằng với mặt lá, đoạn đem treo lên từng chùm để giữ lá cho thẳng.Nón thường có hình chóp nhọn hay hơi tù, tuy vẫn có một số loại nón rộng bảnvàlàm phẳng đỉnh Lá nón được xếp trên một cái khung gồm các nan tre nhỏ uốnthànhhình vòng cung Thường thì có 16 vòng xếp thành 16 tầng mỗi tầng có bánkính khácnhau.16 vòng tạo cho chiếc nón dáng thanh tú, không quá cũn cỡn, khôngxùm xụp.Khung nón thường là do những người thợ có tay nghề chuyên môn làmsẵn.

Ở Huế chiếc nón lá được thi vị hoá thêm bằng những bài thơ bên trong lớp lá.Muốn đọc ta đưa chiếc nón lá lên cao, nhìn xuyên qua ánh nắng mặt trời Thơ sẽhiện ra bên trong nón

1.3 Phân loại

Nón được phân làm hai loại: dựa vào chất liệu và dựa vào đặc điểm cấu tạo.Dựa vào chất liệu gồm có: nón lá dừa và nón lá cọ Dựa vào đặc điểm cấu tạo gồmcó: nón thúng và nón chóp Nón thúng có các loại như: nón ngang, nón dấu, nónmười Nón chóp ra đời sau nón thúng ở làng Chuông (Hà Tây)

Ngoài ra, nón lá còn có nhiều loại khác như nón ngựa hay nón Gò Găng (sản xuất ởBình Định, làmbằng lá dứa, thường dùng khi đội đầu cưỡi ngựa), nón quai thao(người miền BắcViệt Nam thường dùng khi lễ hội), nón bài thơ (ở Huế, là thứ nón

Trang 9

lá trắng và mỏngcó lộng hình hoặc một vài câu thơ), nón dấu (nón có chóp nhọncủa lính thú thời phong kiến); nón rơm (nón làm bằng cọng rơm ép cứng); nón cời(loại nón xé te tuaở viền); nón gõ (nón làm bằng tre, ghép cho lính thời phongkiến); nón lá sen (còngọi là nón liên diệp); nón thúng (nón là tròn bầu giống cáithúng, thành ngữ "nón thúng quai thao"); nón khua (nón của người hầu các quan lạithời phong kiến); nón chảo (nón mo tròn trên đầu như cái chảo úp, nay ở Thái Lancòn dùng), v.v

1.4 Một số làng nghề làm nón nổi tiếng

Làng nghề nón làng Chuông, Thanh Oai, Hà Nội:

Làng Chuông thuộc xã Phương Trung, Thanh Oai, Hà Nội là làng nghề nổitiếng với truyền thống làm nón lâu đời.Nơi mà mỗi du khách khi đến đây đều mongmuốn sở hữu chiếc nón lá xinh xắn, bền đẹp về làm quà

Xưa kia, làng Chuông sản xuất nhiều loại nón, dùng cho nhiều tầng lớp như nón batầm cho các cô gái, nón nhô, nón long, nón dấu, nón chóp cho các chàng trai vànhững người đàn ông sang trọng

Nghề làm nón ở xứ sở này xuất phát từ đâu, trong làng không ai biết, họ chỉ biếtnghề nón phát triển mạnh mẽ nhờ vào ông Hai Cát – một nghệ nhân giờ đã hơn 80tuổi, là người có công mang nón Xuân Kiều còn gọi là nón Ba Đồn về làng sảnxuất thay thế cho các loại nón cổ

Lúc bấy giờ, trong hoàn cảnh nền kinh tế khủng hoảng, cả làng rơi vào tình trạng sasút, người làng bỏ đi hết, làng Chuông với gần một trăm nóc nhà vậy mà chỉ cònlưa thưa mấy ông bà già, chẳng ai còn tha thiết với nghề làm nón quai thao mặc dùchính nghề này đã nuôi cả làng hơn 500 năm có lẻ

Ông Hai Cát quyết tâm ra chốn kinh kì tiếp tục theo nghiệp làm nón quê nhà Lúcbấy giờ, nón Huế lên ngôi và được ưa chuộng ở chốn kinh thành Với đôi bàn tay

Trang 10

của người thạo nghề cùng với chút sáng tạo của tuổi trẻ, chàng trai Hai Cát dốctoàn bộ vốn liếng mua nguyên liệu về làm nón Huế.

Thời điểm ấy không có lá gồi, ông dùng lá cọ, vốn làng Chuông vẫn dùng để làmnón quai thao từ xa xưa.Sau bao lần thí nghiệm thất bại, chiếc nón ông làm tuy đãđẹp nhưng vẫn có một màu vàng so với nón Huế.Không ngần ngại, ông đã vào tậnQuảng Trị để mua lá gồi rồi mang ra làm lại từ đầu.Và lòng kiên trì đã dẫn tớithành công

Năm 1930, ở hội chợ Trường Đấu Xảo- Hà Đông, nón của ông Hai Cát đã đượcđánh giá rất cao và chính quyền sở tại đã cấp giấy hành nghề, hiệp hội làm nónchứng nhận chất lượng cao Ông đã trở về quê hương với nghề làm nón mới cùngvới 6 giấy phéo dạy nghề làm nón xuyên suốt từ Hà Đông, Hà Nội, Hải Dương, HảiPhòng

Nhờ tài năng và danh tiếng của ông Hai Cát, sau một năm, số người làng quay vềngày một đông, hồi sinh lại làng Chuông sau 30 năm tưởng sẽ không bao giờ làmnón nữa

Làng Chuông với nghề làm nón giờ đã nổi tiếng khắp trong và ngoài nước Ngôilàng nhỏ bé luôn tấp nập khách ra vào Khách đến làng không chỉ để đặt hàng màcòn muốn tham quan, tận mắt chứng kiến công việc làm nón

Ngày nay, cùng với xu thế cách tân trang phục truyền thống, chiếc nón cũng được

đa dạng hóa thêm, thị trường nón cũng được mở ra một hướng khác.Bất cứ dukhách nào tới Việt Nam đều yêu thích chiếc nón.Chính vì vậy, người làng Chuônglàm những chiếc nón đủ kích cỡ, phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của khắp mọimiền

Chợ làng Chuông họp một tháng sáu phiên chính, vào các ngày 4, 10, 14, 20, 24 và

30 hàng tháng

Trang 11

Làng nghề làm nón Tây Hồ, Huế:

Làng Tây Hồ là nơi sản sinh ra chiếc nón bài thơ - một vật dụng được xem làmang cả vẻ đẹp của tâm hồn Huế Nằm bên dòng sông Như Ý, làng Tây Hồ (xãPhú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế) từ lâu đã nổi tiếng với nghềchằm nón lá truyền thống

Người dân Tây Hồ luôn tự hào vì quê mình là nơi xuất xứ của nón bài thơ xứ Huế.Chiếc nón bài thơ ra đời ở Tây Hồ như một sự tình cờ: Đó là vào khoảng năm1959-1960, ông Bùi Quang Bặc - một nghệ nhân chằm nón lá, cũng là một ngườiyêu thơ phú trong làng đã có sáng kiến làm nên nón bài thơ bằng cách, ép nhữngcâu thơ vào giữa hai lớp lá, tôn vinh thêm vẻ đẹp của chiếc nón (lúc đó, nón lá ởHuế chủ yếu được bán vào thị trường của các tỉnh phía nam) Hai câu thơ đầu tiênđược ông Bặc ép vào chiếc nón là: “Ai ra xứ Huế mộng mơ / Mua về chiếc nón bàithơ làm quà”

Con gái làng Tây Hồ chừng mười tuổi thì đã tự học chằm nón và có người suốt đờichỉ theo nghề chằm nón Còn đàn ông, ngoài việc đồng áng, họ cũng phụ giúp phụ

nữ làm công việc ủi lá hay chẻ tre để làm vành nón Với cây mác sắc, họ chuốt từngsợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa

và bóng bẩy Người phụ nữ thì nức vành và ủi lá.Để có được lá đẹp, người thợthường chọn lá nón vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng vàláng.Khi xây và lợp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bịchồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng.Khâu (chằm) nón là côngđoạn quyết định đến sự hình thành và vẻ đẹp của cả chiếc nón.Người thợ sẽ khâu từtrên xuống đến vành 15, cứ 1 cm 3 mũi cước trong suốt Vành cuối cùng khâu cướctrắng, 2 mũi kim cách nhau 2 cm Đường chằm phải mềm mại, thanh nhẹ, dịu dàng

Trang 12

Khi nón chằm hoàn tất, người ta đính thêm vào chóp nón một cái “xoài” được làmbằng chỉ bóng láng để làm duyên, sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng đểnón vừa đẹp vừa bền.Điều làm nên nét đặc biệt nhất của nón lá Tây Hồ so với sảnphẩm cùng loại của nhiều làng nón khác ở xứ Huế chính là dáng thanh mảnh, độmỏng, màu nón nhã nhặn và đặc biệt nhất là những bài thơ chất chứa tâm hồn xứHuế được cài trong chiếc nón.

2 Chiếc nón lá của 3 miền

Ở Việt Nam, cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều có những vùng làm nón nổitiếng vàmỗi loại nón ở từng địa phương đều mang sắc thái riêng Nón Lai Châu củađồngbào Thái; nón Cao Bằng của đồng bào Tày sơn đỏ; nón Thanh Hoá có 16-20vành;nón Ba Ðồn (Quảng Bình) mỏng nhẹ và giáng thanh thoát; nón Gò Găng(BìnhÐịnh); nón Huế nhẹ nhàng, thanh mỏng nhờ lót bằng lá mỏng; nón làngChuông(Thanh Oai, Hà Tây) là loại nón bền đẹp vào loại nhất ở vùng đồng bằngBắc Bộ

Một số đặc trưng của chiếc nón lá ở một số tỉnh/thành phố:

“Ai ra xứ Huế mộng mơ

Trang 13

Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”

Hay:

“Mát mặt anh hùng khi nắng hạChe đầu thôn nữ lúc mưa sa”

Nghề nón ở Huế có ở khắp nơi với những làng nghề nổi tiếng như: làng Đồng Di –Tây Hồ - La Ỷ - Nam Phổ (huyện Phú Vang) - Phủ Cam - Đốc Sơ (thành phốHuế).Mỗi làng chuyên về một loại nón: làm nón 3 lớp thì có La Ỷ, Nam Phổ, ĐốcSơ; làm nón bài thơ nổi tiếng có Đồng Di - Tây Hồ - Phủ Cam Trong cấu tạo hìnhdáng và độ thanh mảnh thì nón Huế có những điểm khác biệt so với nón ở các vùngmiền khác Cho nên, dẫu đều là nón lá nhưng với những đặc điểm riêng của mình:

“Áo trắng hỡi thuở tìm em chẳng thấyNắng mênh mang mấy nhịp Trường TiềnNón rất Huế nhưng đời không phải thếMặt trời lên từ phía nón em nghiêng”

Nói về Làng Đồng Di (Thôn Di Đông – xã Phú Hồ - huyện Phú Vang), đây làlànglàm nón bài thơ nổi tiếng từ xưa đến nay của Huế Nón bài thơ Đồng Di nổitiếngđẹp nhờ màu lá xanh, mũi kim chằm dày mà đều tăm tắp, chiếc nón nhẹ thênh,sáng trong, thấy rõ những vần thơ, những hoạ tiết ẩn chìm trong nón Vào mùa thìngườilớn ra đồng làm lúa, trẻ em ở nhà làm nón, hết vụ mùa thì cả gia đình cùnglao vào nghề Vào năm học, trẻ em một buổi đi học, một buổi về nhà chằm nón, tuythu nhập thấp nhưng cũng góp phần giúp bố mẹ lo khoản sách vở cho năm họcmới Một tuần,mười ngày, nón Đồng Di được người làng đem bán tại chợ DạLê.Những ngày chợquê vẫn còn là dịp trẻ em háo hức với những món quà mẹ mua,người phụ nữ sắmvật dụng cần thiết cho gia đình

Trang 14

Nón Huế ngày nay không chỉ có nón bài thơ, nón 3 lớp, nón quai găng như ngàyxưa mà theo thị hiếu của người tiêu dùng, nón Huế bây giờ còn có thêm nón thêu,nón lákè Và cũng do cuộc sống phát triển, phương tiện giao thông bằng xe gắnmáy khôngthích hợp cho việc đội nón nên bây giờ nhiều phụ nữ trẻ Huế đã khôngcòn cơ hội“nghiêng nón làm duyên”.

Sau khi nan tre mềm và nhỏ được vót tròn và ghép uốn thành vành để bắt vànhvàđặt ở trong khung (ở vùng quê Quảng Nam thường gọi là khuôn), người làm nónxếphai, ba lớp lá đã được ủi sẵn lên khung Lá mỏng lợp ra ngoài, lá dày lợp bêntrong.Muốn nón đội chắc và bền, thì lợp toàn lá dày.Những chiếc nón lá người đicày ởquê ngày trước thường đội là loại nón lợp lá dày này.Vành nón cũng phảichuốt mỏng hơn, để nón đội được nhẹ nhàng, trang nhã Giai đoạn chót là chằmnón: dùngchỉ cước khâu lại các lớp lá vô vành Đến vành cuối cùng là vành lớnnhất thì ngườichằm nón dùng một vành tre to, kèm theo vành tre nhỏ, để kẹp lá vàogiữa cho chắc,cho lá khỏi tụt ra và xơ rách Việc may hay viền vành nón cuối cùngnày, người làmnón gọi là nút vành Phải may cẩn thận một mũi dài, hai mũi ngắn,thật đều, màngười trong nghề gọi là kiểu may một mẹ hai con; một cách gọi khá lạtai, nhất làvới các bạn trẻ ngày nay

Đối với người dân quê Quảng Nam, chiếc nón lá màu ngà có biết bao công dụng.Ngoài việc dùng nón thường xuyên để che mưa, che nắng, bác nông dân hay bà mẹquê, mỗi khi lỡ đường, khát nước, chỉ việc ghé xuống sông dùng nón múc nước

Trang 15

uống, giản tiện vô cùng Giải cơn khát xong, nón lại được phe phẩy quạt để tìmchút hơi mát, nhất là khi phải đi đường xa trong những ngày mùa hè nóng nực Bênmột cánh đồng, em bé chăn trâu nằm dưới gốc cây, cả bác thợ cày cũng vậy, dùngnón che mặt, để vừa tránh nắng, vừa ngăn ruồi muỗi khỏi quấy rầy giấc ngủ trưahiền hòa.

Nón chuông - Hà Tây

Nằm ở huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, làng Chuông là một làng nghề được nhiềudukhách trong và ngoài nước biết đến, với sản phẩm chính là nón Ngôi làng nghềnày luôn tấp nập khách ra vào không chỉ để đặt hàng, mà còn để tham quan, tậnmắt chứng kiến công việc làm nón

Nguyên liệu chính để làm nón đó là lá cọ, những chiếc nón được chọn là búp trắngcủa cây cọ mua từ Phú Thọ, hay lá nội mua từ Hà Tĩnh, vòng nón bằng mây trecũng phải mua từ những nơi khác

Chiếc nón quai thao với vẻ đẹp độc đáo, quai nón màu hồng, được gắn thêm 2chùm dây tua chỉ sợi tơ, nhuộm màu vàng đỏ, dành riêng cho thiếu nữ làng quê điHội xuân, Hội làng, hát chèo và hát quan họ

Nhiều người làng Chuông rất giỏi làm nón quai thao, chiếc nón độc đáo đặctrưngvăn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ Người làm nón quai thao phải tỷ mỉ, khéotay vàcó nhiều kinh nghiệm vì phải thực hiện nhiều khâu như: chọn, xếp, khâu lávào vòngnón, khâu mũ nón trong vòng nón, thêu chỉ màu trang trí vành nón Để cómột chiếc nón quai thao đẹp có khi người thợ phải làm đến cả ngày

Nón quai thao không chỉ được nhiều đoàn nghệ thuật đặt mua, mà còn là một vậtlưu niệm được du khách nước ngoài rất ưa thích.Nhiều du khách đến từ Đức, Pháp,Anh thường mua nón Chuông về để làm món quà lưu niệm

Trang 16

Xa xưa nón làng Chuông là cống vật tiến hoàng hậu, công chúa bởi vẻ đẹp rất riêngđược làm nên bởi những bàn tay tài hoa khéo léo của các nghệ nhân lành nghề.Ngày nay, nón làng Chuông có mặt khắp nơi, cả trên thị trường trong nước lẫnngoài nước.

Công đoạn làm nón buộc những người thợ đã phải bỏ ra khá nhiều công sức vàthờigian.Đầu tiên là chọn lá Lá lụi được đem về vò trong cát rồi phơi nắng cho đếnkhimàu xanh của lá chuyển sang màu trắng bạc Sau đó lá được lót dưới nắm giẻ,dùnglưỡi cày miết nhanh sao cho lá phẳng mà không ròn, không rách.Vòng nónlàm bằngcật nứa vót nhỏ và đều khi nối bắt buộc phải tròn và không chắp, khônggợn

Nón làng Chuông có 16 lớp vòng giúp nón có độ bền chắc nhưng vẫn mềmmại.Tiếp theo người thợ xếp từng lá vào vòng nón, một lớp mo tre và một lớp lánữa rồi khâu Khâu là một công đoạn rất khó bởi phải đảm bảo lá không bị ráchnhưng từng mũi khâu phải thẳng đều từ vòng trong ra vòng ngoài.Khi chiếc nónđược khâu xong, người thợ hơ bằng hơi diêm làm cho màu nón trở nên trắng muốt

và giúp nón không mốc

Làm nón cũng là một cách làm kinh tế.Người dân làng Chuông từ người già đến

em nhỏ đều biết làm nón Nghề này đã giúp cho người dân tăng thu nhập, cải thiệncuộcsống và góp phần xây dựng quê hương ngày càng tươi đẹp và gìn giữ mộtnghềtruyền thống có giá trị

Chiếc nón xuất hiện từ khi nào không ai biết Từ thời xưa đã có câu: "Nónchuông,khua lụa, quai thao làng Đơ" Chiếc nón quai thao đã được các bà, các cô(tầng lớp trung lưu trở lên) ưa chuộng, chiếm vị trí quan trọng trong trang phục lễhội của phụ nữ mà thời Nguyễn được sử dụng phổ biến nhất ở Hà Nội xưa, các "côả" mười lăm,mười sáu - cái tuổi bắt đầu làm duyên, thường đi sắm chiếc nón Nghệ

Về cái nónNghệ, nhà văn hóa Hoàng Đạo Thúy mô tả: "nón rộng đến 80 cm, sâu 10

Ngày đăng: 30/03/2016, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Quang Đức- Ngàn năm áo mũ, NXB Thế giới, 2013 Khác
2. Nhiều tác giả- Hỏi đáp về văn hóa ẩm thực và trang phục truyền thống các dân tộc Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, 2009 Khác
3. Nguyễn Thế Lượng- Thương về nón lá ngày xưa, báo tin tức,2013 Khác
4. S- Việt Nam- tập 392: Nón lá làng Chuông Khác
5. Mark A. Ashwill- Vietnam today- a guide to a nation at a crossroads, Intercultural Press, 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w