Theo các nhà khoa học của tám nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Thụy Điển, Brazil, Ấn Độ trong quyển Nghiên cứu dân số, 1953: “Dân số học là khoa học nghiên cứu số lượng, phân bố và cơ cấ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2NHẬP MÔN DÂN SỐ HỌC
1.1 ĐỊNH NGHĨA DÂN SỐ HỌC
Thuật ngữ Dân số học hay Nhân khẩu học -
Demography có nguồn gốc từ tiếng Latin: demos (dân chúng, dân cư) và grapho (mô tả) Thuật ngữ này được nhà khoa học Pháp A Guillard đưa ra năm 1855 trong một quyển sách có nhan đề: “Các thành phần thống kê của con người hay Dân số học so sánh” Sau đó, thuật ngữ này được thừa nhận chính thức trong Hội nghị quốc tế về Vệ sinh học và Dân số học tại Genève năm
1882 và được sử dụng rộng rãi vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Theo các nhà khoa học của tám nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Thụy Điển, Brazil, Ấn Độ trong quyển Nghiên cứu dân số, 1953: “Dân số học là khoa học nghiên cứu số lượng, phân bố và cơ cấu dân số cũng như biến động tự nhiên, biến động cơ học, biến động xã hội của nó”
Liên hiệp Quốc, 1958, xác định: “Dân số học là khoa học nghiên cứu về dân số, về cơ bản có liên quan đến quy mô, cơ cấu và sự phát triển của dân số”
Theo tự điển Dân số học đa ngữ của Vande Walle, 1982: “Dân số học là nghiên cứu khoa học về dân số nhân loại, trước hết là quy mô, cấu trúc và sự phát triển của nó”
Trong giáo trình xuất bản 1985 của một số trường đại học thuộc Liên Xô cũ định nghĩa: “Dân số học là
Trang 3khoa học nghiên cứu số lượng, phân bố theo lãnh thổ
và cơ cấu của dân số với những biến động của chúng, giải thích nguyên nhân và hậu quả của những biến động đó Mối quan hệ lẫn nhau giữa yếu tố kinh tế xã hội với những biến động trong dân cư”
Theo tự điển Dân số học (The Dictionary of Demography) do Pressat chủ biên, 1985, thì “Dân số học là khoa học nghiên cứu về dân số loài người trong mối tương quan với những biến đổi do tác động tương
hỗ của các yếu tố sinh, chết và di dân”
Theo giáo trình Dân số học và Địa lý dân cư của Nguyễn Minh Tuệ, 1992: “Dân số học là khoa học nghiên cứu những quy luật của tái sản xuất dân số trong những điều kiện xã hội và lịch sử cụ thể, trên một lãnh thổ nhất định”
Tuy có nhiều định nghĩa về Dân số học của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau đưa ra, nhưng chung quy lại, các định nghĩa đều có một số điểm chung nhất định: Dân số học là môn khoa học xã hội độc lập, nghiên cứu tính quy luật của tái sản xuất dân cư thông qua các chỉ báo cơ bản như sinh, tử, chuyển cư, hôn nhân… và các điều kiện kinh tế xã hội liên quan đến
nó
Nói cách khác, Dân số học là khoa học về dân số,
có nhiệm vụ nghiên cứu các quy luật tái sản xuất dân
cư trong những điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội cụ thể trên một lãnh thổ nhất định
Như một ngành khoa học xã hội độc lập, Dân số học tìm hiểu tính quy luật và những điều kiện xã hội liên quan đến các quá trình sinh, tử, hôn nhân, chấm
Trang 4dứt hôn nhân, tái sản xuất dân cư trong mối quan hệ thống nhất biện chứng của các quá trình này
Dân số học không những xem xét sự thay đổi kết cấu dân số theo lứa tuổi và giới tính, theo tình trạng hôn nhân và gia đình, mối quan hệ qua lại giữa các quá trình với kết cấu dân số, mà còn đề cập đến tính quy luật thay đổi số dân và gia đình như là kết quả của
sự tác động lẫn nhau giữa các hiện tượng nói trên
1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Theo quan điểm duy vật biện chứng, xã hội loài người tồn tại và phát triển không ngừng nhờ quá trình tái sản xuất xã hội Quá trình này gồm hai bộ phận: tái sản xuất vật chất tạo ra của cải vật chất nuôi sống loài người và tái sản xuất dân cư để duy trì và phát triển nhân loại
Đối tượng nghiên cứu của Dân số học chính là quá trình tái sản xuất dân cư Đó là quá trình thay đổi liên tục các thế hệ con người, trong đó, thế hệ trẻ thay thế thế hệ già thông qua hai quá trình bộ phận là sinh sản và tử vong trong những điều kiện kinh tế - xã hội
cụ thể
1.2.2 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu dân số bao gồm việc trình bày tình hình dân số, phân tích các xu hướng và nhân tố ảnh hưởng tới các quá trình dân số theo lãnh thổ (không gian) hay theo nhóm dân cư ở các thời kỳ khác nhau
Từ việc nghiên cứu các đặc điểm sinh, tử ở các thế hệ, các nhóm xã hội và các lãnh thổ khác nhau, Dân số
Trang 5học đánh giá một cách khách quan, chính xác sự thay đổi của chúng trong tương lai dựa vào những dự báo dân số Trên thực tế, có ba lĩnh vực nghiên cứu chính:
Quy mô và cơ cấu dân số
Đối với khoa học dân số thì vấn đề đầu tiên khi nghiên cứu một dân cư nào đó là quy mô của nó, tức
là tổng số dân, thường được thống kê theo những phạm vi hành chính lãnh thổ nhất định Tuy mỗi thành viên dân cư của một vùng đều có điểm chung là cùng sống trên một lãnh thổ nhưng họ cũng có nhiều điểm khác nhau do đó dân số còn được nghiên cứu về mặt
cơ cấu Việc tìm hiểu quy mô và cơ cấu dân số nhằm cung cấp những đặc điểm về tình trạng của dân số tại một thời điểm nhất định
Các quá trình ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu dân số
Dân số không chỉ được nghiên cứu ở trạng thái tĩnh tại một thời điểm, mà còn được nghiên cứu ở trạng thái động Sự đổi mới không ngừng của dân cư một vùng là kết quả tổng hợp của các sự kiện sinh, chết, di dân và các yếu tố xã hội tạo nên quá trình biến động dân số Biến động dân số hay phát triển dân số là nội dung quan trọng của Dân số học được nghiên cứu theo ba khía cạnh: biến động tự nhiên, biến động cơ học và biến động xã hội của dân số
Biến động dân số diễn ra liên tục từ quá khứ đến hiện tại và tương lai Dân số hiện tại là kết quả của sự gia tăng dân số trong quá khứ, dân số tương lai là kết quả của khuynh hướng gia tăng trong hiện tại Vì vậy,
Trang 6dự báo dân số, lao động và các thành phần khác cũng
là một nội dung nghiên cứu của Dân số học
Mối liên hệ giữa các yếu tố của cơ cấu và biến động dân số với các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử
Nghiên cứu các nhân tố tác động tới từng quá trình dân số, qua đó, tìm ra tính quy luật của sự vận động của mỗi quá trình dân số, cũng như tái sản xuất dân cư trong những điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử
cụ thể; đồng thời, nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc gia tăng dân số đối với phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên môi trường và chất lượng cuộc sống
Tóm lại, Dân số học nghiên cứu động thái tái sản xuất dân cư nói chung và các thành phần của nó nói riêng, nghiên cứu các quá trình dân số và sự thay đổi kết cấu dân số theo độ tuổi và giới tính, theo hôn nhân
và gia đình, nghiên cứu sự phụ thuộc của chúng vào các hiện tượng kinh tế và sự tác động qua lại giữa việc phát triển dân số và phát triển xã hội
1.3 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3.1 Mối quan hệ giữa Dân số học với các khoa học khác
Là một môn khoa học xã hội mang tính liên ngành mạnh mẽ, Dân số học có quan hệ mật thiết với nhiều khoa học khác
Địa lý dân cư
Dân số học liên hệ mật thiết với Địa lý dân cư (một bộ phận của địa lý kinh tế - xã hội) Địa lý dân
Trang 7cư chuyên nghiên cứu tính quy luật và các nhân tố ảnh hưởng tới việc hình thành, phát triển dân cư và các loại hình quần cư Dân số học nghiên cứu các quá trình dân số, các đặc trưng của dân số trong phạm vi lãnh thổ và hệ thống quần cư cụ thể Các loại hình quần cư khác nhau, việc chuyển cư có ảnh hưởng đến quá trình tái sản xuất dân cư
Toán học
Toán học cho phép đo lường các sự kiện và các quá trình dân số hoặc lượng hóa các mối quan hệ tác động giữa các quá trình dân số, dự báo dân số Công
cụ toán học, toán thống kê và tin học ngày càng hỗ trợ đắc lực cho Dân số học
Kinh tế học
Kinh tế học xem xét dân cư như một thị trường tiêu thụ và nguồn lao động
Lịch sử học
Các kiểu tái sản xuất dân cư khác nhau trong lịch
sử và đương đại gắn liền với các điều kiện kinh tế xã hội tạo nên nó Thông qua nghiên cứu Dân số học có thể khái quát quá trình phát triển của một đất nước qua từng thời kỳ Do vậy, Dân số học có mối quan hệ với Lịch sử học
Tâm lý học và Xã hội học
Quá trình tái sản xuất dân cư chịu ảnh hưởng sâu sắc của các chuẩn mực giá trị, hệ thống thang giá trị
và các thiết chế xã hội đương đại Do vậy, Dân số học
có quan hệ chặt chẽ với Tâm lý học, Xã hội học nhất
là Xã hội học dân số
Trang 8Sinh học và Y học
Các quá trình dân số như sinh sản, tử vong, hôn nhân gắn liền với quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể con người Do vậy, Dân số học quan hệ chặt chẽ với Sinh học, Y học và Lão học
Ngoài ra, Dân số học còn liên quan đến một số khoa học khác như Dân tộc học, Nhân chủng học…
1.3.2 Quan điểm nghiên cứu
Nghiên cứu tái sản xuất dân cư theo nghĩa hẹp
Chỉ nghiên cứu tính quy luật của các quá trình sinh, tử, hôn nhân, chuyển cư; nghiên cứu sự biến động về cơ cấu tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân Đây là quan điểm nghiên cứu Dân số học thuần túy, không nghiên cứu và phân tích mối quan hệ giữa quá trình dân số với các điều kiện kinh tế - xã hội Đại diện cho khuynh hướng này là các nhà Dân số học
Ngày nay, Dân số học nghiên cứu tái sản xuất dân
cư như một quá trình tương đối độc lập, có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội Bởi vì
Trang 9bản thân quá trình tái sản xuất dân cư mang cả khía cạnh tự nhiên và khía cạnh xã hội
Khía cạnh tự nhiên của tái sản xuất dân cư biểu hiện ở chỗ: khả năng thụ thai, mức sinh bị hạn chế theo lứa tuổi và phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe Cuộc đời mỗi cá nhân là có giới hạn và sinh tử trở thành quy luật
Khía cạnh xã hội của tái sản xuất dân cư biểu hiện
ở chỗ: xã hội điều chỉnh tương quan giữa các giới thông qua hệ thống hôn nhân và gia đình Mức sinh bị chi phối bởi các điều kiện sống, lao động, lối sống và nhu cầu xã hội được điều chỉnh bằng các chuẩn mực văn hóa xã hội Tình hình tử vong, bệnh tật cũng phụ thuộc vào điều kiện sống, khả năng của xã hội chống lại những tác động bất lợi của môi trường
Mức sinh, tử, hành vi dân số của các nhóm xã hội khác nhau là khác nhau do điều kiện sống và lối sống
Do vậy, tái sản xuất dân cư có liên hệ mật thiết với những thay đổi về các quan hệ xã hội, văn hóa, cơ cấu kinh tế - xã hội của từng xã hội Xã hội phát triển, điều kiện sống, các mối quan hệ xã hội, các tiêu chuẩn văn hóa xã hội thay đổi, vì thế, có tác giả cho rằng, quá trình tái sản xuất dân cư là quá trình xã hội thực sự, mang tính lịch sử và khi nghiên cứu nó phải gắn với điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử cụ thể
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu
Có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng trong nghiên cứu Dân số học, bao gồm các phương pháp nghiên cứu chung của nhiều bộ môn khoa học và các phương pháp đặc trưng riêng của chuyên ngành
Trang 10Phương pháp thống kê và toán học
Các sự kiện dân số xảy ra trong cộng đồng dân cư mang tính ngẫu nhiên Dân số một lãnh thổ thường có quy mô lớn Chỉ khi nghiên cứu với số lượng đủ lớn
và thời gian đủ dài thì các đặc trưng định tính hay định lượng, tính quy luật của các quá trình dân số mới được bộc lộ Điều này đòi hỏi phải sử dụng phương pháp thống kê, từ việc thu thập số liệu, xử lý và trình bày các số liệu dân số
Mặt khác, các quá trình dân số có mối quan hệ với nhau và với cấu trúc và quy mô dân số Chúng thường là hàm số của thời gian Phương pháp toán học được dùng để đo lường cường độ và mô hình hóa các quá trình dân số Ví dụ như tính xác suất để xảy ra các
sự kiện nhân khẩu sinh, chết; biểu diễn các quá trình tăng trưởng dân số hoặc biểu diễn mối liên hệ giữa các quá trình dân số bằng các hàm số
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Thống kê dân số cung cấp hàng loạt số liệu dân số
về mọi mặt Những số liệu thông tin ban đầu này, được phân tích, tổng hợp để tìm ra những tính chất, các đặc trưng số lượng và chất lượng, lượng hóa các mối quan hệ giữa các quá trình dân số và các bộ phận khác của dân số…
Trong phương pháp phân tích, Dân số học thường
áp dụng các phương pháp phân tích theo đoàn hệ (phân tích chéo - cohort analysis) và phân tích theo thời khoảng (phân giải ngang - period analysis)
Phân tích theo đoàn hệ: liên quan đến các sự kiện nhân khẩu xảy ra trong một thời gian của một đoàn hệ
Trang 11nào đó Thường là việc quan sát một đoàn hệ về một quá trình dân số, qua nhiều cuộc tổng điều tra dân số hoặc điều tra mẫu Qua đó, tính toán, định lượng một
số đặc trưng cần nghiên cứu của đoàn hệ để thấy được khuynh hướng biến đổi của các đặc trưng này
Phân tích theo thời khoảng: là quan sát một hay nhiều quá trình dân số của nhiều đoàn hệ xảy ra trong cùng một thời điểm hay một thời khoảng ngắn (thường là một năm), ví dụ nghiên cứu sự kiện tử vong trong một năm của một dân số Một dân số là tập hợp của nhiều đoàn hệ Do vậy, phân tích theo thời khoảng là lát cắt ngang cho ta bức tranh toàn cảnh của một dân số (thường là ở thời điểm tổng điều tra dân số)
Phương pháp bản đồ
Nghiên cứu Dân số học được tiến hành trong những đơn vị hành chính nhất định Dùng phương pháp bản đồ nhằm thể hiện sự phân bố các chỉ số số lượng của các quá trình dân số, kết cấu và quy mô dân
số trên các phạm vi lãnh thổ khác nhau Qua đó, có thể thấy được sự tương đồng hay khác biệt giữa các vùng, các nhóm nước Từ đó, có thể khái quát hóa, rút ra tính quy luật hoặc các đặc trưng định tính
Ưu điểm của phương pháp bản đồ là có tính trực quan cao, giúp người nghiên cứu có tầm nhìn khái quát ở những quy mô lãnh thổ khác nhau, dễ dàng so sánh, phân tích và tổng hợp rút ra tính quy luật, nhất là khi nghiên cứu chuyển cư và phân bố dân cư ở những lãnh thổ lớn
Trang 12Phương pháp chuyển tuổi, thế hệ hiện thực, thế hệ giả định, lưới dân số
Là những phương pháp đặc thù để nghiên cứu các quá trình dân số, dự báo thành phần dân số
Các phương pháp nghiên cứu của Xã hội học
Các phương pháp nghiên cứu của Xã hội học được sử dụng để nghiên cứu hôn nhân, gia đình và các chỉ số xã hội khác hoặc để tìm hiểu sâu nguyên nhân của các quá trình dân số
Hiện nay, với sự đa dạng của các phương pháp nghiên cứu và sự phát triển không ngừng của máy tính diện tử có khả năng xử lý nhanh và nhiều số liệu làm cho các phương pháp nghiên cứu dân số ngày càng phong phú và hiện đại
1.4 CÁC NGUỒN SỐ LIỆU ĐỂ NGHIÊN CỨU DÂN SỐ
Số liệu dân số bao gồm lượng thông tin đa dạng
về sinh, tử, chuyển cư, tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân, quốc tịch, tôn giáo, ngôn ngữ, tình hình học vấn của dân cư tại một thời điểm trên một lãnh thổ nhất định
Số liệu thống kê dân số là cơ sở ban đầu không thể thiếu để phân tích, tổng hợp, và đánh giá một cách khoa học các đặc trưng số lượng, chất lượng, thành phần, sự phân bố và mức gia tăng của một dân số
Số liệu dân số là cơ sở ban đầu cho việc hoạch định các hệ thống chính sách, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của Nhà nước; là căn cứ để đánh giá tiềm năng và chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia;
Trang 13ngoài ra, nó còn giúp cho các nhà kinh tế trong việc định hướng phân bố sản xuất theo lãnh thổ và tìm hiểu thị trường tiêu thụ sản phẩm
Có nhiều nguồn thu thập số liệu về dân số, trong
đó có các nguồn chính là: tổng điều tra dân số (census), điều tra chọn mẫu (sample survey), tài liệu theo dõi đăng ký hộ tịch, hộ khẩu
1.4.1 Tổng điều tra dân số
Là quá trình thu thập, xử lý, phân tích, đánh giá
và xuất bản các số liệu về Dân số học, các số liệu về kinh tế - xã hội chủ yếu có liên quan của toàn bộ dân
số một nước hay một địa phương tại một thời điểm xác định
Tổng điều tra dân số hiện đại được tiến hành theo các nguyên tắc sau:
- Phải quy định chu kỳ điều tra với những khoảng thời gian cách đều nhau, thường là 5 năm, 10 năm hay
20 năm tùy từng quốc gia, nhằm giúp cho việc so sánh
số liệu theo thời gian dễ dàng hơn
- Chọn thời điểm điều tra thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ và tiến hành kê khai cho toàn bộ dân số của
cả quốc gia, trong đó phải liệt kê từng người với từng đặc điểm xác định của họ
- Việc lựa chọn chỉ tiêu cho mỗi cuộc điều tra cần phải dựa vào nội dung đã thu thập được trong các cuộc điều tra trước và đưa vào những thay đổi để đáp ứng cho yêu cầu mới, tuy nhiên phải cân đối giữa nhu cầu
số liệu và nguồn lực dành cho cuộc tổng điều tra
Trang 14- Các nội dung chủ yếu cần có trong tổng điều tra dân số: đặc điểm về địa lý và di dân (địa điểm có mặt tại thời điểm tổng điều tra dân số, địa điểm thường trú, nơi sinh, thời gian cư trú, nơi cưu trú trước đây); đặc điểm về hộ gia đình (quan hệ với chủ hộ hoặc các thành viên khác trong hộ); đặc điểm nhân khẩu học (tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, dân tộc, quốc tịch, tôn giáo, ngôn ngữ); đặc điểm về giáo dục (trình độ văn hóa, tình trạng biết đọc biết viết, số năm đi học); tình hình sinh sản (số con đã sinh, số con còn sống); đặc điểm về kinh tế (nghề nghiệp, tình trạng việc làm) Những chủ đề này là những khuyến nghị từ năm 1980 của Phòng Thống kê Liên Hiệp Quốc
- Khi lựa chọn nội dung điều tra cũng cần tính đến khả năng đáp ứng của người dân đối với các câu hỏi phức tạp hoặc không phù hợp với phong tục tập quán của mỗi dân tộc
- Thông thường, các cuộc tổng điều tra dân số là
do Nhà nước chỉ đạo thực hiện, bởi vì nó cần một khoản kinh phí rất lớn, sử dụng lực lượng đông đảo cán bộ điều tra và cần có bộ máy quyền lực
Nhìn chung, lượng thông tin thu thập được trong các cuộc tổng điểu tra dân số rất phong phú, tuy nhiên, kết quả thường không tránh khỏi sai sót Những sai sót
có thể gặp như kê khai thiếu, kê khai hai lần, khai thác hoặc trả lời không đúng nội dung yêu cầu Sau các cuộc tổng điều tra, thường tiến hành kiểm chứng và điều chỉnh những thiếu sót sau đó mới công bố số liệu
1.4.2 Điều tra chọn mẫu
Trang 15Điều tra chọn mẫu là phương pháp chọn ngẫu nhiên một dàn mẫu thích hợp trong một tổng thể dân
số cần điều tra (cỡ mẫu thường chọn là 3% hoặc 5%
so với tổng thể) Trên cơ sở mục đích, yêu cầu của việc nghiên cứu mà đặt ra những bảng câu hỏi phù hợp Từ những thông tin thu thập được của mẫu, dùng
kỹ thuật toán học để tính toán, xử lý và sau đó suy rộng cho toàn thể dân số
Điều tra chọn mẫu được sử dụng rộng rãi trong các cuộc thăm dò ý kiến nhân dân về một vấn đề nào
đó Cơ quan phụ trách có thể là Nhà nước hoặc các tổ chức xã hội Điều tra chọn mẫu là một kỹ thuật ngày càng phổ biến, ngay cả ở những nước có thống kê đầy đủ
Điều tra chọn mẫu, nếu thực hiện tốt (thiết kế và lựa chọn dàn mẫu tốt, tuân thủ chặt chẽ các nguyên lý thống kê) có thể cho các thông tin chi tiết và chính xác
ở mức độ nhất định, ít tốn kém và phục vụ nhanh chóng, kịp thời cho một mục đích nào đó
Điều tra nhân khẩu chọn mẫu được thực hiện nhằm kiểm tra mức độ chính xác của số liệu tổng điều tra dân số và số liệu đăng ký thường xuyên, hoặc để thu thập các số liệu thống kê khi số liệu đăng ký thường xuyên không chính xác Mặt khác, tổng điều tra dân số chủ yếu chỉ cung cấp thông tin tại một thời điểm nhất định, trong khi điều tra nhân khẩu chọn mẫu cho phép đặt các câu hỏi về những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ vì có nhiều thời gian và nỗ lực hơn trong các cuộc phỏng vấn
1.4.3 Tài liệu hộ tịch, hộ khẩu
Trang 16- Tài liệu thống kê hộ tịch:
ghi chép thường xuyên và liên tục những sự kiện nhân khẩu như sinh, tử, thai chết, kết hôn, li hôn
- Tài liệu theo dõi đăng ký hộ khẩu: thu thập những thông tin về xuất cư, nhập cư, tạm trú, tạm vắng trong dân cư
Vì nhằm mục đích quản lý hành chính nên nội dung theo dõi cũng đơn giản, thường gồm một số nội dung sau: ngày tháng diễn ra sự kiện và những đặc điểm của đối tượng như tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nơi cư trú và các sự kiện được quan tâm
Cơ quan hành chính cấp địa phương có trách nhiệm ghi chép, bảo quản và báo cáo lên cơ quan cấp trên những sự kiện này theo định kỳ Cơ quan thống
kê sẽ khai thác và công bố dần
Về nguyên tắc, tài liệu hộ tịch, hộ khẩu ghi nhận thường xuyên và liên tục các biến cố nhân khẩu ngay khi chúng xảy ra nên sẽ có tính chính xác hơn so với tổng điều tra và điều tra chọn mẫu (phải dựa vào trí nhớ của người được điều tra để thu góp các dữ kiện về các biến cố đã xảy ra trong quá khứ, do vậy không tránh khỏi thiếu sót)
Trên thực tế, có nhiều yếu tố làm cho dữ kiện mất phần chính xác và nghèo nàn về mặt thông tin, nhất là
ở những nước đang phát triển Tại các nước này, hệ thống quản lý hành chính còn nhiều lạc hậu, trình độ của cán bộ cấp cơ sở chưa cao, việc ghi chép các sự kiện nhân khẩu không đầy đủ và thống nhất nên hệ thống tài liệu hộ tịch, hộ khẩu không đủ mức độ chính
Trang 17xác để nghiên cứu những biến động dân số trên quy
mô cả nước
1.5 Ý NGHĨA CỦA MÔN HỌC
Phục vụ cho công tác lập các kế hoạch, chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Khi nghiên cứu dân số của một lãnh thổ, các chuyên gia thường đặt ra các câu hỏi cơ bản như: số dân của vùng này là bao nhiêu, thành phần giới tính và cấu trúc tuổi tác như thế nào, đặc điểm cư trú ra sao, quy mô dân số là ổn định hay có biến động, cơ cấu dân số là cân đối hợp lý hay mất cân đối, các nguyên nhân ảnh hưởng Từ những thông tin này sẽ cho biết được hiện trạng và dự báo viễn cảnh phát triển dân số trong tương lai Trên cơ sở đó, các chuyên gia sẽ hoạch định các chính sách dân số quốc gia hợp lý và quản lý hiệu quả sự phát triển dân số của đất nước và từng khu vực
Mặt khác, con người vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu dùng của xã hội, do đó, các kết quả nghiên cứu của Dân số học về mặt quy mô, cơ cấu
sẽ là cơ sở xác đáng cho việc hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hay địa phương
Giúp tìm hiểu, phát hiện và dự báo các vấn
đề kinh tế - xã hội
Quy mô, cơ cấu và sự biến động dân số thường phản ảnh các điều kiện kinh tế - xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu Dân số học còn cho phép tìm hiểu, phát hiện và dự báo các vấn đề kinh tế - xã hội khác Ví dụ,
sự mất cân đối về giới tính ở một lứa tuổi nào đó có
Trang 18thể là do chiến tranh, do di cư hoặc do điều kiện sống;
sự bùng nổ trẻ em trong giai đoạn hiện nay cho phép
dự báo sự bùng nổ nhu cầu việc làm trong thời gian 15-20 năm sau…
1.6 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Dân số
Dân số (population): số người hiện diện vào một thời điểm nào đó của một địa phương, một quốc gia hay của một tầng lớp xã hội mà ta muốn nghiên cứu
Ví dụ: dân số Việt Nam vào 0 giờ ngày 01-04-1999 là 76.324.753 người, dân số thành phố Hồ Chí Minh vào
0 giờ ngày 01-04-1999 là 5.037.155 người
Đoàn hệ
Đoàn hệ (cohort): tập hợp những nhóm người cùng trải qua một sự kiện nhân khẩu trong một khoảng thời gian như nhau (thường là một năm) Ví dụ: đoàn
hệ đồng sinh gồm những người sinh cùng một năm (hay còn gọi là thế hệ đồng sinh), đoàn hệ đồng hôn gồm những người kết hôn cùng một năm
Sự kiện nhân khẩu
Sự kiện nhân khẩu (hay biến cố nhân khẩu) bao gồm: sinh sản, tử vong, hôn nhân (kết hôn và tái hôn), chấm dứt hôn nhân, di dân (nhập cư và xuất cư)
Cách tính tuổi trong dân số học
+ Tuổi theo năm niên lịch
Được tính căn cứ vào năm sinh và năm tính toán
Ví dụ, một người được sinh vào năm 1980, đến năm
2000 tuổi theo năm niên lịch tính được là 20 tuổi
+ Tuổi đúng đến ngày-tháng-năm
Trang 19Được tính căn cứ vào ngày-tháng-năm sinh và ngày-tháng-năm tính toán Ví dụ, một người có ngày-tháng-năm sinh là: 08-03-1980, đến ngày 07-03-2000, tuổi đúng tính được là 19 tuổi 11 tháng 29 ngày; đến ngày 08-03-2000, tuổi đúng tính được là 20 tuổi
+ Tuổi trọn năm
Được tính căn cứ vào ngày-tháng-năm sinh và ngày-tháng-năm tính toán nhưng chỉ lấy số năm đã sống trọn Ví dụ, ngày-tháng-năm sinh: 08-03-1980, ngày-tháng-năm tính toán: 07-03-2000, tuổi trọn năm tính được là 19 tuổi; hoặc ngày-tháng-năm tính toán: 08-03-2000 hay 07-03-2001, tuổi trọn năm tính được đều là 20 tuổi
0 1 2 3 4 5 -> tuổi đúng .
0 1 2 3 4 -> tuổi trọn năm
Trang 20PHÂN BỐ DÂN CƯ
2.1 KHÁI NIỆM
2.1.1 Dân cư và những đặc điểm chủ yếu
Dân cư (inhabitant): tập hợp những người cùng cư trú trên một lãnh thổ nhất định được đặc trưng bởi kết cấu, mối quan hệ qua lại với nhau về mặt kinh tế, bởi tính chất phân công lao động Ví dụ: dân cư vùng đồng bằng sông Hồng, dân cư vùng đồng bằng sông Cửu Long, dân cư thành phố Hà Nội, dân cư thành phố Hồ Chí Minh
Dân cư có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Dân cư là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội
Ở mức độ nhất định, sự phát triển và phân bố sản xuất
ở các nước hay các vùng lãnh thổ phụ thuộc nhiều vào nguồn lao động, trước hết là những người trực tiếp lao động, vào kết cấu và chất lượng của dân cư
- Dân cư là người tiêu thụ phần lớn những sản phẩm do họ sản xuất ra Do vậy, dân cư có ảnh hưởng quan trọng đến sự phân bố và phát triển các ngành kinh tế
- Dân cư có quá trình tái sản xuất riêng của mình Tùy thuộc vào các nhân tố chính trị, xã hội, quá trình này diễn ra khác nhau theo thời gian và không gian
2.1.2 Phân bố dân cư
Phân bố dân cư là sự sắp xếp số dân một cách tự phát hoặc tự giác trên một lãnh thổ nhất định sao cho
Trang 21phù hợp với điều kiện sống và các yêu cầu phát triển của xã hội
2.1.3 Mật độ dân cư
Mật độ dân cư là chỉ tiêu đánh giá sự phân bố dân
cư trên một lãnh thổ, đó là tương quan giữa toàn bộ số dân tính trên toàn bộ diện tích lãnh thổ mà dân số ấy
cư trú tại một thời điểm, đơn vị tính bằng số người/km2
Số dân của lãnh thổ Mật độ dân cư = -
Diện tích tự nhiên của lãnh thổ
Ví dụ: năm 1994, mật độ dân cư của Singapore là 4.991 người/km2, Banglades: 810 người/km2, Nhật:
336 người/km2 Việt Nam, vùng đồng bằng sông Hồng: 1.125 người/km2, đồng bằng sông Cửu Long:
405 người/km2
Mật độ dân cư là một đại lượng bình quân, phản ánh mức độ tập trung dân cư trên một vùng lãnh thổ, chứ không mang ý nghĩa là sự phân bố dân cư đồng đều trên từng đơn vị diện tích
Tùy theo mục đích nghiên cứu, có các loại mật độ:
- Mật độ dân cư thành thị: số dân trên một đơn vị diện tích thành phố
- Mật độ dân cư nông thôn: số dân trên một đơn
vị diện tích làng mạc
- Mật độ dân cư trên một đơn vị diện tích canh tác (người/ha)
Trang 22- Mật độ lao động trên một đơn vị diện tích canh tác (lao động/ha)…
2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÂN
BỐ DÂN CƯ
Sự phân bố dân cư trên một lãnh thổ là kết quả của sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và lịch sử Các yếu tố tự nhiên là tiền
đề và có vai trò quan trọng, các yếu tố kinh tế - xã hội
và lịch sử có ảnh hưởng quyết định
2.2.1 Các yếu tố tự nhiên
Con người là một bộ phận của tự nhiên, đồng thời
là thực thể của xã hội Sự phân bố dân cư diễn ra trong hoàn cảnh tự nhiên nên chịu ảnh hưởng của các yếu tố
tự nhiên ở một mức độ nhất định Các yếu tố tự nhiên tác động đến sự phân bố dân cư có thể được xem xét qua hai khía cạnh:
- Khía cạnh sinh lý: con người chỉ có khả năng thích nghi trong những giới hạn sinh thái nhất định, vượt qua ngưỡng giới hạn đó sẽ có hại cho sức khỏe hoặc sẽ không sống được Do vậy, những nơi nào có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sức khỏe, an toàn sinh mệnh thì nơi đó dân cư tập trung đông đúc
- Khía cạnh kinh tế: nơi nào có các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cư trú và các hoạt động sản xuất phát triển thì nơi đó thường tập trung đông dân cư
Khí hậu
Khí hậu là yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng rõ nét nhất đến sự phân bố dân cư Nhìn chung, nơi nào có khí hậu ấm áp, ôn hòa thường thu hút dân cư, ngược
Trang 23lại, quá nóng hay quá lạnh sẽ hạn chế mức độ tập trung dân cư Trong cùng một đới khí hậu, con người
dễ thích nghi với kiểu khí hậu có tính chất hải dương hơn kiểu khí hậu có tính chất lục địa
Trong thực tế, dân cư tập trung đông nhất ở khu vực ôn đới, sau đó đến khu vực nhiệt đới Ở khu vực khí hậu nóng ẩm, dân cư trù mật hơn so với các vùng khô hạn Tại các hoang mạc nóng, hoang mạc lạnh hay các vùng núi cao băng giá, thường không có hoặc
có rất ít người ở
Nước
Nước là yếu tố quan trọng thứ hai tác động đến sự phân bố dân cư vì nước rất cần thiết cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người
Có thể nói, nơi nào có nước thì nơi đó có con người sinh sống Các nền văn minh đầu tiên của nhân loại đều phát sinh trong những lưu vực sông lớn như: văn minh Lưỡng Hà (Babylone) ở lưu vực sông Tigre
và Euphrate, văn minh Ai Cập ở lưu vực sông Nil, văn minh Ấn Độ ở lưu vực sông Ấn - Hằng… Ngày nay, các vùng này vẫn là những nơi có mật độ dân cư cao nhất thế giới Các thành phố lớn trên thế giới đều có sông chảy qua
Địa hình và đất đai
Địa hình và đất đai cũng là các yếu tố có ảnh hưởng đến sự phân bố dân cư Các đồng bằng có địa hình thấp, đất đai màu mỡ thuận tiện cho hoạt động nông nghiệp thì dân cư đông đúc Những đồng bằng châu thổ của các con sông lớn là nơi hội đủ các điều kiện tự nhiên thuận lợi (khí hậu, đất đai, nguồn nước)
Trang 24cho cư trú và sản xuất nên đông dân Ngược lại, những vùng núi non hiểm trở, ít đất trồng trọt, đi lại khó khăn
là những vùng ít có sức thu hút dân cư
Trên bình diện thế giới, đa số dân cư tập trung trên các đồng bằng có độ cao tuyệt đối không quá 200m, đấy là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho cả việc cư trú và sản xuất
Khoáng sản
Việc khai thác các loại khoáng sản phục vụ cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người không nhất thiết đưa đến sự tập trung dân cư trong mọi trường hợp, mà còn tùy thuộc vào những điều kiện xã hội và kỹ thuật
Việc khai thác các mỏ than ở Anh đã đưa đến sự tập trung dân cư rất lớn, tạo thành những vùng liên thị Ngược lại ở Mỹ, với tổ chức kỹ thuật khai thác, các vùng có khai thác than không phải là nơi đông dân Ở châu Âu, nhất là ở Pháp, các mỏ sắt thu hút sự tập trung dân cư, ngược lại ở Mỹ và Liên Xô (cũ) không
có sự tập trung dân cư tại các vùng này
2.2.2 Các yếu tố kinh tế - xã hội và lịch sử
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Các yếu tố tự nhiên chỉ tạo ra khả năng cho việc tập trung dân cư, khả năng ấy có hiện thực hay không còn do các yếu tố xã hội, trước hết là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất chi phối
Trong xã hội nguyên thủy, con người sinh sống bằng săn bắn hái lượm với những công cụ lao động rất thô sơ và thường phải di chuyển theo nguồn thức ăn
Trang 25có trong tự nhiên, nay đây mai đó nên cần một khoảng không gian rộng lớn Do vậy, dân cư phân bố thưa thớt
Nhờ việc tìm ra lửa và chế tác ra các công cụ lao động bằng đồng, bằng sắt, nền nông nghiệp định canh định canh định cư ra đời, dân cư tập trung tại các vùng đồng bằng, hình thành nên các điểm quần cư nông thôn
Từ sau cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, bức tranh phân bố dân cư trên thế giới có nhiều thay đổi Dân cư tập trung đông đúc quanh các trung tâm công nghiệp Công nghiệp hóa kéo theo đô thị hóa, nhiều thành phố mới ra đời thu hút mạnh mẽ dân cư từ những nơi khác
Cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ -
mà ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,
sự phân bố dân cư trên thế giới có nhiều nét mới, nhiều trung tâm dân cư lớn đã hình thành ngay cả ở các vùng quanh năm băng giá, vùng núi cao 3000-
Do đặc điểm của sản xuất công nghiệp là liên tục, tập trung cao, quy mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều theo dây chuyền phức tạp, cần nhiều công nhân, nên mật độ dân cư ở các thành phố, khu công nhiệp cao
Trang 26hơn nhiều so với vùng nông thôn hoạt động nông nghiệp
Trong khu vực công nghiệp, mật độ dân cư cao hay thấp tùy theo tính chất của từng ngành sản xuất Các ngành dệt, may mặc, chế biến thực phẩm… là những ngành cần nhiều lao động hơn các ngành khác
Trong điều kiện hiện nay, nhờ điện khí hóa, tự động hóa và liên hiệp hóa, nhiều khu công nghiệp lớn
và hiện đại ra đời với mật độ dân cư không quá cao
Kỹ thuật càng tiên tiến, mức độ tập trung dân cư trong các khu công nghiệp có xu hướng càng giảm
Hoạt động sản xuất nông nghiệp tập trung dân cư đông hay ít tùy thuộc vào từng loại cây trồng Việc canh tác lúa nước đòi hỏi rất nhiều lao động nên những vùng trồng lúa nước đồng thời là những vùng dân cư trù mật nhất thế giới Ngược lại, các vùng trồng lúa mì, ngô hay các loại cây công nghiệp… có dân cư không đông lắm do không cần nhiều lao động
Lịch sử khai thác lãnh thổ
Nhìn chung, những khu vực sớm được con người khai thác để cư trú và sản xuất thường là nơi đông dân với mật độ cao nhất thế giới: các đồng bằng phía Đông
và Đông nam Trung Quốc, Đông Nam Á, Ấn - Hằng, Tây Âu, tam giác châu sông Nil Ngược lại, những lãnh thổ mới được khai thác, dân cư tập trung ít đông đúc hơn: Canada, Úc, vùng Đông Siberia của Liên bang Nga…
Chuyển cư
Trang 27Chuyển cư chính là sự phân bố lại dân cư Các dòng chuyển cư quốc tế và trong nước đã góp phần ít nhiều tác động đến sự phân bố dân cư thế giới
Trong lịch sử, sự chuyển cư từ châu Âu sang châu
Mỹ, châu Úc sau hai thế kỷ đã làm cho số dân của các nước Hoa Kỳ, Canada, Úc tăng lên nhanh chóng Trong khoảng thời gian từ 1750-1900, dân số châu Âu chỉ tăng 3 lần, trong khi dân số châu Mỹ tăng 12 lần Chuyển cư cưỡng bức từ châu Phi sang châu Mỹ đã làm giảm số lượng và mật độ dân cư của châu lục này Giữa thế kỷ XVII, dân số châu Phi bằng 18,4% dân số thế giới Trải qua nhiều thời kỳ bị bắt bán sang châu
Mỹ làm nô lệ, đến năm 1975, dân số châu Phi chỉ còn bằng 8% dân số thế giới
2.3 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ DÂN CƯ TRÊN THẾ GIỚI
Ngày nay, con người có mặt hầu như ở khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng sự phân bố rất không đồng đều, có vùng đông dân, có vùng thưa dân, thậm chí có vùng lại không có người ở Mật độ dân cư trung bình của thế giới hiện nay khoảng 45 người/km2, nhưng ý nghĩa của con số này bị hạn chế bởi sự phân bố không đồng đều của dân cư Tính chất không đồng đều của
sự phân bố của dân cư được thể hiện dưới nhiều khía cạnh
2.3.1 Theo độ cao địa hình
Dân cư trên thế giới phân bố khác nhau theo độ cao địa hình Những nơi có độ cao từ 500m trở xuống (57,3% diện tích) là địa bàn cư trú của tuyệt đại bộ phận dân cư thế giới (80% dân số thế giới)
Trang 28Trong vùng ôn đới, những nơi có địa hình thấp thường là những nơi có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho cuộc sống của con người thường, còn trong vùng nhiệt đới thường là những nơi có địa hình cao hơn
2.3.2 Theo vĩ tuyến
Đại bộ phận dân cư thế giới tập trung ở Bắc bán cầu, những điểm dân cư cư trú thường xuyên lên đến
vĩ độ 78oB, còn ở Nam bán cầu chỉ đến vĩ độ 54oN Về
cơ bản, dân cư tập trung ở các vĩ độ thuộc vùng ôn đới
và nhiệt đới Trong vùng ôn đới có 58% dân số thế giới, còn vùng nhiệt đới 40%
2.3.3 Theo châu lục
Dân cư phân bố không đồng đều theo các châu lục, chủ yếu tập trung ở Cựu lục địa chiếm khoảng 70% diện tích và 86% dân số thế giới, trong khi đó, Tân lục địa chỉ chiếm 30% diện tích với 14% dân số
Dân số thế giới và các châu lục (1995)
Châu lục Dân số
(triệu người)
Diện tích (triệu
km2)
Mật độ dân cư (người/k
m2) Toàn thế giới 5.716,4 149,0 38,3
Trang 29cư thưa thớt
Châu Âu có mật độ dân cư đứng hàng thứ hai trên thế giới sau châu Á và cũng cao hơn nhiều so với các châu lục khác: 2,9 lần so với châu Phi, gần 3,8 lần so với châu Mỹ, và gần 20,4 lần so với châu Úc và châu Đại dương Dân cư châu Âu phân bố khá đồng đều, ngoại trừ phần phía Bắc và Đông Bắc dân cư kém trù mật hơn
Châu Phi có mật độ dân cư thấp hơn châu Á, châu
Âu nhưng vẫn còn cao hơn so với các châu lục khác Khu vực tập trung đông dân là vùng duyên hải Đông
và Tây Phi, ven Địa Trung Hải, đặc biệt là châu thổ sông Nil với các thành phố triệu dân: Cairo (7,69 triệu-1985), Alexandre (2,93 triệu) Các vùng thưa dân
Trang 30là các vùng hoang mạc Sahara, Calahari, bồn địa Congo, rừng rậm nhiệt đới
Châu Mỹ, mật độ dân cư không chênh lệch nhau nhiều giữa các vùng Bắc, Trung và Nam Mỹ Dân cư đông đúc ở khu vực Đông Bắc Hoa Kỳ với hai trung tâm lớn: New York (16,2 triệu dân - 1992), Chicago (6,84 triệu dân) Những nơi ít dân nhất là bán đảo Alaska, đảo Greenland, phía bắc Canada kể cả các đảo, vùng rừng rậm xích đạo Amazone, hoang mạc Atacama
Châu Úc và châu Đại dương dân cư thưa thớt nhất với mật độ dân cư chưa đến 4 ngưới/km2 Hầu hết dân
cư tập trung ở phía Đông và Đông Nam Úc, còn vùng hoang mạc rộng lớn gần như không có sự cư trú thường xuyên của con người
2.3.4 Theo quốc gia
Năm 1987, dân số thế giới đạt 5,026 tỷ người, thì
có khoảng 23,7% dân sống ở các nước công nghiệp phát triển, trong khi đó, có đến 76,3% dân sống ở các nước đang phát triển Đến năm 1996, dân số của các nước công nghiệp phát triển chỉ chiếm khoảng 20,17%, trong khi dân số của các nước đang phát triển chiếm đến 79,83% dân số thế giới với tổng số hơn 5,804 tỷ người
Xét theo quy mô dân số, có quốc gia dân số quá đông, có quốc gia dân số lại quá ít Các quốc gia có dân số đông đứng hàng đầu như Trung Quốc (1.129 triệu), Ấn Độ (930 triệu), Hoa Kỳ (263 triệu), Indonesia (198 triệu), Brazil (157,8 triệu), Nga (148,3 triệu), Nhật Bản (125,2 triệu), Bangladesh (119,2
Trang 31triệu), Nigeria (101 triệu), Mexico (93,7 triệu), Đức (81,8 triệu), Việt Nam (75 triệu) Chỉ với 12 quốc gia này, đã chiếm 63% dân số thế giới năm 1995
Những quốc gia có mật độ dân cư cao thuộc loại cao nhất thế giới tập trung chủ yếu ở Nam Á, Đông Nam Á, Đông Bắc Á như Bangladesh (848,7 người/km2), Nhật Bản (330,6 người/km2), Ấn Độ (273 người/km2)
Tính chất không đồng đều cũng thể hiện rõ trong việc phân bố dân cư giữa các vùng trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, trừ những quốc gia có diện tích quá nhỏ
Trang 32CƠ CẤU DÂN SỐ
3.1 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA
Cơ cấu dân số (population structure): là sự phân chia số dân theo những tiêu chuẩn nhất định thành những bộ phận dân số khác nhau Các tiêu chuẩn có thể là giới tính, tuổi, thành phần dân tộc, quốc tịch, ngôn ngữ, tôn giáo, nghề nghiệp, nơi cư trú… Các thuật ngữ: cơ cấu dân số, kết cấu dân số hay cấu trúc dân số có ý nghĩa tương đương
Trong Dân số học, các loại cơ cấu dân số được chia thành hai nhóm:
- Cơ cấu sinh học hay cơ cấu tự nhiên của dân số gồm: cơ cấu dân số theo giới tính, độ tuổi…
- Cơ cấu xã hội của dân số gồm: cơ cấu dân số theo thành phần dân tộc, quốc tịch, trình độ văn hóa, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nơi cư trú…
Mỗi khía cạnh nghiên cứu phản ảnh một mặt của tình trạng dân số Do vậy, muốn hiểu cơ cấu dân số một cách đầy đủ, cần phải xem xét cả về phương diện sinh học và xã hội
Cơ cấu sinh học hay cơ cấu tự nhiên của dân số phản ảnh những đặc điểm về thể trạng và tiềm lực phát triển của dân số Sự thay đổi theo thời gian của
cơ cấu sinh học là sự biến động tự nhiên của dân số
Cơ cấu xã hội cũng được quan tâm nghiên cứu nhiều vì nó ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc đến hoạt động
Trang 33của toàn xã hội Mỗi cá nhân trong cuộc đời của mình thường thay đổi nghề nghiệp, nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật… Chính những sự thay đổi này theo thời gian là sự biến động xã hội của dân số Nghiên cứu cơ cấu xã hội ở những thời điểm khác nhau (năm tổng điều tra) cho thấy khuynh hướng biến động xã hội của dân số trong thời khoảng đó
Thông qua việc nghiên cứu cơ cấu dân số của một lãnh thổ, một quốc gia giúp ta đánh giá được chất lượng và tiềm năng lao động của dân số, giúp dự đoán được các nhu cầu và chiều hướng phát triển của dân số trong tương lai, từ đó, giúp tính toán hay hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho tương lai
3.2 CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH
3.2.1 Khái niệm và ý nghĩa
Trong thành phần giới tính của một dân số, bao giờ cũng có cả nam và nữ Cấu trúc giới tính của dân
số có ảnh hưởng quan trọng đến mức độ tăng giảm số lượng của dân số đó ở từng thời kỳ, đến sự phân công lao động và mọi hoạt động khác của xã hội Nghiên cứu cơ cấu dân số theo giới tính còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong việc phân công lao động xã hội và áp dụng các chính sách của mỗi quốc gia
Cơ cấu giới tính của dân số thường được biểu thị bằng tỷ lệ giới tính hay hệ số giới tính
3.2.2 Các chỉ tiêu phân tích
Trang 34Tỷ lệ giới tính là tương quan số lượng nam hoặc
nữ so với tổng số dân và được tính theo tỷ lệ phần trăm (%)
- Nếu hệ số này < 100 : số nam ít hơn số nữ
Sự biến động của hệ số giới tính
+ Theo tuổi
Một cách phổ biến ở trẻ sơ sinh, hệ số giới tính thường dao động trong khoảng 104-106 (104-106 nam/100 nữ), nghĩa là số nam thường nhiều hơn số nữ
từ 4-6%, nhưng hệ số này không giữ nguyên mà sẽ thay đổi theo chiều hướng giảm từ tuổi trưởng thành
Trang 35trở đi, nhất là ở nhóm tuổi già, hệ số giới tính sẽ giảm nhanh
+ Theo khu vực
Hệ số giới tính cũng không giống nhau giữa các nước khác nhau và các khu vực khác nhau trên thế giới Những nước kinh tế phát triển thường có số nữ nhiều hơn số nam, tuổi thọ trung bình của nam giới thường thấp hơn tuổi thọ trung bình của nữ giới (châu
Âu, Bắc Mỹ, Úc và New Zealand) Trái lại, những nước kinh tế chậm phát triển thường có số nam nhiều hơn số nữ, tuổi thọ trung bình giữa nam và nữ không chênh nhau nhiều, thậm chí có nước tuổi thọ trung bình của nam cao hơn tuổi thọ trung bình của nữ Những nước có số nam trội hơn là những nước Nam
Á, các quần đảo Melanesia, Polynesia, Micronesia
Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số giới tính
+ Sự phân phối giới tính ở trẻ sơ sinh
Sự chênh lệch giữa số nam và nữ khi mới sinh phụ thuộc chủ yếu vào cấu trúc gen Ở người, giới tính
là một tính trạng và được quy định bởi một cặp gen nằm trên cặp nhiễm sắc thể giới tính Nếu là nữ, cặp nhiễm sắc thể giới tính đó đồng dạng, được ký là hiệu
là XX và từ tế bào sinh dục nữ chỉ hình thành một loại giao tử (noãn) mang một nhiễm sắc thể X Nếu là nam, cặp nhiễm sắc thể giới tính đó không đồng dạng, được ký hiệu là XY và từ tế bào sinh dục nam sẽ hình thành hai loại giao tử (tinh trùng) là X và Y Khi noãn
X kết hợp với tinh trùng X sẽ tạo ra con gái và kết hợp với Y sẽ tạo ra con trai Trên lý thuyết, sự phối hợp ngẫu nhiên của hai loại giao tử này sẽ hình thành giới
Trang 36tính ở thế hệ sau theo tỷ lệ (1:1) Tuy nhiên, trên thực
tế ở nam giới, tỷ lệ giao tử Y thường nhiều hơn giao tử
X, nên ở thế hệ sau, số trẻ sơ sinh nam thường nhiều hơn số trẻ sơ sinh nữ, do đó hệ số giới tính ở trẻ sơ sinh thường lớn hơn 100 Khi lớn lên, hệ số giới tính thay đổi theo chiều hướng giảm và thường nhỏ hơn
100
+ Sự khác biệt tỷ suất tử vong giữa nam và nữ Chiến tranh là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra sự chênh lệch lớn trong cấu trúc nam nữ Trong chiến tranh, mức tử vong của nam giới thường cao hơn nhiều so với tử vong của nữ giới, do
đó ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu nam nữ của nhiều nước và hậu quả của nó kéo dài qua nhiều thế hệ Ví
dụ, Thụy Điển không có chiến tranh từ năm 1813 nên
số nam và nữ ở độ tuổi 30-50 gần như ngang nhau Trong khi đó, ở Liên Bang Nga sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ số giới tính chỉ bằng 81,82 (hay tỷ lệ nam và nữ là 45% và 55% so với tổng dân số)
Sự khác nhau về điều kiện sống và làm việc cũng ảnh hưởng đến tỷ suất tử vong của nam và nữ Nam giới thường làm việc trong những điều kiện nặng nhọc, độc hại, vất vả hơn nữ giới, hay tình trạng tệ nạn
xã hội như nghiện rượu, ma túy, một số bệnh tật là những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến mức tử vong của nam giới
Các nguyên nhân làm thay đổi hệ số giới tính cũng có sự phân hóa theo từng nhóm nước Ở các nước kinh tế phát triển, nam thường có tỷ suất tử vong cao hơn nữ Ở các nước đang phát triển, mức tử vong
Trang 37của nữ giới lại có phần trội hơn, đặc biệt là ở các bà
mẹ khi sinh nở và các em gái do tình trạng thiếu chăm sóc hay nuôi dưỡng
Tuổi thọ trung bình là một chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá sự khác biệt mức tử vong của hai giới Tuổi thọ trung bình của giới này so với giới kia càng chênh lệch thì cơ cấu giới tính càng thay đổi Ở phần lớn các nước trên thế giới, tuổi thọ trung bình của nữ thưòng cao hơn tuổi thọ trung bình của nam từ 2-3 năm Nhiều nước châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Úc mức chênh lệch cao nhất có thể đạt tới 5-8 tuổi nghiêng về phía nữ (châu Âu: 6,1; Bắc Mỹ: 8,0; Úc và châu Đại dương: 6,3; Mỹ Latinh: 3,8; châu Phi: 3,1; châu Á: 1,5) Chỉ có một số nước như Ấn Độ, Pakistan, Banglades, Irak, Nepan, Butan, Burkina Faso, Papua New Ghine thì tuổi thọ trung bình của nữ thấp hơn
+ Sự khác biệt giữa số lượng nam và số lượng nữ chuyển cư
Chuyển cũng cư là một nhân tố tác động đến sự biến đổi của hệ số giới tính Trên bình diện thế giới,
sự chuyển cư không có ý nghĩa gì, nhưng đối với từng khu vực, từng quốc gia hay từng địa phương, ở từng thời điểm cụ thể nó lại có ảnh hưởng đặc biệt, đôi khi mang tính quyết định đến sự thay đổi cơ cấu nam nữ
Số người xuất cư phần đông là nam giới, do vậy ít nhiều đều có sự ảnh hưởng đến cơ cấu giới tính của cả vùng có xuất cư và vùng có nhập cư Ví dụ, trước
1930, hệ số giới tính ở Hoa Kỳ là 104, ở Canada là105, ở Úc là 110
Trang 38+ Chính sách dân số của quốc gia
Chính sách dân số của quốc gia cũng có ảnh hưởng đến cơ cấu nam nữ trong dân số Luật pháp một
số quốc gia cho phép mỗi cặp vợ chồng chỉ được sinh một đứa con và nếu trong cộng đồng dân cư vẫn còn
tư tưởng trọng nam khinh nữ thì việc lựa chọn sinh con trai là điều dễ xảy ra
3.3 CƠ CẤU DÂN SỐ THEO TUỔI
3.3.1 Khái niệm và ý nghĩa
Cơ cấu dân số theo tuổi là tập hợp những nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhất định, hay
đó là sự phân chia số dân theo từng nhóm tuổi được định trước nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu các quá trình dân số và các quá trình kinh tế - xã hội
Trong Dân số học, cơ cấu dân số theo tuổi thường được chú trọng nhiều, vì thành phần tuổi của dân cư phản ánh một cách tổng hợp tình hình sinh sản, mức
độ tử vong, tương lai phát triển của dân số và lực lượng lao động cụ thể của xã hội
Cấu trúc dân số theo tuổi thay đổi theo thời gian
và phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân tác động thường xuyên như sinh sản, tử vong; có những nguyên nhân tác động không thường xuyên như sự chuyển cư, chiến tranh, thiên tai…
Do những khác biệt về chức năng xã hội và chức năng dân số giữa nam và nữ, cơ cấu dân số theo độ tuổi thường được nghiên cứu cùng với cơ cấu dân số theo giới tính (gọi là cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính)
Trang 393.3.2 Các cách phân chia nhóm tuổi
Nhóm tuổi có khoảng cách đều nhau
Sự chênh lệch giữa hai độ tuổi kế tiếp nhau có thể
là 1 năm, 5 năm hay 10 năm Ví dụ: 0-4, 5-9, 10-14…
80+ hoặc 0-9, 10-19, 20-29… 80+ Nhóm tuổi với khoảng cách 5 năm thường được sử dụng nhiều nhất
Nhóm tuổi có khoảng cách không đều nhau
+ Căn cứ vào tuổi có khả năng sinh sản, dân số nữ được chia thành 3 nhóm:
- Trước tuổi sinh sản: < 15 tuổi
- Trong tuổi sinh sản: 15 - 49 tuổi
- Sau tuổi sinh sản: > 50 tuổi
+ Căn cứ vào tuổi lao động, dân số được chia thành 3 nhóm chính:
- Dưới tuổi có khả năng lao động (nhóm trẻ em) :
Mỗi cách phân chia có ưu điểm riêng và được sử dụng vào những mục đích khác nhau Cách phân chia thứ nhất tương đối tỷ mỷ nên được dùng vào việc phân tích, dự đoán các quá trình dân số Cách thứ hai
Trang 40khái quát hơn nhằm đánh giá những biến chuyển chung về cơ cấu dân số
3.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá
Dân số trẻ
Dân số của một nước hay một địa phương được gọi là trẻ khi cơ cấu dân số có tỷ lệ của nhóm người dưới 15 tuổi vượt trên 35% và tỷ lệ nhóm người từ 60 tuổi trở lên chiếm ít hơn 10% tổng dân số; thể hiện qua tỷ suất sinh cao, tỷ suất tử cao và tuổi thọ trung bình (kỳ vọng sống) thấp
Tỷ lệ người trẻ cao chứng tỏ dân số sinh động, nguồn dự trữ lao động dồi dào Đây là một điểm thuận lợi Nhưng trong hiện tại điều đó cũng có nghĩa là một
sự bất lợi bởi vì số người cần được cấp dưỡng là một
số lớn, Nhà nước phải đầu tư nhiều để nuôi dưỡng và đào tạo cho lớp người trẻ này Muốn đạt được mục đích ấy, những người đang độ tuổi lao động phải được tận dụng và phải nâng cao năng suất lao động
Dân số già
Dân số của một nước hay một địa phương được gọi là già khi cơ cấu dân số có tỷ lệ của nhóm người dưới 15 tuổi chỉ chiếm khoảng 30-35% và tỷ lệ nhóm người từ 60 tuổi trở đi chiếm trên 10% tổng dân số, thể hiện qua tỷ suất sinh rất thấp, tỷ suất tử rất thấp và tuổi thọ trung bình (kỳ vọng sống) cao
Tỷ lệ già nhiều, trẻ ít chứng tỏ nguồn dự trữ lao động kém Đây là mối đe dọa thiếu lực lượng lao động thay thế trong tương lai
Tỷ lệ lao động