1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải quyết xung đột pháp luật trong hợp đồng mua bán hàng hóa

21 1,4K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 36,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN 1.1. Hợp đồng mua bán ngoại thương1.1.1. Sự hình thành quy chế pháp lý về hợp đồng mua bán ngoại thương:Mua bán quốc tế là hoạt động kinh tế đã có từ lâu đời. Tới đầu thế kỷ XIX các hợp đồng mua bán quốc tế vẫn được thiết lập theo các quy tắc pháp lý được quy định trong các bộ luật dân sự của các quốc gia do vậy khi quy chiếu vào đó các thương gia thường lo sợ rằng hợp đồng của họ sẽ bị các toà án coi rằng trái với trật tự xã hội. Năm 1817 trên thế giới đã có sự xuất hiện những dấu hiệu của cuộc khủng hoảng kinh tế, hàng hoá sản xuất ra dư thưa. Sự cạnh tranh về thị trường ngày càng gay gắt. Để khắc phục tình trạng này các thương gia đã có sự quy tụ theo ngành nghề dưới dạng các hiệp hội với mục đích: Thiết lập một quy chế pháp lý chi phối các hoạt động mua bán quốc tế nhằm thống nhất các điều kiện mua bán thiết lập môi trường cạnh tranh công bằng, hợp lý. Tước bỏ thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp của các toà án quốc gia và chuyên quyền này vào tổ chức trọng tài quốc tế. Trong giai đoạn đầu các hiệp hội, các nhà kinh doanh tại mỗi quốc đã soạn ra những hợp đồng mẫu cho từng loại hàng hoá tuy nhiên các hợp đồng này vẫn mang tính chất riêng biệt do vậy hợp đồng mẫu của từng quốc gia vẫn có sự khác biệt về chi tiết nhưng cũng là nguyên nhân dẫn đến các vụ tranh chấp. Do đó những hiệp hội của các quốc gia đã tìm cách xích lại gần nhau hơn và ký kết với nhau những thoả hiệp, trong đó quyền lợi của các bên được giải quyết thoả đáng. Các nỗ lực quốc tế nhằm đem lại một chế độ pháp lý thuần nhất phải kể đến các công trình. 1. Uỷ ban kinh tế Châu âu thuộc tổ chức của Liên hợp quốc đã soạn thảo được những điều kiện chung cho các hợp đồng XNK một số mặt hàng trọng điểm: các trang thiết bị, ngũ cốc, chất đốt. 2. Hội đồng tương trợ kinh tế tổ chức thuộc khối các nước XHCN với mục đích phát triển nền ngoại thương giữa các nước đó trên tinh thần tương trợ đã soạn ra các văn bản. Các điều kiện chung về quan hệ thương mại. Các quy tắc pháp lý áp dụng cho hợp đồng mua bán. Cách giải quyết các vụ tranh chấp. Tổ chức này đã ngừng hoạt động từ tháng 61999. 3. Phòng Thương mại quốc tế với công trình về những điều kiện thương mại quốc tế giải thích các từ ngữ thương mại năm 1930 và được sửa đổi vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990 và năm 2000. 4. Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế công ước Vienne năm 1980 và có hiệu lực từ tháng 11988. 1.1.2.Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán ngoại thương:a. Khái niệm: Quan hệ trao đổi hàng hoá quốc tế ngày càng được phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng. Hoạt động mua bán hàng hoá nói chung và hoạt động mua bán quốc tế nói riêng là một lĩnh vực vô cùng phức tạp đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý nhất định thể hiện dưới một hình thức nhất định đó là hợp đồng. Hợp đồng mua bán ngoại thương trước hết là một hợp đồng mua bán hàng hoá do đó nó có đầy đủ các yếu tố của một hợp đồng mua bán thông thường. Điểm khác biệt của hợp đồng mua bán ngoại thương là yếu tố nước ngoài có trong hợp đồng bao gồm: Chủ thể của hợp đồng Đối tượng của hợp đồng Đồng tiền thanh toán. Theo luật thương mại Việt Nam 1997 tại điều 8 đưa ra khái niệm khái quát về hợp đồng ngoại thương như sau: Hợp đồng mua bán ngoại thương là hợp đồng mua bán được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài. Theo công đốc LaHay 1964 về mua bán quốc tế, đối với các động sản hữu hình thì một hợp đồng được coi là hợp đồng mua bán ngoại thương. Nếu các bên chủ thể của hợp đồng mua bán có trụ sở Thương mại tại các nước khác nhau, hàng hoá trong hợp đồng được chuyển qua biên giới và được xác lập ở các nước khác nhau. Công ước Vienne 1980 của Liên hợp quốc thì yếu tố nước ngoài của hợp đồng là yếu tố về chủ thể. Như vậy về mặt bản chất thì khái niệm hợp đồng ngoại thương trong công ước của Liên hợp quốc 1980 với khái niệm trong luật thương mại Việt Nam 1997 có sự tương đồng. Theo quy định tại nghị định 36CP 240497 các hợp đồng trao đổi hàng hoá giữa các doanh nghiệp thuộc khi chế xuất, các cơ sở kinh doanh hàng miễn thuế với các doanh nghiệp trong nước tuy không được gọi là hợp đồng mua bán ngoại thương nhưng được coi là hợp đồng XNK và chịu sự chi phối của các quy định pháp luật liên quan. Ngoài ra, thực tiễn cho thấy các hình thức kinh doanh khác như chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất… các hợp đồng các hình thức này cũng phải chịu sự điều chỉnh của các quy định páp luật về hợp đồng ngoại thương.

Trang 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN1.1 Hợp đồng mua bán ngoại thương

1.1.1 Sự hình thành quy chế pháp lý về hợp đồng mua bán ngoại thương:

Mua bán quốc tế là hoạt động kinh tế đã có từ lâu đời.Tới đầu thế kỷ XIX các hợp đồng mua bán quốc tế vẫn đượcthiết lập theo các quy tắc pháp lý được quy định trong các bộluật dân sự của các quốc gia do vậy khi quy chiếu vào đó cácthương gia thường lo sợ rằng hợp đồng của họ sẽ bị các toà

án coi rằng trái với trật tự xã hội

Năm 1817 trên thế giới đã có sự xuất hiện những dấuhiệu của cuộc khủng hoảng kinh tế, hàng hoá sản xuất ra dưthưa Sự cạnh tranh về thị trường ngày càng gay gắt

Để khắc phục tình trạng này các thương gia đã có sự quy

tụ theo ngành nghề dưới dạng các hiệp hội với mục đích:

- Thiết lập một quy chế pháp lý chi phối các hoạt độngmua bán quốc tế nhằm thống nhất các điều kiện mua bánthiết lập môi trường cạnh tranh công bằng, hợp lý

- Tước bỏ thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp củacác toà án quốc gia và chuyên quyền này vào tổ chức trọngtài quốc tế

Trong giai đoạn đầu các hiệp hội, các nhà kinh doanh tạimỗi quốc đã soạn ra những hợp đồng mẫu cho từng loại hànghoá tuy nhiên các hợp đồng này vẫn mang tính chất riêng biệt

do vậy hợp đồng mẫu của từng quốc gia vẫn có sự khác biệt

về chi tiết nhưng cũng là nguyên nhân dẫn đến các vụ tranhchấp Do đó những hiệp hội của các quốc gia đã tìm cách xíchlại gần nhau hơn và ký kết với nhau những thoả hiệp, trong đó

Trang 2

quyền lợi của các bên được giải quyết thoả đáng Các nỗ lựcquốc tế nhằm đem lại một chế độ pháp lý thuần nhất phải kểđến các công trình

1. Uỷ ban kinh tế Châu âu thuộc tổ chức của Liên hợpquốc đã soạn thảo được những điều kiện chung cho các hợpđồng XNK một số mặt hàng trọng điểm: các trang thiết bị,ngũ cốc, chất đốt

2. Hội đồng tương trợ kinh tế - tổ chức thuộc khối cácnước XHCN với mục đích phát triển nền ngoại thương giữa cácnước đó trên tinh thần tương trợ đã soạn ra các văn bản

-Các điều kiện chung về quan hệ thương mại

-Các quy tắc pháp lý áp dụng cho hợp đồng mua bán

-Cách giải quyết các vụ tranh chấp

Tổ chức này đã ngừng hoạt động từ tháng 6/1999

3. Phòng Thương mại quốc tế với công trình về

"những điều kiện thương mại quốc tế giải thích các từ ngữthương mại năm 1930 và được sửa đổi vào các năm 1953,

Trang 3

lĩnh vực vô cùng phức tạp đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý nhấtđịnh thể hiện dưới một hình thức nhất định - đó là hợp đồng

Hợp đồng mua bán ngoại thương trước hết là một hợpđồng mua bán hàng hoá do đó nó có đầy đủ các yếu tố củamột hợp đồng mua bán thông thường Điểm khác biệt củahợp đồng mua bán ngoại thương là yếu tố nước ngoài cótrong hợp đồng bao gồm:

- Chủ thể của hợp đồng

- Đối tượng của hợp đồng - Đồng tiền thanh toán

Theo luật thương mại Việt Nam 1997 tại điều 8 đưa rakhái niệm khái quát về hợp đồng ngoại thương như sau: "Hợpđồng mua bán ngoại thương là hợp đồng mua bán được ký kếtgiữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thươngnhân nước ngoài

Theo công đốc LaHay 1964 về mua bán quốc tế, đối vớicác động sản hữu hình thì một hợp đồng được coi là hợp đồngmua bán ngoại thương Nếu các bên chủ thể của hợp đồngmua bán có trụ sở Thương mại tại các nước khác nhau, hànghoá trong hợp đồng được chuyển qua biên giới và được xáclập ở các nước khác nhau

Công ước Vienne 1980 của Liên hợp quốc thì yếu tố nướcngoài của hợp đồng là yếu tố về chủ thể

Như vậy về mặt bản chất thì khái niệm hợp đồng ngoạithương trong công ước của Liên hợp quốc 1980 với khái niệmtrong luật thương mại Việt Nam 1997 có sự tương đồng

Theo quy định tại nghị định 36CP 24/04/97 các hợp đồngtrao đổi hàng hoá giữa các doanh nghiệp thuộc khi chế xuất,các cơ sở kinh doanh hàng miễn thuế với các doanh nghiệp

Trang 4

trong nước tuy không được gọi là hợp đồng mua bán ngoạithương nhưng được coi là hợp đồng XNK và chịu sự chi phốicủa các quy định pháp luật liên quan

Ngoài ra, thực tiễn cho thấy các hình thức kinh doanhkhác như chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất… các hợp đồng cáchình thức này cũng phải chịu sự điều chỉnh của các quy địnhpáp luật về hợp đồng ngoại thương

b Đặc điểm hợp đồng ngoại thương

-Về chủ thể:

Chủ thể tham gia hợp đồng là những thương nhân mangquốc tịch khác nhau, quy chế thương nhân được xác định theoluật của nước mà thương nhân đó mang quốc tịch

Thương nhân là tổ chức thì quốc tịch của thương nhânđược xác định là quốc tịch của nước nơi:

+ Đặt trung tâm quản lý (Pháp - Đức)

+ Đặt trung tâm hoạt động của tổ chức (Ai Cập, Xê ri…) Khoản 1 điều 832 Bộ luật dân sự nước cộng hoà XHCN ViệtNam ghi nhận nguyên tắc quốc tịch của pháp nhân được xácđịnh tuỳ thuộc vào nơi thành lập pháp nhân

-Về đối tượng của hợp đồng:

Là hàng hoá tồn tại thực tế, có thể di rời được, xác định đượcphải được phép giao dịch lưu thông trên thị trường

-Về đồng tiền thanh toán

Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng ngoại thương là ngoại tệđối với ít nhất là một bên tham gia hợp đồng Các bên có thểthoả thuận đồng tiền thanh toán là đồng tiền của bên bánhoặc bên mua hoặc của một nước thứ ba bất kỳ

Trang 5

-Về pháp luật áp dụng

Nguồn luật áp dụng điều chỉnh các quan hệ hợp đồng muabán ngoại thương phức tạp hơn rất nhiều so với các hợp đồngmua bán trong nước bao gồm điều ước quốc tế, luật quốc gia

và tập quán Thương mại quốc tế

1.1.3. Tính hợp pháp của hợp đồng mua bán ngoại

thương:

a Hình thức:

Hình thức của hợp đồng mua bán ngoại thương chỉ cógiá trị pháp lý khi nó được hiểu dứoi một hình thức nhất định Pháp luật của đại đa số các nước đều quy định hợp đồng muabán ngoại thương chỉ có giá trị pháp lý về mặt hình thức trướckhi nó được hiểu dưới hình thức văn bản

Tuy nhiên điều 11 Công ước của liên hợp quốc năm 1980

về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có quy định " khôngyêu cầu hợp đồng mua bán phải được ký kết hoặc phải đượcxác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ một yêu cầu nào

đó về mặt hình thức " Việc quy định này nhằm đơn giảnhoá tạo điều kiện thuận lợi cho các bên chủ thể hợp đồngthuộc các nước thành viên công ước có thể giao kết hợp đồngmột cách nhanh chóng

Trang 6

chứa đựng những điều khoản phù hợp với điều kiện của phápluật.

Nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên chủ thể , thôngthường cần phải có những điều kiên chủ yếu sau đây :

- Phần mở đầu : ghi số của hợp đồng , tên gọi , địa chỉpháp lý của các bên môth cách đầy đủ ( không viết tắt ) , ghi

rõ địa điểm và ngày tháng năm ký hợp đồng Đây lad vấn đềquan trọng có liên quan đến việc quy định của pháp luật ápdụng khi có tranh chấp xãy ra

- Nội dung: đây là phần cơ bản quy định quyền nghĩa vụcủa các bê Phần này thường có các điều khoản sau :

+ Đối tượng của hợp đồng : Hàng hoá phải được cụ thể,chính xác tên thường gọi đối với hàng hoá đơn có kèm theotên thương mại hoặc tên khoa học ( nếu có) hoặc ghi kèmtheo tên ngươi sản xuất

+ Số lượng hoặc khối lượng của hàng hoá: có thể ghi nhữngnội dung này bằng những con số cụ thể Số dung sai tăng (+);giảm (-) Theo tỷ lệ (%) nhất định do các bên thoả thuận

+ Phẩm chất hàng hoá: việc xác định phẩm chất hàng hoáphải được quy định cụ thể thông qua sự mô tả theo hình dạngmàu sắc, kích thước; hoặc xác định bởi đặc tính lý, hoá củanó; hoặc theo một mẫu nhất định; hoặc theo tiêu chuẩn( quốc gia, quốc tế ) đối với hàng hoá đó

+ Giá cả hàng hoá: giá cả hàng hoá là một điều khoản cơbản của hợp đồng mua bán ngoại thương nên nó cần đượcquy định cụ thể

Giá cả phải được ghi bằng chứ và đồng tiền tính giá Chú

ý khi đông tiền tính giá phải ghi cụ thể là loại tiền gì, của

Trang 7

nước nào Vì thực tế thế giới có nhiều loại tiền của các nướctuy nhiên tên gọi giống nhau nhưng giá trị lại khác nhau

+ Thời hạn giao hàng: để đảm bảo quyền lợi của mình và tạođiều kiện thuận lợi cho công việc giao nhận hàng, các bênphải thoả thuận thời gian giao hàng Thời gian giao hàng cóthể được các bên ấn định vào một thời điểm cụ thể hoặc vàomột khoảng thời gian cụ thể

+ Phương thức giao hàng: phương thức giao hàng là nhữngquy định về trách nhiệm của người mua hàng và người bánhàng trong các vấn đề có liên quan đên viêch giao hàng như:thuê phương tiện vận chuyển, mua bảo hiểm hàng hoá , xácđịnh thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu và rủi ro với hànghoá từ ngừoi bán sang người mua trong thưc tiễb thươngmại quốc tế, các phương thức giao hàng mang tên gọi như :FOB , CIF , FAS , EXW Ứng với mỗi phương thức giao hàng

là vấn đê pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các bên tronv quátrình giao hàng Ở đây cần chú ý để tránh nhầm lẫn khi thoảthuânb phương thức giao hàng, các bên phải thống nhất chỉ

ra sẽ áp dụng phương thức nào và nó được ghi nhận ở đâu.Thông thường người ta áp dụng phương thức giao hàng trong

"INCONTERMS - 1990 " Nếu có vấn đề gì cân thêm, bớt vàocác điều kiện giao hàng để phù hợp với hoàn cảnh thưc tế thìcác bên cũng phải thoả thuận ghi rõ trong hợp đồng

Ngoài các bên thoả thuận ở đây các chủ thể có thể thoảthuận đưa vào hợp đồng các điều khoản khác như: điều khoảngiám định hàng hoá, điều khoản thanh toán, điều khoản bảohàn , điều khoản trọng tài,

c Thẩm quyền kí kết hợp đồng mua bán ngoại thương

Trang 8

Hợp đồng mua bán ngoại thương có giá trị pháp lý ràngbuộc các bên kể từ khi được các bên ký kết Tuy nhiên, khôngphải bất kỳ ai khi ký vào hợp đồng mua bán ngoại thươngcũng làm cho nó có giá trị pháp lý

Hợp đồng mua bán ngoại thương chỉ phát sinh hiệu lựckhi ngừơi ký hợp đồng có đủ thẩm quyền ký theo luật định

Theo nguyên tắc chung, việc xác định thẩm quyền kýkết hợp đồng mua bán ngoại thương của các bên chủ thểđược xem xét trên cở sở năng lực hành vi theo pháp luật củanước mà họ mang quốc tịch

Về thẩm quyền ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương,pháp luật Việt Nam quy định tại nghị định số 12/2006/NĐ-CPcủa Chính Phủ cho tiết thi hành Luật thương mại năm 2005.Theo đó, thương nhân theo quy định của pháp luật đượcquyền xuất khẩu tất cả các loại hàng hoá không phụ thuộcvào ngành nghề, ngành hàng ghi trong giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh, trừ hàng hoá thuộc danh mục cấm xuất khẩu;được nhập khâue hàng hoá theo ngành nghề, ngành hàng ghitrong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Về phía bên nước ngoài, hợp đồng mua bán ngoạithương chỉ có giá trị pháp lý khi chủ thể là những ngừoi đầy

đủ năng lưcj hành vi theo pháp luật nước họ quy định

Tóm lại , khi giải quyết xung đột pháp luật về thẩmquyền ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương , pháp luậtnước các bên chủ thể mabg quốc tịch (Lex personalis) sexđươc đem áp dụng

1.2 Xung đột pháp luật về hợp đồng:

Trang 9

Hiện tượng xung đột pháp luật có thể phát sinh phổ biếntrong rất nhiều nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của

tư pháp quốc tế

Tuy nhiên trong 1 số chế định cụ thể cá biệt thì hiệntượng xung đột đó không xảy ra như: Quan hệ thuộc lĩnh vực

sở hữu trí tuệ, Quan hệ tố tụng tòa án trọng tài

Qua đó ta thấy rõ ràng không phải lúc nào cũng có xungđột pháp luật

Xung đột pháp luật chỉ là hiện tượng, tức là chỉ xuấthiện khi một quan hệ pháp luật cụ thể phát sinh và pháp luậtcủa các quốc gia đều có thể tham gia điều chỉnh cho quan hệ

đó nhưng lại có cách hiểu không giống nhau

Nguyên nhân của sự xung đột pháp luật thì có nhiềunhưng chủ yếu là do: (1) Không có quy phạm pháp luậtthực chất thống nhất;

(2) Nội dung pháp luật của các quốc gia khác nhau

Xung đột pháp luật về Hợp đồng thương mại quốc tếphát sinh là do cách hiểu, cách quy định khác nhau của haihay nhiều hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh hợp đồngthương mại quốc tế về một vấn đề cụ thể nào đó liên quanđến hợp đồng thương mại quốc tế

Chẳng hạn, về hình thức hợp đồng thương mại quốc tế,luật của Việt Nam bắt buộc phải lập dưới hình thức văn bảnnhưng luật của Mỹ thì cho phép bằng hình thức văn bản đốivới những hợp đồng có trị giá trên 500 USD hoặc bằng lời nói– dưới 500 USD Nếu doanh nghiệp Việt Nam giao kết hợpđồng với doanh nghiệp của Mỹ mà không thỏa thuận luật ápdụng cho quan hệ hợp đồng là luật nào thì sẽ dẫn đến tình

Trang 10

trạng hợp đồng sẽ vô hiệu theo luật pháp của Việt Nam nếu

nó được giao kết bằng lời nói

Ở đây, cần nhấn mạnh rằng, sở dĩ có xung đột về Hợpđồng thương mại quốc tế là do khi giao kết hợp đồng, các bêntham gia giao kết đã không dự liệu trước luật nào sẽ áp dụngcho hợp đồng Đấy là cách hữu hiệu để không dẫn đến xungđột pháp luật

Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, các bên tham gia giao kếthợp đồng không thỏa thuận, không quy định trong hợp đồng

sẽ áp dụng luật nào thì khi có tranh chấp xảy ra, không biếtdẫn chiếu luật pháp nước nào (nước người mua, người bánhay người thứ ba), xung đột pháp luật có thể xảy ra nếu quốcgia của 2 chủ thể ký kết hợp đồng này chưa tham gia điềuước quốc tế nào trực tiếp điều chỉnh Hợp đồng thương mạiquốc tế

1.3 Công ước viên 1980:

Công ước Viên về Hợp đồng Mua bán Hàng hoá Quốc tếcủa Liên hợp quốc (CISG), được thông qua năm 1980, là một

mô hình hữu ích cho các nước đang nổi lên đang xem xét việcban hành luật hợp đồng và mua bán hiện đại Công ước này

áp dụng đối với các hợp đồng mua bán giữa người mua vàngười bán có địa điểm kinh doanh tại các nước là thành viêncủa công ước, song công ước có sự nhất quán trong việc nhấnmạnh yếu tố tự do hợp đồng, theo đó các bên có quyền quyđịnh khác

CISG được soạn thảo bởi nhóm làm việc gồm các luật sư

từ khắp các khu vực trên thế giới dưới sự bảo trợ của Uỷ banLuật Thương mại Quốc tế của Liên Hợp quốc (UNCITRAL)

Trang 11

Nhiều nước đã thông qua CISG, hứa hẹn lần đầu tiên có mộtluật mua bán quốc tế hiệu quả.

Ðiều gì làm cho CISG trở thành một mô hình hữu ích đốivới những nước muốn ban hành luật hợp đồng hoặc mua bántheo hướng thị trường?

Trước tiên, CISG là một luật thương mại hiện đại phù hợpvới các truyền thống pháp luật Công ước này thúc đẩy tự dohợp đồng bằng cách trao cho các bên sự tự do cần thiết trongviệc thay đổi hoặc thay thế hầu hết tất cả các quy định bằngnhững điều khoản hoặc biện pháp riêng của họ CISG đượcsoạn thảo theo cách thực dụng và dễ hiểu, tránh đi tính hìnhthức hoặc việc sử dụng các biệt ngữ chuyên ngành không cầnthiết

Thứ hai, CISG đã hiện diện rất nhiều trong luật thươngmại trên khắp thế giới Luật sư và các doanh nhân của hầuhết các nước sẽ cần thấy phải làm quen với CISG khi tham giacác giao dịch quốc tế Các luật sư và doanh nhân nước ngoài

sẽ cảm thấy yên tâm khi gặp phải các đạo luật quốc gia đượcxây dựng dựa trên CISG quen thuộc Thứ ba, CISG đã đượcđiều chỉnh để thích nghi thành công với việc sử dụng trongnước các luật mua bán mới có sự thống nhất về mặt nội dungcủa các nước Scandinavi; cụ thể có thể nghiên cứu luật củaThuỵ Ðiển và Phần Lan – đây là những mô hình áp dụng cụthể CISG cho hoạt động mua bán nội địa

Không một mô hình của bên ngoài nào có thể hoàn toànphù hợp với một nước CISG cần được điều chỉnh cho phù hợp

vì mối liên quan của nó với các vấn đề đặc biệt về mua bánquốc tế và cần có thêm các thoả hiệp khác để được quốc tếchấp nhận rộng rãi Các luật sư còn bất đồng về một số lựa

Trang 12

chọn kỹ thuật về chính sách trong CISG Tuy nhiên với tư cách

là điểm xuất phát trong quá trình cải cách luật mua bán vàthương mại hiện đại đối với nước đang nổi lên, CISG mangđến nhiều thuận lợi đáng chú ý

Ngày đăng: 30/03/2016, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w