1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại việt nam

105 433 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp Đánh giá sự phù hợp là một thủ tục được quốc tế thừa nhận để chứng tỏ rằng các yêu cầu cụ thể đối với sản phẩm, quy trình, hệ thống, con

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VŨ VĂN THAO

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VŨ VĂN THAO

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên

cứu của riêng tôi

Các số liệu được nêu trong Luận văn này là trung thực,

có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận

văn có tính độc lập, số liệu và dữ liệu sử dụng trong luận

văn được trích dẫn đúng quy định

Hà Nội, tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Văn Thao

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, các Thầy giáo, Cô giáo; cán bộ chuyên viên phòng Đào tạo – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Tổng Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Vụ Hợp chuẩn Hợp Quy, Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT), các cơ quan Bộ, ngành đã cung cấp thông tin, tài liệu và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Để có được kiến thức và phương pháp nghiên cứu, tôi xin gửi lời cám

ơn sâu sắc đến quý thầy, cô Khoa Kinh tế Chính trị - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội trong thời gian qua đã truyền đạt, giảng dạy cho tôi

Hà Nội, tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Văn Thao

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Danh mục các từ viết tắt i

Danh mục các bảng ii

Danh mục hình iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp 8

1.2.1 Một số khái niệm, thuật ngữ và định nghĩa được sử dụng trong hoạt động đánh giá sự phù hợp 8

1.2.2 Các thành phần cơ bản, chức năng và chuẩn năng lực của các tổ chức đánh giá sự phù hợp 13

1.2.3 Nội dung quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp 16

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp 17

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp 22

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Trung Quốc 22

1.3.3 Kinh nghiệm quản lý của Úc 28

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam 30

Trang 6

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ LUẬN VĂN 32

2.1 Phương pháp tiếp cận 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu 32

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP TẠI VIỆT NAM 35

3.1 Thực trạng hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam 35

3.1.1 Thực trạng các tổ chức đánh giá sự phù hợp 35

3.1.2 Thực trạng hoạt động đánh giá sự phù hợp 37

3.2 Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam 41

3.2.1 Cơ cấu tổ chức hệ thống quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp 41

3.2.2 Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn 43

3.2.3 Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật 44

3.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đánh giá sự phù hợp 56

3.3 Khó khăn, hạn chế của quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp 58

3.3.1 Khó khăn của công tác quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp 58

3.3.2 Hạn chế của công tác quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp 59

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP TẠI VIỆT NAM 62

4.1 Định hướng hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam 62

4.2 Một số giải pháp hoàn thiện quả quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam 66

4.2.1 Giải pháp quy hoạch mạng lưới đánh giá sự phù hợp 66

4.2.2 Giải pháp về chính sách pháp luật quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp 74

4.2.3 Giải pháp thông tin, tuyên truyền 76

Trang 7

4.2.4 Giải pháp về nguồn nhân lực quản lý và thực hiện đánh giá sự

phù hợp 77

4.2.5 Nhóm giải pháp về tài chính, đầu tư; công nghệ và kỹ thuật 78

4.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đánh giá sự phù hợp 80

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 87

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu Nguyên nghĩa

Trang 9

2 Bảng 3.2: Bảng số liệu thống kê tổ chức đánh giá sự

phù hợp đã đăng ký hoạt động với Tổng cục

3 Bảng 3.3: Bảng thống kê số lượng các Quy chuẩn kỹ

thuật đã được ban hành tính đến tháng

4 Bảng 4.1: Đề xuất quy hoạch mạng lưới đánh giá sự

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

1 Hình 3.1: Mô hình thể hiện mối tương quan trong quản

lý hoạt động ĐGSPH tại Việt nam 42

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mọi người, mọi tổ chức luôn quan tâm tìm kiếm một cái gì đó đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của họ Những sản phẩm mà họ mong đợi là gì? Năng lực của con người có thể thực hiện công việc mà họ mong muốn? Những sản phẩm và năng lực của con người cần được cung cấp đúng và có giá cả mà người tiêu dùng có thể chấp nhận được Đồng thời, sản phẩm phải

an toàn, các đặc trưng chất lượng, sinh thái, kinh tế, tính năng, khả năng vận hành, khả năng sử dụng Qúa trình chứng minh những đặc trưng đó đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn, quy chuẩn và các yêu cầu khác được gọi là đánh giá sự phù hợp (ĐGSPH) Theo định nghĩa tại khoản 2.1, ISO 17000 Đánh giá sự phù hợp là sự chứng minh về việc các yêu cầu quy định liên quan đến sản phẩm, quá trình, hệ thống, chuyên gia hoặc tổ chức được thực hiện [24] Còn theo khoản 5, điều 3 Luật tiêu chuẩn Quy chuẩn kỹ thuật được QH11 thông qua ngày 29/6/2006 định nghĩa “Đánh giá sự phù hợp là việc xác định đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý quy định trong tiêu chuẩn tương ứng và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng” [14] Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, ĐGSPH hướng tới việc đảm bảo rằng sản phẩm và dịch vụ được cung cấp như cam kết của nhà sản xuất hoặc nhà cung ứng dịch vụ

Đánh giá sự phù hợp cùng với tiêu chuẩn hóa và đo lường là ba thành

tố tạo nên cơ sở hạ tầng chất lượng của quốc gia Hạ tầng chất lượng quốc gia

có vai trò rất quan trọng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa được sản xuất trong nước đối với hàng hóa nhập khẩu Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006, theo hiệp định hàng rào kỹ thuật

Trang 12

trong thương mại (TBTs- Technical Barriers to trade) thì thủ tục đánh giá sự phù hợp là một trong ba thành tố của hàng rào kỹ thuật thương mại TBTs đưa

ra hàng loạt các hàng rào phi thuế quan (NTBs- Nontariff bariers) được thông báo tới các quốc gia thành viên của tổ chức này trong việc tiếp cận thị trường phi nông nghiệp tại vòng đàm phán DOHA Như rào cản bao gồm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp được phân biệt đối xử, tạo

ra rào cản thương mại không cần thiết hoặc hạn chế thương mại hơn cần thiết[17; 32; 33; 38; 40] Yêu cầu đánh giá sự phù hợp đã gây ra nhiều phiền phức cho các nhà sản xuất, có thể thấy phần lớn các rào cản kỹ thuật trong thương mại gây ra khó khăn đối với việc sản phẩm của các nhà sản xuất tiếp cận thị trường nước ngoài [32; 36] Thực tế, TBTs thông báo tới các quốc gia thành viên lưu ý các vấn đề ở trên, có hơn một nửa số lưu ý này liên quan đến đánh giá sự phù hợp

Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) hướng tới việc đảm bảo rằng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp không khó khăn hơn mức cần thiết Điều quan trọng lưu ý rằng các điều khoản của thỏa thuận không phải chỉ được thực hành một cách riêng lẻ Trong khi các cơ quan quản lý nhà nước không phân biệt đối xử đối với các cá nhân nước ngoài hoặc quốc gia khác, họ cũng là đối tượng của bị quy định bởi hiệp định TBT từ đó xây dựng các thủ tục đánh giá sự phù hợp đáp ứng các yêu cầu cần thiết…

Như vậy, đánh giá sự phù hợp đảm bảo chất lượng sản phẩm và cung cấp sự bảo vệ đối với mối đe dọa tới con người, an toàn và sức khỏe động vật hoặc bảo vệ môi trường Đánh giá sự phù hợp cung cấp khả năng cạnh tranh cho các nhà sản xuất bằng việc tạo ra sự khác nhau trong các sản phẩm của họ so với các đối thủ cạnh tranh về mức độ không chắc chắn trong an toàn, chất lượng hoặc tính năng Ví dụ, Sản phẩm được đánh giá sự phù hợp

Trang 13

tiêu chuẩn an toàn điện tử bởi tổ chức, như là các phòng thử nghiêm, có thể bao gồm năng lực cạnh tranh của sản phẩm không được thực hiện

Tuy nhiên, thủ tục đánh giá sự phù hợp có thể trở thành rào cản kỹ thuật trong thương mại Hàng rào kỹ thuật trong thương mại khẳng định (1)

có sản phẩm đã được thử nghiệm ở ngoài nước, (2) điều chỉnh để đa dạng các yêu cầu cho phù hợp tại các thị trường nước ngoài, (3) trải qua thử nghiệm trùng lặp với cùng một tiêu chuẩn, (4) phải đối mặt với thời gian dài hơn chính thông thường tại các thị trường nước ngoài nào đó, hoặc (5) vượt qua yêu cầu phân biệt đối xử Ví dụ, khi các quan chức nước ngoài quy định không chấp nhận kết quả thử nghiệm sản phẩm hoặc xác định trước đây thu được trong thị trường nội địa của nước xuất khẩu, nhà xuất khẩu thường phải đối mặt với quá trình tốn kèm vì phải trải qua thử nghiệm và chứng nhận một lần nữa trong thị trường nước ngoài Trong khi đó, sự phân biệt trong các yêu cầu đánh giá sự phù hợp trên thị trường toàn cầu tăng chi phí cho sản xuất mà bán ở nhiều thị trường vì họ phải điều chỉnh để yêu cầu duy nhất tại mỗi thị trường Hơn nữa, khi mỗi quốc gia duy trì các thủ tục riêng biệt của mình cho người bán hàng để làm theo đảm bảo chính sản phẩm của mình, một phép nhân của nỗ lực sẽ tồn tại trên thị trường ngay cả khi quy định kỹ thuật và thủ tục thử nghiệm và chứng nhận giống hệt nhau hoặc tương tự [42; 43] Trong một số thị trường, thời gian chính quy định cho các sản phẩm đòi hỏi phải có chứng nhận và thử nghiệm là lâu hơn so với ở các nước khác, dẫn đến chi phí

cơ hội cho các doanh nghiệp không thể bán hàng hóa của mình cho đến khi được thông quan Cuối cùng, phân biệt đối xử đối với các sản phẩm nước ngoài thực hiện về cấp giấy chứng nhận và thử nghiệm các yêu cầu có thể cung cấp một lợi thế cạnh tranh cho sản xuất trong nước hơn các công ty nước ngoài mà từ bỏ nguồn thu bởi vì sản phẩm của họ không được tiếp cận thị trường một cách công bằng Vì vậy, để đáp ứng các yêu cầu quốc tế trong

Trang 14

việc tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam hài hóa

với các chuẩn mực và yêu cầu quốc tế, tôi lựa chọn Luận văn: “Quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam”

2 Câu hỏi nghiên cứu:

- Hoạt động quản lý đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam có đặc điểm

gì, những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý?

- Cơ quan quản lý nhà nước cần có các giải pháp nào để có thể tăng cường công tác quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp

3 Mục tiêu nghiên cứu

Một là, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về ĐGSPH và việc

quản lý hoạt động ĐGSPH

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động ĐGSPH và

công tác quản lý giám sát của cơ quan có thẩm quyền về ĐGSPH

Ba là, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về

ĐGSPH và năng lực tổ chức đánh giá sự phù hợp, tạo sự minh bạch và phù hợp với các chuẩn mực ĐGSPH của quốc tế

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống đánh giá sự phù hợp bao gồm: Tổ chức công nhận; tổ chức chứng nhận; tổ chức giám định; tổ chức kiểm định; Phòng thử nghiệm và phòng hiệu chuẩn

 Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động ĐGSPH của Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ, cơ quan ngang bộ theo phân công, phân cấp quản lý trong Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (2006)

5 Nguồn số liệu

Luận văn có sử dụng tài liệu từ các nguồn sau

 Các báo cáo của chính phủ, bộ ngành, số liệu của cơ quan thống kê

về ĐGSPH

 Các nghiên cứu của các cơ quan, học viện, trường đại học;

Trang 15

 Các tạp chí viết đăng trên báo hoặc các tạp chí chuyên ngành và tạp chí khoa học có liên quan

 Các tài liệu là giáo trình, sách giáo khoa, công trình nghiên cứu liên quan đến luận văn này

 Các báo cáo của các tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu về hoạt động đánh giá sự phù hợp;

 Các số liệu có liên quan đến luận văn do học viên tự thu thập trong

quá trình thực hiện luận văn

6 Kết cấu của luận văn

Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn này gồm 4 chương sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn

quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn

Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam Chương 4: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý

hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam

Trang 16

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ

THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ

SỰ PHÙ HỢP

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Đã có một số công trình nghiên cứu và chỉ ra vai trò của hoạt động đánh giá sự phù hợp đối với thuận lợi trong thương mại và sự phát triển bền vững Tại các quốc gia đang phát triển, hoạt động đánh giá sự phù hợp thường

ít phát triển hơn so với các nước công nghiệp phát triển Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân tích, vai trò, ý nghĩa của việc đánh giá sự phù hợp đối với quá trình giao dịch thương mại, phát triển kinh tế, chứ chưa có nhiều công trình tập trung vào phân tích vai trò, tác động của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động đánh giá sự phù hợp

Tại Việt Nam, các vấn đề có liên quan tới hoạt động ĐGSPH được đề cập trong một số nghiên cứu sau:

Từ năm 1995 đến 1997, với sự tài trợ của Chính phủ Nhật Bản, cơ quan Hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JICA) đã tổ chức nghiên cứu xây dựng một quy hoạch tổng thể phát triển các hoạt động tiêu chuẩn hóa, đo lường, thử nghiệm và quản lý chất lượng ở Việt nam cho các giai đoạn 2005 và

2010 Bản báo cáo cuối cùng của quy hoạch này đã đưa ra những kiến nghị

về các định hướng cơ bản phát triển các mặt hoạt động ở nước ta theo các

xu thế và tập quán quốc tế, phù hợp với việc phát triển nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường

Trong những năm từ 1996-2002, một số đề tài, dự án đã được thực hiện có liên quan đến hệ thống đánh giá sự phù hợp: “dự án quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam đến 2010”

Trang 17

do Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng xây dựng, hoàn thiện vào tháng 12/1997 và đã được Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) phê duyệt theo quyết định số 1467/QĐ-BKHCNMT ngày 08/10/1998 trong đó có chuyên đề “Quy hoạc phát triển hoạt động công nhận và chứng nhận đế năm 2010” Trong báo cáo chuyên đề các tác giả đã đưa ra mô hình quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam

Đề án “Quy hoạch mạng lưới các tổ chức đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam” được hội đồng khoa học Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng nghiệm thu trình Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ký ban hành bản quy hoạch đã chỉ ra một số hạn chế, khó khăn trong Công tác quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam trong những năm gần đây Tuy nhiên, Đề tài nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc quy hoạch hệ thống đánh giá sự phù hợp và sự can thiệp vào thị trường đánh giá sự phù hợp, tập trung vào số lượng các tổ chức được quy hoạch theo vùng kinh tế, theo lĩnh vực chứ chưa đưa ra được các vấn đề như hoàn thiện cơ chế chính sách nâng cao năng lực của các tổ chức đánh giá sự phù hợp, công khai, minh bạch kết quả đánh giá

và thúc đẩy thị trường phát triển theo đúng quy luật thị trường

* Đóng góp của luận văn

Trước hết, luận văn là công trình nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp của các cơ quan quản lý

ở Việt Nam một cách toàn diện và có hệ thống trên dữ liệu cập nhật và các tiêu chí cụ thể Căn cứ vào thực tiễn và tham khảo kinh nghiệm quản lý của một số nước trong khu vực và trên thế giới Kết quả phân tích đã chỉ ra được các thành tựu đã đạt được và đặc biệt các bất cập cơ bản đang hạn chế sự phát triển của hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam Từ đó luận văn có đề xuất một số giải pháp quản lý và phát triển hoạt động đánh giá sự phù hợp:

Trang 18

Thứ nhất, giải pháp quy hoạch mạng lưới hệ thống các tổ chức đánh giá

sự phù hợp Thứ hai, giải pháp về hoàn thiện chính sách pháp luật quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp Thứ ba, giải pháp thông tin, tuyển truyền Thứ tư, giải pháp về nguồn nhân lực quản lý và thực hiện đánh giá sự phù hợp Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động ĐGSPH Ngoài ra, thứ sáu là nhóm giải pháp về tài chính, đầu tư công nghệ và kỹ thuật

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp

1.2.1 Một số khái niệm, thuật ngữ và định nghĩa được sử dụng trong hoạt động đánh giá sự phù hợp

1.2.1.1 Khái niệm quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp

Đánh giá sự phù hợp là một thủ tục được quốc tế thừa nhận để chứng

tỏ rằng các yêu cầu cụ thể đối với sản phẩm, quy trình, hệ thống, con người hay tổ chức đã được đáp ứng Đánh giá sự phù hợp đóng một vai trò quan trọng cho thương mại và sự phát triển bền vững Tại các quốc gia đang phát triển, hoạt động đánh giá sự phù hợp thường ít phát triển hơn so với các nước công nghiệp hóa

Mục đích của đánh giá sự phù hợp là cung cấp lòng tin cho người sử dụng rằng các yêu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ và hệ thống được đáp ứng Niềm tin tưởng đó, đến lượt bản thân nó, sẽ đóng góp trực tiếp cho sự chấp nhận của thị trường đối với các sản phẩm, dịch vụ và hệ thống này Sự tin tưởng của người sử dụng có thể đạt được thông qua sự hợp tác giữa các tổ chức đánh giá sự phù hợp và/hoặc các tổ chức được công nhận, dẫn đến việc thừa nhận lẫn nhau và sự quảng bá xuyên biên giới về công việc của các bên tham gia

Đề cập về tầm quan trọng của thử nghiệm, chứng nhận và công nhận trong nền kinh tế toàn cầu, Tiêu chuẩn ISO/IEC 17011: Đánh giá sự phù hợp – các yêu cầu chung đối với các tổ chức công nhận khi công nhận các tổ chức

Trang 19

đánh giá sự phù hợp, quy định: “Trong lĩnh vực quản lý, cơ quan có thẩm quyền nhà nước thực thi pháp luật liên quan đến việc chấp nhận các sản phẩm, dịch vụ để bảo vệ an toàn, sức khỏe, môi trường, ngăn ngừa gian lận hoặc vì sự công bằng trên thị trường Trong lĩnh vực tự nguyện, nhiều ngành công nghiệp trong phạm vi một nền kinh tế hay toàn cầu, thiết lập các hệ thống đánh giá sự phù hợp và chấp nhận, nhằm đạt được một trình độ kỹ thuật tối thiểu, tạo điều kiện cho việc so sánh [giữa các sản phẩm, dịch vụ, hệ thống

dù toàn bộ hay một phần của sản phẩm hoặc dịch vụ có phải là đối tượng chịu

sự quản lý hay không”[22]

Tổ chức ISO và các tổ chức có thẩm quyền khác định nghĩa về Đánh giá sự phù hợp như sau: “Tất cả các hoạt động liên quan đến việc quyết định trực tiếp hoặc gián tiếp rằng các yêu cầu đưa ra trong tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật phải được đáp ứng Thủ tục ĐGSPH tạo ra một phương thức đảm bảo rằng các sản phẩm, dịch vụ hoặc hệ thống được sản xuất hoặc vận hành với các sản phẩm, dịch vụ hoặc hệ thống được sản xuất hoặc vận hành với các đặc tính theo yêu cầu, và những đặc tính này thống nhất trong các sẩn phẩm, dịch vụ hoặc hệ thống khác nhau Đánh giá sự phù hợp bao gồm: lấy mẫu và thử nghiệm; giám định; chứng nhận; đánh giá hệ thống quản lý chất lượng (kể cả HACCP và quản lý an toàn thực phẩm) và chứng nhận; công nhận năng lực của các hoạt động này và thừa nhận năng lực của tổ chức công nhận Một quy trình đánh giá sự phù hợp cụ thể có thể bao gồm một hay nhiều hoạt động đánh giá sự phù hợp này Trong khi từng hoạt động này là

Trang 20

tách biệt, song chúng vẫn có mối liên hệ mật thiết với nhau Ngoài ra, các tiêu chuẩn được đan xen với nhau trong toàn bộ các khía cạnh của các hoạt động này và có thể có tác động lớn đến kết quả của một quá trình đánh giá sự phù hợp Hoạt động đánh giá sự phù hợp tạo sự liên kết quan trọng giữa tiêu chuẩn (xác định những đặc tính cần thiết hoặc các yêu cầu đối với sản phẩm)

và môi trường; và các dịch vụ được cung cấp theo một phương thức thống nhất Thực chất, ĐGSPH là hoạt động xác định một sản phẩm, dịch vụ hoặc

hệ thống đáp ứng các yêu cầu của một tiêu chuẩn cụ thể Tiêu chuẩn là tài liệu

kỹ thuật miêu tả những đặc tính quan trọng của sản phẩm, dịch vụ hoặc hệ thống đó và những yêu cầu cơ bản phải được đáp ứng”

[Trên phạm vi quốc tế], ĐGSPH thực hiện việc tái đảm bảo cho người sử dụng và tạo cho họ niềm tin về tính thống nhất của sản phẩm, dịch vụ hoặc hệ thống Đánh giá sự phù hợp giúp đảm bảo rằng, sản phẩm, dịch vụ và hệ thống đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn về tính ổn định, tương thích, hiệu quả và an toàn Vì vậy, tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp gắn liền với nhau Chúng cùng ảnh hưởng tới mọi khía cạnh của xã hội và rất quan trọng trong duy trì và cải thiện chất lượng cuộc sống Mặc dù định nghĩa nêu trên rất đơn giản, nhưng trong thực tế có nhiều hoạt động đa dạng và phức tạp tạo nên một hệ thống đánh giá sự phù hợp của một quốc gia Những hoạt động này bao gồm xác nhận năng lực của những tổ chức cung cấp dịch vụ đánh giá sự phù hợp, tương

Trang 21

tác với các tổ chức quốc tế liên quan, đóng góp làm giảm thiểu các rào cản thương mại tiềm tàng và tham gia vào thúc đẩy an toàn và sức khỏe cộng đồng

Tại Việt Nam, Đánh giá sự phù hợp được hiểu là việc xác định đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý quy định trong tiêu chuẩn tương ứng và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Đánh giá sự phù hợp bao gồm hoạt động thử nghiệm, hiệu chuẩn, giám định, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy, công bố hợp chuẩn, công

bố hợp quy, công nhận năng lực của phòng thử nghiệm, phòng hiệu chuẩn, tổ chức chứng nhận sự phù hợp, tổ chức giám định Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật Đối tượng quản lý, khách thể quản lý chủ yếu là quản lý con người Ngoài ra còn quản lý các khách thể khác như tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật… chủ thể quản lý có thể là một người, một tổ chức, một bộ máy…

Trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người, quản lý xuất hiện như một tất yếu khách quan Có thể có nhiều dạng quản lý, nhiều chủ thể quản lý khác nhau trong sự vận động và phát triển của xã hội, ở đây xin đưa

ra một dạng quản lý rất cơ bản đặc thù, đó là quản lý nhà nước, Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối v v để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định Như vậy, qua định nghĩa về quản lý nhà nước có thể nói, nhà nước

là chủ thể quản lý, sử dụng các quyền lực nhà nước, ý chí nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội

và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu, có hiệu quả cao trong giai đoạn nhất định

Trang 22

 Chứng nhận hợp chuẩn là việc xác nhận đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn tương ứng [14; 15]

 Chứng nhận hợp quy là việc xác nhận đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng [14; 15]

 Công bố hợp chuẩn là việc tổ chức, cá nhân tự công bố đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn phù hợp với tiêu chuẩn tương ứng [14; 15]

 Công bố hợp quy là việc tổ chức, cá nhân tự công bố đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng [14; 15]

 Công nhận là việc xác nhận phòng thử nghiệm, phòng hiệu chuẩn, tổ chức chứng nhận phù hợp, tổ chức giám định có năng lực phù hợp với các tiêu chuẩn tương ứng[14; 15]

 Tổ chức chứng nhận sự phù hợp là tổ chức tiến hành hoạt động thử nghiệm, giám định, kiểm định, chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm, hàng hóa, quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng [14; 15]

 Tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định là tổ chức đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định công bố danh sách để tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh lựa chọn sử dụng dịch vụ đánh giá sự phù hợp phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước[14; 15]

1.2.1.2 Tiêu chuẩn

Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế- xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này

Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyên áp dụng [14]

Trang 23

1.2.1.3 Quy chuẩn kỹ thuật

Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật

và yêu cầu quản lý mà sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế- xã hội phải tuân thủ để bảo đảm

an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác

Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng [14]

1.2.2 Các thành phần cơ bản, chức năng và chuẩn năng lực của các

tổ chức đánh giá sự phù hợp

1.2.2.1 Tổ chức Công nhận

Tổ chức công nhận là tổ chức điều hành và quản lý hệ thống công nhận

và tiến hành công nhận

a Tiêu chí đối với Cơ quan công nhận là:

Cơ quan công nhận phải đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn ISO/IEC 17011:2004

- Yêu cầu chung đối với cơ quan công nhận công nhận các tổ chức đánh giá sự

phù hợp và các chỉ dẫn chung của diễn đàn công nhận (IAF)

b Điều kiện hoạt động của Cơ quan công nhận là:

 Có tư cách pháp nhân, hoạt động độc lập, được Bộ Khoa học và Công nghệ trình Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập và hoạt động

 Có đội ngũ chuyên gia đánh giá đã được đào tạo, thấu hiểu về tiêu chuẩn ISO/IEC 17025, ISO/IEC 17020 và ISO/IEC 17065; có đủ năng lực, trình độ và kinh nghiệm theo quy định trong TCVN ISO 19011: 2002 hoặc các yêu cầu của tiêu chuẩn quốc tế tương ứng;

 Xây dựng bộ máy và điều hành hoạt động công nhận đáp ứng các yêu cầu quy định trong Tiêu chuẩn Việt Nam hoặc tiêu chuẩn quốc tế trong phạm

vi công nhận

Trang 24

 Tổ chức công nhận không được phép tư vấn dưới bất kỳ hình thức nào cho các tổ chức có nhu cầu được công nhận và/hoặc chứng nhận

1.2.2.2 Tổ chức chứng nhận sản phẩm

Tổ chức chứng nhận sản phẩm là tổ chức sự nghiệp kỹ thuật thuộc các

cơ quan quản lý hoặc doanh nghiệp hoạt động dịch vụ chứng nhận thực hiện việc chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn

a Tiêu chí đối với Tổ chức chứng nhận sản phẩm là:

 Tổ chức chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa cần phải điều hành hoạt động chứng nhận đáp ứng với các yêu cầu nêu tại TCVN ISO/IEC 17065:2013 và các hướng dẫn liên quan của Diễn đàn Công nhận Quốc tế (IAF)

 Tổ chức chứng nhận phải thực hiện chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo các phương thức quy định tại TCVN ISO/IEC 17065:2013 Các phương thức chứng nhận áp dụng đối với từng sản phẩm, hàng hóa do Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ) hướng dẫn cụ thể

b Điều kiện hoạt động của Tổ chức chứng nhận sản phẩm là:

 Có tư cách pháp nhân, hoạt động độc lập

 Có đội ngũ cán bộ đã được đào tạo, có đủ năng lực, trình độ và kinh nghiệm về kiểm tra, đánh giá điều kiện sản xuất và sản phẩm phục vụ cho việc chứng nhận sản phẩm, hàng hóa theo quy định trong TCVN ISO 19011:2002 hoặc các yêu cầu của tiêu chuẩn quốc tế tương ứng

 Có phòng thử nghiệm đủ năng lực xác định các chỉ tiêu chất lượng trọng yếu của sản phẩm, hàng hoá

Trong trường hợp tổ chức chứng nhận chưa đủ năng lực thử nghiệm tất

cả các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm, hàng hóa, được quyền hợp tác với phòng thử nghiệm đủ năng lực của một tổ chức khác thông qua hợp đồng thử nghiệm ký kết giữa hai bên (ưu tiên hợp tác với tổ chức thử nghiệm/chứng nhận đã được công nhận hoặc các phòng thử nghiệm đã được chỉ định)

Trang 25

 Tổ chức chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa không được phép tư vấn cho các đơn vị, tổ chức xin chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào

 Thực hiện việc đăng ký hoạt động chứng nhận tại Bộ Khoa học và Công nghệ

1.2.2.3 Tổ chức chứng nhận hệ thống quản lý

Tổ chức chứng nhận hệ thống quản lý là tổ chức sự nghiệp kỹ thuật thuộc các cơ quan quản lý hoặc doanh nghiệp hoạt động dịch vụ chứng nhận

thực hiện việc chứng nhận hệ thống quản lý

a Tiêu chí đối với Tổ chức chứng nhận hệ thống quản lý là:

Tổ chức chứng nhận hệ thống quản lý cần phải điều hành hoạt động chứng nhận đáp ứng với các yêu cầu nêu tại:

TCVN ISO/IEC 17021:2005 và các hướng dẫn liên quan của Diễn đàn Công nhận Quốc tế (IAF) đối với hoạt động chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng; hệ thống quản lý môi trường Ngoài ra, đối với các Tổ chức chứng nhận

hệ thống ISO 22000 cần phải đáp ứng thêm các yêu cầu của FSMS 22003 cũng như đáp ứng của ISMS ISO 27006 đối với Tổ chức chứng nhận ISO 27001

b Điều kiện hoạt động

 Có tư cách pháp nhân, hoạt động độc lập

 Có đội ngũ chuyên gia đánh giá đã được đào tạo, có đủ năng lực, trình độ và kinh nghiệm theo quy định trong TCVN ISO 19011: 2002 hoặc các yêu cầu của tiêu chuẩn quốc tế tương ứng

 Tổ chức chứng nhận hệ thống quản lý không được phép tư vấn cho các đơn vị, tổ chức xin chứng nhận hệ thống dưới bất kỳ hình thức nào

 Thực hiện việc đăng ký hoạt động chứng nhận tại Bộ Khoa học và Công nghệ theo quy định hiện hành

Trang 26

1.2.2.4 Tổ chức giám định

Tổ chức giám định: là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ giám định

a Tiêu chí đối với Tổ chức giám định là:

Theo TCVN ISO/IEC 17020: 2001 - Yêu cầu chung đối với các tổ chức tiến hành công nhận tổ chức giám định

b Điều kiện hoạt động của Tổ chức giám định là:

 Theo Luật Thương mại ngày 14/6/2005

 Theo Nghị định số 20/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006

1.2.2.5 Phòng thử nghiệm, phòng hiệu chuẩn

Phòng thử nghiệm là phòng thí nghiệm thực hiện các phép thử (trích TCVN 6450:1998) Phòng hiệu chuẩn là tổ chức có đủ điều kiện theo quy định để tiến hành các hoạt động hiệu chuẩn đối với từng lĩnh vực đo cụ thể [16]

Theo TCVN ISO/IEC 17025:2005 - Yêu cầu chung về năng lực phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn

1.2.2.6 Tổ chức kiểm định

Tổ chức kiểm định là tổ chức có thẩm quyền hoặc được ủy quyền kiểm định thực hiện việc xác định và chứng nhận đối với phương tiện đo (bắt buộc phải kiểm định) đáp ứng các yêu cầu quy định (Luật Đo lường)

Tiêu chí, điều kiện đối với Tổ chức kiểm định gồm có:

 Có tư cách pháp nhân,

 Có chuẩn đo lường phù hợp,

 Có kiểm định viên đạt trình độ quy định

1.2.3 Nội dung quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp

Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về đánh giá sự phù hợp như hoạt động thử nghiệm; hoạt động giám định; hoạt động chứng nhận; kiểm định chất lượng; hoạt động công nhận và công bố

Trang 27

Hướng dẫn và tổ chức thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật

Xây dựng, phê duyệt các chính sách, chiến lược quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp trong nước và ngoài nước (tổ chức thử nghiệm; tổ chức giám định; tổ chức chứng nhận; tổ chức kiểm định), đưa ra các biện pháp, tổ chức phổ biến, hướng dẫn triển khai thực hiện sau khi được phê duyệt

Chỉ định các tổ chức ĐGSPH khi ban hành các Quy chuẩn kỹ thuật đối với hang hóa nhóm 2 (Hàng hóa có thể gây mất an toàn)

Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động ĐGSPH

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp

1.2.4.1 Nhân tố về cơ chế chính sách

Trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về hoạt động đánh giá sự phù hợp nói riêng thì yếu tố cơ chế chính sách có tác động rất lớn tới sự hoạt động và phát triển đánh giá sự phù hợp Hoạt động đánh giá sự phù hợp ở nước ta được bắt đầu từ năm 1990, cùng với sự phát triển của hoạt động quản lý chất lượng, hoạt động đánh giá sự phù hợp ở nước

ta được hình thành và phát triển Hoạt động đánh giá sự phù hợp đã được Đảng và nhà nước quan tâm, tạo điều kiện phát triển để góp phần tích cực cho phát triển Kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế Trong đó trước hết phải kể đến việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho hoạt

động đánh giá sự phù hợp

Pháp lệnh số 49-LCT/HDDNN8 ngày 27/12/1990 của Hội đồng Nhà nước về chất lượng hàng hóa, trong đó chương 4 quy định chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam, chương này quy định điều kiện các tổ chức tham gia hoạt động chứng nhân, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, quy định

Trang 28

về việc sử dụng dấu chứng nhận Đây là pháp lênh mở đầu, làm cơ sở pháp lý

cho hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam

Năm 1999 Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa sửa đổi Nghị định số 179/2004 của Chính phủ quy định quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm

Tháng 6 năm 2006 Quốc Hội khóa 11 kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật trong đó khẳng định lại một lần nữa đối tượng của hoạt động đánh giá sự phù hợp “Đánh giá sự phù hợp là việc xác định đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý quy định trong tiêu chuẩn tương ứng và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Đánh giá sự phù hợp bao gồm hoạt động thử nghiệm, hiệu chuẩn, giám định, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy, công bố hợp chuẩn, công

bố hợp quy, công nhận năng lực của phòng thử nghiệm, phòng hiệu chuẩn, tổ chức chứng nhận sự phù hợp, tổ chức giám định” Ngày 1/8/2007 Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 127/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật yêu cầu điều kiện hoạt động của tổ chức đánh giá sự phù hợp như Tổ chức Công nhận, tổ chức chứng nhận; tổ chức giám định; phòng thử nghiệm, phòng hiệu chuẩn; điều kiện thừa nhậ, chấp nhận kết quả đánh giá sự phù hợp và vai trò của các cơ quan quản lý trong việc quản lý nhà nước về đánh giá sự phù hợp

Ngoài ra, một số văn bản của các Bộ chủ quản quy định các điều kiện

bổ sung hoặc các hướng dẫn thực hiện của các tổ chức đánh giá sự phù hợp đối với các sản phẩm, hàng hóa theo phân công quản lý của Chính phủ

Trên bình diện quốc tế, việc chấp nhận các chuẩn mực chung cho các tổ chức đánh giá sự phù hợp dựa trên tiêu chuẩn quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Trang 29

Việc xây dựng các tiêu chuẩn được Uỷ ban đánh giá sự phù hợp (CASCO) của ISO xây dựng và xuất bản thành ấn phẩm chung ISO/IEC điều chỉnh các khía cạnh của hoạt động đánh giá sự phù hợp và các tổ chức tiến hành hoạt độngnày CASCO là ban phát triển chính sách của ISO về đánh giá sự phù hợp, báo cáo hội đồng ISO CASCO được thành lập năm 1970 để nghiên cứu các cách thức đánh giá sự phù hợp, chuẩn bị tài liệu liên quan đến thực hành

và tiến hành hoạt động đánh giá sự phù hợp thúc đẩy việc sử dụng chúng CASCO gồm các đại diện đến từ các thành viên ISO (các cơ quan tiêu chuẩn quốc gia), từ các ban kỹ thuật xây dựng các tiêu chuẩn ISO, và từ các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế khác ISO/CASCO xây dựng các tài liệu của mình với IEC

và ủy ban tiêu chuẩn hóa Châu Âu (CEN) Đến nay, CASCO đã xây dựng các tiêu chuẩn và hướng dẫn quốc tế về thực hành đánh giá sự phù hợp, các tổ chức công nhận sử dụng tiêu chuẩn và hướng dẫn quốc tế này: Từ vựng và các nguyên tắc chung về đánh giá sự phù hợp; xây dựng các chỉ tiêu kỹ thuật phù hợp để sử dụng trong đánh giá sự phù hợp; quy chế thực hành tốt về đánh giá sự phù hợp; vận hành các phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn; Thử nghiệm thành thạo trong so sánh liên phòng thí nghiệm; các tổ chức giám định và hoạt động; tuyên bố sự phù hợp của nhà cung ứng (SDoC); các tổ chức chứng nhận sản phẩm và hoạt động; Các tổ chức chứng nhận và giám định hệ thống quản

lý và hoạt động; Các tổ chức chứng nhận con người và hoạt động; Dấu phù hợp; Công nhận; Đánh giá đồng đẳng; thừa nhận lẫn nhau các kết quả đánh giá sự phù hợp

1.2.4.2 Nhân tố phát triển kinh tế xã hội

Nền kinh tế nước ta đang phát triển mạnh mẽ theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Việc nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã tạo tiền đề để thương mại nước ta hòa nhập với sự phát triển thương mại toàn cầu Hàng hóa, dịch vụ của nước ta sẽ có điều kiện thâm

Trang 30

nhập thị trường thế giới, hạn ngạch và hàng rào thuế quan dần được bãi bỏ thay vào đó là hàng rào kỹ thuật trong thương mại Các nước nhập khẩu hàng hòa của nước ta sẽ đòi hỏi khắt khe hơn về chất lượng, an toàn, vệ sinh, họ sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn các chứng chỉ kiểm tra, giám định và phiếu kết quả thử nghiệm, họ yêu cầu các tổ chức đánh giá sự phù hợp tiến hành hoạt động đánh giá sự phù hợp đối với các sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu sang nước họ phải đáp ứng các yêu cầu và chuẩn mực quốc tế

Tự do hóa thương mại cũng đòi hỏi chúng ta phải tăng cường kiểm tra, kiểm soát hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác, phải có những tổ chức đánh giá sự phù hợp có đủ năng lực kỹ thuật để xác định các chỉ tiêu, chất lượng,

an toàn vệ sinh của hàng hóa nhập khẩu Ví dụ: các chỉ tiêu melamin trong sữa, thành phần nguyên tố Bo trong thép nhập khẩu…Yêu cầu phát triển kinh

tế xã hội của đất nước đòi hỏi hoạt động đánh giá sự phù hợp ở nước ta phát triển mạnh hơn có sự thay đổi và hoàn thiện nội dung hình thức hoạt động mang lại hiệu quả cao cho kinh tế xã hội

Cùng với đó, Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới đang diễn ra những thay đổi to lớn theo xu hướng toàn cầu hóa Là một trong nước đang phát triển, nằm trong khu vực năng động và tốc độ tăng trưởng cao, Việt Nam đã và đang có những nỗ lực vượt bậc để nhanh chóng hội nhập về kinh tế với các nước trong khu vực và thế giới Để tăng cường các mối quan hệ đối ngoại, để hàng hóa sản xuất tại Việt Nam có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế và khu vực, chúng ta càn đsặc biệt lưu ý đến việc hạn chế và xóa bỏ hàng rào kỹ thuật trong thương mại Một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện điều này là cần đẩy mạnh hoạt động đánh giá sự phù hợp và tham gia hoạt động thừa nhận lẫn nhau trên bình diện quốc tế và khu vực…

Trang 31

Toàn cầu hóa ảnh hưởng tới trao đổi, thương mại, công nghệ, truyền thông, sức khỏe và an toàn, bảo vệ môi trường, quốc phòng….Toàn cầu hóa cũng mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho các tổ chức đánh giá sự phù hợp Toàn cầu hóa cũng làm cho nhận thức về giá trị của hoạt động đánh giá

sự phù hợp trên thế giới càng tăng

1.2.4.3 Nhân tố về năng lực của tổ chức đánh giá sự phù hợp

Năng lực của tổ chức đánh giá sự phù hợp là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến hoạt động đánh giá sự phù hợp Mong đợi của các bên liên quan về giá trị gia tăng của hoạt động đánh giá sự phù hợp mang lại thách thức và yêu cầu đối với tổ chức công nhận Gía trị của đánh giá sự phù hợp còn được thể hiện thông qua sự thừa nhận quốc tế về kết quả đánh giá sự phù hợp, hỗ trợ cho quá trình hội nhập

Nếu các tổ chức đánh giá sự phù hợp không tiếp tục hoàn thiện cơ cấu

tổ chức và phát triển năng lực sẽ khó đáp ứng được nhu cầu phát triển và đòi hỏi ngày càng cao của các chuẩn mực quốc tế theo các tiêu chuẩn quốc tế được tổ chức ISO/CASCO xây dựng về yêu cầu năng lực của các tổ chức đánh giá sự phù hợp Việc phát triển của các tổ chức đánh giá sự phù hợp thông qua việc liên tục soát xét HTQLCL hiện có và thường xuyên định kỳ thực hiện đánh giá nội bộ và bên ngoài, tổ chức đánh giá sự phù hợp sẽ tìm ra các cơ hội cải tiến Sự phát triển của các tổ chức đánh giá sự phù hợp còn thông qua việc phát triển năng lực của đội ngũ chuyên gia đánh giá, năng lực của các thử nghiệm viên trong thử nghiệm thành thạo…Tổ chức đánh giá sự phù hợp cần phải đáp ứng các yêu cầu mới nhưng phải duy trì được năng lực

và uy tín trong nước và quốc tế

Tính độc lập và khách quan của tổ chức công nhận là một trong tiêu chí, yêu cầu quan trọng và là một mục riêng biệt trong tiêu chí của tổ chức công nhận Tính độc lập, khách quan được thể hiện thông qua tổ chức đánh

Trang 32

giá sự phù hợp không có bất kỳ một xung đột tiềm ẩn về quyền lợi và đồng thời có nguồn tài chính ổn định và không bị áp lực bởi các cơ quan quản lý trong hoạt động đánh giá sự phù hợp, khách hàng hoặc áp lực về tài chính và thương mại hoặc bất kỳ một áp lực nào để có thể ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình đánh giá và việc ra quyết định về sự phù hợp Thậm chí, một số tổ chức quốc tế yêu cầu tổ chức đánh giá sự phù hợp phải có hợp đồng bảo hiểm về rủi ro trong hoạt động đánh giá sự phù hợp để không làm rủi ro đối với các tổ chức được đánh giá sự phù hợp

1.2.4.4 Nhân tố về công nghệ

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ phải được đẩy mạnh nhằm khai thác những cơ hội mà toàn cầu hóa mang lại

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày càng nhanh, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó dự báo trước và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người

Thời gian đưa sản phẩm, hàng hóa vào phục vụ các nhu cầu thiết yếu của con người và vòng đời công nghệ ngày càng ngắn Lợi thế cạnh tranh đang thuộc về các tổ chức đánh giá sự phù hợp biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác đánh giá, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và luôn thay đổi của khách hàng

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Trung Quốc

Đầu năm 2001, Trung Quốc tiến hành điều chỉnh đối với hệ thống đánh giá sự phù hợp theo các yêu cầu, chuẩn mực quốc tế và cũng phản ánh thực tiễn hoạt động này tại Trung Quốc Ví dụ, sự hợp nhất các cơ quan công nhận,

Trang 33

trước đây các cơ quan này trực thuộc các Bộ ngành khác nhau thành một cơ quan hoạt động công nhận quốc gia Điều này là cần thiết để loại bỏ nhiều tổ chức công nhận và đạt tên là CCC (China compulsory Certification) để thay thế cho “Great Wall Mark” được sử dụng đối với sản phẩm trong nước, và

“CCIB Mark” nhắm vào sản phẩm nhập khẩu trước khi gia nhập WTO Trong khi đó, Trung Quốc đã có những tiến bộ trong việc thúc đẩy sự công nhận lẫn nhau về kết quả đánh giá sự phù hợp với các nước và các khu vực khác Ví

dụ, gần đây Trung Quốc đã ký một thỏa thuận công nhận lẫn nhau với các chính phủ New Zealand để ĐGSPH cho thiết bị và linh kiện điện và điện tử

Hệ thống đánh giá sự phù hợp tại Trung Quốc có thể tóm tắt các thành phần chính như sau:

- Luật, các quy định về đánh giá sự phù hợp

- Hệ thống tiêu chuẩn hóa

- Hệ thống quy định hành chính

- Hệ thống công nhận

- Hệ thống chứng nhận sản phẩm bắt buộc và hoạt động chứng nhận sản phẩm khác

- Sự tham gia và đóng góp của Trung Quốc trong các hoạt động quốc tế liên quan đến đánh giá sự phù hợp

Nhờ có sự điều chỉnh này, hiện nay, Hệ thống đánh giá sự phù hợp của Trung Quốc về cơ bản là hoạt động ổn định, đáp ứng các yêu cầu chung của quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Trung Quốc, sau đây là một số thành tựu cơ bản của công tác quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Trung Quốc

a Quy hoạch được mạng lưới tổ chức ĐGSPH

Đối với tổ chức chứng nhận

Hiện nay, các tổ chức chứng nhận được phân bố tập trung trụ sở chính tại 03 thành phố: Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu và các chi nhánh của tổ

Trang 34

chức chứng nhận được phân bố tại khắp Trung Quốc (ví dụ như The China Quality Certification Center (CQC) có trụ sở chính tại Bắc Kinh và 11 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố khác tại Trung Quốc) Tại các khu vực giáp biển thì các tổ chức chứng nhận nhiều hơn ở sâu trong đất liền vì việc phân bổ như vậy phục vụ, thúc đẩy việc xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc (hiện nay, Trung Quốc chủ yếu là xuất khẩu hàng hóa đi các nước trên thế giới)

CNAS (China National Accreditation Service for Conformity Assessment)

đã công nhận hơn 130 tổ chức chứng nhận (80% tổ chức chứng nhận tại Bắc Kinh, còn lại ở các tỉnh khác) Các tổ chức chứng nhận trong nước không phải

là tổ chức công lập có 100% vốn của nhà nước (ví dụ như CQC hiện nay thuộc Tập đoàn Chứng nhận và Kiểm nghiệm Trung Quốc nhưng vẫn có 1

phần vốn của nhà nước) (tương tự như tại Việt Nam, các tổ chức này được

thực hiện theo cơ chế tự chủ tài chính theo nghị định 115)

Các tổ chức chứng nhận này phải đăng ký và được CNCA (Certification and Accreditation Administration of China) phê duyệt mới được thực hiện hoạt động chứng nhận

Đối với tổ chức thử nghiệm

Hiện nay, tại Trung Quốc có 4550 phòng thử nghiệm đã được CNAS công nhận, tập trung chủ yếu tại các tỉnh, thành phố đang phát triển: Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Đông, Giang Tô Các phòng thử nghiệm này có năng lực thử nghiệm sản phẩm, hàng hóa

Để nâng cao năng lực thử nghiệm thì Chính phủ cũng sẽ đầu tư và các tỉnh cũng sẽ đầu tư thiết bị cho các phòng thử nghiệm Việc đầu tư này mang tính trọng điểm theo nguyên tắc vùng tùy thuộc vào sản phẩm đặc thù của vùng đó Bên cạnh đó, hiện nay một số tư nhân cũng tự đầu tư thiết

bị để thử nghiệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa Hiện nay, Trung Quốc cũng đang định hướng đầu tư nâng cao năng lực thử nghiệm tập trung, tránh dàn trải, lãng phí

Trang 35

Tại Trung Quốc, đối với các sản phẩm tại vùng nào (khu vực nào) thì phải gửi thử nghiệm tại khu vực đó và phòng thử nghiệm được CNCA chỉ định (đối với các sản phẩm bắt buộc chứng nhận) Ví dụ: sản phẩm tại Thượng Hải thì phải gửi thử nghiệm tại phòng thử nghiệm khu vực Thượng Hải, nếu không có thì phải gửi phòng thử nghiệm gần đó

Đối với tổ chức giám định

CNAS đã công nhận 357 tổ chức giám định, có trụ sở chính tập trung tại các tỉnh, thành phố: Bắc Kinh, Giang Tô, Phúc Kiến, Thượng hải, Quảng Đông, Sơn Đông và các chi nhánh tại các tỉnh khác trên khắp cả Trung Quốc nhưng chủ yếu tập trung tại các tỉnh có bờ biển, sát biển để phục vụ giám định hàng xuất khẩu

b Về công tác chứng nhận

Hoạt động chứng nhận tại Trung Quốc được triển khai thực hiện căn

cứ vào các Luật và Điều lệ về Chứng nhận và công nhận năm 2003 (Điều lệ

này tương đương với Nghị định tại Việt Nam) và văn bản quản lý hướng dẫn

thực hiện

Hoạt động chứng nhận tại Trung Quốc được chia thành 02 loại: hoạt

động tự nguyện và hoạt động bắt buộc (Điều này cũng giống như ở nước ta

nhận phải thông báo lên CNCA để được phép thực hiện chứng nhận các hệ thống này Nếu CNCA chưa cho phép thì không được thực hiện chứng nhận

các hệ thống này

Trang 36

Hiện nay, tại Trung Quốc có hơn 174 tổ chức chứng nhận đang hoạt động, trong đó có 136 tổ chức trong nước, 38 tổ chức nước ngoài Đối với tổ chức chứng nhận chưa được CNCA phê duyệt thì doanh nghiệp phải làm báo cáo gửi CNCA và CNCA sẽ xem xét Yêu cầu đối với tổ chức chứng nhận: phải có 10 chuyên gia làm toàn thời gian (trong đó có 05 chuyên gia đánh giá trưởng), có trình độ chuyên môn phù hợp được đào tạo chuyên gia đánh giá và các chuyên gia này được cấp thẻ mới được thực hiện đánh giá (một chuyên gia chỉ được đăng ký cấp thẻ tại 01 tổ chức chứng nhận) Việc cấp thể do CCAA thực hiện Đối với chuyên gia đánh giá hoạt động độc lập, không thuộc tổ chức

đánh giá sự phù hợp thì các chuyên gia này cũng phải có thẻ chuyên gia

Hoạt động chứng nhận bắt buộc (gắn dấu CCC)

Được thực hiện căn cứ trên cơ sở Danh mục bắt buộc phải chứng nhận Nguyên tắc đưa sản phẩm vào Danh mục này là đảm bảo an toàn, môi trường, EMC (đối với 1 số sản phẩm điện-điện tử) Hiện nay, tại Trung Quốc 149 sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm bắt buộc chứng nhận, gắn dấu CCC trước khi lưu thông trên thị trường (gồm cả sản phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu) như thiết bị điện, điện tử; đồ chơi trẻ em; thiết bị viễn thông; sản phẩm

y tế, phụ tùng xe máy, kính xây dựng, máy móc nông nghiệp, thiết bị chữa cháy,… Hiện nay, CNCA chỉ định 13 tổ chức chứng nhận và 152 phòng thử nghiệm và các tổ chức này được phân bố trên địa bàn các tỉnh tại Trung Quốc

Sản phẩm sau khi được cấp giấy chứng nhận, doanh nghiệp phải đến Trung tâm cấp dấu CCC (Lãnh đạo Trung tâm này do CNCA quản lý và Trung tâm này có hơn 100 cán bộ) để đăng ký mẫu dấu trước khi sử dụng và phải trả phí (1 lần) Dấu CCC có thể được in hoặc khắc trên sản phẩm, bao bì sản phẩm Trung tâm này có in dấu CCC và bán cho doanh nghiệp (nếu doanh nghiệp yêu cầu) Trường hợp doanh nghiệp tự in dấu CCC thì doanh nghiệp

Trang 37

phải đăng ký mẫu dấu, kế hoạch sử dụng, phương án in và Trung tâm cấp dấu trước khi sử dụng Nếu tổ chức chứng nhận phát hiện doanh nghiệp sử dụng sai, vi phạm thì có quyền đình chỉ, thu hồi giấy chứng nhận và dấu CCC Thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận là 5 năm, 12 tháng thực hiện giám sát 1 lần

Tiêu chuẩn để chứng nhận: là tiêu chuẩn của Trung Quốc (GB), các tiêu chuẩn cơ bản đều dựa trên tiêu chuẩn ISO, IEC

Về việc cấp thẻ chuyên gia đánh giá

- Việc cấp thẻ chuyên gia do CCAA (China Certification and Accreditation Association) thực hiện Hiện nay, CCAA có hơn 400 hội viên

và đều tham gia tự nguyện (trong đó toàn bộ các tổ chức chứng nhận, tổ chức đào tạo đều là hội viên; còn 1 số ít là tổ chức thử nghiệm, tổ chức tư vấn và doanh nghiệp)

- Để được cấp thẻ chuyên gia đánh giá thì chuyên gia được đào tạo và thi tại 1 tổ chức đào tạo được đăng ký, xác nhận năng lực như: cán bộ đào tạo phải tốt nghiệp đại học, hiểu cách thức chứng nhận, có kiến thức về QLCL thì mới được phép đào tạo) Sau khi có chứng chỉ đào tạo, chuyên gia đó phải đăng

ký thi tại CCAA để được chứng chỉ và cấp thẻ chuyên gia đánh giá Tuy nhiên, việc cấp thẻ chỉ áp dụng cho chuyên gia đánh giá HTQL, còn đối với các chuyên gia đánh giá sản phẩm thì chỉ cấp chứng chỉ (IRCA- The International Register

of Certificated Auditors), thẻ chuyên gia đánh giá thì chuyên gia đó phải thực hiện việc chuyển đổi sang chứng chỉ, thẻ chuyên gia của Trung Quốc

- Chứng chỉ và thẻ chuyên gia có giá trị 03 năm, trong thời gian hiệu lực của chứng chỉ, chuyên gia phải duy trì quá trình đánh giá theo quy định

(Hiện nay, tại Việt Nam mới chỉ áp dụng cấp thẻ cho chuyên gia đánh giá hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 trong các cơ quan hành chính nhà nước, chưa thực hiện cấp thẻ cho chuyên gia đánh giá hệ thống quản lý nói chung và đánh giá sản phẩm Do đó, vấn đề này nên được xem xét, nghiên cứu học tập kinh nghiệm áp dụng tại Việt Nam)

Trang 38

c Về công tác thử nghiệm

Yêu cầu phòng thử nghiệm phải có năng lực thử nghiệm và phải được đăng ký (đối với phòng thử nghiệm bên thứ 3) mới được thực hiện thử nghiệm

d Về công tác công nhận

Cơ quan quản lý hoạt động công nhận: CNCA

Số lượng tổ chức công nhận: Hiện tại Trung Quốc chỉ có duy nhất 01

tổ chức công nhận quốc gia (CNAS thành lập năm 2002)

Mô hình tổ chức của CNAS

- Hội đồng công nhận gồm 64 thành viên bao gồm cơ quan chính phủ (các Bộ: Công Thương; Giao Thông; Thể Thao; Ngân Hàng; Hải Quan…), các tổ chức ĐGSPH, khách hàng của tổ chức ĐGSPH, người sử dụng, cơ quan chuyên môn và các chuyên gia kỹ thuật

- Ban chấp hành của Hội đồng công nhận gồm 13 thành viên

- Chuyên gia đánh giá và chuyên gia kỹ thuật có khoảng 4000 người

- Tổng số nhân viên của CNAS là 230 người làm việc tại 15 phòng, ban

Các tổ chức chứng nhận muốn được CNAS công nhận thì phải đăng

ký và được CNCA phê duyệt trước khi đăng ký công nhận (Hiện nay, tại Việt Nam chưa thực hiện, trên thực tế Văn phòng Công nhận Chất lượng – BoA đánh giá công nhận cho nhiều tổ chức chứng nhận nhưng các tổ chức chứng nhận này chưa đăng ký lĩnh vực hoạt động theo quy định tại Thông tư số 08/2009/TT-BKHCN và Thông tư số 10/2011/TT-BKHCN)

1.3.3 Kinh nghiệm quản lý của Úc

Về hoạt động chứng nhận:

Úc không có quy định chung về quản lý hoạt động chứng nhận Các tổ chức chứng nhận hoạt động như một doanh nghiệp và phải tuân thủ các quy định liên quan Về nguyên tắc, việc thành lập, tồn tại và phát triển của các tổ chức chứng nhận được điều tiết theo cơ chế thị trường

Trang 39

Không có con số thống kê chính xác về số lượng tổ chức chứng nhận đang hoạt động tại Úc Con số ước tính là khoảng 80-90 tổ chức Hoạt động chứng nhận cũng được chia thành 02 loại hình là chứng nhận tự nguyện và chứng nhận bắt buộc (Điều này tại Việt Nam thường dùng thuật ngữ Chứng nhận Hợp chuẩn (tự nguyện) và chứng nhận hợp quy (bắt buộc)) Ví dụ: chứng nhận bắt buộc như đối với một số sản phẩm Điện- Điện tử…Đối với các chương trình chứng nhận tự nguyện, việc công nhận là không bắt buộc Thực tế cũng cho thấy có các tổ chức chứng nhận chưa được công nhận hoạt động Tuy nhiên, có thể thấy rằng các cơ quan chính phủ và các bên liên quan

ở Úc đã làm rất tốt công tác tuyên truyền nhận thức cho người tiêu dùng Do

đó, các hình thức chứng nhận tự nguyện (hệ thống, sản phẩm) không có công nhận gần như không được người tiêu dùng chấp nhận

Vai trò của nhà nước trong hoạt động tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp

Cơ quan nhà nước xử lý các vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn và đánh giá

sự phù hợp nói chung và hoạt động công nhận nói riêng là Bộ Công nghiệp, trực tiếp là Chi nhánh về các vấn đề Thương mại và Quốc tế thuộc bộ này

Úc không có quy định quản lý chung về hoạt động đánh giá sự phù hợp (bao gồm chứng nhận, thử nghiệm, giám định, công nhận) Chính phủ Úc và

Trang 40

chính quyền các tiểu bang có thể có các quy định cụ thể liên quan đến tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp (như ví dụ về Primesafe hay EESS - the electrical equipment safety system)

Về bản chất, biện pháp quản lý của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường đánh giá sự phù hợp trong đó có các tổ chức đánh giá sự phù hợp theo đúng với đẳng cấp

và xu hướng quốc tế, theo các chuẩn mực quốc tế Nhà nước cũng làm tốt công tác tuyên truyền nhận thức, giáo dục và định hướng cho người tiêu dùng trên thị trường Theo định hướng này, chính phủ Úc công nhận và có quan hệ chặt chẽ với nhóm 4 tổ chức được xem như nhóm cơ sở hạ tầng về tiêu chuẩn

và sự phù hợp phục vụ cho việc cải tiến hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của nền công nghiệp Úc 04 tổ chức này bao gồm

- Standart Australia: Cơ quan tiêu chuẩn hóa của Úc

- NMI: Viện đo lường quốc gia của Úc

- JAS-ANZ: Tổ chức công nhận của Úc và New Zealand

- NATA: Hiệp hội Quốc gia các cơ quan thử nghiệm của Australia

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý hoạt động đánh giá

sự phù hợp tại Việt Nam

Xu hướng hiện nay trên thế giới là khuyến khích việc thừa nhận, chấp nhận các kết quả đánh giá sự phù hợp theo thỏa ước thừa nhận song phương

và đa phương về hoạt động đánh giá sự phù hợp nghĩa là “một tiêu chuẩn; một lần đánh giá và được chấp nhận tại mọi nơi” Qua thực tiễn công tác quản

lý, hoạt động đánh giá sự phù hợp trong thời gian qua và kinh nghiệm thực tiễn của các nước bạn, chúng ta nên học tập kinh nghiệm như sau:

Kinh nghiệm của CNAS tại Trung Quốc cho thấy, việc hợp nhất tất cả các tổ chức công nhận thành một tổ chức công nhận duy nhất để tránh chồng chéo chức năng và gây cản trở, tốn thời gian và kinh phí cho các tổ chức đăng

Ngày đăng: 30/03/2016, 15:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 3.1:  Số lượng các tổ chức đánh giá sự phù hợp - Quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại việt nam
1 Bảng 3.1: Số lượng các tổ chức đánh giá sự phù hợp (Trang 9)
1  Hình 3.1:  Mô hình thể hiện mối tương quan trong quản - Quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại việt nam
1 Hình 3.1: Mô hình thể hiện mối tương quan trong quản (Trang 10)
Hình 3.1: Mô hình thể hiện mối tương quan trong quản lý hoạt động ĐGSPH - Quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại việt nam
Hình 3.1 Mô hình thể hiện mối tương quan trong quản lý hoạt động ĐGSPH (Trang 52)
Bảng 3.3: Bảng thống kê số lƣợng các Quy chuẩn kỹ thuật đã đƣợc ban - Quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại việt nam
Bảng 3.3 Bảng thống kê số lƣợng các Quy chuẩn kỹ thuật đã đƣợc ban (Trang 55)
Bảng 4.1: Đề xuất quy hoạch mạng lưới đánh giá sự phù hợp - Quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại việt nam
Bảng 4.1 Đề xuất quy hoạch mạng lưới đánh giá sự phù hợp (Trang 81)
Phụ lục 2: Bảng thống kê số lƣợng tổ chức chứng nhận phân bố theo các - Quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại việt nam
h ụ lục 2: Bảng thống kê số lƣợng tổ chức chứng nhận phân bố theo các (Trang 101)
Phụ lục 3: Bảng thống kê số lƣợng tổ chức giám định phân bố theo các - Quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại việt nam
h ụ lục 3: Bảng thống kê số lƣợng tổ chức giám định phân bố theo các (Trang 102)
Phụ lục 4: Bảng thống kê số lƣợng tổ chức kiểm định phân bố theo các - Quản lý hoạt động đánh giá sự phù hợp tại việt nam
h ụ lục 4: Bảng thống kê số lƣợng tổ chức kiểm định phân bố theo các (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w