Trong khuôn khổ luận văn này, học viên đề xuất một số giải pháp tiết kiệm năng lượng cho hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giảm thiểu phát thải khí nhà kính, góp
Trang 10ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC -
LA THIẾU SƠN
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM NĂNG LƢỢNG
CHO HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC -
LA THIẾU SƠN
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM NĂNG LƢỢNG
CHO HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THỦY SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Trọng Hiệu
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và trích dẫn rõ ràng nguồn gốc
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
La Thiếu Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian và quá trình học tập, nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn tới GS TS Nguyễn Trọng Hiệu – người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết trực tiếp hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô trong Khoa sau đại học và thầy cô các trường đại học khác tham gia giảng dạy lớp cao học Biến đổi khí hậu khóa 2, Khoa sau đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng các thầy cô đang công tác tại các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và hỗ trợ cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đang công tác tại các sở, ngành của tỉnh Kiên Giang, cùng với các ngư dân tham gia đánh bắt thủy sản trên địa bàn tỉnh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian khảo sát thu thập dữ liệu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể học viên lớp cao học Biến đổi khí hậu khóa 2 và khóa 1, Khoa sau đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội đã góp ý và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Hà Nội, tháng 11/2015
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
La Thiếu Sơn
Trang 51.1 Tổng quan về các vấn đề liên quan ở ngoài nước 5
1.1.1 Tổng quan về biến đổi của các yếu tố khí hậu và hiện tượng
1.1.3 Tổng quan về giảm nhẹ KNK trong lĩnh vực thủy sản trên thế
1.2 Tổng quan về các vấn đề liên quan ở trong nước 8
1.2.3 Giảm nhẹ khí nhà kính trong lĩnh vực thủy sản ở Việt Nam 15
2.1.3 Phương pháp xây dựng giải pháp và đánh giá chi phí – hiệu
Trang 62.2.3 Hiện trạng về qui mô kĩ thuật đánh bắt thủy sản và phát thải
2.2.4 Các chính sách chính hiện nay đang áp dụng trong hoạt động
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG GIẢM
3.1 Tiềm năng giảm phát thải KNK trong lĩnh vực thủy sản 44
3.1.1 Thay thế loại nhiên liệu sử dụng trong hoạt động KTTS 44
3.1.2 Nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới, xây dựng tiêu chuẩn kĩ
3.1.4 Cải tiến kĩ thuật năng lượng trong hoạt động KTTS 49
3.2 Đề xuất các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính 51
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Đọc là
1 BĐKH Biến đổi khí hậu
2 BVMT Bảo vệ môi trường
Gross Domestic Product
8 IPCC Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu
Intergovernmental Panel on Climate Change
9 IUCN Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên
Thiên nhiên International Union for Conservation of Nature
17 UNDP Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
United Nations Development Programme
Trang 81.1 Biến động nhiệt độ toàn cầu và nồng độ CO2 6 Hình 1.2 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm vào cuối thế kỷ 21 so với giai
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
a Vai trò quan trọng của hoạt động khai thác thủy sản ở Kiên Giang
Việt Nam với diện tích tự nhiên là 330.000 km² bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền, bờ biển dài khoảng 3.260 km và xấp xỉ 4.200 km² biển nội thuỷ Với hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước ta được xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền, khoảng trên 1 triệu km² Toàn quốc có 28 trong số 64 tỉnh, thành phố nằm ven biển, diện tích các huyện ven biển chiếm 17% tổng diện tích cả nước và là nơi sinh sống của hơn 1/5 dân số Việt Nam (Chiến lược biển Việt Nam đến 2020) Vì vậy, thủy sản có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, được xác định là một trong những ngành có nhiều tiềm năng và thế mạnh của nước ta
Theo số liệu đã công bố của Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản trong giai đoạn 2000 - 2009 tăng từ 26.498 tỷ đồng lên 125.930 tỷ đồng (theo giá thực tế), đặc biệt trong giai đoạn 1998-2008 có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhất thế giới đạt trung bình 18%/năm Năm 2009, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam đạt 4,85 triệu tấn, trong đó nuôi trồng thủy sản đạt gần 2,57 triệu tấn và khai thác thủy sản đạt trên 2,28 triệu tấn, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 3 về sản lượng nuôi trồng thủy sản và đứng thứ 13 về sản lượng khai thác thủy sản trên thế giới Trong các hoạt động của ngành thủy sản, khai thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng Sản lượng khai thác hải sản tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hằng năm khoảng 7,7% (giai đoạn
1991 - 1995), 10% (giai đoạn 1996 - 2003) và 3,5% (giai đoạn 2004-2009) (nguồn Tổng Cục Thống Kê) Bên cạnh đó, ngành khai thác thuỷ sản luôn giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh, chủ quyền trên biển, ổn định xã hội và phát triển kinh tế các vùng ven biển, hải đảo, góp phần thực hiện chiến lược quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, cũng đồng thời tạo ra hàng ngàn việc làm trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho ngành thủy sản
Tỉnh Kiên Giang là cửa ngõ hướng ra biển Tây của nước ta, cũng như của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển, đảo và giao thương các nước trong khu vực và quốc tế, đặc biệt là, khai thác và nuôi trồng thủy sản…Với diện tích 63.290 km2, trong đó diện tích ở độ sâu dưới 20m là 15.440
km2, ở độ sâu 20-50m là 33.960 km2 và ở độ sâu trên 50m là 13.890 km2, có nhiều cửa sông, kênh rạch đổ ra biển, tạo nguồn thức ăn tự nhiên phong phú cung cấp cho các loài hải sản cư trú và sinh sản, ngư trường Kiên Giang là một trong các ngư trường khai thác trọng điểm của cả nước Đặc biệt trong vùng biển Kiên Giang có sự hiện
Trang 10diện của 143 hòn đảo, với 105 hòn đảo nổi lớn, nhỏ, trong đó 43 hòn đảo có dân cư sinh sống
Theo điều tra của Viện nghiên cứu biển Việt Nam, vùng biển ở đây có trữ lượng cá, tôm khoảng 465.000 tấn, trong đó vùng nước với độ sâu 20 - 50 m có trữ lượng chiếm 56% và trữ lượng cá tôm ở tầng nổi chiếm 51,5%, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng, tức là hàng năm có thể khai thác trên 208.000 tấn; bên cạnh
đó còn có các loài đặc sản giá trị cao như mực, hải sâm, bào ngư, trai ngọc, sò huyết,…với trữ lượng khá lớn (Quy hoạch phát triển ngành thủy sản tỉnh Kiên Giang đến 2020)
Theo số liệu thống kê từ Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tỉnh Kiên Giang hiện có khoảng 10.813 tàu đánh cá, trong đó có gần 3.725 tàu loại nhỏ có công suất dưới 20 CV (chiếm 34,5% tổng số tàu) thường xuyên hoạt động ven bờ, khai thác tự phát, hoặc làm các nghề hạn chế, nghề cấm gây tổn hại rất nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản tại khu vực này Tuy nhiên, cũng như các các vùng biển khác của Việt Nam, khu vực biển Kiên Giang đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi, ô nhiễm môi trường ngiêm trọng do tình trạng khai thác quá mức, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay
b Vấn đề tiết kiệm năng lượng trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Kiên Giang
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Những báo cáo gần đây của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã xác nhận rằng biến đổi khí hậu đã và đang gây ra nhiều tác động nghiêm trọng đến các điều kiện tự nhiên và mọi hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm
vi toàn cầu và do đó các nước trên thế giới đang ra sức ứng phó với biến đổi khí hậu, bao gồm thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ biến đổi khí hậu Là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, Việt Nam đang nỗ lực thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm giảm thiểu những tác động của biến đổi khí hậu
và thực hiện các giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu
Kiên Giang là một trong 13 tỉnh thành vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đang chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra, đặc biệt là các hiện tượng thời tiết cực đoan, xâm nhập mặn, triều cường.v.v., và do đó phải ưu tiên thực hiện các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu Mặt khác, là một tỉnh có nhiều hoạt động đánh bắt, khai thác, chế biến thủy sản, sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch
Trang 11nên Kiên Giang có nhiệm vụ và khả năng thực hiện các giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu, thông qua các hoạt động tiết kiệm năng lượng
Năng lượng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, là một trong các nhu cầu thiết yếu đối với sinh hoạt của nhân dân và cũng chính là yếu tố đầu vào không thể thiếu của rất nhiều ngành kinh tế tác động đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trong hoàn cảnh hiện nay, sử dụng năng lượng, nhất
là năng lượng hóa thạch (than, dầu, khí đốt) luôn kèm theo nguy cơ phát thải dư thừa các chất khí gây hiệu ứng nhà kính như CO2, CH4, N2O, SO2, CO,… một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiệt độ của Trái Đất tăng lên
Vì vậy, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong ngành đánh bắt thủy sản là nhiệm vụ thực sự có tính cấp thiết ở tỉnh Kiên Giang Trong khuôn khổ luận văn này, học viên đề xuất một số giải pháp tiết kiệm năng lượng cho hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giảm thiểu phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Kiên Giang
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn được thực hiện với các mục tiêu sau đây:
(1) Nắm vững các nguồn năng lượng, đặc biệt là năng lượng sử dụng cho hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
(2) Đề xuất các giải pháp tiết kiệm năng lượng nhằm giảm bớt phát thải khí nhà kính trong hoạt động khai thác thủy sản ở Kiên Giang
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là quy mô (số lượng tàu, thuyền tham gia) và thời
gian tiến hành các hoạt động khai thác thủy sản, kỹ thuật khai thác và mức
độ sử dụng nhiên liệu hóa thạch
- Phạm vi nghiên cứu:lĩnh vực đánh bắt thủy sản trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang
4 Nội dung nghiên cứu
- Hiện trạng hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh
+ Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế, xã hội của tỉnh Kiên Giang
+ Số lượng tàu, thuyền, công suất máy của tàu thuyền tham gia hoạt động khai thác thủy sản
+ Thời gian hoạt động trên biển và lượng dầu tiêu hao
Trang 12+ Đóng góp của hoạt động thủy sản trong hoạt động kinh tế, xã hội của tỉnh Kiên Giang
+ Phát thải khí nhà kính quy đổi từ lượng dầu tiêu hao trong hoạt động đánh bắt
+ Các chính sách chính hiện nay đang áp dụng trong hoạt động KTTS
- Các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong hoạt động khai thác thủy sản và khả năng giảm khí nhà kính
+ Tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính trong hoạt động khai thác thủy sản
+ Các kỹ thuật năng lượng trong hoạt động khai thác thủy sản và khả năng cải tiến + Các chính sách hổ trợ cho hoạt động khai thác thủy sản
5 Những đóng góp của đề tài
Các kết quả nghiên cứu, đánh giá của đề tài sẽ là cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp về mặt kỹ thuật và chính sách cho việc tiết kiệm năng lượng trong hoạt động khai thác thủy sản và thực hiện đề án tiết kiệm điện tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011-
2015 và 2016 - 2020
- Về mặt kinh tế: tiết kiệm được chi phí tiêu hao năng lượng, tăng hiệu quả kinh
tế
- Về mặt xã hội: tiết kiệm nguồn tài nguyên năng lượng cho cộng đồng
- Về mặt môi trường: giảm thiểu phát thải khí nhà kính
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung Luận văn được trình bày trong 3 chương với nội dung chủ yếu sau đây:
Chương 1: Tổng quan các vấn đề liên quan Nội dung của chương này tập
trung vào biểu hiện của biến đổi khí hậu, kịch bản phát thải khí nhà kính và giảm nhẹ biến đổi khí hậu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và số liệu Chương này giới thiệu các
phương pháp nghiên cứu của luận văn và các số liệu liên quan đến hoạt động đánh bắt thủy sản và các chính sách hiện hành trong lĩnh vực thủy sản
Chương 3: Các giải pháp tiết kiệm năng lượng giảm phát thải khí nhà kính trong hoạt động khai thác thủy sản ở Kiên Giang Chương này giới thiệu tiềm năng
giảm nhẹ khí nhà kính trong lĩnh vực thủy sản qua các cải tiến về kỹ thuật và đổi mới
về chính sách thủy sản, từ đó đề xuất các giải pháp giảm nhẹ khí nhà kính trong hoạt động đánh bắt thủy sản, bao gồm các giải pháp kỹ thuật và cả giải pháp về chính sách Cuối chương là một số đánh giá chi phí – lợi ích của các giải pháp
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.4 Tổng quan về các vấn đề liên quan ở ngoài nước
1.1.1 Tổng quan về biến đổi của các yếu tố khí hậu và hiện tượng cực đoan
Từ khoảng giữa thế kỷ 19, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các quan trắc khí tượng được định lượng chi tiết và đến nay đã thu thập được dãy số liệu khí hậu chính xác trong hơn một thế kỷ qua Những số liệu cho thấy nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ 20 đã tăng lên 0,74oC ( 0,2oC); trên đất liền tăng nhiều hơn trên biển và giai đoạn 1995 – 2006 được xếp vào danh sách 12 năm nóng nhất trong lịch sử quan trắc nhiệt độ (IPCC, 2007)
Hình 1.1 Biến động nhiệt độ toàn cầu và nồng độ CO 2 – Nguồn IPCC [21]
Trong thời kì 1901 – 2005, lượng mưa cũng có những biến động đáng kể, tăng lên ở các khu vực phía Bắc vĩ độ 20 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới, tuy xu thế không
rõ rệt như nhiệt độ Hiện tượng mưa lớn tăng lên ở trên nhiều khu vực, kể cả những nơi lượng mưa có xu thế giảm đi và hạn hán xảy ra từ thập kỉ 1950 trên phần lớn lãnh thổ Bắc Phi, Canada và Alaska, kể cả các vùng có lượng mưa tăng lên Cùng với xu thế tăng nhiệt độ toàn cầu là sự xuất hiện các dị thường của nhiệt độ Trên các đại lục
ở bán cầu Bắc, trong những năm gần đây xuất hiện hàng loạt kỷ lục về nhiệt độ cao nhất và thấp nhất, kéo theo sự gia tăng của thiên tai (bão, lũ, lụt, hạn hán, tố, lốc ) và các hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, rét đậm, rét hại, mưa lớn v.v ) Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) tại Hội nghị các Bên Công ước khí hậu ở Cancun tháng 12/2010, các hiện tượng thời tiết cực đoan lớn nhất trong năm 2010 là: Nắng nóng lịch sử gây cháy rừng, hạn hán ở LB Nga, Ukraina, Bêlarut và một số nước khác
ở Châu Âu; Mưa lớn, lũ lụt ở Pakistan, Nêpan, Trung Quốc, các nước vùng Ban căng (châu Âu), Việt Nam…; giá rét ở Canada, Anh, Đông Bắc Trung Quốc… Trong 6 tháng đầu năm 2011, hạn hán nặng nhất trong vòng 50 năm qua xảy ra ở miền trung của Trung Quốc, ảnh hưởng đến 34 triệu người, trong khi đó mưa lớn và lũ lụt nghiêm
Trang 14trọng xảy ra ở 2 tỉnh phía Nam là Quý Châu và Hồ Nam làm hàng chục nghìn người phải sơ tán
1.1.2 Tổng quan về giảm nhẹ biến đổi khí hậu
Trong chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu, ngoài chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu còn có chiến lược giảm nhẹ biến đổi khí hậu với nội dung chủ yếu là giảm nhẹ phát thải khí nhà kính Quá trình giảm nhẹ phát thải khí nhà kính được thực hiện trên cơ sở đề xuất các kịch bản khí nhà kính và từ đó xây dựng các kế hoạch giảm nhẹ khí nhà kính Từ sau năm 1990 đã có hàng trăm kịch bản về phát thải khí nhà kính bao quát tình hình toàn cầu trong suốt thế kỷ XXI, bao gồm:
- Kịch bản ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển;
- Kịch bản ổn định mức độ phát thải của thế giới;
- Kịch bản thuộc hành lang phát thải;
- Và các kịch bản khác
Tuy nhiên cho đến nay, Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) chỉ chú trọng đến loại kịch bản ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển Đối tượng của kịch bản chủ yếu là phát thải khí CO2 từ lĩnh vực năng lượng, chuyển đổi sử dụng đất, phát thải từ các quá trình công nghiệp và các nguồn phát thải khác Năm 1995, IPCC
đã xây dựng một báo cáo đặc biệt (SRES) về 6 kịch bản về phát thải khí nhà kính tương lai toàn cầu: A1FI, A1T, A1B, A2, B1,B2 và chúng được gộp lại thành 4 họ: A1,
A2, B1,B2 [19]
Theo IPCC lượng phát thải CO2 vào năm 2020 là 12 tỷ tấn C, đến năm 2040 từ
8 tỷ tấn C của (B1) đến 19,5 tỷ tấn C của (A1FI) Từ sau năm 2050 lượng phát thải CO2của hai kịch bản A1FI và A2 và tiếp tục tăng lên và đạt tới xấp xỉ 30 tỷ tấn C vào năm
2100
Tương ứng với các kịch bản về phát thải khí nhà kính tương lai toàn cầu là các kịch bản mô tả triển vọng tương lai về nồng độ khí CO2 trong khí quyển, gọi là kịch bản về nồng độ khí nhà kính Theo IPCC, nồng độ khí CO2 trong khí quyển vào giữa thế kỷ XXI (2050) và cuối thế kỷ XXI (2100) đạt tới 470-610 và 550-970 ppm, cao hơn rất nhiều so với thời kỳ tiền công nghiệp (280 ppm) và so với năm 2000 (368 ppm) Tuy nhiên nếu phát thải tương lai toàn cầu phát triển theo đúng kịch bản A1T hoặc B1 thì nồng độ trong khí quyển chỉ ở mức 550-580 ppm Như vậy từ các kịch bản
về nồng độ khí nhà kính đã có thể định hướng cơ bản chiến lược giảm nhẹ biến đổi khí hậu
Trang 15Chiến lược giảm khí nhà kính trên thế giới bao gồm:
Các công nghệ và kỹ thuật giảm khí nhà kính tiếp tục được phát triển rộng rãi trên thế giới: Phần lớn công nghệ đều tập trung vào việc hoàn thiện hiệu suất năng lượng hoá thạch, hiệu suất sử dụng điện và phát triển nguồn năng lượng ít cácbon Cường độ năng lượng và cường độ cácbon đã và đang được giảm dần trong 100 năm qua ở các nước phát triển Phần lớn các thay đổi là kết quả sự chuyển dịch từ nhiên liệu nhiều cácbon như than đến nhiên liệu ít cácbon hơn là dầu và khí tự nhiên, thông qua việc hoàn thiện hiệu suất năng lượng Cùng với sự ra đời của thuỷ điện và năng lượng hạt nhân, nhiều nhiên liệu phi hoá thạch cũng phát triển nhanh chóng và có nhiều tiềm năng giảm khí nhà kính Các bể chứa CO2, tuốc bin gió, năng lượng tái tạo, năng lượng nguyên tử… cũng có vai trò giảm khí nhà kính trong tương lai
Các phương án kỹ thuật giảm khí nhà kính được thực hiện trong hầu hết các lĩnh vực bao gồm năng lượng công nghiệp, xây dựng giao thông và nông nghiệp Trong lĩnh vực năng lượng công nghiệp, xây dựng giao thông ngoài giải pháp sử dụng năng lượng tái tạo còn có các giải pháp công nghệ khác, có thể giảm phát thải khí nhà kính tới mức 15-35% vào năm 2020 Trong lĩnh vực nông nghiệp, có các giải pháp chuyển đổi sử dụng đất và lâm nghiệp; cải thiện kĩ thuật nông nghiệp và quản lý chất thải (quản lý chăn nuôi, quản lý ruộng lúa)
Trên thế giới đã có nhiều nước phát triển xây dựng kế hoạch tăng tỉ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sử dụng lên đến 50% hoặc cao hơn nữa từ giữa thế
kỉ 21 Nhiều nước khác cũng đã xây dựng các giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu thông qua giảm phát thải KNK trong các lĩnh vực giao thông vận tải Đặc biệt quan trọng là các giải pháp giảm nhẹ KNK thông qua trồng rừng, việc chống suy thoái rừng được quan tâm sâu sắc ở các nước đang phát triển với nền kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp
1.1.3 Tổng quan về giảm nhẹ KNK trong lĩnh vực thủy sản trên thế giới
Từ những năm 1800 nhiên liệu hóa thạch bắt đầu được sử dụng cho các tàu khai thác hải sản có gắn động cơ chạy bằng hơi nước và liên tục tăng nhanh trong suốt thế
kỷ 20 Sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã trở thành nét đặc trưng của các đội tàu khai thác hải sản hiện đại (Tyedmers, 2001, 2004), đã tạo điều kiện cho việc áp dụng các công nghệ hiện đại trong hoạt động khai thác hải sản, nâng cao chất lượng sản phẩm
và cải thiện điều kiện làm việc của ngư dân [24, 25]
Trang 16- Các nghiên cứu của Wiviott and Mathews, 1975; Rochereau, 1976; Leach, 1976; Edwardson, 1976; Rawitscher 1978; Lorentzen, 1978; Allen 1981; Watanabe and Uchida, 1984; Watanabe and Okubo, 1989; Tyedmers, 2000 đã chỉ ra rằng nhiên liệu hóa thạch đầu vào cho ngành thủy sản chiếm từ 75% đến 90% tổng năng lượng sử dụng, 10% đến 25% còn lại bao gồm các năng lượng được đầu tư trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến việc xây dựng, bảo trì, cung cấp ngư cụ và lao động [22]
- Năm 2008, Dr Robert G Latorre và Joseph P Cardella V đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá lượng phát thải khí của đội tàu khai thác hải sản của Mỹ Nghiên cứu này nhằm vào đội tàu có chiều dài lớn hơn 22,9m (1050 chiếc) Kết quả cho thấy, lượng khí CO2, NOx, CO và CH4 được thải ra trong một ngày lần lượt là 16995 tấn,
306 tấn, 40 tấn và 13 tấn [23] Năm 2012, Peter Tyedmers và Robert Parker thuộc Đại học Dalhousie đã tiến hành nghiên cứu về tiêu thụ nhiên liệu và phát thải khí nhà kính của ngành khai thác cá ngừ toàn cầu Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các sản phẩm từ việc khai thác cá ngừ tiêu thụ nhiều năng lượng hơn so với nuôi trồng và các sản phẩm có nguồn gốc từ chăn nuôi, tổng lượng nhiên liệu tiêu thụ của nghề khai thác cá ngừ toàn cầu năm 2009 khoảng 3 tỷ lít, tương đương với phát thải 9 triệu tấn CO2.[26]
1.2 Tổng quan về các vấn đề liên quan ở trong nước
1.2.1 Biểu hiện của BĐKH và các kịch bản BĐKH ở Việt Nam
Trong vài thập kỷ vừa qua, ở Việt Nam đã xuất hiện các đợt nắng nóng, rét đậm rét hại, hạn hán, mưa lớn, lũ lụt kỉ lục Nhiều cơn bão mạnh xuất hiện với đường đi phức tạp… gây nhiều thiệt hại về kinh tế - xã hội và môi trường Những nghiên cứu gần đây cho thấy các diễn biến bất thường nói trên phù hợp với xu thế của biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng khốc liệt hơn
Ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm đã tăng 0,5 – 0,7 o
C trong khoảng 50 năm qua Trong 3 thập kỷ gần đây, 1981 – 2010, số đợt không khí lạnh qua Bắc Bộ giảm rõ rệt, trung bình từ 29 đợt/ năm xuống còn 24 đợt/ năm Trong thời kỷ 1960 – 2007, số cơn bão hoạt động trên Biển Đông tăng lên với tốc độ 0,45 cơn/thập kỷ Số cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam cũng tăng lên trung bình 0,226 cơn/thập kỷ, tỉ trọng bão ảnh hưởng đến khu vực phía Nam tăng lên Số ngày mưa phùn trung bình năm ở phía Bắc giảm rõ rệt, từ 35,8 ngày trong thập kỷ 1971 - 1980, xuống còn 14,5 ngày/năm trong
10 năm gần đây Biến động của lượng mưa trong 9 thập kỷ vừa qua không nhất quán,
có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống Trên lãnh thổ Việt Nam, xu thế biến động của lượng mưa cũng rất phức tạp, tăng lên trên hầu hết khu vực phía Nam và giảm đi trên các khu vực phía Bắc Trong 50 năm qua, mực nước biển trung bình trên các đoạn bờ biển Việt Nam tăng 2,5 - 3,0cm/1 thập kỷ [5,6]
Trang 17Trong khuôn khổ của Chương trình Mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu, năm
2009 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và công bố kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam dựa trên kịch bản phát thải khí nhà kính và kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) Tuy nhiên kịch bản năm 2009 chỉ chi tiết đến vùng khí hậu và vùng biển của Việt Nam, trong khi đó yêu cầu thực tiễn cần có kịch bản chi tiết tới cấp tỉnh và nhỏ hơn Vì vậy năm 2011, Bộ Tài nguyên Môi trường đã cập nhật bổ sung dữ liệu, kiến thức mới về
hệ thống khí hậu và đưa ra các kịch bản chi tiết hơn phù hợp với thực tiễn
Kịch bản năm 2011 xây dựng dựa trên các sản phẩm của mô hình hoàn lưu khí quyển toàn cầu AGCM của Viện nghiên cứu Khí tượng Nhật Bản (MRI); mô hình khí hậu khu vực PRECIS của Vương quốc Anh; các phần mềm thống kê SDSM của Hoa Kỳ; SIMCLIM của New Zealand Các kịch bản khí hậu được xây dựng theo các kịch bản phát thải khí nhà kính toàn cầu bao gồm: Kịch bản phát thải thấp B1; kịch bản phát thải trung bình (B2,A1B); kịch bản phát thải cao (A2,A1FI) Kết quả như sau [1]:
Nhiệt độ
- Theo kịch bản phát thải thấp: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm tăng 1,6 – 2,2oC trên phần lớn lãnh thổ Việt Nam Nhìn chung nhiệt độ phía Bắc tăng nhanh hơn phía Nam
- Theo kịch bản phát thải trung bình: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình tăng
2 – 3oC trên phần lớn lãnh thổ Khu vực Hà Tĩnh đến Quảng Trị tăng nhanh nhất
- Theo kịch bản phát thải cao: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình tăng 2,5 – 3,7oC
(a) Kịch bản B1 (b) Kịch bản B2 (c) Kịch bản A2
Hình 1.2 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm vào cuối thế kỷ 21 so với giai đoạn 1980
Trang 18– 1999 theo các kịch bản – Nguồn MONRE [2]
Hình 1.3 Mức thay đổi lƣợng mƣa năm (%) vào cuối thế kỷ 21so với giai đoạn 1980
– 1999 theo các kịch bản – Nguồn MONRE [2]
Nước biển dâng
- Theo kịch bản phát thải thấp B1: Cuối thế kỷ 21, trung bình toàn dải ven biển Viêt Nam, mực nước biển dâng khoảng 49 – 64 cm
- Theo kịch bản phát thải trung bình B2: Cuối thế kỷ trung bình toàn dải ven biển mực nước dâng 57 – 73 cm, khu vực Ca Mau, Kiên Giang có mức tăng cao hơn
so với các khu vực khác
- Theo kịch bản phát thải cao A1FI: Cuối thế kỷ 21, trung bình toàn dải ven biển mực nước dâng tư 78 – 95 cm, khu vực Cà Mau, Kiên Giang có thể tăng tối đa
105 cm
Trang 191.2.2 Giảm nhẹ biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu, mục tiêu của chiến lược quốc gia về BĐKH bao gồm:
- Đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, an sinh xã hội, sức khỏe cộng đồng, nâng cao đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu
- Nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển bền vững; giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc trong phát triển kinh tế - xã hội
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của các bên liên quan; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực; hoàn thiện thể chế, chính sách, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và vị thế của Việt Nam; tận dụng các cơ hội từ biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế - xã hội; phát triển và nhân rộng lối sống, mẫu hình tiêu thụ thân thiện với hệ thống khí hậu
- Góp phần tích cực với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế của Việt Nam để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu
Để thực hiện các mục tiêu trên, chính phủ đã xây dựng nhiều giải pháp khác nhau, trong đó có một số nhằm giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bao gồm:
- Phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới
Rà soát quy hoạch và phát triển thủy điện hợp lý, đa mục tiêu, đến năm 2020, tổng công suất các nhà máy thủy điện đạt khoảng 20.000 – 22.000 MW
Đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất năng lượng từ các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng mới, bao gồm năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học, năng lượng vũ trụ; xây dựng và triển khai rộng rãi các chính sách huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế - xã hội trong ứng dụng và nhân rộng sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo
Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia theo hướng phát triển đồng bộ các nguồn năng lượng; tăng tỷ lệ các nguồn năng lượng mới và tái tạo lên khoảng 5% tổng năng lượng thương mại sơ cấp vào năm 2020 và khoảng 11% vào năm 2050
- Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng
Trang 20Tái cơ cấu kinh tế theo hướng giảm các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng; tăng cường, khuyến khích các ngành sử dụng năng lượng thấp
Xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ, khuyến khích, tạo động lực sử dụng hiệu quả năng lượng trong các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt trong giao thông vận tải, phát triển đô thị, công nghiệp, nông nghiệp; rà soát và thải loại dần các công nghệ kém hiệu quả, tiêu hao nhiều năng lượng, gây phát thải khí nhà kính Đến năm 2015, hoàn thành việc rà soát và ban hành kế hoạch loại dần các công nghệ kém hiệu quả
Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ, thiết bị, sản phẩm tiêu dùng
sử dụng năng lượng hiệu quả, sử dụng năng lượng phi hóa thạch, phát thải thấp, đặc biệt trong các ngành giao thông, đô thị, công nghiệp, nông nghiệp
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống định giá năng lượng phù hợp nhằm sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và khuyến khích phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo Đến năm 2015, ban hành hệ thống định giá năng lượng mới
Áp dụng các công nghệ tiên tiến để nâng cao hiệu suất phát điện và giảm phát thải khí nhà kính tại tất cả các nhà máy nhiệt điện xây mới; triển khai ứng dụng hệ thống phát điện cỡ nhỏ dùng khí mê-tan thu hồi từ các bãi chôn lấp rác thải và các nguồn khác; thu hồi khí đốt, tận dụng nhiệt thừa của các nhà máy sản xuất công nghiệp
để phát hiện và đốt chất thải rắn phát điện
Nâng cao hiệu quả sử dụng, tiết kiệm và bảo tồn năng lượng; giám sát và theo dõi tình trạng sử dụng năng lượng của các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng; áp dụng các tiêu chuẩn về hiệu quả năng lượng đối với các sản phẩm, hệ thống nhãn tiết kiệm năng lượng
- Sản xuất công nghiệp và xây dựng
Nghiên cứu, triển khai ứng dụng công nghệ mới ít phát thải khí nhà kính trong sản xuất công nghiệp; đẩy mạnh thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng các nhiên liệu phát thải các-bon thấp; ứng dụng sâu rộng sản xuất sạch hơn, đến năm 2020, 90% các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn và tăng cường tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu
Xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, thiết bị sử dụng hiệu quả năng lượng trong sản xuất vật liệu và các công trình xây dựng
- Giao thông vận tải
Quy hoạch hệ thống giao thông vận tải, nâng cao chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế; phát triển giao thông vận tải công cộng ở các đô thị, kiểm soát sự gia tăng
Trang 21phương tiện vận tải cá nhân Đến năm 2020, hệ thống giao thông vận tải cơ bản đáp ứng nhu cầu vận tải đa dạng của xã hội Đến năm 2050, hoàn thành việc hiện đại hóa mạng lưới giao thông vận tải trong cả nước cũng như các hành lang giao thông đối ngoại
Sử dụng nhiên liệu ít phát thải khí nhà kính cho phương tiện giao thông vận tải; đẩy mạnh chuyển xe buýt, xe taxi sang sử dụng nhiên liệu khí tự nhiên nén, khí hóa lỏng, bảo đảm đạt tỷ lệ về số xe là 20% vào năm 2020 và 80% vào năm 2050
Xây dựng và áp dụng các cơ chế, chính sách khuyến khích sử dụng các phương tiện giao thông tiết kiệm năng lượng, loại dần các phương tiện tiêu tốn nhiên liệu
- Nông nghiệp
Thay đổi phương thức canh tác nông nghiệp, sử dụng nước, phân bón, thức ăn chăn nuôi phù hợp, quản lý và xử lý chất thải trong chăn nuôi, phát triển sử dụng khí sinh học làm nhiên liệu, hạn chế và loại bỏ dần các máy nông nghiệp lạc hậu tiêu thụ nhiều năng lượng Thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp xanh, ít phát thải, đảm bảo phát triển bền vững, an ninh lương thực quốc gia và góp phần xóa đói giảm nghèo,
cứ sau 10 năm giảm phát thải 20% khí nhà kính đồng thời đảm bảo tăng trưởng ngành 20% và giảm tỷ lệ đói nghèo 20%
Ngày 05/10/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1474/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 –
2020 Kế hoạch xác định mục tiêu, nhiệm vụ từ nay đến 2020 gồm:
- Tăng cường năng lực giám sát khí hậu, cảnh báo sớm thiên tai; Bảo đảm an ninh lương thực, an ninh về nước; Chủ động ứng phó với thiên tai, phát triển nền kinh
tế theo hướng cácbon thấp
- Tăng cường năng lực quản lý, hoàn thiện cơ chế chính sách về biến đổi khí hậu
Trong thông báo quốc gia đầu tiên của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH năm 2007, đã đề xuất hàng loạt giải pháp giảm nhẹ BĐKH khác nhau trong các lĩnh vực, chủ yếu như sau:
- Lĩnh vực năng lượng
+ Thay thế lò hơi, đốt than hiệu suất thấp bằng lò hơi hiệu suất cao;
+ Cải thiện hiệu suất nhiên liệu trong ngành giao thông;
+ Phát triển địa nhiệt;
+ Phát triển năng lượng mặt trời;
Trang 22+ Xây dựng các trang trại điện gió;
+ Cải thiện hiệu suất bếp đun bằng than;
+ Thay thế đèn sợi tóc bằng đèn compact;
+ Cải thiện hiệu suất động cơ công nghiệp
- Lĩnh vực lâm nghiệp chuyển đổi sử dụng đất
+ Bảo vệ 3 triệu hecta rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng quý hiếm, rừng ngập mặn, + Phục hồi rừng phòng hộ, trong đó có 1 triệu hecta rừng trồng mới;
+ Trồng 1.6 triệu hecta rừng sản xuất ngắn hạn, 1.3 triệu hecta rừng dài hạn
- Lĩnh vực nông nghiệp
+ Quản lí nước trên ruộng lúa;
+ Cải tiến thức ăn chăn nuôi gia súc;
+ Xây dựng bếp biogas nông thôn
Trong Thông báo quốc gia thứ 2 của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH năm 2010, đã đề xuất các giải pháp giảm nhẹ BĐKH trong các lĩnh vực chủ yếu như sau:
- Lĩnh vực năng lượng
+ Chế tạo và sử dụng bếp than cải tiến;
+ Thay thế bếp than bằng bếp gas;
+ Sử dụng tủ lạnh hiệu suất cao;
+ Sử dụng đèn compact tiết kiệm năng lượng;
+ Sử dụng điều hòa nhiệt độ hiệu suất cao;
+ Sử dụng bình đun nước nóng mặt trời;
+ Sử dụng động cơ điện hiệu suất cao;
+ Sử dụng lò gạch cải tiến;
+ Thay dầu DO bằng gas trong giao thông;
+ Sử dụng đèn cao áp trong chiếu sáng công cộng;
+ Thay thế động cơ đốt than bằng gas;
+ Sử dụng năng lượng thủy điện nhỏ thay thế nhiệt điện;
Trang 23+ Sử dụng điện gió thay thế điện nhiệt đốt than;
+ Sử dụng điện đốt trấu thay thế điện đốt than
+ Sử dụng biogas thay than trên vùng đồng bằng;
+ Sử dụng biogas thay than ở vùng núi;
+ Quản lý tưới tiêu ruộng lúa nước ở vùng đồng bằng sông Hồng;
+ Quản lý tưới tiêu ruộng lúa nước ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ
1.2.3 Giảm nhẹ khí nhà kính trong lĩnh vực thủy sản ở Việt Nam
Trong lĩnh vực thủy sản đã có nhiều công trình nghiên cứu hoặc dự án về giảm phát thải KNK như sau:
- Sử dụng đèn LED trong hoạt động thủy sản
Theo nghiên cứu thực nghiệm của KidiTech tại Công ty đánh cá Nam Triệu, Hải Phòng (2009) việc thay thế hệ thống đèn khai thác thủy sản truyền thống bằng hệ thống đèn LED sẽ giảm chi phí và giảm tiêu hao năng lượng đồng nghĩa với giảm khí thải nhà kính Với tàu sử dụng 40 bóng đèn cao áp, giàn đèn có trọng lượng 400 kg, tiêu thụ 200 lít dầu diesel/ngày Khi thay thế bằng 100 bóng đèn LED, trọng lượng giàn đèn chỉ còn 125 kg và lượng dầu tiêu thụ tụt xuống mức 30 lít/ngày Với thời gian
đi biển xa bờ 20 ngày/tháng, lượng nhiên liệu tiêu thụ từ 4.000 lít dầu/tháng giảm xuống còn 600 lít dầu/tháng nhờ công nghệ LED Có nghĩa là mỗi đợt đi biển, 1 con tàu công suất lớn có thể tiết kiệm tiền dầu gần 3.000 đô la Mỹ nếu dùng hệ thống đèn dẫn dụ theo công nghệ LED đồng thời giảm phát thải khoảng 3.026 tấn khí nhà kính
- Nghiên cứu đánh giá phát thải khí nhà kính trong hoạt động khai thác hải sản và
đề xuất các biện pháp giảm thiểu (nghiên cứu điển hình tại TP Hải Phòng) của tác giả Trần Liêm Khiết, năm 2012 trường Đại học Khoa học
Tự nhiên, GV hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Khanh Vân
Trang 24- Nghiên cứu các hoạt động phát thải khí nhà kính tại Việt Nam của tác giả Nguyễn Mộng Cường, năm 2007 Trung tâm nghiên cứu Biến đổi khí hậu và phát triển bền vững
- Nghiên cứu giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực thủy sản ở Việt Nam, do Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản (VIFEP) hợp tác với Trung tâm hợp tác phát triển Đức (GIZ), năm 2013
- Dự án tăng cường năng lực kiểm kê quốc gia khí nhà kính tại Việt Nam do Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật bản (JICA) hỗ trợ, thực hiện năm 2010
Ngoài ra, còn có nhiều quyết định quan trọng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn như Quyết định số 3119/QĐ-BNN-KHCN ngày 16/12/2011 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn phê duyệt đề án giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020 do Viện môi trường Nông nghiệp thực hiện, năm
2011 Theo Quyết định này, lĩnh vực thuỷ sản phải đảm bảo giảm được 3 triệu tấn
CO2e (tương đương 23,32% tổng lượng dự báo phát thải KNK của lĩnh vực thủy sản đến năm 2020), để thực hiện mục tiêu trên cần thực hiện các giải pháp sau:
Điều chỉnh cơ cấu tàu thuyền công suất không phù hợp với ngư trường đánh bắt, quy hoạch lại tuyển và vùng khai thác thủy hải sản nhằm giảm khả năng phát thải KNK
- Quy mô: giữ ổn định 15.000-18.000 tàu thuyền
- Địa điểm áp dụng: các ngư trường xa bờ, các ngư trường mới
- Khả năng giảm phát thải: 0,69 triệu tấn CO2e (5,32% tổng lượng dự báo phát thải KNK của lĩnh vực thủy sản đến năm 2020)
Cải tiến kỹ thuật và công nghệ trong hoạt động khai thác thủy hải sản nhằm giảm phát thải KNK
- Quy mô: ứng dụng trong đánh bắt xa bờ
- Địa điểm áp dụng: các tầu hoạt động ở các ngư trường xa bờ, các ngư trường mới
- Khả năng giảm phát thải: 0,48 triệu tấn CO2e (3,72% tổng lượng dự báo phát thải KNK của lĩnh vực thủy sản đến năm 2020)
Xây dựng mô hình tổ chức sản xuất và dịch vụ nghề cá trên các vùng biển nhằm khai thác, bảo vệ ngư trường và giảm phát thải KNK do tiết kiệm nhiên liệu
- Quy mô: ứng dụng trong đánh bắt xa bờ
Trang 25- Địa điểm áp dụng: các tàu hoạt động ở các ngư trường xa bờ, các ngư trường mới
- Khả năng giảm phát thải: 0,21 triệu tấn CO2e (1,59% tổng lượng dự báo phát thải KNK của lĩnh vực thủy sản đến năm 2020)
Đổi mới dịch vụ hỗ trợ cho nuôi trồng thủy sản như cung cấp giống, thức ăn, hóa chất, phân bón, vật liệu xây dựng trang trại nuôi trồng thủy sản nhằm giảm KNK
- Quy mô: các vùng nuôi trồng thủy sản
- Địa điểm áp dụng: Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Hồng
- Khả năng giảm phát thải: 0,41 triệu tấn CO2e (3,17% tổng lượng dự báo phát thải KNK của lĩnh vực thủy sản đến năm 2020)
Cải tiến công nghệ, kỹ thuật nuôi trồng và xử lý chất thải trong nuôi trồng thủy sản nhằm giảm mức độ phát thải KNK
- Quy mô: 50% diện tích các nuôi trồng thủy sản tương ứng 0,55 triệu ha
- Địa điểm áp dụng: tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Hồng
- Khả năng giảm phát thải: 1,21 triệu tấn CO2e (9,52% tổng lượng dự báo phát thải KNK của lĩnh vực thủy sản đến năm 2020)
Một số hoạt động khác
Tăng khả năng lưu trữ và kéo dài vòng luân chuyển cacbon, nitơ thông qua xử
lý hiệu quả chất thải và phát triển những loại hình và đối tượng nuôi mới phù hợp
Cải tiến hệ thống làm lạnh theo hướng tiết kiệm năng lượng trong quá trình khai thác thủy hải sản
Cải tiến và lựa chọn ngư cụ khai thác hiệu quả nâng cao năng lực khai thác;
phân định danh giới quản lý nghề cá nhằm tiết kiệm năng lượng di chuyển
1.3 Nhận xét cuối chương 1
Chương 1 của luận văn đã đưa ra tổng quan về một số vấn đề liên quan tới biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam Với đối tượng của luận văn là vấn đề giảm nhẹ khí nhà kính trong lĩnh vực thủy sản, chương 1 của luận văn đã đưa ra một cách tổng quát những nghiên cứu về giảm nhẹ BĐKH, giảm phát thải KNK nói chung và phát thải khí nhà kính trong hoạt động khai thác thủy sản trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 26Trên thế giới, chiến lược giảm nhẹ BĐKH được xây dựng trên cơ sở các kịch bản về phát thải KNK trên thế giới và tương ứng là nồng độ KNK trong khí quyển Theo chiến lược đó, giải pháp giảm nhẹ BĐKH tập trung trong lĩnh vực công nghệ và
kĩ thuật giảm KNK, trước hết là hoàn thiện hiệu suất năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo trong mọi lĩnh vực, bao gồm: năng lượng, công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, nông nghiệp, chuyển đổi sử dụng đất và lâm nghiệp
Ở Việt Nam, chiến lược quốc gia về BĐKH đề ra nhiều mục tiêu cụ thể, trong
đó có giảm nhẹ phát thải KNK và tăng hấp thụ KNK Cho đến nay, nhiều nội dung của chiến lược đã được thực hiện, trong đó có một số nội dung liên quan đặc biệt đến giảm nhẹ phát thải KNK, phát triển năng lượng tái tạo, sử dụng tiết kiệm hiệu quả năng lượng, nâng cao hiệu quả năng lượng trong sản xuất công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thay đổi phương pháp canh tác trong trồng trọt, chăn nuôi thuộc lĩnh vực nông nghiệp Những phương án giảm nhẹ KNK đã được thông báo cho Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH Đặc biệt, trong lĩnh vực thủy sản, đã có những công trình nghiên cứu, dự án về giảm phát thải KNK với các giải pháp cụ thể trong các khâu quan trọng, từ cơ sở hoạt động đến kĩ thuật khai thác
Các giải pháp, phương án giảm nhẹ KNK trong nước và ngoài nước nói trên chắc chắn là những mẫu mực quan trọng giúp chúng tôi thực hiện các nội dung chủ yếu của luận văn
Trang 27CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU 2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu bao gồm hai phương pháp chính, là phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu và phương pháp điều tra khảo sát thực địa
* Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được thực hiện bắt đầu từ thu thập số liệu hiện có, từ đó hệ thống hóa, phân tích và tổng hợp các tài liệu và thông tin liên quan một cách có chọn lọc, từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu Cụ thể:
- Thu thập, phân tích và đánh giá các số liệu thống kê về số lượng tàu, thuyền, công suất, lượng dầu tiêu thụ tham gia hoạt động đánh bắt thủy sản…
- Thu thập, phân tích và đúc kết các tài liệu, số liệu về hiện trạng, kinh tế-xã hội của tỉnh giai đoạn 2006-2010 và giai đoạn 2011-2020
- Thống kê lại các chính sách hiện nay đang áp dụng
* Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Sử dụng phương pháp điều tra thực địa nhằm mục đích so sánh, đối chiếu các khu vực khác nhau; thẩm định và khẳng định những kết quả đạt được từ quá trình phân tích hay tính toán; thu thập bổ sung các số liệu, tài liệu thực tế tại các khu vực nghiên cứu điển hình
2.1.2 Phương pháp kiểm kê khí nhà kính
Để tính lượng phát thải khí nhà kính đề tài sử dụng công thức tổng quát tính tổng lượng khí phát thải cho tàu khai thác sử dụng dầu diezen (IPCC, 2001)[19]:
GHG = ∑i (Fi x Hi x Ei ) Trong đó: GHG Tổng lượng khí thải nhà kính phát thải trong 1 năm (tấn/năm) F: Lượng nhiên liệu tiêu thụ trong năm (tấn/năm)
H: Nhiệt đốt cháy của nhiên liệu (TJ/tấn) (H= 42.7 MJ/kg nhiên liệu diezen IPCC, 1997)
E: Hệ số phát thải của nhiên liệu cho các loại khí (tấn/TJ nhiên liệu) (CO2: 74.3 g/MJ – Vreuls, 2006; NO2: 0.0006g/MJ; CH4: 0.005g/MJ, IPCC, 1997)
Trang 28i: Dạng nhiện liệu sử dụng
Ở đây lượng nhiên liệu tiêu thụ của tàu khai thác thủy sản được tính toán dựa trên công thức:
F = CV x Gc x H x BAC
Trong đó: CV: là tổng công suất của tàu
H: là tổng số giờ hoạt động của các tàu khai thác trong năm
BAC: là hệ số hoạt động của tàu khai thác
Gc: suất tiêu hao nhiên liệu của tàu khai thác
2.1.3 Phương pháp xây dựng giải pháp và đánh giá chi phí – hiệu quả
Nghiên cứu các tiềm năng giảm phát thải KNK đã có ở ngoài nước và trong nước, tiến hành điều tra thu thập, thống kê, tổng hợp, phân tích số liệu về hoạt động đánh bắt thủy sản ở Kiên Giang và thực hiệntính toán lượng phát thải KNK hiện tại của đội tàu khai thác thuỷ sản tỉnh Kiên Giang Từ đó lựa chọn và đề xuất các giải pháp nhằm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu trong tương lai của đội tàu khai thác thông qua các quy hoạch như quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 và Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030 Trên cơ sở so sánh lượng tiêu hao nhiên liệu và lượng phát thải KNK trước và sau khi thực hiện các giải pháp, tính toán được mức giảm phát thải KNK vàgiảm tiêu hao nhiên liệu trong hoạt động khai thác thuỷ sản
2.1.4 Phương pháp phân tích, đúc kết
Từ các tài liệu thu thập được, tiến hành phân tích, đúc kết các giải pháp giảm nhẹ BĐKH ở ngoài nước và trong nước Dưa trên các nguồn dữ liệu đã thu thập tiến hành tính toán và đúc kết về lượng phát thải KNK
Trên cơ sở kiểm kê lượng phát thải KNK trong hoạt động khai thác thuỷ sản ở Kiên Giang trong năm 2013, căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 và Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030, sau khi nghiên cứu tiềm năng giảm phát thải KNK trong ngành thủy sản từ các cải tiến về kĩ thuật và chính sách thủy sản, thực hiện đúc kết, đề xuất các giải pháp giảm thiểu phát thải KNK
2.2 Số liệu
Để có thể kiểm kê tính toán lượng phát thải KNK trong khai thác thuỷ sản, tiền hành điều tra thống kê về cơ cấu tàu thuyền (số lượng tàu, loại tàu, loại nghề, công
Trang 29suất, thời gian hoạt động, tiêu hao nhiên liệu, suất tiêu hao nhiên liệu, hệ số phát thải của nhiên liệu, nhiệt đốt cháy của nhiên liệu và dạng nhiên liệu sử dụng…) của các loại tàu thuyền khai thác thuỷ sản Để đề xuất các giải pháp giảm KNK trong hoạt động thủy sản, tiến hành điều tra thu thập các số liệu, tài liệu liên quan đến chính sách đang áp dụng trong hoạt động khai thác thủy sản ở địa phương, trong đó có một phần
số liệu từ trung ương
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
2.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
a) Vị trí địa lý
Phần đất liền tỉnh Kiên Giang nằm trong khoảng tọa độ 104o26‟40 đến
105o32‟40 kinh độ Đông và từ 9o23‟50‟‟ đến 10o32‟30‟‟ vĩ độ Bắc, phía Đông Bắc giáp An Giang, Cần Thơ và Hậu Giang, phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu, phía Tây Nam giáp Vịnh Thái Lan với hơn 200 km bờ biển và các đảo và phía bắc là đường biên giới giáp Campuchia dài 56,8 km
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Kiên Giang
Do lãnh thổ hẹp ngang và tương đối dài, nên diện tích của Kiên Giang nằm trong 4 vùng sinh thái: Tứ giác Long Xuyên, Tây Sông Hậu, U Minh Thượng và Hải Đảo
Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính với 118 xã trong đó, có một thành phố (TP Rạch Giá), 1 thị xã (TX Hà Tiên), 11 huyện đất liền (Kiên Lương, Hòn Đất, Tân
Trang 30Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, Giang Thành và 2 huyện đảo (Kiên Hải và Phú Quốc) với hơn 143 hòn đảo lớn nhỏ rải rác
Kiên Giang được đánh giá là tỉnh có vị trí khá thuận lợi, là cửa ngõ quan trọng phía Tây của ĐBSCL thông thương với các nước ASEAN về cả đường bộ và đường biển
b) Khí hậu
Kiên Giang là một tỉnh thuộc đồng bằng Nam Bộ, khí hậu Kiên Giang mang đầy đủ tính chất nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Các yếu tố khí hậu, đặc biệt là mưa đuợc chia ra làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng V đến tháng XI; mùa khô từ tháng XII đến tháng IV năm sau
- Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình hàng năm 27,0oC, dao động từ 26,5 - 27,5o
C, cao nhất vào tháng IV, nhiệt độ trung bình từ 27,6-28,4oC, thấp nhất vào tháng I, nhiệt
độ trung bình từ 24,9-25,2oC, biên độ nhiệt độ trung bình năm khoảng 2,9-3,5o
C Nhiệt
độ cao nhất tuyệt đối là 38,0o
C và thấp nhất tuyệt đối là 16,2oC Trong các tháng mùa khô, trung bình có 3-4 ngày nhiệt độ trên 35,0oC Hàng năm trung bình có 200 – 210 ngày nhiệt độ trung bình từ 26,0oC - 28,0oC
- Nắng: Nằm ở vĩ độ thấp nên Kiên Giang tiếp nhận được ánh nắng dồi dào,
cán cân bức xạ cao, tổng số giờ nắng bình quân trong năm vào khoảng 2.617 giờ Số giờ nắng theo thời gian trong năm có quan hệ mật thiết với mùa, vào mùa mưa số giờ nắng bình quân khoảng 1.285 giờ, giảm đáng kể so với mùa khô là 1.308 giờ, trong đó tháng IV có số giờ nắng nhiều nhất 292 giờ, tháng VII có số giờ nắng ít nhất 178 giờ
- Độ ẩm tương đối trung bình năm vào khoảng 82%, mùa khô khoảng 77-80%
và mùa mưa khoảng 82-86% Độ ẩm trung bình cao nhất vào những tháng giữa mùa mưa (từ tháng VII đến tháng IX); và thấp nhất vào các tháng giữa mùa khô (tháng II, III)
- Bốc hơi: Lượng bốc hơi khá lớn, tổng lượng bốc hơi dao động trong khoảng
1.031-1.621mm, trung bình là 1.298mm, bằng 55-60% lượng mưa năm Lượng bốc hơi thường liên quan mật thiết với nhiệt độ, nắng, mưa, ẩm…Vào mùa khô nắng nhiều, nhiệt độ cao, lượng bốc hơi lớn, lớn nhất vào tháng III là 136mm/tháng Các tháng mùa mưa lượng bốc hơi nhỏ, tháng X là nhỏ nhất, 87mm/tháng
- Gió, bão: Có 2 mùa gió chính trong năm, mùa gió Đông Bắc (tháng XII đến
tháng IV), tốc độ gió trung bình là 1,6-3,6m/s, gió thổi từ lục địa nên khô và lạnh; mùa gió Tây Nam (tháng V đến tháng X), gió thổi từ biển mang nhiều hơi nước gây mưa
Trang 31rào Thời kỳ gió mạnh nhất là từ tháng VI đến tháng IX, tốc độ trung bình 3,3-3,6m/s, các tháng X, XI, XII gió yếu hơn, trung bình 1,5-1,7m/s
- Mưa: Lượng mưa trung bình năm từ 1.200 - 2.200mm, giảm dần từ phía Tây
vào khu vực trung tâm sau đó tăng trở lại ở phía Đông Số ngày mưa trung bình năm khá cao, trung bình từ 110-160 ngày, cũng có xu hướng giảm dần từ phía Tây vào trung tâm, sau đó tăng trở lại ở khu vực phía Đông, 168 ngày Mùa mưa bắt đầu từ tháng V và kéo dài đến hết tháng XI, trùng với thời kỳ gió mùa Tây Nam, lượng mưa trong mùa mưa chiếm từ 90-95% lượng mưa cả năm
- Hệ thống các Kênh đào vùng Tứ Giác Long Xuyên như: Vĩnh Tế, Tám Ngàn, Tri Tôn, Cái Sắn, Ba Thê, Châu Phú… Ngoài ra còn có kênh Rạch Giá- Hà Tiên dài 80km, rộng 50-60m và hệ thống các công trình thoát lũ ra biển Tây
- Hệ thống kênh đào vùng Tây Sông Hậu: gồm kênh xáng Trâm Bầu, kênh Thốt Nốt, Ô Môn… Ngoài ra còn có hệ thống kênh vùng phía Tây Nam của tỉnh Các hệ thống kênh này có vai trò hết sức quan trọng trong việc thoát lũ, cấp nước, tưới tiêu, giao thông thủy cho khu vực Tuy nhiên do vùng này giáp Vịnh Thái Lan nên chịu tác động rất lớn của triều biển Tây, do đó nước trong kênh vẫn bị nhiễm mặn và thường xuyên bị bồi lấp, đặc biệt vào các tháng mùa khô
Kiên Giang có hai nhóm dân tộc chính: người Hoa chiếm 3%, Khmer chiếm 13% Tỷ lệ đói nghèo của Kiên Giang là 6%, trong đó người dân tộc Khmer là 18%
Trang 32Cơ cấu dân số của Kiên Giang thuộc loại trẻ, số người trong độ tuổi lao động chiếm 60,82%, cho thấy Kiên Giang có một lực lượng lao động hùng hậu, một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế và xã hội
b) Kinh tế
Theo niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang năm 2013, các chỉ số kinh tế chủ yếu như sau:
- Giá trị SXCN-TTCN đạt 31.017,5 tỷ đồng (giá so sánh 2010);
- Kim ngạch XK đạt 663 triệu USD;
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa & doanh thu dịch vụ đạt 47.654 tỷ đồng;
- Chỉ số tiêu dùng bình quân 108,63%;
- Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 97,26%
2.2.1.3 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Theo Quyết định số 1255/QĐ-TTg ngày 26 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, thì một số mục tiêu trong quy hoạch như sau:
- Về phát triển kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13% thời kỳ 2011 - 2015 và 14% thời kỳ 2016 -
2020 GDP bình quân đầu người đến năm 2015 đạt 2.500 - 2.600 USD/người; đến năm
2020 đạt 4.500 - 4.600 USD/người
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp đến năm 2015, cơ cấu các ngành nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 30% - 32% - 38% GDP; năm
Tỷ lệ sinh giảm 0,3‰ vào thời kỳ 2011 - 2015 và 0,25‰ vào thời kỳ
2016-2020 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tương ứng là 11,45‰ vào năm 2015 và 10,4‰ vào năm 2020 Tổng dân số đến 2015 là 1.825.000 người và đến năm 2020 là 1.976.400
Trang 33người Đến năm 2018 toàn tỉnh đạt chuẩn quốc gia phổ cập trung học phổ thông Đến năm 2015 tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm xuống còn 14% và đến năm 2020 là 11%
Trong 10 năm (2011-2020) giải quyết việc làm cho 350.000 lao động, phấn đấu đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2015 đạt 52% và 66,6% vào năm 2020 Tỷ lệ hộ nghèo thời kỳ 2011-2015 giảm bình quân 1,5-1,8% và 1% thời kỳ 2016-2020; tỷ lệ che phủ rừng lên 14%
- Về bảo vệ môi trường
Đến năm 2015 các khu công nghiệp, khu đô thị xây dựng mới có hệ thống nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn quy định; 95% chất thải rắn thông thường, 100% chất thải nguy hại và chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn, 90% hộ dân có nhà tiêu hợp vệ sinh và chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh Năm 2020 có 100% khu công nghiệp, khu
đô thị có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường, tỷ lệ thu gom chất thải rắn đạt 100%
2.2.1.3 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng điện năng trên địa bàn tỉnh
* Hiện trạng sử dụng điện năng theo các lĩnh vực
Hiện trạng nguồn điện cung cấp cho các huyện trong đất liền của tỉnh Kiên Giang chủ yếu từ điện lưới quốc gia qua 2 trạm biến áp 220kV là: trạm Rạch Giá (125+250) MVA và trạm Kiên Bình 2 x 125 MVA, với tổngcông suất nguồn 220 kV
là 625 MVA Ngoài ra, có 1 số phụ tải chuyên dùng có máy phát điện riêng như Nhà máy điện Xi măng Hòn Chông với 6 tổ máy diesel, mỗi tổ công suất 5,5 MW, tổng công suất thiết kế là 33,0 MW; Công ty Xi măng Hà Tiên 2 có trạm máy phát diesel gồm 3 tổ máy, công suất mỗi tổ là 2,5MW và 1 tổ máy nhiệt điện hơi nước 3MW Hiện tại các tổ máy này cũng chỉ để dự phòng, hiện nay chủ yếu sử dụng điện lưới quốc gia
Giai đoạn 2006-2020: theo quy hoạch sơ đồ 7 đã được điều chỉnh bởi quy hoạch điện vùng D(BSCL thì trạm 220kV Rạch Giá sẽ thay một máy biến áp 125MVA bằng máy 250MVA, trạm 220kv Kiên Bình cũng sẽ thay một máy biến áp 125MVA bằng máy 250MVA, nâng tổng công suất nguồn 220kV lên thành 875MVA
Hai huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải hiện nay đã được nối điện lưới quốc gia; còn các xã đảo khác được cấp điện bằng nguồn điện tại chỗ là các tổ máy diesel quy
mô công suất loại từ vừa đến nhỏ Tổng công suất của các tổ máy diesel được lắp đặt tại các đảo nhỏ của tỉnh Kiên Giang là 2.818,6 kw
* Cơ cấu sử dụng điện năng
Trang 34Cơ cấu sử dụng điện năng trên địa bàn tỉnh chủ yếu phục vụ các ngành:
- Sản xuất công nghiệp
- Xây dựng
- Cơ sở kinh doanh dịch vụ
- Cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước
- Đối với khối y tế
- Đối với khối giáo dục
- Đối với lĩnh vực nông – lâm – thủy sản
- Chiếu sáng công cộng
- Tiêu dùng dân cư
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng điện của tỉnh năm 2010 – 2011
Điện năng tiêu thụ
Tỉ lệ so với điện năng thương phẩm
Điện năng tiêu thụ
Tỉ lệ so với điện năng thương phẩm
Trang 35Điện năng tiêu thụ
Tỉ lệ so với điện năng thương phẩm
Điện năng tiêu thụ
Tỉ lệ so với điện năng thương phẩm
(Nguồn: Công ty Điện lực Kiên Giang)
Ghi chú: Điện năng tiêu thụ trong lĩnh vực công nghiệp đã bao gồm 2 phụ tải công nghiệp lớn của tỉnh là Xi măng Hà Tiên 2 và Xi măng Holcim
Qua bảng thống kê trên, có thể nhận thấy cơ cấu tiêu thụ điện của tỉnh Kiên Giang tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp (52 - 54%) và lĩnh vực tiêu dùng dân cư (36%) Một số lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng nhanh về tiêu thụ điện là thương mại – dịch vụ, xây dựng, công nghiệp và tiêu dùng dân cư Bên cạnh đó, lĩnh vực nông – lâm – thủy sản có tăng trưởng âm cao nhất (-25,1%) chủ yếu là do nhu cầu sử dụng diện từ các trang trại nuôi tôm quy mô công nghiệp sụt giảm trong năm 2011
2.2.3.3 Dự báo điện năng tiêu thụ theo các lĩnh vực giai đoạn 2012-2015 và
2016-2020
Theo quyết định số 6680/QĐ-BCT về việc phê duyệt “Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011 - 2015, có xem xét đến năm 2020” phương án
cơ sở dự báo nhu cầu điện đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh với tốc
độ tăng trưởng GDP ở mức 13,2% (giai đoạn 2011 – 2015) và 14,3% (giai đoạn 2016 – 2020)
Tốc độ tăng trưởng của thành phần phụ tải nông – lâm – thủy sản giảm nhiều so với giai đoạn trước, duy trì ổn định ở mức 11.8% trong cả giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020 Đây cũng là điều phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong các giai đoạn sau (giảm tốc độ tăng trưởng của khu vực nông – lâm – thủy sản, tập trung phát triển khu vực công nghiệp – thương mại-dịch vụ)
Trong giai đoạn từ nay đến 2015, cơ cấu tiêu thụ điện của tỉnh bắt đầu dịch chuyển theo hướng tăng dần tỷ trong điện tiêu thụ trong lĩnh vực thương mại- dịch vụ Tuy nhiên nhìn chung, cơ cấu điện tiêu thụ cũng chưa có khác biệt rõ nét so với 2011
Cụ thể tỷ trọng tiêu thụ điện của lĩnh vực sản xuất công nghiệp vẫn chiếm cao nhất,
Trang 3654%, và của tiêu dùng dân cư 34% (giảm so với 35,4% năm 2011) và lĩnh vực thương mại dịch vụ tăng lên 5% (so với 3% năm 2011)
Bảng 2.2 Dự báo tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện theo các lĩnh vực sử dụng điện
thương phẩm tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011-2020
Cơ quan, đơn vị nhà nước, sự nghiệp 10,9% 9,3%
2020, hai lĩnh vực tiêu dùng dân cư và sản xuất công nghiệp vẫn là đối tượng được ưu tiên quan tâm trong các chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để đạt được mục tiêu giảm tiêu thụ điện năng chung của tỉnh
2.2.2 Kinh tế thủy sản: hiện trạng và tương lai
Theo báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, năm 2013 sản lượng khai thác thủy sản đạt 437.370 tấn, vượt 0,43% (1,87 ngàn tấn) kế hoạch năm 2013 và tăng 3,84% (16,1 ngàn tấn) so cùng kỳ năm 2012 Trong
đó, cá các loại 290,612 ngàn tấn, bằng 99,87% kế hoạch, nhưng tăng 3,12% (8,79 ngàn
Trang 37tấn) so với cùng kỳ; tôm 39 ngàn tấn, bằng 95,44% kế hoạch nhưng tăng 2,12% (tăng
824 tấn) so với cùng kỳ; mực 55,7 ngàn tấn, bằng 91,45% kế hoạch nhưng tăng 6,17% (tăng 3,2 ngàn tấn) so với cùng kỳ; hải sản khác 518 ngàn tấn, vượt 21,98% (9,3 ngàn tấn) kế hoạch và tăng 6,82% (3,3 ngàn tấn) so với cùng kỳ Sản lượng khai thác các loài thuỷ sản đều tăng so với cùng kỳ, trong đó có các loài có giá trị kinh tế cao như tôm, mực Tuy nhiên cơ cấu sản lượng cá tạp chiếm tỷ lệ tương đối cao trong sản phẩm khai thác và thất thoát sau thu hoạch vẫn chưa được cải thiện, nguồn lợi thuỷ sản ven bờ suy giảm, lao động khai thác thuỷ sản đang thiếu
Tổng sản phẩm GDP của ngành nông nghiệp năm 2013 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 23.121,575 tỷ đồng, tăng 5,77% so với cùng kỳ năm 2012 Trong đó: nông nghiệp 15.841,55 tỷ đồng, tăng 4,51%; lâm nghiệp 175,04 tỷ đồng, tăng 3,03%; thuỷ sản 7.104,99 tỷ đồng, tăng 8,75% so với cùng kỳ năm 2012
Về cơ cấu sản phẩm GDP ngành: tỷ trọng GDP nông nghiệp 68,51% (năm 2012
là 69,34%), lâm nghiệp 0,76% (năm 2012 là 0,78%), thuỷ sản 30,73% (năm 2012 là 29,89%) Tỷ trọng GDP ngành chiếm 38,82% trong GDP của tỉnh và đóng góp cho tăng trưởng chung của tỉnh 2,3%
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (theo giá so sánh 2010) ước đạt 46.647 tỷ đồng, tăng 6,18% so với cùng kỳ năm 2012, bao gồm: nông nghiệp đạt 27.473 tỷ đồng, tăng 4,51%; lâm nghiệp đạt 270,71 tỷ đồng, tăng 3,03%; thuỷ sản đạt 18.904 tỷ đồng, tăng 8,75% Nhìn chung GDP và giá trị sản xuất của ngành tăng so với cùng kỳ năm 2012 Cơ cấu kinh tế ngành dịch chuyển đúng hướng, tuy nhiên tăng trưởng lâm nghiệp vẫn còn thấp và tốc độ tăng trưởng trong nuôi trồng thuỷ sản chậm, nhất là nuôi tôm
Số lượng tàu thuyền có sự thay đổi theo chiều hướng tăng lên trong giai đoạn trước năm 2005 Cụ thể là vào năm 2002, tổng số tàu là 6.951 chiếc tăng lên 7.668 chiếc vào năm 2005 Nhưng qua 2 năm sau (2007), con số này giảm xuống còn 7.270 chiếc, nguyên nhân giảm số lượng tàu là do giá nhiên liệu (dầu) tăng đột biến vào cuối năm 2006 và cả năm 2007, làm cho hiệu quả sản xuất của các tàu khai thác thủy sản sụt giảm, có nhiều trường hợp làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản
Trang 38Đến năm 2008, do tác động của quyết định 289/QĐ-TTg về hỗ trợ cho ngư dân
bù lại giá xăng dầu, nên số lượng tàu thuyền của tỉnh lại tăng lên nhanh chóng, nhưng chủ yếu là những phương tiện nhỏ, trong khi các tàu lớn bị giảm xuống Điều này được nhận thấy qua sự giảm sút của tổng công suất của năm 2008 xuống 1.065.899
CV Tính đến cuối năm 2009, toàn tỉnh có 11.650 tàu, với tổng công suất là 1.321.049
CV Sang năm 2010, số lượng và năng lực tàu thuyền của tỉnh tiếp tục nâng lên, nhưng mức độ gia tăng không bằng năm 2008 và 2009 Năm 2012 số lượng tàu cá toàn tỉnh 12.418 chiếc nhưng đến năm 2013 số lượng tàu cá toàn tỉnh còn 10.715 chiếc thấp hơn
so với năm 2012 là 1.703 chiếc nguyên nhân là các tàu đến hạn đăng ký nhưng không tiến hành đăng ký do quá củ, thiếu ngư phủ và hiện nay đã ngưng cấp phép đóng mới cho tàu cào công suất dưới 90CV, các tàu đánh bắt khác có công suất dưới 30CV.Theo thống kê của Chi cục Khai thác và BVNLTS đến ngày 31/3/2014 số tàu thuyền là 10.813 chiếc, với tổng công suất là 1.776.982 CV
Bảng 2.3 Thống kê số lƣợng và công suất tàu thuyền tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2000 – 2013
STT Năm Số lƣợng (chiếc) Công suất (CV)
Trang 3914 2013 10.715 1.725.115
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, năm 2013)
* Cơ cấu nghề khai thác thủy sản
Vùng biển Kiên Giang là ngư trường đánh bắt rộng lớn Nơi đây hình thành nên nhiều loại nghề và rất đa dạng Tuy nhiên phần lớn các nghề chủ yếu là khai thác ven
bờ, còn xa bờ hiện cũng chưa thể nói là phát triển mạnh, vì tàu nhỏ chiếm tỷ trọng cao trong tổng số tàu của tỉnh
Ngành đánh cá ở Kiên Giang có rất nhiều nghề được ngư dân áp dụng tùy theo địa bàn, hoặc tùy theo nhu cầu cung ứng nguyên liệu của địa phương, chẳng hạn những nơi cần nguyên liệu cá cơm để làm nước mắm thì nghề lưới vây rất phát triển Đây là nghề thế mạnh của huyện Phú Quốc và một số địa phương khác như Kiên Hải, Kiên Lương Nhưng tựu trung lại, thì có một số nghề có tỷ trọng cao như nghề câu, kéo đôi, lưới ghẹ Đặc biệt nghề lưới kéo đôi tăng từ 17% của 2002 lên 24% vào năm
2007 về số lượng (1.153 năm 2002, đến 2007 là 1.760 chiếc) (Chi cục BVNLTS Kiên Giang) Nhưng bước sang năm 2008 nghề này bị sụt giảm số lượng kể cả tỷ trọng trong toàn ngành, trong khi số tàu của tỉnh tăng đột ngột, nhưng chỉ tăng ở những tàu nhỏ làm các nghề khác, năm 2011 số lượng tàu lưới kéo đôi chỉ chiếm 16,9 % trong tổng số tàu (2.012 chiếc/ 11.904 chiếc) Nhưng đến năm 2013 tàu lưới kéo đôi tăng lên chiếm 23,2% (2.509 chiếc/10.813 chiếc); Nghề lưới kéo đơn cũng giảm rõ rệt về số lượng (năm 2002 là 2.283 chiếc giảm xuống 917 chiếc vào năm 2008, đến năm 2011 còn 883 chiếc và đến năm 2013 chỉ còn 655 chiếc); nghề lưới ghẹ năm 2011 và đến năm 2013 là 3.299 chiếc/10.813 chiếc (chiếm 30,51%)
Theo tổng hợp của Chi cục BVNLTS, tính đến tháng 3/2014 Kiên Giang có các nhóm nghề chủ yếu sau đây:
- Nhóm lưới vây: 370 chiếc, chiếm 3,4% Trong nhóm này gồm có các loại nghề lưới vây (bao) cá cơm, lưới bao cá ba thú, bạc má
- Nhóm lưới rê: 4.080 chiếc, chiếm 37,73% Nhóm này bao gồm lưới thưng, lưới rê thu, lưới rê tôm, lưới quàng, lưới kến, lưới sĩ, lưới hường, lưới ghẹ
- Kéo đơn: 655 chiếc, chiếm 6,06%
- Kéo đôi: 2.509 chiếc, chiếm 23,2%
Trang 40- Nhóm nghề câu: 1.872 chiếc, chiếm 17,31% có các loại như câu mực, câu thu lạc, câu kiều
- Nghề khác: 1.063 chiếc, chiếm 9,83% gồm một số nghề như rập ghẹ, bóng mực và các nghề cố định khác
- Dịch vụ hậu cần nghề cá: 264 chiếc, chiếm 2,45%
Các địa phương có số lượng tàu trên 1.000 chiếc gồm có TP Rạch Giá, TX Hà Tiên và các huyện Phú Quốc, Hòn Đất, Kiên Lương và Kiên Hải Trong đó Phú Quốc
có số lượng nhiều nhất là 2.739 chiếc, nhưng chủ yếu là tàu nhỏ dưới 90CV
* Công suất tàu khai thác thủy sản
Ngành khai thác thủy sản của Kiên Giang tuy có số lượng tàu thuyền rất lớn nhưng tỷ trọng tàu có công suất nhỏ chiếm rất cao Mặc dù sự gia tăng tàu nhỏ là do đặc thù của từng địa phương, nhưng đây là một dấu hiệu ngược lại với định hướng phát triển chung của ngành thủy sản Cũng dựa vào cơ sở nguồn tổng hợp của Chi cục BVNLTS, tính đến tháng 4/2014 Kiên Giang có các nhóm công suất tàu được phân tích như sau:
- Tàu nhỏ hơn 20 CV: 3.725 chiếc, tổng công suất 49.973CV, chiếm 34,45% là lượng tàu nhiều nhất trong tổng số tàu của tỉnh
- Từ 20 – dưới 45 CV: 1.936 chiếc, tổng công suất 45.042CV, chiếm 17,90% Hai nhóm tàu này thường tập trung nhiều ở hai huyện đảo Phú Quốc, Kiên Lương và Kiên Hải Vì ba địa phương này có vị trí nằm trong ngư trường khai thác, các tàu nhỏ có khả năng đánh bắt dễ dàng khi di chuyển từ nơi trú ẩn ra khu vực khai thác rất gần hơn so với những nơi khác
- Từ 45 – dưới 90 CV: 942 chiếc, tổng công suất 54.529 CV, chiếm 8,71%
- Từ 90 – dưới 150 CV: 228 chiếc, tổng công suất 27.190 CV, chiếm 2,66%
- Từ 150 – dưới 250 CV: 635 chiếc, tổng công suất 111.277CV, chiếm 5,88 %
- Từ 250-dưới 400CV: 1.288 chiếc, tổng công suất 430.541CV, chiếm 11,91 %
- Từ 400 CV trở lên: 2.059 chiếc, tổng công suất 1.058.430 CV, chiếm 19,04% Nhìn vào đồ thị biểu diễn các dải công suất của các nhóm tàu, cho thấy đội tàu của Kiên Giang đa số là tàu nhỏ, nhưng nhóm tàu có công suất loại vừa thì rất ít, còn nhóm tàu có công suất lớn thì nhiều hơn Vì vậy có thể nói đặc điểm năng lực tàu ở đây hoặc là tàu nhỏ hoặc là tàu lớn vươn ra xa, còn các loại tàu có công suất từ 90 đến