Trong đề tài này, tác giả đã nghiên cứu tính đặc trưng về lối sống trên phương diện lối sống - nếp sống văn hóa được biểu hiện trong định hướng giá trị, trong các hoạt động lao động, họ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ BÍCH THẢO
VAI TRÕ CỦA ĐOÀN THANH NIÊN
TRONG GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO THÔNG CHO THANH NIÊN ĐÔ THỊ HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Xã hội học
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ BÍCH THẢO
VAI TRÕ CỦA ĐOÀN THANH NIÊN
TRONG GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO THÔNG CHO THANH NIÊN ĐÔ THỊ HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 60.31.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH VĂN TÙNG
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Vai trò của Đoàn Thanh niên trong giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) là công trình do tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Văn Tùng Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan, khoa học và dựa trên kết quả khảo sát thực tế
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Vũ Thị Bích Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Vai trò của Đoàn Thanh niên trong giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp phường Cầu Dền, quận Hai Bà
Trưng, Hà Nội) được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Văn Tùng
Qua quá trình làm việc nghiêm túc, trách nhiệm, đề tài đã được hoàn thành
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Trịnh Văn Tùng - người Thầy hướng dẫn khoa học tận tâm, tận tình với tinh thần trách nhiệm cao đã chỉ bảo, động viên và khơi nguồn cảm hứng nghiên cứu khoa học trong tôi
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban chủ nhiệm Khoa, các Thầy, Cô giáo trong Khoa Xã hội học và các Thầy, Cô đã tham gia giảng dạy chương trình đào tạo thạc sĩ ngành Xã hội học, khóa 2013-2015, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thông qua môi trường đào tạo uy tín, chất lượng, tôi đã tích lũy thêm nhiều kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành trong quá trình học tập
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Thanh niên đã tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành khóa học thạc sĩ trong quá trình công tác tại Viện
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng chí tại Ban Thanh niên Đô thị và Công tác An ninh Quốc phòng - Thành đoàn Hà Nội, Ban Chấp hành Quận đoàn Hai Bà Trưng, Ban Chấp hành đoàn phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, đặc biệt là đồng chí Bí thư đoàn phường đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai khảo sát tại địa bàn và cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan Cảm ơn các bạn đoàn viên, thanh niên phường Cầu Dền đã tham gia cuộc khảo sát
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và các anh, chị đồng nghiệp đã luôn động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Vũ Thị Bích Thảo
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BIỂU 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 9
3 Ý nghĩa nghiên cứu 18
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 19
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 20
6 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 20
7 Phương pháp nghiên cứu 21
8 Khung lý thuyết 26
9 Cấu trúc của luận văn 27
NỘI DUNG CHÍNH 28
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÕ CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TRONG GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO THÔNG CHO THANH NIÊN 28
1.1 Khái niệm công cụ 28
1.1.1 Khái niệm vai trò 28
1.1.2 Khái niệm giáo dục 30
1.1.3 Văn hóa giao thông 32
1.1.4 Thanh niên đô thị 36
1.1.5 Giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên 37
1.1.6 Nhận thức, thái độ, hành vi 38
1.1.7 Vai trò của Đoàn trong giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị 39
1.2 Các lý thuyết sử dụng 39
1.2.1 Lý thuyết vai trò 39
Trang 61.2.2 Lý thuyết Xã hội hóa 42
1.2.3 Lý thuyết nhận thức, hành vi 44
1.3 Các quan điểm của Đảng, Đoàn về giáo dục thanh niên 45
1.3.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng lối sống văn hóa cho thanh niên 45
1.3.2 Quan điểm của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên 48
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO THÔNG TẠI PHƯỜNG CẦU DỀN VÀ NHẬN THỨC CỦA THANH NIÊN VỀ VĂN HÓA GIAO THÔNG 53
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 53
2.2 Khái quát về tình hình vi phạm Luật Giao thông đường bộ của thanh niên 55
2.3 Hoạt động giáo dục văn hóa giao thông tại phường Cầu Dền 57
2.3.1 Thực trạng triển khai các hoạt động giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên trên địa bàn phường 57
2.3.2 Sự tham gia của thanh niên vào hoạt động giáo dục văn hóa giao thông 59
2.4 Nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử có văn hóa khi tham gia giao thông của thanh niên tại phường Cầu Dền 62
2.4.1 Nhận thức của thanh niên về văn hóa giao thông 62
2.4.2 Thái độ của thanh niên về văn hóa giao thông 67
2.4.3 Hành vi thực hiện văn hóa giao thông của thanh niên 69
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÕ CỦA ĐOÀN TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO THÔNG CHO THANH NIÊN ĐÔ THỊ 75
3.1 Vai trò kỳ vọng của tổ chức Đoàn trong hoạt động giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên 75
3.2 Đánh giá của thanh niên về vai trò của Đoàn Thanh niên trong tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên 78
3.2.1 Ý kiến của thanh niên về vai trò của tổ chức Đoàn trong triển khai hoạt động giáo dục văn hóa giao thông 78
Trang 73.2.2 Đánh giá của thanh niên về vai trò của Đoàn phường trong tổ chức hoạt
động giáo dục văn hóa giao thông 81
3.3 Sự kỳ vọng của thanh niên đối với hoạt động giáo dục văn hóa giao thông của Đoàn phường 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Khuyến nghị 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 106
Trang 89 TTATGT Trật tự an toàn giao thông
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 2.1 Tỉ lệ người chết do tai nạn giao thông phân theo nhóm tuổi 56 Biểu 2.2 Các nguồn thông tin thanh niên tiếp cận đến hoạt động giáo dục văn hóa giao thông của Đoàn phường 59 Biểu 2.3 Mức độ tham gia của thanh niên vào hoạt động giáo dục VHGT 61 Biểu 2.4 Mức độ tiếp xúc với cụm từ “văn hóa giao thông” của thanh niên 63 Biểu 2.5 Đánh giá của thanh niên về ý thức tham gia giao thông của thanh niên 64 Biểu 2.6 Mức độ hiểu biết của thanh niên về tiêu chí thực hiện VHGT do Trung ương Đoàn phát động trong cuộc vận động “Thanh niên với văn hóa giao thông” 65 Biểu 3.1 Đánh giá của thanh niên về việc thể hiện vai trò của tổ chức Đoàn trong giáo dục văn hóa giao thông 79 Biểu 3.2 Cảm nhận của thanh niên về kết quả của hoạt động giáo dục VHGT cho thanh niên của Đoàn phường 80 Biểu 3.3 Đánh giá của thanh niên về thời gian tổ chức các hoạt động giáo dục 84 Biểu 3.4 Mong muốn của thanh niên về địa điểm tổ chức hoạt động giáo dục 90 Biểu 3.5 Mong muốn của thanh niên về thời gian tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa giao thông 91
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.Thống kê số lượng đoàn viên, hội viên và thành tích đạt được của Đoàn phường Cầu Dền giai đoạn 2010-2014 55 Bảng 2.2 Ý kiến của thanh niên về lý do hoạt động giáo dục văn hóa giao thông của Đoàn chưa thu hút sự tham gia của thanh niên 62 Bảng 2.3 Tương quan đối tượng thanh niên đã tham gia và chưa tham gia hoạt động giáo dục VHGT với mức độ biết đến văn hóa giao thông 63 Bảng 2.4 Tương quan đối tượng thanh niên với mức độ biết đến tiêu chí thực hiện VHGT do Trung ương Đoàn phát động 65 Bảng 2.5 Đánh giá của thanh niên về mức độ cần thiết của việc giáo dục VHGT cho thanh niên tại phường 67 Bảng 2.6 Tương quan giữa thái độ ứng xử của thanh niên khi tham gia giao thông
và việc tham gia các hoạt động giáo dục VHGT 68 Bảng 2.7 Mức độ phổ biến những hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ trong thanh niên hiện nay qua ý kiến của thanh niên 70 Bảng 2.8 Thanh niên đánh giá mức độ thực hiện một số tiêu chí VHGT 72 Bảng 2.9 Đánh giá về mức độ thực hiện các tiêu chí VHGT của thanh niên 73 Bảng 3.1 Đánh giá của các nhóm thanh niên về vai trò của Đoàn trong việc tổ chức hoạt động giáo dục VHGT 79 Bảng 3.2 Tương quan của các nhóm thanh niên với cảm nhận về kết quả đạt được của hoạt động giáo dục VHGT tại Đoàn phường 81 Bảng 3.3 Ý kiến của thanh niên về các nội dung giáo dục văn hóa giao thông của Đoàn phường 82 Bảng 3.4 Đánh giá về các hình thức giáo dục VGHT của Đoàn phường 83 Bảng 3.5 Ý nghĩa của hoạt động giáo dục văn hóa giao thông đối với thanh niên 86 Bảng 3.6 Ý kiến của thanh niên về các đối tượng cần được giáo dục VHGT 87 Bảng 3.7 Ý kiến của thanh niên về nội dung giáo dục văn hóa giao thông được thanh niên quan tâm 88 Bảng 3.8 Mong muốn của thanh niên về hình thức giáo dục VHGT 88 Bảng 3.9 Mong muốn của thanh niên về người tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa giao thông 92 Bảng 3.10 Mức độ đồng ý của thanh niên đối với một số biện pháp đổi mới nội dung, phương thức giáo dục văn hóa giao thông tại phường 94
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục cho thanh niên từ nhận thức chính trị đến giáo dục đạo đức, lối sống là một việc hết sức quan trọng và cần thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay Giáo dục lối sống văn hóa cho thanh niên là một nội dung rất rộng, trong đó Đoàn Thanh niên cũng đóng vai trò quan trọng cùng với gia đình, nhà trường giáo dục thanh niên
Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị-xã hội và là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên Nhiệm vụ cơ bản của Đoàn là chăm lo giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng và đạo đức cách mạng để thanh niên trở thành công dân tốt và nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giáo dục lối sống cho thanh niên là một trong những nội dung quan trọng được tổ chức Đoàn quan tâm thông qua các hoạt động tuyên truyền, các phong trào hành động của thanh niên Đại hội Đoàn lần thứ X đã
xác định Đề án “Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay” là một trong mười chương trình, đề án
quan trọng cần thực hiện tốt trong nhiệm kỳ 2012-2017 [5]
Trên thực tế, những sai lệch trong chuẩn mực, giá trị đạo đức và lối sống của thanh niên ngày càng diễn ra phổ biến Những sai lệch trong thanh niên xuất phát từ việc nhận thức chưa đúng đắn dẫn đến có những biểu hiện sống chưa tích cực, vi phạm chuẩn mực đạo đức, vi phạm pháp luật, Giáo dục thanh niên là chủ đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau, tuy nhiên, nghiên cứu về vai trò của Đoàn trong giáo dục lối sống cho thanh niên đô thị, đặc biệt là khía cạnh giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong thanh niên vẫn là một nội dung mới Vấn đề trật tự an toàn giao thông, ùn tắc giao thông đã và đang là vấn đề gây bức xúc hiện nay Những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế ở mức cao, nhu cầu đi lại của người dân và số lượng phương tiện cơ giới tăng nhanh đã làm cho tình hình trật tự an toàn giao thông trên toàn quốc trở nên phức tạp và nghiêm trọng, nhất là ở các đô thị lớn Tại Việt Nam, theo thống kê của Ủy ban An toàn Giao
Trang 12thông quốc gia, trung bình hàng ngày ước tính có khoảng 30-35 người chết do tai nạn giao thông mà chủ yếu là tai nạn giao thông đường bộ [58] Có nhiều nguyên nhân gây đến tai nạn giao thông, tuy nhiên, yếu tố con người nhất là ý thức tham gia giao thông là vấn đề cần quan tâm nhất Thống kê cho thấy hơn 80% vụ tai nạn giao thông xuất phát từ lỗi của người điều khiển phương tiện giao thông và người đi bộ [58], điều này cho thấy yếu tố con người là yếu tố quan trọng nhất dẫn đến tình trạng tai nạn giao thông, do đó nâng cao hiểu biết và ý thức tham gia giao thông của người dân, hình thành văn hóa giao thông là nền tảng tạo nên một trật tự an toàn giao thông bền vững, một môi trường giao thông thân thiện
Giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên, nhất là hình thành ý thức trách nhiệm trong việc chấp hành pháp luật sẽ góp phần hình thành một thế hệ thanh niên
có lối sống tuân thủ pháp luật Thời gian qua, những vi phạm pháp luật của thanh niên, trong đó có vi phạm luật giao thông đường bộ thể hiện rõ nét [58] Với cơ sở hạ tầng giao thông hiện nay, nhất là mật độ tham gia giao thông ở đô thị ngày càng tăng trong khi cơ sở hạ tầng vẫn đang còn đang trong quá trình nâng cấp để đáp ứng nhu cầu của người tham gia giao thông, thì việc nâng cao ý thức tham gia giao thông của người dân là điều cần thiết Điều đó cho thấy, giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị cũng là một trong những nội dung quan trọng góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của thế hệ trẻ khi tham gia giao thông Tổ chức Đoàn cũng thể hiện sự quan tâm của mình trong việc giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên Trong cuộc vận động thanh niên với văn hoá giao thông, Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã
đưa ra 27 tiêu chí “Thanh niên với văn hoá giao thông”, chủ yếu nhấn mạnh đến sự
ứng xử một cách có ý thức tự giác của người trực tiếp tham gia giao thông
Vậy Đoàn Thanh niên đã thể hiện vai trò của mình như thế nào trong việc giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị? Những nội dung giáo dục của Đoàn đã mang đến sự chuyển biến gì trong nhận thức và hành động của thanh niên trong ứng xử có văn hóa khi tham gia giao thông?
Qua những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Vai trò của Đoàn Thanh niên trong giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội)
Trang 132 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Nghiên cứu vai trò của Đoàn Thanh niên trong giáo dục thanh niên
Tiếp cận các công trình nghiên cứu về vai trò của Đoàn trong giáo dục thanh niên là một cơ sở quan trọng để tác giả xây dựng định hướng, cách tiếp cận nghiên cứu đề tài Các công trình nghiên cứu về vấn đề này đã đưa ra luận cứ khoa học trong tiếp cận nghiên vai trò của Đoàn trong việc giáo dục thanh niên, đặc biệt là giáo dục lý tưởng cách mạng, giáo dục pháp luật, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu đề cập đến hướng tiếp cận nghiên cứu này như sau:
Tác giả Đặng Cảnh Khanh (2006), trong cuốn “Xã hội học thanh niên” đã hệ
thống nhóm các vấn đề lớn khi nghiên cứu về thanh niên như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu vị trí và vai trò của thanh niên cũng như các vấn đề thanh niên trong sự vận động và phát triển của đất nước, mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề thanh niên với những vấn đề kinh tế - xã hội
Thứ hai, nghiên cứu bản thân vấn đề thanh niên, cũng như thế hệ thanh niên trong nội hàm của nó; nghĩa là nghiên cứu, phân tích, lý giải các vấn đề của thanh niên, tâm lý, tâm trạng, nhu cầu và hành vi của thanh niên tương đối độc lập với các vấn đề khác
Thứ ba, nghiên cứu những hoạt động của phong trào thanh niên, các tổ chức thanh niên trong quá trình đoàn kết, tập hợp thanh niên, vai trò của các cơ quan, chính quyền, đoàn thể, cộng đồng và gia đình trong việc quan tâm chăm sóc, rèn luyện, giáo dục thanh niên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [Đặng Cảnh Khanh, 2006:39] [34]
Như vậy, nghiên cứu về vai trò của tổ chức Đoàn trong giáo dục lối sống cho thanh niên cũng là một trong những nội dung được đề cập đến trong hướng tiếp cận
xã hội học thanh niên
Giáo dục pháp luật cho thanh niên cũng là một trong những nội dung quan trọng được tác giả Đặng Cảnh Khanh (2006) đề cập đến trong chương XVII, cuốn sách “Xã hội học thanh niên”, trong đó nhấn mạnh đến việc giáo dục ý thức luật pháp cho thanh niên “Thanh thiếu niên là đối tượng quan trọng nhất của việc giáo
Trang 14dục pháp luật…nếu nhận thức luật pháp là nền tảng cho việc thực thi luật pháp thì việc tăng cường giáo dục luật pháp cho thanh thiếu niên có thể được coi là việc làm quan trọng, nhằm mở rộng phạm vi các hoạt động tự do và tự giác của họ trong khuôn khổ pháp luật” [Đặng Cảnh Khanh, 2006: 481] Tác giả cũng cho rằng vấn đề cốt lõi của việc nâng cao nhận thức pháp luật cho thanh niên không chỉ ở nội dung giáo dục mà còn ở phương thức để đưa những nội dung này vào trong thực tiễn Do
đó, cần phải có những phương thức hợp lý, năng động để xã hội hóa nội dung giáo dục Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức thanh niên cần trở thành lực lượng nòng cốt trong việc tổ chức, phối hợp, thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho thế hệ trẻ Việc giáo dục pháp luật cho đối tượng thanh niên cần phải năng động, linh hoạt, tìm tòi các phương thức mới mẻ, phù hợp và sát thực với từng đối tượng thanh thiếu niên cụ thể, kết hợp việc đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn làm nòng cốt, hạt nhân, thúc đẩy sự phát triển các phong trào tình nguyện trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật [Đặng Cảnh Khanh, 2006: 487] Như vậy, giáo dục ý thức pháp luật, hay cụ thể hơn là giáo dục văn hóa giao thông có một ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành nếp văn hóa trong ứng
xử của thanh niên khi tham gia giao thông
Tác giả Đỗ Ngọc Hà (2005) với nghiên cứu: “Đoàn Thanh niên với việc xây
dựng lối sống cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay” [27] Trong đề tài này, tác
giả đã nghiên cứu tính đặc trưng về lối sống trên phương diện lối sống - nếp sống văn hóa được biểu hiện trong định hướng giá trị, trong các hoạt động lao động, học tập, chính trị - xã hội, văn hóa, trong quan hệ giao tiếp, ứng xử và trong đời sống cá nhân của thanh niên và xác định nội dung, phương thức giáo dục lối sống cho thanh niên của Đoàn, đánh giá về hiệu quả của công tác giáo dục lối sống cho thanh niên của Đoàn Về mặt lý luận, đề tài đã chỉ rõ quan điểm tiếp cận nghiên cứu, thao tác các khái niệm về lối sống, khái niệm thanh niên, các quan điểm của Đảng của Đoàn
về giáo dục lối sống văn hóa cho thanh niên Về kết quả nghiên cứu qua khảo sát thực tiễn, từ đánh giá các kết quả của công tác giáo dục lối sống cho thanh niên của Đoàn, tác giả đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, giáo dục lối sống cho thanh niên bao gồm: Thống nhất các quan điểm xây dựng lối sống văn
Trang 15hoá cho thanh - thiếu niên; Xây dựng môi trường văn hoá xã hội lành mạnh để giáo dục lối sống cho thanh niên; Phát huy vai trò trường học trong công tác giáo dục lối sống cho học sinh, sinh viên; Xác lập vai trò của gia đình trong việc định hướng giá trị nhân cách, lối sống cho thanh thiếu niên; Phát huy vai trò của các chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội trong việc giáo dục nếp sống văn hoá cho thanh thiếu niên; Phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông đại chúng trong việc xây dựng nếp sống văn hoá trong thanh thiếu niên; Đoàn Thanh niên cần thông qua các cuộc vận động và phong trào cách mạng để giúp thanh niên hình thành đạo đức, lối sống cao đẹp; Cần mở rộng các hình thức giao lưu tiếp xúc của thanh niên; Cần nâng cao chất
lượng cán bộ làm công tác tư tưởng và giáo dục của Đoàn
Tác giả Trần Thanh Giang (2013), báo cáo khoa học đề tài cấp Bộ “Giải
pháp của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay” [24] Về mặt lý luận, đề tài đã khái quát một số vấn đề lý
luận về giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên, vai trò của Đoàn trong giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên và yêu cầu đặt ra đối với công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên trong tình hình mới Về mặt thực trạng, tác giả cũng nêu lên đặc điểm về đạo đức, lối sống của thanh niên hiện nay và đánh giá thực trạng triển khai, tính hiệu quả của các giải pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên của Đoàn Qua nghiên cứu, tác giả cũng tập trung đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên thông qua việc phân tích các nhân tố tác động đến quá trình hình thành đạo đức, lối sống
của thanh niên và đưa ra các nhóm giải pháp cụ thể
Tác giả Trần Mạnh Cương (2014), với nghiên cứu về “Vai trò của Đoàn Thanh niên trong giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên” (Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Công Đoàn) [16] Tác giả đã nghiên cứu trên 200 đơn vị mẫu là
sinh viên của Trường Đại học Công Đoàn nhằm đánh giá vai trò của Đoàn trong giáo dục kỹ năng sống cho thanh niên dựa trên việc tìm hiểu nhận thức của sinh viên về kỹ năng sống, về giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động đoàn thể; đánh giá của sinh viên về mức độ tham gia và hiệu quả giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động của Đoàn trường, hoạt động của các câu lạc bộ, đội, nhóm; tìm hiểu
Trang 16các nhân tố tác động đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống của Đoàn Tác giả cũng tìm hiểu những mong muốn của sinh viên đối với các hoạt động của Đoàn trường trên các khía cạnh về nội dung, hình thức, thời điểm tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống Qua nghiên cứu của tác giả, những nhân tố tác động trực tiếp và ảnh hưởng nhiều nhất đó đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống của Đoàn đó là: sự quan tâm của các cấp ủy đảng và của chuyên môn, vai trò của cán bộ đoàn, của truyền thông, việc học tập trong điều kiện đào tạo tín chỉ, sự phối hợp với các tổ chức đoàn thể khác, tính tích cực của sinh viên Trong đó, sự tích cực nhiệt tình, năng lực và trách nhiệm của người cán bộ đoàn được đánh giá cao nhất, đóng vai trò quyết định đối với việc tổ chức triển khai hoạt động đoàn nói chung và giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nói riêng Về mặt lý thuyết, tác giả sử dụng nhiều lý thuyết gồm: lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết nhu cầu, lý thuyết xã hội hóa cá nhân và lý thuyết vai trò Trong tiếp cận nghiên cứu về vai trò của Đoàn, tác giả tiếp cận nghiên cứu vai trò của Đoàn Thanh niên giống như nghiên cứu chức năng của họ đối với hệ thống chính trị, đối với xã hội mà biểu hiện của nó việc tập hợp, động viên, giáo dục và tổ chức các phong trào, các chương trình hành động cách mạng cho thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng Đánh giá vai trò của tổ chức đoàn
để thấy rõ được chức năng, nhiệm vụ và thực trạng hiệu quả hoạt động; cụ thể ở đề tài này là việc đánh giá hiệu quả hoạt động giáo dục cho sinh viên Cách đánh giá vai trò trong đề tài là việc phân tích hiệu quả các hoạt động giáo dục kỹ năng sống của Đoàn (cả hoạt động trực diện giáo dục kỹ năng và hoạt động gián tiếp, xen lồng nội dung giáo dục kỹ năng sống) qua ý kiến đánh giá của đối tượng hướng đến, đối tượng thụ hưởng là sinh viên
Nghiên cứu “Giải pháp của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đề tài khoa học cấp Bộ, mã số ĐT.KXĐTN 2012-08 của tác giả Đỗ Ngọc
Hà và cộng sự (2012) [28] Theo quan điểm nghiên cứu của đề tài, công tác giáo dục lí tưởng cách mạng của Đoàn nằm trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và
có mối quan hệ hữu cơ với giáo dục đạo đức cách mạng và lối sống văn hóa cho thanh niên Theo đó, nội dung của giáo dục lí tưởng cách mạng cho thanh niên theo
Trang 17các nhà nghiên cứu bao gồm cả giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ: hướng tới việc hình thành ý thức luôn hành động phù hợp với lợi ích của xã hội, đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn
xã hội; hình thành những tình cảm đạo đức tích cực: lương tâm, danh dự, trách nhiệm, nghĩa vụ, uy tín; những phẩm chất đạo đức: trung thực, kỷ luật, dũng cảm, tính nguyên tắc, thiện chí, lạc quan, biết tự trọng và tôn trọng người khác Đề tài cũng đã đưa ra đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng về giáo dục thanh niên, vai trò của Đoàn Thanh niên trong công tác giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên, các chủ trương của Đoàn về giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên trong nhiệm kỳ 2007-2012 Nghiên cứu của đề tài cũng chỉ ra những hạn chế trong công tác giáo dục của Đoàn Thanh niên đó là: “Chưa cụ thể hóa nội dung giáo dục lí tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho phù hợp với các đối tượng thanh thiếu nhi; việc đổi mới phương thức giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu Tỉ
lệ tập hợp thanh niên ở một số nơi còn thấp, nhiều hoạt động giáo dục chỉ đến với thanh niên tích cực, chưa đến với nhóm đối tượng thanh niên đặc thù” [Đỗ Ngọc
Hà, 2012: 41] Trong các nhóm giải pháp mà đề tài đưa ra, có giải pháp tăng cường
về yêu cầu về nội dung giáo dục lối sống cho thanh niên trong đó cần: Giáo dục cho thanh niên có ý thức, thái độ và hành vi tôn trọng, chấp hành những qui định, thể chế của xã hội, tập thể trong đời sống chung; nếp sống sinh hoạt ở tập thể, những nơi công cộng Đồng thời là người góp phần tổ chức, tự quản nếp sống văn minh của cộng đồng, tập thể Hình thành những thói quen tốt, có văn hóa trong thực hiện qui định của pháp luật và các qui tắc xã hội; trong giao tiếp, ứng xử xã hội; trong học tập, làm việc; trong sinh hoạt, hoạt động tập thể; trong tiêu dùng và giải trí; trong ứng xử với môi trường sinh thái
Nghiên cứu “Giáo dục lối sống mới cho sinh viên Cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay” của Lâm Thị Yên (2009) [66] T á c g i ả
đã trình bày quan điểm tiếp cận khái niệm lối sống và vai trò của giáo dục lối sống đối với sự hình thành nhân cách cho sinh viên nói chung và sinh viên ở trường cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên nói riêng Nghiên cứu, đánh giá thực trạng giáo dục lối sống cho sinh viên nhà trường trong những năm qua, phân tích
Trang 18nguyên nhân của thực trạng đó Phân tích những bất cập, hạn chế cần khắc phục trong việc giáo dục lối sống mới cho sinh viên, nêu những vấn đề đặt ra cho công tác này, đó là vấn đề xã hội hóa, dân chủ hóa, hiện đại hóa trong công tác giáo dục, vấn đề phương Tây hóa trong lối sống Thông qua đó, tác giả đề xuất các giải pháp chủ yếu: xây dựng môi trường sống lành mạnh ở nhà trường, gia đình và xã hội; phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên và các tổ chức trong nhà trường; phát huy tính tích cực, tự giác của sinh viên; thực hiện tốt phương châm
“học đi đôi với hành”; nêu gương người tốt, việc tốt nhằm xây dựng lối sống đẹp, nâng cao chất lượng trong giáo dục lối sống mới cho sinh viên trong nhà trường
2.2 Các nghiên cứu về giáo dục lối sống, giáo dục pháp luật cho thanh niên
Bên cạnh các công trình nghiên cứu đề cập đến cụ thể về vai trò của Đoàn giáo dục thanh niên, một số hướng nghiên cứu về giáo dục lối sống, giáo dục pháp luật cho thanh niên cũng là cơ sở về lý thuyết và thực tiễn giúp đề tài xây dựng khung lý thuyết trong tiếp cận nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục thanh niên Các công trình theo hướng nghiên cứu này đã tiếp cận theo các hướng nghiên cứu về vai trò của giáo dục, vai trò của các chủ thể giáo dục, thực trạng và giải pháp giáo dục lối sống, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu sau:
Tác giả Nghiêm Sĩ Liêm (2001) với nghiên cứu luận án tiến sĩ ngành triết
học: “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay” [36]
Nghiên cứu tập trung vào vai trò giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ ở lứa tuổi
vị thành niên trên các mặt nội dung giáo dục đó là: giáo dục đạo đức, giáo dục học tập văn hóa, giáo dục lao động, giáo dục giới tính Tác giả cũng đã xác định các yếu
tố ảnh hưởng đến giáo dục gia đình và đánh giá thực trạng giáo dục thế hệ trẻ trong gia đình Việt Nam hiện nay Theo tác giả, để nâng cao vai trò giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ cần phải đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của giáo dục gia đình, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tạo điều kiện vật chất cần thiết cho việc nâng cao vai trò giáo dục của gia đình, tạo môi trường văn hóa để thế hệ trẻ phát triển
Trang 19Tác giả Vương Hoàng Yến (2012) với nghiên cứu “Vai trò của gia đình
trong giáo dục văn hóa ứng xử cho trẻ em vị thành niên ở Hà Nội hiện nay” [67]
Trong đề tài này, khi tiếp cận lý thuyết vai trò, tác giả đã gắn khái niệm vai trò với
vị thế xã hội, giải thích sự khác biệt về đặc điểm gia đình, đặc trưng nhân khẩu của cha mẹ ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của gia đình trong giáo dục văn hóa ứng xử cho vị thành niên Kết quả nghiên cứu khẳng định cha mẹ đều nhận thức đúng tầm quan trọng của giáo dục văn hóa ứng xử trong gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, tuy nhiên nhiều gia đình chưa làm tốt vai trò của mình Có sự khác biệt về đặc điểm nhân khẩu gia đình đối với việc giáo dục văn hóa ứng xử văn hóa cho trẻ em (tuy nhiên, tác giả cũng chưa đưa ra bằng chứng thuyết phục kiểm định giả thuyết này) Tác giả cũng cho rằng những gia đình sống
ở khu vực đô thị hóa ổn định có xu hướng quan tâm tới giáo dục đạo đức cho con cái hơn khu vực đang trong quá trình đô thị hóa
Tác giả Đặng Quang Thành (2005) với đề tài luận án tiến sĩ Triết học về
“Xây dựng lối sống có văn hóa của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [46] Đề tài tập trung làm rõ khái
niệm và đặc trưng của lối sống có văn hóa, tầm quan trọng của hoạt động xây dựng lối sống văn hóa của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay; Chỉ ra những yếu tố tác động và thực trạng xây dựng lối sống có văn hóa của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh những năm đổi mới vừa qua; Nêu lên phương hướng chung, quan điểm cơ bản, và từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu để nâng cao hơn nữa hiệu quả xây dựng lối sống
có văn hóa của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới ở thành phố hiện nay
Tác giả Dương Văn Đại (2007) với đề tài luận văn thạc sĩ ngành Xã hội học
về “Vai trò của giáo dục pháp luật, chính trị đối với phạm nhân ở một số trại giam thuộc Bộ Công an” [21] Trong đề tài này, tác giả cũng đã thao tác các khái niệm về
“vai trò” và “giáo dục” Khi nghiên cứu về thực trạng giáo dục pháp luật cho phạm nhân, tác giả phân tích trên các khía cạnh: Nội dung giáo dục, hình thức giáo dục, phương pháp giáo dục Tác giả cũng phân tích vai trò của giáo dục pháp luật, chính
Trang 20trị đối với phạm nhân ở các mặt như nâng cao trình độ nhận thức pháp luật, chính trị cho phạm nhân, hình thành ý thức trách nhiệm cho phạm nhân, giúp phạm nhân nhận thức được tội lỗi của mình
Nhóm tác giả Trần Kiều, Vũ Trọng Rỹ, Hà Nhật Thăng, Lưu Thu Thủy
(2001), Báo cáo kết quả nghiên cứu chuyên đề KHXH 04-07-CĐ: “Thực trạng và
giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên học sinh, sinh viên trong chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [35] Chuyên đề cũng đã là rõ cơ sở lý luận và
phương pháp luận trong nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên; điều tra khảo sát đạo đức,
tư tưởng chính trị, lối sống của học sinh, sinh viên trên cả ba mặt về nhận thức, thái
độ và hành vi; xác định các giải pháp tổ chức giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho học sinh, sinh viên Về mặt phương pháp, chuyên đề cũng phân tích rất
cụ thể cách tiến hành phương pháp điều tra, nguyên tắc, quy trình thiết kế bộ công
cụ điều tra, phương pháp xử lý và phân tích số liệu Kết quả đánh giá chỉ số đo sự tôn trọng pháp luật trong thanh niên cho thấy hầu hết học sinh, sinh viên thấy được tầm quan trọng của luật pháp nhưng hiểu biết về luật pháp và ý thức tôn trọng, chấp hành luật của học sinh, sinh viên còn rất thấp Có 93,8% sinh viên và 94,2% học sinh nhận thức được rằng: “Mọi người cần phải sống và làm việc theo pháp luật”, nhưng chỉ có 5,8% sinh viên và 6,6% học sinh tự xem mình là người hiểu biết khá tốt, cập nhật về luật pháp; có 71,3% học sinh và 75% sinh viên có hành vi làm ngơ khi thấy người khác làm sai luật pháp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: “Giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho học sinh, sinh viên là một quá trình, nó chỉ thực
sự hiệu quả khi xác định rõ các mục tiêu cụ thể, những nội dung giáo dục cần đạt, những định hướng cần ưu tiên, các điều kiện cơ sở vật chất, môi trường xã hội và các loại hình giáo dục phải đa dạng, được tổ chức thường xuyên, có hệ thống, có đánh giá, nhận xét… và phải phù hợp với tâm lý lứa tuổi” [Trần Kiều và cộng sự, 2001:tr.98]
Tác giả Đoàn Thị Thanh Huyền (2014) với đề tài luận án tiến sĩ Xã hội học
về “Giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình hiện nay” (Nghiên cứu trường
Trang 21hợp tỉnh Quảng Ninh) [33] Trong đề tài này, tác giả đã đánh giá thực trạng giáo dục pháp luật cho con cái lứa tuổi trung học cơ sở, trung học phổ thông trong các gia đình thông qua nghiên cứu nhận thức của phụ huynh, xác định các nội dung, phương thức giáo dục, đánh giá hiệu quả của giáo dục pháp luật trong gia đình; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình
Về tiếp cận lý thuyết, tác giả cũng vận dụng lý thuyết vai trò trong tiếp cận vai trò của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội, khái niệm vai trò được hiểu là “những nhóm quyền và nghĩa vụ mang tính chuẩn mực xã hội gắn với các vị thế khác nhau trong các thiết chế khác nhau” [Đoàn Thị Thanh Huyền, 2014:tr.47]
Tác giả Nguyễn Đức Mạnh (2002) với đề tài luận án tiến sĩ Xã hội học về
“Vai trò của gia đình đối với việc giáo dục trẻ em hư ở thành phố” (Qua nghiên
cứu ở thành phố Hà Nội) [37] Trong nghiên cứu này, tác giả cũng tiếp cận các lý thuyết về vị thế, vai trò, xung đột vai trò Tác giả cũng tóm tắt hai khuynh hướng lý thuyết về cách tiếp cận vai trò xã hội từ tiếp cận Tâm lý học xã hội (quan điểm của Geoge Herbert Mead), tiếp cận từ góc độ Nhân loại học văn hóa (quan điểm của Ralph Linton), đưa ra một số quan niệm về lý thuyết vai trò qua nghiên cứu của Thomas và Bidddle (1966), mô hình vai trò theo Sarbin (1954) Đánh giá về thực trạng vai trò của gia đình trong việc giáo dục trẻ, tác giả tìm hiểu nhận thức của gia đình trong giáo dục con cái, quan niệm và kỳ vọng của gia đình đối với con cái, sự quan tâm của gia đình đến nhu cầu phát triển của trẻ, nội dung, hình thức, phương pháp, biện pháp giáo dục trẻ em hư trong gia đình
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã tập trung nghiên cứu xem xét
về lí luận và thực tiễn về giáo dục đạo đức, lối sống trên một số bình diện sau:
Một là, hệ thống những vấn đề lý luận về đạo đức, lối sống, giá trị, định hướng giá trị
Hai là, đánh giá thực trạng đạo đức, lối sống của thanh niên hiện nay Trong
đó, các nhà khoa học chỉ ra những mặt tích cực, cũng như những hạn chế cần được quan tâm trong phương diện đạo đức, lối sống của thanh niên
Trang 22Ba là, phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội và những yếu tố văn hóa, giáo dục tác động đến đạo đức, lối sống của thanh niên
Bốn là, nêu rõ tính cấp thiết của công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên từ quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước
Năm là, đề xuất các biện pháp, giải pháp giáo dục để hình thành và phát triển những hành vi đạo đức, lối sống tích cực, lành mạnh ở thanh niên
Như vậy, có khá nhiều công trình quan tâm nghiên cứu về lối sống cho thanh niên, đề cập đến vấn đề giáo dục lối sống cho thanh thiếu niên, đề cập đến cách tiếp cận lý thuyết vai trò trong nghiên cứu Đây cũng chính là hệ thống lý luận và thực tiễn để chúng tôi tham khảo cách thức tiếp cận và các kết quả của các nghiên cứu đi trước Tuy nhiên, nghiên cứu vai trò của Đoàn Thanh niên trong việc giáo dục lối sống văn hóa cho thanh niên thông qua trường hợp cụ thể là giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên theo hướng tiếp cận xã hội học thì hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Mặt khác, giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên
là một trong những nội dung mà Đoàn triển khai trong công tác giáo dục lối sống cho thanh niên, nhất là khi tham gia thực hiện đề án “Đoàn thanh niên tham gia giữ gìn trật tự an toàn giao thông giai đoạn 2012-2017” và đẩy mạnh cuộc vận động
“Thanh niên với văn hóa giao thông” Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi mong muốn tìm hiểu sự thể hiện vai trò của Đoàn Thanh niên trong hoạt động giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị hiện nay như thế nào
3 Ý nghĩa nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần cung cấp những tri thức về vai trò của Đoàn Thanh niên trong giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị thông qua việc vận dụng một số lý thuyết xã hội học để giải thích Bên cạnh đó, đề tài cũng đưa ra những khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của Đoàn trong hoạt động giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị hiện nay
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ một số nội dung sau:
Trang 23Một là, đánh giá nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử văn hóa khi tham gia giao thông của thanh niên
Hai là, đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của Đoàn cơ sở trong việc giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên
Ba là, tìm hiểu mong muốn của thanh niên đối với việc tổ chức các hoạt động giáo dục của Đoàn, thông qua đó đề xuất khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác tổ chức giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên trên địa bàn phường
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu việc thực hiện vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị, qua đó, đề xuất các khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của Đoàn trong việc giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của Đoàn Thanh niên trong giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên thông qua việc thao tác các khái niệm chính của đề tài như khái niệm “vai trò”, “giáo dục”, “văn hóa giao thông”, “giáo dục văn hóa giao thông”,…; tóm tắt các lý thuyết về vai trò, lý thuyết xã hội hóa, lý thuyết nhận thức và hành vi; tóm tắt các quan điểm của Đảng, của Đoàn về giáo dục thanh thiếu niên
Phân tích thực trạng việc tổ chức, triển khai hoạt động giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên của tổ chức Đoàn
Phân tích mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ và hành vi tham gia giao thông của thanh niên đô thị với việc tham gia hoạt động giáo dục văn hóa giao thông của tổ chức Đoàn
Tìm hiểu đánh giá của nhóm thanh niên thụ hưởng hoạt động giáo dục văn hóa giao thông về vai trò của Đoàn trong tổ chức hoạt động giáo dục VHGT
Tìm hiểu kỳ vọng của các nhóm thanh niên đối với hoạt động giáo dục VHGT của Đoàn cơ sở
Trang 245 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong việc giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị
Phạm vi nội dung nghiên cứu:
+ Cơ sở lý luận về vai trò của Đoàn trong giáo dục VHGT cho thanh niên + Thực trạng tổ chức, triển khai các hoạt động giáo dục VHGT cho thanh niên của tổ chức Đoàn
+ Thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử của thanh niên khi tham gia giao thông
+ Đánh giá của nhóm thanh niên đã tham gia hoạt động giáo dục VHGT về việc thực hiện vai trò của Đoàn trong tổ chức hoạt động giáo dục VHGT
+ Kỳ vọng của các nhóm thanh niên đã tham gia và chưa tham gia hoạt động giáo dục văn hóa giao thông đối với việc tổ chức hoạt động giáo dục VHGT
Phạm vi thời gian nghiên cứu: từ năm 2012 đến tháng 10/2015 Thời điểm năm 2012 là thời điểm chính thức triển khai Đề án “Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tham gia giữ gìn trật tự an toàn giao thông giai đoạn 2012-2017”
6 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu 1: Hiện nay hoạt động giáo dục văn hóa giao thông cho
thanh niên tại Đoàn phường được tổ chức như thế nào?
Trang 25Câu hỏi nghiên cứu 2: Nhận thức, thái độ, hành vi của thanh niên đối với
việc thực hiện văn hóa giao thông như thế nào?
Câu hỏi nghiên cứu 3: Vai trò của Đoàn Thanh niên trong hoạt động giáo
dục VHGT cho thanh niên thể hiện như thế nào qua đánh giá của thanh niên?
Câu hỏi nghiên cứu 4: Thanh niên có mong muốn, đề xuất gì đối với việc tổ
chức hoạt động giáo dục văn hóa giao thông tại phường?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu 1: Hoạt động giáo dục văn hóa giao thông của Đoàn
cơ sở chưa được triển khai thường xuyên, các nội dung và hình thức triển khai chưa đạt hiệu quả cao
Giả thuyết nghiên cứu 2: Hoạt động giáo dục văn hóa giao thông có tác động
tích cực đến nhận thức, thái độ và hành vi tham gia giao thông của thanh niên Có
sự khác biệt giữa nhận thức, thái độ và hành vi của thanh niên đã tham gia hoạt động giáo dục VHGT và nhóm thanh niên chưa tham gia hoạt động này trong việc thực hiện văn hóa giao thông
Giả thuyết nghiên cứu 3: Thanh niên đã tham gia hoạt động giáo dục văn hóa
giao thông tại phường đánh giá chưa cao việc thực hiện vai trò của Đoàn phường trong tổ chức giáo dục VHGT cho thanh niên
Giả thuyết nghiên cứu 4: Các đối tượng thanh niên đã từng tham gia hoạt
động giáo dục VHGT và chưa từng tham gia hoạt động giáo dục VHGT tại phường
có những mong muốn khác nhau về nội dung, phương thức giáo dục VHGT
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu này kết hợp phương pháp thu thập thông tin định tính và định lượng Các dữ liệu định tính góp phần củng cố kết quả nghiên cứu từ dữ liệu định lượng [Creswell & Plano Clark, 2007] [73; p.14] Việc kết hợp phương pháp phương pháp nghiên cứu được hiểu đó là tiến hành các bước thu thập dữ liệu định tính và dữ liệu định lượng [Creswell, 2009] [73; p.18], đồng thời tích hợp cả hai kiểu dữ liệu này để phân tích Ngoài ra, việc kết hợp thu thập dữ liệu định tính và
Trang 26định lượng được thiết kế trong các câu hỏi đóng, câu hỏi mở và loại câu hỏi kết hợp trong bảng hỏi khảo sát [Creswell, 2009] [73; p.17].
Với phương pháp thu thập thông tin định tính, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để tìm hiểu các quan điểm của Đảng về vai trò của Đoàn trong công tác giáo dục thanh niên, các quan điểm, định hướng, chương trình của Đoàn trong giáo dục thanh niên Bên cạnh đó, chúng tôi cũng dùng phương pháp phỏng vấn sâu với một số thanh niên đã tham gia hoạt động giáo dục văn hóa giao thông và chưa tham gia hoạt động này để bước đầu tìm hiểu xem có sự khác biệt hay không về nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử khi tham gia giao thông giữa hai nhóm thanh niên này
Trên cơ sở những thông tin thu thập được bằng phương pháp định tính, chúng tôi tiến hành xây dựng bộ công cụ đo Các câu hỏi được thiết kế dưới dạng câu hỏi hỏi đóng và câu hỏi kết hợp, trong đó có những câu chung dành cho hai nhóm đối tượng thanh niên, có nhóm câu chỉ dành cho nhóm thanh niên đã tham gia hoạt động giáo dục VHGT đánh giá Sau khi tiến hành khảo sát, chúng tôi phân tích thông tin thu thập để viết báo cáo
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tiếp cận và phân tích các tài liệu trong đó bao gồm các văn bản chỉ đạo, nghị quyết của Đảng, Đoàn về nội dung giáo dục lối sống cho thanh niên, trong đó có những nội dung trực tiếp liên quan đến giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên; các công trình nghiên cứu về vai trò của Đoàn trong giáo dục thanh niên, nghiên cứu về hoạt động giáo dục thanh niên của Đoàn; các báo cáo về công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi hàng năm của Trung ương Đoàn, Thành đoàn Hà Nội, Quận đoàn Hai Bà Trưng và Đoàn phường Cầu Dền; báo cáo liên quan đến đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân phường Cầu Dền; tài liệu của Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia về thực hiện văn hóa giao thông… Các tài liệu thu thập được sử dụng để tổng quan vấn
đề nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận của nghiên cứu, được trình bày chủ yếu ở Chương 1 và các mục 2.1, 2.2, 2.3 trong Chương 2 của đề tài
Trang 277.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện trên 03 nhóm đối tượng: cán bộ Đoàn trực tiếp tham gia tổ chức hoạt động giáo dục VHGT cho thanh niên; thanh niên tham gia hoạt động giáo dục VHGT tại phường và thanh niên không tham gia hoạt động này Chúng tôi đã phỏng vấn 06 trường hợp trong đó bao gồm: 02 cán bộ Đoàn trực tiếp tham gia vào việc triển khai, tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa giao thông tại Đoàn phường; 02 thanh niên sinh hoạt Đoàn tại phường và 02 thanh niên cư trú tại phường nhưng không thuộc diện Đoàn phường quản lý Nội dung chủ yếu phỏng vấn sâu các đối tượng như sau:
Đối với cán bộ Đoàn: Tìm hiểu về thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục VHGT; đánh giá về những kết quả đạt được và những khó khăn trong việc triển khai hoạt động
Đối với thanh niên đã tham gia hoạt động: Tìm hiểu về sự tham gia của thanh niên; nhận thức của thanh niên về VHGT; thái độ và hành vi tham gia giao thông của thanh niên; thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục VHGT tại phường; đánh giá vai trò của Đoàn trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục VHGT cho thanh niên, mong muốn, kỳ vọng đối với việc tổ chức hoạt động giáo dục VHGT
Đối với thanh niên chưa tham gia hoạt động: Tìm hiểu lý do không tham gia; nhận thức về VHGT; thái độ và hành vi tham gia giao thông; mong muốn, kỳ vọng đối với việc tổ chức hoạt động giáo dục VHGT
7.2.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến
Trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi với 200 thanh niên cư trú tại phường trong khoảng thời gian từ cuối tháng 8/2015 đến tháng 10/2015 Do không thể tập trung
số lượng lớn thanh niên vào cùng một thời điểm nên việc phát bảng hỏi được tiến hành ở nhiều thời điểm khác nhau trên hai nhóm đối tượng thanh niên dưới hình thức tập hợp thanh niên và phát bảng hỏi đến từng người, trả lời trực tiếp thông tin vào bảng hỏi rồi thu lại Việc tập hợp thanh niên được thực hiện dưới sự giúp đỡ của cán bộ đoàn phường Kết thúc mỗi buổi khảo sát, bảng hỏi đều được thống kê lại về số lượng và nhóm đối tượng thanh niên, sau đó tiếp tục bổ sung thêm các đối tượng cho đủ với số lượng mẫu lựa chọn là 200 người Do phần lớn đối tượng thanh
Trang 28niên do Đoàn phường quản lý đều tham gia các hoạt động giáo dục VHGT của phường nên số lượng thanh niên không tham gia hoạt động này, ngoài đối tượng trực tiếp do Đoàn phường quản lý, có thể tập hợp được, việc tiếp cận các đối tượng không tham gia hoạt động tại phường được thực hiện thông qua các bí thư chi đoàn khu dân cư, nhờ họ phối hợp phát bảng hỏi đến các đối tượng này
Bảng hỏi được thiết kế bao gồm các nội dung chính gồm:
(1) Mô tả thực trạng công tác giáo dục VHGT của Đoàn phường
(2) Nhận thức, thái độ, hành vi của thanh niên khi tham gia giao thông
(3) Đánh giá của thanh niên về vai trò của Đoàn trong giáo dục VHGT
(4) Những kỳ vọng của thanh niên về hoạt động giáo dục VHGT
Thông tin thu được từ phiếu trưng cầu ý kiến được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
Về cách thức phân tích thông tin: Đối với các câu hỏi xây dựng theo thang Likert 3-5 bậc mức độ, ngoài giá trị % tần suất của mỗi biểu hiện theo các bậc của thang đo, tác giả đánh giá xu hướng của các biểu hiện thông qua giá trị trung bình của thang đo (𝑋 ) Giá trị khoảng cách của thang đo được tính bằng công thức sau:
Giá trị khoảng cách = (Giá trị lớn nhất – Giá trị nhỏ nhất)/n
Như vậy, đối với thang đo 3 mức độ, giá trị khoảng cách bằng 0,67; đối với thang đo 5 mức độ, giá trị khoảng cách bằng 0,8 Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng trong nghiên cứu này được quy ước như sau:
Đối với thang đo Likert 3 bậc: 1,00 - 1,67: không bao giờ; 1,68 - 2,34: thỉnh thoảng; 2,35 – 3,00: thường xuyên
Đối với thang đo Likert 5 bậc:
Giá trị
1,00 - 1,80 chưa bao giờ/ kém/ hoàn toàn không cần thiết/ không hiệu quả/ rất
không đồng ý 1,81 - 2,60 hiếm khi/ chưa tốt/ không cần thiết/ ít hiệu quả/ không đồng ý
2,61 - 3,40 khá thường xuyên/ bình thường/ băn khoăn
3,41 - 4,20 thường xuyên/ tốt / cần thiết/ hiệu quả/ đồng ý
4,21 – 5,00 rất thường xuyên/ rất tốt/ rất cần thiết/ rất hiệu quả/ rất đồng ý
Trang 29Trong báo cáo cũng trình bày các phép toán kiểm định mối quan hệ giữa hai biến định tính (kiểm định Chi-bình phương) và kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tổng thể độc lập (kiểm định Independent samples T-test) giữa nhóm thanh niên đã tham gia hoạt động giáo dục VHGT và nhóm thanh niên chưa tham gia hoạt động này Mức độ tin cậy ở các kiểm định này là 95% (α = 0,05)
7.3 Mẫu nghiên cứu
7.3.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản căn cứ trên danh sách quản lý đoàn viên chính thức của Đoàn phường Để thực hiện việc so sánh đối chứng, chúng tôi tiến hành chọn 2 nhóm thanh niên, một là nhóm thanh niên thuộc diện sinh hoạt Đoàn chính thức tại phường, có tham gia hoạt động giáo dục VHGT của Đoàn; hai là nhóm thanh niên cư trú trên địa bàn phường nhưng chưa tham gia sinh hoạt Đoàn hoặc chưa tham gia hoạt động giáo dục VHGT của Đoàn Tổng số đơn vị mẫu lựa chọn là 200 đơn vị, chia đều cho cả hai nhóm đối tượng thanh niên
Căn cứ số lượng đoàn viên thanh niên do Đoàn phường cung cấp tại thời điểm khảo sát vào tháng 9/2015 là 139 đoàn viên thanh niên, chúng tôi tiến hành lựa chọn 100 đoàn viên thanh niên để khảo sát, đảm bảo đúng đối tượng đã tham gia hoạt động giáo dục VHGT tại phường Để đảm bảo so sánh ngang bằng về số lượng, chúng tôi tiếp tục lựa chọn 100 thanh niên cư trú trên địa bàn phường nhưng chưa tham gia hoạt động giáo dục VHGT tại phường Nhóm này rất đa dạng bao gồm học sinh chưa vào Đoàn, sinh viên, người đi làm,…có thể đã từng tham gia hoặc chưa từng tham gia các hoạt động tại Đoàn phường nhưng chưa tham gia hoạt động giáo dục VHGT Việc tiếp cận các đối tượng thanh niên được thực hiện dưới
sự giúp đỡ của cán bộ Đoàn phường và các đồng chí phụ trách các chi đoàn khu dân
cư trên địa bàn phường, đảm bảo đúng đối tượng và đủ số lượng mẫu khảo sát
7.3.2 Giới thiệu mẫu nghiên cứu
Đề tài khảo sát 200 đơn vị mẫu với đặc điểm mẫu nghiên cứu như sau:
* Về đối tượng tham gia hoạt động giáo dục VHGT:
Thanh niên đã từng tham gia
Thanh niên chưa từng tham gia
100
100
50,0% 50,0%
Trang 308 Khung lý thuyết
Nghiên cứu thiết kế dựa trên việc tìm hiểu vai trò của Đoàn Thanh niên trong hoạt động giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị Vai trò của Đoàn Thanh niên trong giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên được thể hiện thông qua tác động của hoạt động giáo dục VHGT đến nhận thức, thái độ, hành vi khi tham gia giao thông của thanh niên và sự đánh giá của thanh niên về vai trò của Đoàn Do có sự chênh lệch khá lớn về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp của mẫu khảo sát, vì vậy, chỉ có một biến số để so sánh ở đây là sự tham gia của thanh niên vào hoạt động giáo dục VHGT do Đoàn phường tổ chức
Việc triển khai
- Nội dung giáo dục
- Hình thức giáo dục
- Địa điểm giáo dục
- Thời gian giáo dục
Mong muốn,
kỳ vọng của các nhóm thanh niên về hoạt động giáo dục VHGT của
VHGT cho thanh niên đô thị
Trang 319 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu; phần kết luận, khuyến nghị và phần phụ lục; luận văn được kết cấu thành 3 chương Cụ thể nội dung các chương trong luận văn như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài Nội dung chương
này sẽ trình bày những khái niệm cơ bản của đề tài; các lý thuyết được sử dụng; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong giáo dục thanh niên
Chương 2 Thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa giao thông tại phường Cầu Dền và nhận thức của thanh niên về văn hóa giao thông Chương
này đi vào khái quát đặc điểm của địa bàn khảo sát; thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi tham gia giao thông của thanh niên; vấn đề nhận thức vai trò của Đoàn trong giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị; xem xét những hoạt động
thực tế của Đoàn cơ sở trong giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên
Chương 3 Thực trạng thực hiện vai trò của Đoàn trong tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị Nội dung chương này là
sự tiếp nối trên cơ sở đánh giá những mặt đạt được và những mặt hạn chế trong công tác giáo dục văn hóa giao thông của Đoàn cơ sở, xem xét kỳ vọng của các nhóm thanh niên về hoạt động giáo dục văn hóa giao thông của Đoàn cơ sở; hướng tới việc hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên đô thị
Trang 321.1.1 Khái niệm vai trò
“Vai trò” là một thuật ngữ quen thuộc, là một khái niệm không thể thiếu của
Xã hội học Theo Dahrendorf, vai trò có thể được hiểu là: “Tập hợp những kỳ vọng
ở trong một xã hội gắn với hành vi của những người mang các địa vị… Ở mức độ này thì mỗi vai trò riêng là một tổ hợp hoặc nhóm các kỳ vọng hành vi”
[G.Endruweit và G.Trommsdorff, 2002: tr.536] [26]
Vai trò cũng được hiểu như sau: “Vai trò được sử dụng để xác định thành phần các mô hình văn hoá gắn liền với một địa vị cụ thể Nó gồm tâm thế, giá trị
và hành vi do xã hội gán cho bất cứ ai hoặc tất cả những người chiếm giữ một địa
vị cụ thể Nó bao gồm những kỳ vọng được hợp pháp hoá của những người giữ chức vụ đối với hành vi của người khác hướng đến họ” [Vũ Hào Quang, 2001: tr.156] [39] Hoặc là: “Một vai trò có nghĩa là một tập hợp các chuẩn mực, hành
vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn với một vị thế nhất định” [Nguyễn Đình Tấn, 2000:
tr.54] [56]
Nhà nhân học văn hóa Ralph Linton (1893 - 1953) được coi là người đầu
tiên đưa ra khái niệm vai trò trong tác phẩm Study of Man (1936) Sau này, trong bản thảo được biên soạn lại (1945), khái niệm này được thể hiện như sau: “Từ nay trở đi chúng ta sẽ gọi vị trí do một cá nhân chiếm lĩnh vào một thời gian cụ thể, trong một hệ thống cụ thể là địa vị của cá nhân đó… Vế thứ hai, vai trò được coi
là tổng thể của những khuôn mẫu văn hóa gắn liền với một địa vị cụ thể” [R
Linton, 1973:31, dẫn theo Hoàng Bá Thịnh: tr.173] [50] Theo R.Linton, “vai trò được coi là tổng thể của những khuôn mẫu văn hóa gắn liền với một trạng thái
cụ thể Như vậy, khái niệm vai trò bao gồm những quan điểm, ước lệ về giá trị
và phương thức hành động được xã hội quy định cho chủ nhân của trạng thái này”
Trang 33Vai trò được hiểu một cách chung nhất là: “một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể Những sự mong đợi này xác định các hành vi của con người được xem như là phù hợp và không phù hợp đối với người chiếm giữ một địa vị” [Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (cb), 2008: tr.212]
[19] Vị trí cho biết mỗi người là ai, còn vai trò cho biết người ta làm gì ở vị trí đó Người ta thường nhấn mạnh tới hai đặc tính quan trọng của vai trò, đó là các quyền lợi và các nghĩa vụ tương ứng với mỗi vai trò cụ thể
Ở đây, vai trò được lượng giá bởi những giá trị, chuẩn mực xã hội Những tiêu chí lượng giá này là các thành tố của văn hóa có thể biến đổi hoặc thay đổi theo thời gian, nhanh hay chậm tùy thuộc vào trình độ phát triển của xã hội ở những thời
kỳ khác nhau Có thể nói, cùng một vai trò tương ứng với một địa vị xã hội cụ thể, song người chiếm giữ vai trò đó ở các thời kỳ xã hội khác nhau thì phải đáp ứng
“những mong đợi” có thể không giống nhau; và vì vậy những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng với vai trò cũng có thể thay đổi Theo xu hướng tiếp cận này, vai trò được hiểu là những nhóm quyền và nghĩa vụ mang tính chuẩn mực xã hội gắn với các vị thế khác nhau trong các thiết chế khác nhau
Vai trò là khái niệm chỉ các khuôn mẫu, các chuẩn mực hoạt động và hành
vi, các phương thức hành xử của cá nhân hoặc nhóm xã hội tương ứng với vị thế của cá nhân hoặc nhóm xã hội đó Ở đây vai trò gắn liền với chức năng, nhiệm vụ
Sự duy trì những khuôn mẫu và những chuẩn mực hành động tương xứng với vai trò là yếu tố quan trọng đảm bảo sự vận hành ổn định của cơ cấu Vai trò là trạng thái động trong địa vị xã hội của một cá nhân hay nhóm xã hội, nó khẳng định chức năng hoạt động của cá nhân hay nhóm xã hội đó trong sự vận hành của xã hội [Đặng Cảnh Khanh, 2006: tr.74] [34]
Theo Maisonneuve, vai trò có ba cấp độ, đó là: cấp độ thiết chế, cấp độ cá nhân và cấp độ tương tác [dẫn theo Trịnh Văn Tùng, 2014] [54]
Ở cấp độ thiết chế, vai trò được định nghĩa như là tổng thể các hành vi, chuẩn mực của một chủ thể khi chủ thể đó có một địa vị xã hội tương ứng Những hành vi đó phù hợp với lứa tuổi tương ứng, giới tính tương ứng, vị trí tương ứng, nghề nghiệp tương ứng và vị thế chính trị tương ứng (Maisonneuve, 1973: 72)
Trang 34Ở cấp độ cá nhân, vai trò được định nghĩa là tập hợp các hành vi cho phép cá nhân đó khẳng định mình
Ở cấp độ tương tác, người ta quan tâm đến sự tiến triển của vai trò thông qua
sự chờ đợi của cá nhân khác hoặc nhóm người khác
Trong nghiên cứu này, khái niệm vai trò được tiếp cận ở cấp độ tương tác, nghĩa là đánh giá những hoạt động và kết quả hoạt động của Đoàn Thanh niên trong giáo dục văn hóa giao thông cho thanh niên thông qua ý kiến của thanh niên Ở đây, vai trò gắn liền với chức năng giáo dục của Đoàn Thanh niên
1.1.2 Khái niệm giáo dục
Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển Bách Khoa, 2001), thuật ngữ giáo
dục được định nghĩa là “Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện
kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì, phát triển con người và xã hội Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích phát triển của xã hội” [dẫn theo Trần Khánh Đức, 2010: tr.13-14] [23]
Theo Pierre Bourdieu, nhà xã hội học người Pháp, giáo dục với tư cách là một hệ thống xã hội phải thực hiện một chức năng kép gồm: chức năng gieo trồng văn hóa – truyền đạt văn hóa; chức năng tái tạo xã hội – tái sản xuất xã hội Tức là duy trì, củng cố “vốn văn hóa” và “vốn xã hội” [dẫn theo Lê Ngọc Hùng, 2009: tr.67] [31]
Theo Phạm Viết Vượng (2007): "Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên…” [63; tr.9] Định nghĩa này coi giáo dục là một hiện
Trang 35tượng xã hội đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người, về bản chất, giáo dục là sự truyền đạt và tiếp thu kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ; về mục đích, giáo dục là
sự định hướng của thế hệ trước cho thế hệ sau Ở đây giáo dục nhấn mạnh yếu tố lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học Đây là một cách tiếp cận khái niệm giáo dục ở góc độ vĩ mô Tác giả cũng nhấn mạnh giáo dục nhằm hình thành nhân cách và chức năng trội của giáo dục đó là “bồi dưỡng ý thức, thái độ và hành vi cuộc sống” [Phạm Viết Vượng, 2007: tr.125] [63] Giáo dục nếu xét với tư cách là một quá trình thì nó bao giờ cũng diễn ra trong một khoảng thời gian tương đối lâu dài Nếu xét về bản chất thì nó là quá trình tác động nhằm biến đổi về mặt tâm lý và hành vi của người được giáo dục Giáo dục diễn ra theo ba khâu: nhận thức; hình thành thái độ, tình cảm và niềm tin; hình thành thói quen hành vi [Phạm Viết Vượng, 2007: tr.126-128] [63]
John Dewey (2008) cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục để đảm bảo tồn tại xã hội Theo J Dewey, cá nhân con người không bao giờ vượt qua được qui luật của sự chết, và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội Hơn nữa, J Dewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, mà còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy [18; tr.17-26]
Cả hai cách hiểu như trên về giáo dục chú trọng đến khía cạnh xã hội của giáo dục nhiều hơn
Một cách định nghĩa khác, giáo dục được định nghĩa là: “Những cách khác nhau trong đó kiến thức – kể cả thông tin và kỹ năng thực tế, cũng như quy phạm và giá trị văn hóa được truyền đạt đến từng thành viên trong xã hội” [Hoàng Bá Thịnh; tr.125] [50]
Theo quan niệm của các nhà khoa học sư phạm thì giáo dục thường được hiểu theo hai nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình ảnh hưởng của điều kiện khách quan (chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế,
Trang 36môi trường sống,…) và của các nhân tố chủ quan (tác động tự giác, có chủ đích và
có định hướng của yếu tố con người) lên việc hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng được giáo dục Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình tác động định hướng của nhân tố chủ quan lên khách thể giáo dục nhằm đạt các mục tiêu nhất định
Trong nghiên cứu này, hoạt động giáo dục được xem xét qua các khía cạnh của giáo dục như mục tiêu, nội dung, phương pháp, địa điểm, thời gian Đây cũng là chỉ báo mà đề tài sử dụng để phân tích công tác tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa
giao thông của Đoàn Thanh niên
1.1.3 Văn hóa giao thông
Từ "văn hóa" có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian; theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là bao gồm tất cả những
gì do con người sáng tạo ra
Theo định nghĩa của UNESCO: “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, tính cách của một xã hội hay một người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho người khả năng suy xét về bản thân Chính nhờ văn hóa mà con người
tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân”
Văn hóa là một khái niệm được chỉ ra bởi một loại mô hình, hình ảnh, biểu trưng mà các thành viên của xã hội thể hiện thông qua nhận thức, hành động và các mối quan hệ xã hội trong hoạt động sống của mình Những mô hình, hình ảnh, biểu trưng này được nảy sinh từ những ước vọng, hệ giá trị, chuẩn mực xã hội hay nói
Trang 37cách khác là từ mối liên hệ mật thiết và qua lại giữa những biểu hiện vật chất và những khía cạnh phi vật chất của xã hội
Văn hoá giao thông là một biểu hiện cụ thể của khái niệm văn hoá nói chung
Do vậy nó cũng phải được nhìn nhận ở khía cạnh vật thể và phi vật thể, ở việc thể hiện trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc Văn hoá giao thông là một khái niệm mới với nhiều cách hiểu khác nhau
Theo Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia: “Văn hoá giao thông được biểu hiện bằng hành vi xử sự đúng pháp luật, theo các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, cái đẹp, cái thiện của người tham gia giao thông Xây dựng văn hoá giao thông nhằm tạo nên thói quen cư xử có văn hoá, đúng pháp luật; coi việc tự giác tuân thủ pháp luật về đảm bảo trật tự an toàn giao thông như một chuẩn mực đạo đức truyền
thống và là biểu hiện văn minh hiện đại của con người khi tham gia giao thông”
Theo Đặng Cảnh Khanh: “Văn hoá giao thông cần được hiểu là: sự ứng xử
một cách có ý thức và có trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội khi tham gia giao thông hoặc tham gia vào những hoạt động có liên quan đến giao thông để tạo lập nên một môi trường giao thông an toàn, văn minh, thân thiện và hiệu quả”
Khái niệm của Đặng Cảnh Khanh nhấn mạnh đến sự ứng xử một cách có ý thức và có trách nhiệm của mọi người trên bình diện xã hội chứ không phải chỉ nói đến ý thức tự giác của người trực tiếp tham gia giao thông Khái niệm này phản ánh được tính tự giác mang tính cá nhân và tính xã hội mang tính cộng đồng, đó là hai yêu cầu cơ bản tạo nên hành vi ứng xử có văn hoá của người tham gia giao thông
Văn hoá giao thông là văn hoá của người trực tiếp tham gia giao thông và văn hoá của các thành viên khác trong xã hội có tác động, ảnh hưởng đến quá trình
hình thành văn hoá giao thông như: Nhà làm luật giao thông; cơ quan quy hoạch
giao thông; cảnh sát giao thông; thanh tra giao thông; ban quản lý các khu công nghiệp, khu đô thị, khu chế xuất; ban quản lý chợ, công trình xây dựng; trung tâm đào tạo, sát hạch, cấp bằng lái xe, trung tâm đăng kiểm phương tiện Đây là khía cạnh phi vật thể của văn hoá giao thông Khía cạnh vật thể của văn hoá giao thông
là hệ thống cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống, hệ thống đèn chiếu sáng, biển báo [15]
Trang 38Như vậy có thể nói, thứ nhất là văn hóa giao thông bao gồm tổng hợp một hệ thống các văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh toàn bộ các mối quan hệ trong hoạt động giao thông vận tải góp phần bảo đảm trật tự an toàn giao thông; thứ hai, văn hóa giao thông là sự nhận thức và ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về TTATGT của tất cả các thành viên trong cộng đồng; thứ ba, văn hóa giao thông là thái độ ứng xử của các thành viên trong cộng đồng khi tham gia giao thông Thái độ ứng xử của các thành viên bao gồm: các cá nhân tham gia giao thông trên đường, chủ phương tiện, chủ doanh nghiệp, người điều khiển phương tiện (lái xe), các công chức thuộc các cơ quan công quyền của nhà nước đối với các hành vi của các tổ chức, cá nhân khi tham gia giao thông đặc biệt là các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về TTATGT
Văn hóa giao thông bao gồm văn hóa của người tham gia giao thông, văn hóa của những người quản lý, hoạch định giao thông Trong những yếu tố trên đây thì người trực tiếp tham gia giao thông đóng một vai trò quan trọng tạo nên văn hoá
giao thông Văn hoá của người trực tiếp tham gia giao thông biểu hiện cụ thể như: trước tiên là phải hiểu biết đầy đủ và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật giao thông; hai là phải có tính cộng đồng khi tham gia giao thông, khi lưu thông trên đường
phải biết không chỉ vì lợi ích bản thân mình mà còn phải đảm bảo an toàn cho
những người khác, gặp trường hợp người bị nạn cần giúp đỡ kịp thời; ba là cư xử có
văn hoá khi lưu thông trên đường như tham gia giao thông từ tốn, bình tĩnh, ưu tiên cho người già, trẻ nhỏ, người tàn tật, biết xin lỗi, cảm ơn khi có va chạm giao
thông
Theo Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia, Văn hóa giao thông được cụ thể hóa với nhiều tiêu chí nhưng cốt lõi vẫn là sự hiểu biết đầy đủ và tự giác chấp hành pháp luật về giao thông ở mức độ cao hơn Theo Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia, trong văn hoá giao thông có ba tiêu chí:
(1) Hiểu biết đầy đủ và tự giác chấp hành đúng các quy định của pháp luật về đảm bảo trật tự an toàn giao thông;
(2) Có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, tôn trọng, nhường nhịn và giúp đỡ người khác;
Trang 39(3) Có thái độ ứng xử văn minh lịch sự khi xảy ra va chạm giao thông và tinh thần thượng tôn pháp luật
Theo Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, nội dung văn hóa giao thông gồm 9
tiêu chí chung và 5 tiêu chí riêng cho một số đối tượng cụ thể Các tiêu chí này đã được cụ thể hóa dựa trên cơ sở tiêu chí của Ủy ban ATGT Quốc gia đề ra, được nhìn nhận ở nhiều phía từ các cơ quan quản lý nhà nước đến người tham gia giao thông, cư dân sinh sống ven đường giao thông, quy định những ứng xử cụ thể đối với lực lượng chức năng làm nhiệm vụ đảm bảo trật tự giao thông, cụ thể là:
Tiêu chí chung: Tự giác chấp hành pháp luật về giao thông; Thực hiện nghiêm nhiệm vụ, tác phong chuẩn mực, văn minh; Tôn trọng, nhường nhịn, giúp
đỡ mọi người khi tham gia giao thông; Có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng khi tham gia giao thông; Đi đúng làn đường, phần đường quy định; Không tham gia đua xe và cổ vũ đua xe trái phép; Tuân thủ pháp luật khi xử lý và bị xử lý các hành
vi vi phạm TTATGT; Tạo dựng kết cấu hạ tầng giao thông chuẩn mực, an toàn; Có
ý thức văn hoá xây dựng môi trường giao thông thân thiện, an toàn
Đối với người tham gia giao thông: Không vi phạm và tiếp tay cho các hành
vi vi phạm pháp luật, trật tự an toàn giao thông Chấp hành nghiêm túc hệ thống báo hiệu đường bộ, đi đúng phần đường, làn đường quy định; không sử dụng rượu, bia trước khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, không điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định Bảo đảm tình trạng sức khỏe về thể chất và tinh thần khi tham gia giao thông Duy trì phương tiện tham gia giao thông an toàn, sạch đẹp Có thái
độ hợp tác, hành vi ứng xử văn minh, lịch sự khi xảy ra tai nạn giao thông Có trách nhiệm phản ánh và lên án các hành vi tiêu cực; tích cực đề xuất các sáng kiến trong lĩnh vực giao thông Tận tình giúp đỡ người bị nạn, người già, người khuyết tật, trẻ
em, người có hoàn cảnh khó khăn khi tham gia giao thông Tuyên truyền, vận động người tham gia giao thông tự giác chấp hành pháp luật trật tự, an toàn giao thông
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, văn hóa giao thông được đo thông qua các chỉ báo về: mức độ hiểu biết Luật Giao thông đường bộ, các chuẩn mực ứng xử khi tham gia giao thông; tâm thế hành vi ứng xử của thanh niên khi tham gia giao
Trang 40thông Cách tiếp cận về các tiêu chí thực hiện văn hóa giao thông của đề tài căn cứ vào các tiêu chí do Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia đề xuất
1.1.4 Thanh niên đô thị
Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều khái niệm về thanh niên khác nhau Có người cho rằng, thanh niên là một tầng lớp xã hội đặc thù (tính đặc thù nằm trong lứa tuổi) Có người lại cho rằng, thanh niên là nhóm xã hội nhân khẩu đặc thù (tính đặc thù nằm trong nhóm nhân khẩu có độ tuổi nhất định)…
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ học năm 2000, trang 913 định nghĩa:
“Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành.” Khái niệm này bao
hàm: Thanh niên là người có độ tuổi còn trẻ và độ tuổi đó đang trưởng thành Khái niệm này không xác định rõ độ tuổi của thanh niên, mà chỉ xác định thanh niên là người còn trẻ và đang hoàn thiện dần về nhân cách, trí tuệ và sức khỏe
Theo Từ điển Xã hội học Oxford: “Thanh niên là thuật ngữ được đề cập đến trong xã hội học như là một điển hình về vị thế quy gán, hay một cái nhãn được đặt
ra về mặt xã hội, chứ không chỉ đơn giản là điều kiện sinh học của thời tuổi trẻ Thuật ngữ này được sử dụng theo ba cách: một cách rất chung thì nó bao hàm toàn
bộ các giai đoạn trong vòng đời, từ lúc còn thơ ấu đến khi bắt đầu thành người trưởng thành; một cách hay dùng thay cho thuật ngữ vị thành niên vốn chưa hợp lý lắm, để chỉ lý thuyết và nghiên cứu về thanh thiếu niên (tuổi từ 13 đến 19), và quá trình chuyển thành người lớn; và cách sử dụng hiện nay ít phổ biến hơn để chỉ một tập hợp những vấn đề giả định về tình cảm và xã hội gắn với việc lớn lên trong xã hội công nghiệp đô thị” [Bùi Thế Cường và cộng sự dịch, 2011: tr.505] [17]
Theo quy định tại Điều 1 của Luật Thanh niên Việt Nam năm 2005, thì
“Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 đến 30 tuổi” Khái niệm này chỉ rõ,
thanh niên Việt Nam trước hết phải là công dân của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Sau đó là độ tuổi từ đủ 16 đến 30 tuổi
Từ các khái niệm trên cho thấy, thanh niên có các đặc điểm sau:
+ Thanh niên không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội rộng lớn,
có tính đặc thù;