1. Lý do và tính cấp thiết của đề tài Mặt trận Tổ Quốc là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước ta hiện nay. Sự qui định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát tư thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống. Vai trò của Các đoàn thể nhân dân không phải tự Các đoàn thể nhân dân đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận. Từ khi có Đảng là có Mặt trận Tổ Quốc, ngay sau khi nhân dân giành được chính quyền, Mặt trận Tổ Quốc đã trở thành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị. Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động của từng bộ phận cấu thành trong hệ thống chính trị có khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mục đích chung là: Phấn đấu xây dựng đất nước hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Mặt trận Tổ Quốc là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống chính trị đất nước. Mặt trận Tổ Quốc có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Đó là củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, thắt chặt mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới.
Trang 1để cùng nhau chống kẻ thù chung vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên do Đảng lãnh đạo mà đỉnh cao làphong trào Xô viết Nghệ tĩnh đang diễn ra sôi nổi và rầm rộ trong cả nước,ngày 18.11.1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông dương rachỉ thị về vấn đề thành lập Hội phản đế Đồng minh, hình thức đầu tiên củaMặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam
Từ đó tới nay, ở mỗi thời kỳ khác nhau có những hình thức và tên gọi
tổ chức cụ thể khác nhau phù hợp với nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạngnhưng Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam nơi tập hợp các giai tầng trong
xã hội vì những mục tiêu lớn của dân tộc luôn tồn tại và phát triển, ĐảngCộng sản Việt Nam - người chủ xướng việc hình thành Mặt trận Dân tộcthống nhất trong thời hiện đại - vừa là thành viên tích cực của Mặt trận vừabằng sự sáng tạo, đúng dắn trong đường lối, chính sách, sự gương mẫu phấnđấu vì lợi ích chung của dân tộc đã được các thành viên của Mặt trận thừanhận vai trò lãnh đạo
Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hình thức tổ chức của Mặt trậnDân tộc Thống nhất Việt nam với mục tiêu tập hợp và phát huy sức mạnh củakhối Đại đoàn kết toàn dân phấn đấu cho một nước Việt Nam độc lập, tự do,hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
Trang 21 Lý do và tính cấp thiết của đề tài
Mặt trận Tổ Quốc là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước
ta hiện nay Sự qui định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cáchmạng, là xuất phát tư thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyềnlực thuộc về nhân dân Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống Vai trò củaCác đoàn thể nhân dân không phải tự Các đoàn thể nhân dân đặt ra mà là dochính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận
Từ khi có Đảng là có Mặt trận Tổ Quốc, ngay sau khi nhân dân giànhđược chính quyền, Mặt trận Tổ Quốc đã trở thành một bộ phận cấu thành của
hệ thống chính trị Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt độngcủa từng bộ phận cấu thành trong hệ thống chính trị có khác nhau nhưng đều
là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mụcđích chung là: Phấn đấu xây dựng đất nước hoà bình, độc lập, thống nhất, dânchủ và giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế Mặt trận Tổ Quốc
là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, là một bộ phận không thể thiếuđược của hệ thống chính trị đất nước Mặt trận Tổ Quốc có vai trò rất quantrọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc "
Đó là củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sự nhất trí vềchính trị và tinh thần trong nhân dân, thắt chặt mật thiết giữa nhân dân vớiĐảng và Nhà nước để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, trải quanhiều chặng đường và tồn tại lâu dài nhiều thành phần kinh tế Trong quátrình đó còn có sự khá nhau giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp xãhội, các tôn giáo Những biến đổi về cơ cấu giai cấp và thành phần xã hộiđang đặt ra cho công tác vận động quần chúng nói chung và công tác của Mặttrận Tổ Quốc nói riêng những vấn đề mới Nhu cầu liên minh, mở rộng việctập hợp các lực lượng yêu nước đặt ra một cách bức bách Mặt khác các thếlực thù địch đang thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình và nhiều âm mưuchia rẽ khối đại đoà kết dân tộc, hòng phá hoại sự nghiệp Cách mạng củanhân dân Nâng cao vai trò, tác dụng của Mặt trận Tổ Quốc trong hệ thống
Trang 3chính trị và đời sống xã hội là một yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vềMặt trận Tổ Quốc nói riêng là một lý luận có vị trí quan trọng, là bộ phận cấuthành nên tư tưởng CNXHKH của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh C.Mác, Ph.Ănghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đã xây dựng lý luận vềMặt trận Tổ Quốc và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã kế thừa những tư tưởng
đó, biến nó trở thành một lý luận phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của nước ViệtNam Những tư tưởng đó chính là kim chỉ nam, là định hướng cho đường lốicách mạng những nước XHCN nói chung và Việt Nam nói riêng Cho nên đó
là vấn đề cần được nghiên cứu, tổng kết để bổ sung vào kho tàng lý luậnCNXHKH và lý luận về con đường quá độ lên CNXH của các đảng cộng sảntrong đó có đảng cộng sản Việt Nam
ĐCS Việt Nam cùng nhân dân Việt Nam đã vận dụng sáng tạo quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Mặt trận TổQuốc, đang ra sức phát huy những thành tựu đã đạt được, tiếp tục đưa sựnghiệp đổi mới có bước phát triển mới, sáng tạo mô hình phát triển kinh tế -chính trị đậm nét Việt Nam, đưa nước ta tiến bước vững chắc trên con đườngxây dựng chủ nghĩa xã hội, phù hợp với xu thế thời đại Tuy nhiên, một thực
tế nữa đó là bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì vẫn tồn tại những quanđiểm đi chệch với quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ chíMinh tạo ra những khó khăn nhất định
Từ những cách hiểu như trên, tác giả tiến hành nghiên cứu vấn đề nàytrên cơ sở phân tích một cách sâu sắc, xác thực những tư tưởng của Mác -Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh, đặc biệt về Mặt trận Tổ Quốc với mong muốnđưa ra được những nhận xét đánh giá sâu sắc nhất Qua tất cả những cơ sởban đầu đó tác giả nhận thấy đây là một vấn đề hết sức cấp bách và cần thiếtkhông thể không nghiên cứu trong công cuộc xây dựng nước ta hiện nay Làmột sinh viên chuyên ngành CNXHKH thì việc nghiên cứu lý luận về Mặttrận Tổ Quốc là phù hợp với ngành học và cần thiết cho việc bổ sung kiếnthức cho bản thân và công việc sau này Chính vì thế mà tác giả chọn đề tài:
Trang 4“Về Mặt trận trong tác phẩm “Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốclần thứ hai của Đảng” của Hồ Chí Minh và trong “Văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IV”, “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX” củaĐảng ta – đối chiếu và so sánh.” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần môn:
“Các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện Đảng cộng sản Việt Nam vềCNXHKH”
2 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các các tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiệncủa Đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam, mà trọng tâm đề tài nghiên cứu làlàm rõ quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam về Mặt trận
Tổ Quốc
Khách thể nghiên cứu của đề tài: quá trình sáng tạo, bảo vệ và pháttriển lý luận về Mặt trận có những vấn đề liên quan trực tiếp hay gián tiếp đếnnhững quan điểm tư tưởng cụ thể đó
Đối tượng nghiên cứu: hệ thống các quan điểm cơ bản của Hồ ChíMinh và Đảng Cộng Sản Việt Nam về Mặt trận
Đối tượng khảo sát: Lý luận về các quan điểm về Mặt trận của Hồ ChíMinh và Đảng Cộng Sản Việt Nam được trình bày trong rất nhiều các tácphẩm kinh điển Ở mỗi tác phẩm đều đi sâu vào một hoặc một số quan điểmcủa lý luận về Mặt trận Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu các quan điểm vềMặt trận của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam trong ba tác phẩmđược học ở chương trình học tập chuyên ngành:
“Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng”của Hồ Chí Minh (1951),
“Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV”, của Đảng Cộng SảnViệt Nam (1976),
“Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX” của Đảng Cộng SảnViệt Nam (2011)
3 Tình hình nghiên cứu có liên quan
Lý luận về Mặt trận trong những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đãđược rất nhiều nhà kinh điển đề cập với dung lượng khá lớn và mang tính
Trang 5khái quát cao Giới khoa học trong nước có rất nhiều công trình nghiên cứu về
lý luận về Mặt trận như:
- Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay /Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Sùng, Vũ Hoàng Công - H : Chính trị Quốc gia,2002
Tóm tắt nội dung: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ và dânchủ cơ sở Các đoàn thể nhân dân trong đời sống xã hội và việc đảm bảo dânchủ ở cơ sở hiện nay Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò củađoàn thể nhân dân trong việc đảm bảo dân chủ ở cơ sở
- Đổi mới mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dâncấp phường trong điều kiện kinh tế thị trường / Dương Xuân Ngọc chủ biên -
H : Chính trị quốc gia, 1995
Tóm tắt nội dung: Đặc điểm, chức năng của phường - cấp quản lý nhànước cơ sở Thực trạng mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và đoàn thểnhân dân trong phường dưới điều kiện kinh tế thị trường và phương hướng,mục tiêu, giải pháp đổi mới mối quan hệ đó
- Mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân cấp xã ởnước ta hiện nay / Dương Xuân Ngọc (ch.b), Hoàng Chí Bảo, Nguyễn ChíDũng - H : Chính trị quốc gia, 1998
Tóm tắt nội dung: Khái lược lịch sử hình thành cấp xã, hệ thống chínhtrị xã Cơ sở lý luận của việc xác định và giải quyết mối quan hệ giữa Đảng,chính quyền và các đoàn thể nhân dân cấp xã: quan điểm của Đảng, nội dung,phương thức thực hiện và vấn đề đổi mới hiện nay
- Các đoàn thể nhân dân trong kinh tế thị trường / Chủ nhiệm đề tài:Nguyễn Viết Vượng - H : Chính trị quốc gia, 1994
Tóm tắt nội dung: Những thay đổi của nền kinh tế thị trường và hoạtđộng của các tổ chức xã hội (các đoàn thể nhân dân) trong điều kiện mới.Hướng thay đổi hoạt động của các tổ chức này cho phù hợp với nền kinh tếthị trường
Trang 6- Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay /B.s: Phan Xuân Sơn (ch.b), Lưu Văn Sùng, Vũ Hoàng Công - Tái bản cósửa chữa - H : Chính trị Quốc gia, 2003.
Tóm tắt nội dung: Trình bày các vấn đề trong đời sống chính trị - xã hội
ở cơ sở hiện nay của nước ta như vấn đề dân chủ, các đoàn thể nhân dân trongđời sống xã hội, những vấn đề đặt ra cho việc đổi mới, các giải pháp phát huyvài trò của đoàn thể nhân dân
- Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quyềnlàm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay : LA TS Chính trị học: 62.31.20.10 /Nguyễn Thị Hiền Oanh - H., 2005
Tóm tắt nội dung: Luận chứng về vai trò của mặt trận tổ quốc (MTTQ)trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Phân tích đánh giá hiệntrạng về hoạt động của MTTQ Việt nam trong thời kỳ đổi mới Đề xuất một
số giải pháp đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của MTTQ Việt Namnhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thời kỳ phát triển mới
- Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổquốc Việt Nam hiện nay : LATS Chính trị học: 62.31.20.01 / Nguyễn ThọÁnh - H., 2010
Tóm tắt nội dung: Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát vàphản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đề xuất quan điểm và cácgiải pháp tổ chức thực hiện chức năng này
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc xây dựng sự đồng thuận xã hội ởnước ta hiện nay : LATS Chính trị học: 62.31.20.01 / Nguyễn Thị Lan - H.,2008
Tóm tắt nội dung: Làm rõ khái niệm đồng thuận xã hội và vai trò củaMặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc xây dựng sự đồng thuận xã hội Phântích, đánh giá thực trạng về hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trongviệc xây dựng sự đồng thuận xã hội, làm rõ những hạn chế và nguyên nhân,đồng thời đề xuất một số giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt động của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam nhằm thực hiện tốt hơn nhiệm vụ xây dựng sự đồng thuận
xã hội
Trang 74 Mục tiêu - Nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các quan điểm về Mặt trận của Hồ ChíMinh và Đảng Cộng Sản Việt Nam mà rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn
đề đối với việc học tập và nghiên cứu bộ môn CNXHKH nói chung và mônCác tác phẩm Hồ Chí Minh và văn kiện Đảng cộng sản Việt Nam nói riêng.Tiểu luận thực hiện những nhiện vụ sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu Cơ sở lý luận về Mặt trận và hoàn cảnh ra đời cáctác phẩm
Thứ hai: Đối chiếu và so sánh những nội dung cơ bản về Mặt trận trongtác phẩm “Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai củaĐảng”, “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV” và “Văn kiện Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Thứ ba: Ý nghĩa các quan điểm về Mặt trận của Hồ Chí Minh và ĐảngCộng Sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạnhiện nay
5 Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu
Để tiện cho việc phục vụ nghiên cứu, học tập tác giả tôn trọng nhữngvấn đề theo các thời kỳ lịch sử, bám sát các tư tưởng có trong các tác phẩmcủa các nhà kinh điển và văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên,
vì khối tư liệu lớn, khuôn khổ của đề tài có hạn, nhiều chỗ tác giả cũng chỉ cóthể tóm tắt những tư tưởng cơ bản Tác giả đã sử dụng:
Phương pháp luận: để nghiên cứu được đề tài này tác giả tuân thủ cácnguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử để đánh giá xem xét vấn đề Đặc biệttác giả sử dụng những nguyên lý, phạm trù cơ bản như: bản chất và hiệntượng, nguyên nhân và kết quả; quy luật lượng-chất, quy luật thống nhất vàđấu tranh giữa các mặt đối lập, mỗi quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan
hệ sản xuất, giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng… để tiến hànhnghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chung: phân tích-tổng hợp-so sánh, logic-lịch
sử, trừu tượng hóa, khái quát hóa để nghiên cứu
Trang 8Phương pháp cụ thể: nghiên cứu tài liệu để làm rõ những quan điểmcủa Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam Đối chiếu kinh nghiệm hiệnthực của CNXH thế giới và của nước ta, nhiều vấn đề mới theo chủ đề này tácgiả cũng chưa thể đưa vào được và hy vọng sẽ có những công trình tiếp theo,nghiên cứu sâu hơn, bổ sung thêm những khía cạnh mới về Mặt trận ở thời kỳquá độ lên CNXH trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
6 Ý nghĩa của đề tài
Trong đề tài, tác giả đã nghiên cứu một cách khái quát, toàn diện lýluận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Mặt trận Từ đótạo ra nền tảng về tư tưởng lý luận soi sáng cho Đảng ta chỉ ra con đườngcách mạng Việt Nam trong lý luận về Mặt trận, nhằm tạo động lực mạnh mẽ
để thực hiện mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh”, vì mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”
Góp phần nhỏ vào việc hệ thống hóa các quan điểm lý luận của C.Mác,Ph.Ănghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam, chống lại
sự xuyên tạc, sự lầm lạc trong công tác lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài tiểu luận có thể dùng làm tài liệu thamkhảo phục vụ cho các công trình nghiên cứu khác có liên quan và trực tiếpphục vụ cho công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung chínhchia làm 3 chương, 7 tiết
Trang 9NÔI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận về Mặt trận và hoàn cảnh ra đời các tác phẩm
1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về Mặt trận
Là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền dân chủ XHCN, Mặt trận
có chức năng: tích cực tham gia vào quá trình xây dựng, hoàn thiện nền dânchủ XHCN và quá trình giám sát, kiểm tra, phản biện xã hội trong khuôn khổpháp luật xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của đảng cộng cản nhằm thỏamãn lợi ích công dân chính đáng của hội viên nói chung và lợi ích đặc thù củahội viên đoàn thể mình nói riêng
Trong quá trình xây dựng và phát triển CNXHKH, dù còn rất ít thựctiễn của nhà nước vô sản (chỉ mới có thực tiễn Công xã Pa-ri 72 ngày đêm)nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen luôn luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng củacác tổ chức chính trị - xã hội của GCCN và nhân dân lao động khác trongcuộc đấu tranh cách mạng của GCCN nói chung Vấn đề tổ chức giai cấpcông nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản đã đặt ra trước các nhàsang lập ra chủ nghĩa Mác như một vấn đề lịch sử quan trọng nhất Hai ôngnhấn mạnh ý nghĩa quyết định trong cách mạng của các mặt thuộc nhân tốchủ quan như sự tổ chức và sự nhất trí trong những vấn đề chính trị Khi phântích cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Pari (năm 1848) Ph.Ăngghen viết: “Nếunhư 40000 công nhân Pari đã có thể đạt được những kết quả to lớn như thếtrong cuộc đấu tranh với kẻ thù trội hơn họ bốn lần về số lượng thì toàn thểcông nhân Pari sẽ có thể làm được gì nếu họ hành động một cách nhất trí và
có phối hợp với nhau” [2, 116] Các ông luôn luôn chú ý xây dựng các tổchức của công nhân để giác ngộ và tổ chức công nhân nhằm đưa công nhântrở thành giai cấp tự giác trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp và xã hội.Chính các ông đã chủ động tham gia và cảm hóa các tổ chức chính trị củacông nhân để đưa họ đến với tư tưởng CNCS
Trong những năm 1847-1848, xuất phát từ những điều kiện thực tếkhách quan chỉ rõ giai cấp công nhân Đức hãy còn yếu, chưa trưởng thành vềchính trị để thành lập một đảng độc lập, Mác và Ăngghen coi việc tham gia
Trang 10phong trào dân chủ chung là cần thiết, đồng thời hai ông cố gắng lãnh đạophong trào đó Một sách lược khác có thể đưa các đại biểu của Đồng minhnhững người cộng sản đến chủ nghĩa bè phái Vì vậy, đến mùa xuân năm
1848 hai ông gia nhập Đảng dân chủ, bởi vì đó là phương sách duy nhất cóthể có để giai cấp công nhân nghe được tiếng nói của hai ông
Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và nhất là sau thắng lợi củaCMXHCN tháng Mười Nga 1917, Lênin rất quan tâm tới việc phát huy vaitrò của công đoàn Khi nói về tổ chức công đoàn-tổ chức rộng lớn nhất củagiai cấp công nhân, trong bài “Về nhiệm vụ của công đoàn” và trong diễn vănngày 20 tháng Giêng 1919 đọc tại Đại hội II toàn Nga các công đoàn, Lê-nin
đã tập trung nhấn mạnh vị trí và vai trò quan trọng của công đoàn trong hệthống chung của các tổ chức quần chúng của nhân dân lao động Người cươngquyết chống lại khẩu hiệu “sự trung lập” của các công đoàn đối với Chínhquyền Xô-viết Nhiệm vụ của các công đoàn là giáo dục các tầng lớp quầnchúng lao động kém giác ngộ, mở rộng cơ sở xã hội của Chính quyền xô-viết,vận động quần chúng tham gia công tác quản lý kinh tế và xây dựng nền sảnxuất mới Lê-nin nói: “Nếu chúng ta không giải quyết được vấn đề này, nếuchúng ta không biến các công đoàn thành những cơ quan giáo dục quần chúngđông hơn gấp mười lần hiện nay, để họ tham gia trực tiếp công việc quản lýnhà nước, thì chúng ta sẽ không hoàn thành đến cùng được sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa cộng sản” [20, 553]
đã được củng cố và tăng cường về mọi mặt Phong trào giải phóng dân tộcvẫn tiếp tục phát triển làm rung chuyển hậu phương của chủ nghĩa đế quốc.Phong trào bảo vệ hoà bình thế giới trở thành phong trào quần chúng rộng rãi
Trang 11Về phía chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ Cho tới lúc này, Mỹ đãcăn bản hoàn thành việc chia lại thị trường thế giới tư bản dưới sự khống chếcủa Mỹ Mỹ còn ra sức tiếp tay cho các đế quốc khác trong cuộc chiến tranhxâm lược thuộc địa, chuẩn bị điều kiện hất cẳng bọn thực dân cũ, thay bằngchủ nghĩa thực dân mới của Mỹ Mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đế quốcngày càng sâu sắc Trong quan hệ với Đông Dương, để cứu nguy cho Phápđang sa lầy trong cuộc chiến tranh và thực hiện ý đò can thiệp sâu vào ĐôngDương, Mỹ đã quyết định tăng cường viện trợ cho Pháp và quân đội bù nhìn.
Tình hình quốc tế trên đây có tác động vào Đông Dương về hai mặt Sựủng hộ về tinh thần và giúp đỡ về vật chất củu các nước XHCN cho cuộckháng chiến của ba nước Đông Dương là một nhân tố tích cực Song song vớinhững nhân tố mới tích cực, việc Mỹ cấu kết với Pháp, tăng cường can thiệpvào Đông Dương… cũng gây cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhiềuphức tạp Điều đó đòi hỏi Đảng ta phải có những chủ trương, chính sách phùhợp với tình hình mới
Ở trong nước, sau 16 năm kể từ Đại hội lần thứ I của Đảng, tình hình
có những chuyển biến căn bản Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã đưanhân dân ta từ người mất nước lên người làm chủ đất nước Nhưng do dã tâmxâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta lại phải tiếp tục cầm súng đứng lênđánh giặc để bảo vệ nền tự do, độc lập Qua hơn 5 năm chiến đấu, cuộc khángchiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã liên tiếp thu được nhiều thắnglợi, thực dân Pháp ngày càng sa lầy vào cuộc chiến khó tránh khỏi thất bại.Thế và lực của cuộc kháng chiến từ sau chiến thắng Biên giới có bước pháttriển vượt bậc Tuy nhiên, cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới lại cónhững yêu cầu mới, đòi hỏi Đảng ta phải giải quyết những vấn đề lý luận vàthực tiễn cấp bách để đưa cách mạng tiến lên
Ở hai nước bạn Lào và Campuchia, cuộc kháng chiến cũng giành đượcnhững thắng lợi có ý nghĩa chiến lược Là người tổ chức và lãnh đạo cáchmạng của cả ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, từ năm 1930 đến nay, ĐảngCộng sản Đông Dương đã luôn làm tròn vai trò và sứ mệnh lịch sử của mình.Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Đảng cũng bộc lộ một số thiếu sót, hạn
Trang 12chế ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của Đảng Mặt khác, cuộc kháng chiến của banước Đông Dương tuy cùng chung một mục tiêu, cùng một chiến trường,nhưng mỗi nước đã có những bước phát triển riêng biệt Tình hình đó đangđòi hỏi mỗi nước cần phải thành lập một chính đảng cách mạng theo Chủnghĩa Mác-Lênin, trực tiếp đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử trước dân tộc mình vàchủ động góp phần vào sự nghiệp cách mạng chung của nhân dân ba dân tộc.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được triệu tập nhằm đápứng những đòi hỏi bức thiết đó Đại hội họp tại xã Vinh Quang, huyện ChiêmHoá, tỉnh Tuyên Quang từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951 Về dự Đại hội có 158đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 766.349 đảng viênđang sinh hoạt trong Đảng bộ toàn Đông Dương Đến dự Đại hội còn có đạibiểu của Đảng cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Xiêm (Thái Lan)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Đảng đánh dấu một mốc quantrọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta Đường lối do Đạihội vạch ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của kháng chiến và yêu cầu lâu dàicủa cách mạng, và thực sự là những đóng góp quý báu vào kho tàng lý luậncách mạng nước ta
1.2.2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng cộng sản Việt Nam
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chế độ phát xít sụp đổ, cuộc tổngkhủng hoảng của chủ nghĩa tư bản thêm trầm trọng, Liên Xô ngày càng cườngthịnh, phong trào dân chủ lên cao Thế giới chia làm hai phe: phe dân chủchống đế quốc do Liên Xô lãnh đạo, phe đế quốc phản dân chủ do Mỹ cầmđầu Phe dân chủ ngày một mạnh, phe đế quốc ngày một suy Cán cân lựclượng giữa hai phe đã nghiêng hẳn về phe dân chủ Muốn thoát khỏi nạnkhủng hoảng, đế quốc Mỹ và các đế quốc khác đang ra sức chuẩn bị chiếntranh thứ ba và mở rộng các cuộc chiến tranh xâm lược Nguy cơ chiến tranh
đã rõ rệt Nhiệm vụ trung tâm của giai cấp công nhân và nhân dân thế giới lúcnày là đấu tranh bảo vệ hoà bình Dưới sự lãnh đạo của Liên Xô đứng đầu làthống chế Xtalin, phe dân chủ mở rộng thành mặt trận hoà bình thế giới, kiên
Trang 13quyết chống bọn gây chiến Phong trào hoà bình sâu rộng, mạnh mẽ chưatừng có trong lịch sử Đế quốc gây ra chiến tranh thứ ba tức là tự sát.
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV diễn ra trong bối cảnh cuộcKháng chiến chống Mỹ đã đạt được thắng lợi Sau đại thắng mùa xuân 1975,đất nước ta bắt đầu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình thống nhất độclập và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Hai miền Nam Bắc thống nhất sau hơn
20 năm chia cắt từ Hiệp định Geneve 1954 bằng việc hiệp thương của hai nhànước tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam từ sau 30 tháng 4 năm 1975 là Việt NamDân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền nam Việt Nam Quá trình thống nhấtđất nước diễn ra hết sức khẩn trương, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chínhtrị, kinh tế, văn hóa và xã hội Trước hoàn cảnh lịch sử trong nước và thế giới
có nhiều thuận lợi đồng thời cũng có nhiều khó khăn thách thức, Đảng Cộngsản Việt Nam tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần IV tại thủ đô Hà Nội từ
14 đến 20-12-1976 Dự đại hội có 1.008 đại biểu thay mặt cho hơn 1,5 triệuđảng viên trong cả nước Đại hội tổng kết, đánh giá ý nghĩa thắng lợi vànhững bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Đại hội thảo luận và nhất trí quyết định những vấn đề lớn của đất nước:Quyết định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạnmới; quyết định phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5năm (1976-1980); quyết định đường lối xây dựng Đảng để nâng cao năng lựclãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới; đổi tên Đảng Laođộng Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam
Đại hội thông qua điều lệ sửa đổi và bầu Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa IV gồm 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết BanChấp hành Trung ương Đảng bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên chính thức, 3
ủy viên dự khuyết Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư, Ban Bí thưgồm 9 thành viên
Thực hiện đường lối của Đại hội IV, cả nước sôi nổi thực hiện kế hoạch
5 năm khôi phục và phát triển kinh tế (1976-1980) Miền Nam tiến hành côngcuộc cải tạo các thành phần kinh tế, miền Bắc đẩy mạnh nhiệm vụ củng cốquan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Ngày 20-7-1977, Việt Nam trở thành
Trang 14thành viên thứ 149 của Liên hiệp quốc Với những hậu quả nặng nề của chiếntranh, những khó khăn thử thách mới phát sinh, nhất là nhiệm vụ bảo vệ Tổquốc rất nặng nề, cùng với những sai lầm khuyết điểm chủ quan nóng vộitrong cải tạo xã hội chủ nghĩa, chậm chuyển đổi cơ chế quản lý, đã làm chođất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội vào cuối những năm
Đại hội diễn ra trong bối cảnh kết thúc thế kỷ 20 và bước sang thế kỷ
21, dân tộc ta đứng trước những thời cơ và nhiều thách thức lớn Toàn cầuhóa diễn ra mạnh mẽ Đây là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùmhầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tùythuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Quan hệ song phương, đa phương giữacác quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hóa, bảo vệ môi trường,phòng chống tội phạm, thiên tai và đại dịch
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng họp vào thời điểm có ýnghĩa trọng đại Thế kỷ XX đã kết thúc Thế kỷ XXI vừa bắt đầu Toàn Đảng,toàn dân ta đã trải qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII củaĐảng, 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
1991 - 2000 và 15 năm đổi mới
Đại hội IX có nhiệm vụ kiểm điểm và đánh giá những thành tựu vàkhuyết điểm thời gian qua, đề ra những quyết sách cho thời kỳ tới Chủ đề củaĐại hội là: phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa
Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu được qua 15 năm đổi mới
đã chứng minh tính đúng đắn của cương lĩnh được thông qua tại Đại hội VII
Trang 15của Đảng, đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX diễn ra tronghoàn cảnh đó, nhằm hoạch định đường lối cho sự phát triển của đất nướctrong những năm 2001 - 2005 và 2001 - 2010
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng từ ngày 19 đến
22-4-2001 họp tại Hà Nội Tham dự đại hội có 1.168 đại biểu, thay mặt cho gần 2,5triệu đảng viên cả nước Đại hội IX đánh giá Việt Nam trong thế kỷ 20 vàtriển vọng trong thế kỷ 21, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được nhữngthắng lợi vĩ đại
Đại hội đã tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết của Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VIII, 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triểnkinh tế - xã hội đến năm 2000 và tổng kết rút ra 4 bài học lớn của 15 năm đổimới Đại hội thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 -2010) và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm(2001 - 2005); thông qua toàn văn Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã được
bổ sung, sửa đổi gồm 12 chương, 48 điều
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX gồm 150 ủyviên, Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 15 ủy viên, Ban Bíthư gồm 9 thành viên, Ủy ban Kiểm tra gồm 9 thành viên Đồng chí NôngĐức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư
Ngay sau Đại hội IX, trong năm 2001, Ban Chấp hành Trung ươngĐảng đã họp các hội nghị toàn thể và có những quyết định quan trọng, cụ thểhóa đường lối và chiến lược của đại hội Tháng 7-2004, Hội nghị Trung ươngĐảng lần thứ 10 (1-2004) kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghịTrung ương Đảng lần thứ 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóaViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đề ra những nhiệm vụ và giảipháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo chuyển biến mạnh mẽ xây dựngnền văn hóa đồng bộ với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 16Chương 2: Đối chiếu và so sánh những nội dung cơ bản về Mặt trận trong tác phẩm “Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng”, “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV” và “Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX”
2.1 Vị trí vai trò và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ Quốc trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trịcủa nước ta hiện nay Sự qui định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệpcách mạng, là xuất phát tư thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọiquyền lực thuộc về nhân dân Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống Vaitrò của Mặt trận không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chínhlịch sử thừa nhận
Từ khi có Đảng là có Mặt trận, ngay sau khi nhân dân giành được chínhquyền, Mặt trận đã trở thành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị.Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động của từng bộ phận cấuthành trong hệ thống chính trị có khác nhau nhưng đều là công cụ thực hiện
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mục đích chung là: Phấnđấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ vàgiàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế Hiến pháp năm 1992 đãxác định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyềnnhân dân " điều đó càng khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt nam là một bộphận không thể thiếu được của hệ thống chính trị nước ta
"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể thành viên có vai trò rấtquan trọng trong sự nghiệp đaị đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổquốc " Đó là củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sự nhấttrí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, thắt chặt mật thiết giữa nhân dânvới Đảng và Nhà nước để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới
Trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận dân tộc thống nhất đóng vai tròhết sức quan trọng Mặt trận là nơi tập hợp, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo,các tầng lớp nhân dân, phát huy truyền thống yêu nước, nêu cao ý chí độc lập
Trang 17tự do, góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của Đảng, củadân tộc Kể từ khi Hội phản đế Đồng Minh (Mặt trận phản đế Đông Dương)
ra đời ngày 18 – 11 – 1930 đến nay, trải qua nhiều thời kỳ với những tên gọikhác nhau, nhưng Mặt trận luôn là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dântộc Kế thừa vai trò lịch sử của các tổ chức tiền thân, MTTQVN ngày nay là
tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị-xãhội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, tiếp tục pháthuy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, giữvững mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiệnthắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
2.1.1 Trong “Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng”
Về vai trò của Mặt trận dân tộc thống nhất, năm 1962 Hồ Chí Minh đãtổng kết:
“Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạngTháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Đoànkết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi trongcông cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc” [9, 604 ]
Đối với mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (từ 1960), Người đãkhẳng định: “Một Mặt trận của nhân dân đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi là mộtlực lượng tất thắng Hiện nay đồng bào ta ở Miền Nam cũng có “Mặt trận dântộc giải phóng” với chương trình hành động thiết thực và phù hợp với nguyệnvọng chính đáng của nhân dân Do đó, có thể đoán rằng đồng bào miền Namnhất định thắng lợi, nước nhà nhất định sẽ thống nhất, Nam Bắc nhất định sẽsum họp một nhà” [9, 349]
Trong suốt quá trình hành động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đãdày công xây dựng, vun đắp cho sự lớn mạnh và sự phát triển của Mặt trậndân tộc thống nhất, tăng cường sự ảnh hưởng của Mặt trận đối với cách mạngViệt Nam Đánh giá vai trò của Mặt trận không phải chỉ trong CMDTDCND,
mà còn trong CMXHCN, Người nêu rõ: “Trong cách mạng dân tộc dân chủ
Trang 18nhân dân cũng như trong các mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thốngnhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam” [9,605]
Nǎm 1936, trong cuộc Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng đã lậpMặt trận Dân chủ Đông Dương.Phong trào Mặt trận Dân chủ lúc đó khá mạnh
mẽ, rộng khắp; nhân dân đấu tranh công khai v.v Tháng 5-1941, Trungương họp Hội nghị lần thứ Tám Vấn đề chính là nhận định cuộc cách mạngtrước mắt của Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; lập Mặttrận Việt Minh ” Trong công việc to tát kháng chiến kiến quốc, Mặt trận LiênViệt - Việt Minh, Công đoàn, Nông hội và các đoàn thể quần chúng có mộttác dụng rất to lớn Chúng ta phải giúp cho các đoàn thể ấy phát triển, củng cố
và hoạt động thực sự” [8, 156]
2.1.2 Trong “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV”
Trong nghị quyết hội nghị lần thứ hai, ban chấp hành trung ươngĐCSVN khóa VII (Số 2-NQ-HNTW, tháng 11/1991): …Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể nhân dân ở nước ta bao gồm rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp,tạo thành cơ sở chính trị, chỗ dựa vững chắc của Nhà nước, Vai trò, vị trí củaMặt trận và các đoàn thể nhân dân ngày càng quan trọng, càng được mở rộng,với nền dân chủ ngày càng phát triển, với nền kinh tế nhiều thành phần, vớinền văn hoá phát huy những giá trị nhân văn cao quý của dân tộc và của nhânloại Nhà nước phải dưa vào Mặt trận và các đoàn thể, tôn trọng và tạo mọiđiều kiện để nhân dân trực tiếp hoặc thông qua đoàn thể của minh tham giaxây dựng, quản lý và bảo vệ Nhà nước …Cải cách bộ máy Nhà nước còn baohàm một nội dung quan trọng là tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhànước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân Mặt trận vàcác đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng quản lý, giám sát bảo vệ Nhà nước.Nhà nước dựa vào Mặt trận và các đoàn thể nhân dân để phát huy quyền làmchủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân Đó cũng chính là sức mạnh củabản thân Nhà nước …Trong quá trình ra quyết định và quản lý, điều hành,Quốc hội Hội đồng nhân dân, Chính phủ và Uỷ ban hành chính các cấp cầnlằng nghe những kiến nghị của Mặt trận và các đoàn thể Nhà nước cần có
Trang 19quy chế tổ chức và cơ chế hoạt động giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhànước với Mặt trận và các đoàn thể nhân dân …Nhân dân thực hiện quyềnlàm chủ của mình bằng Nhà nước, bằn các Đoàn thể nhân dân, bằng các tậpthể lao động và thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân.Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trị, chỗ dựa vựngchắc của Nhà nước Nhà nước tôn trọng quyền đại diện cho lợi ích chínhđáng, hợp pháp của các đoàn thể và tạo mọi điều kiện để các đoàn thể thamgia xây dựng, quản lý, giám sát và bảo vệ Nhà nước…
“Cuộc kháng chiến chống Mỹ là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện
và lâu dài Đi đôi với việc tổ chức lực lượng chiến đấu trong cả nước, Đảnghết sức coi trọng việc xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng ở miềnNam Đó là các đảng bộ miền Nam được củng cố, tôi luyện thành những bộtham mưu dày dạn trên tiền tuyến lớn; là khối liên minh công nông mà Đảng
ta đã dày công xây đắp trong cách mạng dân tộc dân chủ; là đội quân chính trịquần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân, hai lực lượng chiến đấu cơ bảntrong chiến tranh cách mạng; là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ViệtNam do Đảng ta lãnh đạo, mặt trận yêu nước bao gồm các đoàn thể của côngnhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, học sinh, trí thức, các tổ chức tôn giáo vàđại biểu các dân tộc; là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền NamViệt Nam, đã cùng với Mặt trận Dân tộc giải phóng động viên và tập hợpđông đảo các tầng lớp nhân dân miền Nam kháng chiến cứu nước, và tranhthủ ngày càng rộng rãi sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân và chính phủnhiều nước trên thế giới.” [6,129]
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ IV (Do đồng chí Lê Duẩn trình bày, ngày 14 tháng 12năm 1976): Nhân dân ta, dân tộc ta có truyền thống đoàn kết rất đáng tự hào
Từ khi có Đảng, truyền thống ấy ngày càng phát huy mạnh mẽ trong Mặt trậndân tộc thống nhất
Trong thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận Dân tộcgiải phóng miền Nam Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là động viên
và tập hợp các tầng lớp nhân dân, các dân tộc anh em, các lực lượng cách
Trang 20mạng, yêu nước và tiến bộ ở cả hai miền dưới ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc đểxây dựng và bảo vệ miền Bắc, chiến đấu cứu nước, hoàn thành giải phóngmiền Nam, tạo nên một sức mạnh vĩ đại để đánh thắng quân thù Đại đoàn kếttrong Mặt trận dân tộc thống nhất là một trong những nhân tố quyết địnhthắng lợi của cách mạng Việt Nam.
2.1.3 Trong “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX”
Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, Đảng ta luôn luôn giươngcao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân, đó là đường lối chiến lược, là nguồn sứcmạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thànhphần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trongĐảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọithành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống ở trong nước hay ởnước ngoài Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêunước, ý chí tự lực, tự cường và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độclập dân tộc, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những ý kiến khác nhau không tráivới lợi ích chung của dân tộc, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử vềquá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau,hướng tới tương lai Khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Tổ quốc ViệtNam luôn luôn được củng cố và phát triển sâu rộng trên cơ sở liên minh vữngchắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủtrong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Thực hiện dân chủ trên cáclĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở tất cả các cấp, các ngành
Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng tại đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ IX (ngày 19-4-2001): “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kếttoàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy quyền và trách nhiệm làm chủcủa nhân dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước,thực hiện giám sát của nhân dân đối với công tác, đạo đức, lối sống của cán
Trang 21bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và cơ quan nhà nước, giải quyếtnhững mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.” [7, 222]
Thực hiện một cách có hiệu quả vai trò kiểm tra nhân dân và phản biện
xã hội đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống dân chủ XHCN
Tự hoàn thiện mình để nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng nhucầu hoàn thiện dân chủ chủ XHCN
2.2.1 Trong “Báo cáo chính trị tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng”
Theo Hồ Chí Minh, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trước hếtphải coi trọng giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng lập trường, quanđiểm giai cấp công nhân cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng Bởi vì,Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt Đảng mà không có chủ nghĩalàm cốt cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam Đối với
tổ chức cơ sở đảng, Người yêu cầu: “Phải học tập tinh thần của Chủ nghĩaMác-Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của Chủ nghĩaMác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giảiquyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”[11, 250] Đồng thời, phải giáo dục, động viên, tổ chức cho nhân dân thựchiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyêntruyền, cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện
Trang 22nguyện vọng chính đáng của nhân dân Công việc càng khó khăn thì sự lãnhđạo càng phải liên hợp chặt chẽ với quần chúng, càng phải liên hợp chặt chẽchính sách chung với chỉ đạo riêng.
“Để lãnh đạo tốt, các cấp ủy phải thật đoàn kết, thật dân chủ, phải thựchành chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” [14, 496]
Trong Đảng, thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêmchỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sựđoàn kết và thống nhất Thực hành dân chủ rộng rãi nghĩa là phải dân chủthực sự, dân chủ thường xuyên, dân chủ từ Trung ương đến cơ sở Nhưng,dân chủ phải gắn với tập trung Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản vàcũng là biện pháp tốt nhất để xây dựng Đảng ta Trước khi đi xa, Người căndặn: "Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhândân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng đã đoàn kết,
tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đếnthắng lợi khác" Chỉ trên cơ sở đoàn kết Đảng mới có sự thống nhất về ý chí
và hành động, triệu người như một để chiến thắng bất cứ kẻ thù nào, vượt quabất cứ khó khăn trở ngại nào
Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, các tổ chức chính trị - xãhội tham gia tích cực vào công tác xây dựng đảng, nhất là việc góp ý kiến,phê bình cho cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên
“Đồng bào Kinh, hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê, Xê đănghay Ba na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh
em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúpnhau” [10, 379]
“ Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi Năm ngón taycũng có ngón ngắn, ngón dài Nhưng ngắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay.Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác đều dòng dõi của tổtiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con lạccháu hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc Đối với những đồng bàolạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ Có như thế mớithành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn vẻ vang ” [10, 139]
Trang 23“Để phát triển những thuận lợi và khắc phục những khó khăn, điều cầnthiết nhất cho chúng ta là đoàn kết Ai cũng biết hiện nay chúng ta có hai lớpcán bộ kháng chiến và kháng bộ khác Nhưng chúng ta phải biết rằng nay hailớp ấy đều là cán bộ của chính quyền nhân dân, tức là như anh em một nhà.Cho nên chúng ta cần phải xoá bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kếtvới nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân Đoànkết là sức mạnh của chúng ta Đoàn kết chặt chẽ thì chúng ta nhất định có thểkhắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi mà làm tròn nhiệm vụ nhândân giao phó cho chúng ta.” [13,75]
Mặt trận Việt Minh với “khẩu hiệu chính là: đoàn kết toàn dân, chốngNhật, chống Pháp, tranh lại độc lập; hoãn cách mạng ruộng đất
“Cái tên Việt Nam độc lập đồng minh rất rõ rệt, thiết thực và hợp vớinguyện vọng toàn dân Thêm vào đó, chương trình giản đơn, thiết thực màđầy đủ của Mặt trận gồm có 10 điểm như bài ca tuyên truyền đã kể: Có mườichính sách bày ra, Một là ích quốc, hai là lợi dân Mười điểm ấy, gồm nhữngđiểm chung cho toàn thể dân tộc và những điểm đấu tranh cho quyền lợi củacông nhân, nông dân và cho mọi tầng lớp nhân dân Vì thế mà Việt Minhđược nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh và cũng do cán bộ rất cố gắng đi sát vớidân, cho nên Việt Minh phát triển rất mau và rất mạnh Vì Mặt trận phát triểnmạnh, mà Đảng phát triển cũng khá Đảng lại giúp những anh em trí thức tiến
bộ thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam để thu hút những thanh niên trí thức vàcông chức Việt Nam, và làm mau tan rã hàng ngũ bọn Đại Việt thân Nhật.”[8, 166.]
2.2.2 Trong “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV”
Một đảng thống nhất lãnh đạo một nước tạm thời bị chia cắt làm đôitiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau, đó là đặc điểm lớnnhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta từ tháng 7 năm 1954 đếntháng 5 năm 1975 Giương cao cùng một lúc hai ngọn cờ độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội, Đảng đã kết hợp sức mạnh chiến đấu của tiền tuyến lớn vớitiềm lực của hậu phương lớn, đã động viên đến mức cao nhất lực lượng củatoàn dân, toàn quốc vào cuộc chiến đấu cứu nước, đã kết tinh, tổng hợp và
Trang 24phát triển lên một trình độ mới những truyền thống cách mạng và sáng tạo củaĐảng ta và dân tộc ta.
Với hai ngọn cờ đó, cách mạng Việt Nam thể hiện chân lý sáng ngờicủa thời đại ngày nay là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải gắn liền vớinhau, kết hợp chặt chẽ cuộc chiến đấu cứu nước của nhân dân ta với thế tiếncông của ba dòng thác cách mạng, kết hợp những yêu cầu cơ bản của nhândân ta với những mục tiêu cách mạng của nhân dân thế giới là hoà bình, độclập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Nhờ kết hợp sức mạnh của nhân dân
ta với sức mạnh của thời đại, nhờ đường lối quốc tế đúng đắn của Đảng,chúng ta đã tranh thủ được sự ủng hộ rất to lớn về tinh thần và vật chất củacác nước xã hội chủ nghĩa anh em, của tất cả các lực lượng cách mạng và tiến
bộ trên thế giới, tạo thành một mặt trận quốc tế rộng lớn chưa từng có ủng hộViệt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược
Thắng lợi của cách mạng miền Nam và của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước là thắng lợi của chiến lược tiến công Từ cao trào "đồng khởi"chuyển thành chiến tranh cách mạng đánh thắng chiến tranh xâm lược của đếquốc Mỹ, cách mạng miền Nam và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là mộtquá trình liên tục giữ vững thế tiến công, liên tục thực hành chiến lược tiếncông Song, trong điều kiện lấy nhỏ đánh lớn, phải biết thắng từng bước nhằmđánh bại những âm mưu chính trị, quân sự của địch trong từng thời kỳ, đẩy lùiđịch từng bước, không ngừng củng cố trận địa cách mạng, tạo thế và lực hơnhẳn địch để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn Trong quá trình ấy, Đảng luônluôn coi trọng việc củng cố và bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc, nhân tốthường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh cứu nước Do đó, đi đôivới đẩy mạnh tiến công, Đảng chủ trương kiềm chế và đánh thắng bộ binhđịch ở miền Nam; và khi Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh, Đảng chủ trươngkiên quyết đánh thắng bất kỳ loại chiến tranh nào của Mỹ, đồng thời tìm cáchkéo Mỹ xuống thang từng bước, để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn
“Nhân dân ta, dân tộc ta có truyền thống đoàn kết rất đáng tự hào Từkhi có Đảng, truyền thống ấy ngày càng phát huy mạnh mẽ trong Mặt trậndân tộc thống nhất Trong thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt
Trang 25trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ vẻ vang làđộng viên và tập hợp các tầng lớp nhân dân, các dân tộc anh em, các lựclượng cách mạng, yêu nước và tiến bộ ở cả hai miền dưới ngọn cờ đại đoànkết dân tộc để xây dựng và bảo vệ miền Bắc, chiến đấu cứu nước, hoàn thànhgiải phóng miền Nam, tạo nên một sức mạnh vĩ đại để đánh thắng quân thù.Đại đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất là một trong những nhân tốquyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Cách mạng càng tiến lên thì khối đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thốngnhất càng được củng cố Ngày nay, khi cả nước hoàn thành nhiệm vụ cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân, chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa thìtính chất, nhiệm vụ, thành phần, nội dung hoạt động của Mặt trận có nhữngthay đổi quan trọng Vừa qua, Hội nghị hiệp thương giữa Uỷ ban Trung ươngMặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóngmiền Nam Việt Nam và Uỷ ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc,dân chủ và hoà bình Việt Nam đã quyết định sẽ triệu tập Đại hội thành lậpMặt trận dân tộc duy nhất trong cả nước Mặt trận bao gồm nhiều chính đảng,đoàn thể, giai cấp, tầng lớp khác nhau, lấy liên minh công nông làm cơ sở.Tính chất của nó là Mặt trận yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, và mục tiêu xâydựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩatrở thành lý tưởng chung của mọi thành viên trong Mặt trận Nhiệm vụ củaMặt trận là củng cố khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc anh em trongnước, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội, phát huynhiệt tình cách mạng và tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân, động viêntoàn dân thi đua thực hiện thắng lợi ba cuộc cách mạng, xây dựng thành côngchủ nghĩa xã hội ở nước ta.” [6, 295]
Trong quần chúng bao giờ cũng có số tiên tiến, số trung bình và số lạchậu Công tác quần chúng phải nhằm phát huy và không ngừng mở rộng độingũ tiên tiến, nâng số trung bình lên tiên tiến, thu hẹp diện những người lạchậu Và điều đó chỉ có thể làm được qua phong trào cách mạng của quầnchúng Có phong trào cách mạng mới làm chuyển biến được tư tưởng củaquần chúng; và chính qua phong trào, bản thân quần chúng tự đánh giá mình