1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm nghệ thuật thơ chế lan viên qua phê bình và tiểu luận

126 1,6K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 765,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về các tập tiểu luận và phê bình văn học của Chế Lan Viên, chúng tôi nhận thấy, các nhà nghiên cứu đã quan tâm bình giá, nhận xét ngay từ những ngày đầu mới xuất bản, song số lượng bài v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ YẾN CHI

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT THƠ

CHẾ LAN VIÊN QUA PHÊ BÌNH VÀ TIỂU LUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội-2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ YẾN CHI

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT THƠ CHẾ LAN VIÊN QUA PHÊ BÌNH VÀ TIỂU LUẬN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Thành

Hà Nội-2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Bá Thành Những nhận xét, đánh giá của các tác giả khác mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng cụ thể

Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015

Học viên Nguyễn Thị Yến Chi

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Bá Thành, giảng viên khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, người đã hướng dẫn tôi tận tình, tâm huyết trong quá trình tôi thực hiện luận văn Sự chỉ dẫn của thầy đã mang lại cho tôi hệ thống phương pháp, kiến thức cũng như kỹ năng hết sức quý báu để tôi có thể hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất

Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô trong khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi nhất

để chúng tôi hoàn thành khóa học

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, gia đình và bạn

bè – những người đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt

và hoàn thiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Yến Chi

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU………… 3

1 Lí do chọn đề tài……… 3

2 Lịch sử vấn đề……… 3

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát………… 9

4 Mục đích nghiên cứu……… 10

5 Phương pháp nghiên cứu……… 10

6 Cấu trúc luận văn 11

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ PHÊ BÌNH VÀ TIỂU LUẬN TRONG SỰ NGHIỆP VĂN HỌC CỦA CHẾ LAN VIÊN………… 12

1.1 Sự nghiệp văn học của Chế Lan Viên……… 12

1.1.1 Thơ ca……… 12

1.1.2 Văn xuôi dưới dạng bút kí……… 17

1.1.3 Phê bình và tiểu luận……… 21

1.1.4 Quan hệ giữa phê bình, lý luận và sáng tác trong sự nghiệp văn học của Chế Lan Viên 27

1.2 Giá trị của phê bình và tiểu luận của Chế Lan Viên………

1.2.1 Cổ vũ thúc đẩy phong trào sáng tác………

35 35 1.2.2 Những nhận định khách quan và khoa học về thơ……… 38

1.2.3 Nghệ thuật phê bình độc đáo……… 42

Tiểu kết chương 1……… 51

Chương 2: QUAN NIỆM CỦA CHẾ LAN VIÊN VỀ NHÀ THƠ VÀ NGHỀ LÀM THƠ 52

2.1 Thi sĩ – thi nhân của thế giới siêu hình 52

2.2 Thi sĩ – Nhà thơ chiến sỹ………

2.2.1 Nhà thơ với vấn đề “Sống và viết” ………

55 55 2.2.2 Nhà thơ là người nghệ sỹ giàu cá tính sáng tạo………… 62

Trang 6

2.2.3 Nhà thơ – người nghệ sỹ có tư tưởng lớn, tình cảm lớn… 67

2.2.4 Làm thơ là một nghề 77

Tiểu kết chương 2……… 82

Chương 3: QUAN NIỆM CỦA CHẾ LAN VIÊN VỀ THƠ……… 84

3.1 Thơ là tiếng nói cất lên từ thế giới siêu thực trong tột cùng cảm xúc 85

3.2 Thơ không chỉ là tiếng nói của cảm xúc mà còn là tiếng nói của lí trí trước hiện thực khách quan

3.2.1 Thơ là ngọn lửa cháy sáng từ hiện thực………

89 89 3.2.2 Thơ là ngọn lửa soi sáng hiện thực 93

3.2.3 Thơ cần có ý, có tư tưởng và trí tuệ 100

3.3 Thơ là tiếng nói của trí tưởng tượng 106

3.4 Vấn đề hình thức trong thơ 108

Tiểu kết chương 3 115

KẾT LUẬN 116

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn học Việt Nam thế kỷ XX ghi dấu những thành tựu đáng kể của các tác gia lớn, trong đó không thể không nhắc tới Chế Lan Viên Hoài Thanh nói về ông với sự khâm phục sâu sắc: “Nhà thơ không thể lấy kích tấc thường

mà đo được”[1, tr 57]; Nguyễn Văn Hạnh gọi ông là “Nhà thơ của thế kỉ”; Nguyễn Bá Thành viết về ông với tầm vóc “bậc thi bá” của dân tộc Ông xứng đáng ở vị trí tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam hiện đại Bên cạnh sự nghiệp thi ca đồ sộ (14 tập thơ), Chế Lan Viên còn là một cây bút phê bình – tiểu luận sắc sảo, với những suy tư đa chiều và giàu tính triết lý 9 tập phê bình – tiểu luận thực sự đã góp phần không nhỏ làm phong phú hơn giá trị nhiều mặt của sự nghiệp văn học Chế Lan Viên

1.2 Chế Lan Viên là nhà thơ luôn trăn trở với nghề, vì nghề, canh cánh một tấm lòng tha thiết với nghề Sự nghiệp sáng tác của ông đi qua nhiều thăng trầm của lịch sử Nhưng ở thời điểm nào, dù sáng tác trong hoàn cảnh nào, những suy tư về thơ trong ông vẫn có một vị trí lớn lao Phát biểu quan niệm nghệ thuật thơ qua thơ, với Chế Lan Viên là chưa thể nói hết những ấp ủ của lòng mình, ông đưa những quan niệm ấy vào trong những trang phê bình

và tiểu luận sắc sảo, trí tuệ và tài hoa Song từ trước tới nay, mảng lý luận này của Chế Lan Viên thực sự chưa được giới nghiên cứu đi sâu Một khối lượng tác phẩm đồ sộ, những đóng góp lớn trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu, lí luận nghệ thuật của Chế Lan Viên ở đây còn để ngỏ Vì những lí do trên

chúng tôi lựa chọn đề tài: Quan niệm nghệ thuật thơ Chế Lan Viên qua phê bình và tiểu luận làm đối tượng nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về Chế Lan Viên với vai trò là tác gia lớn của nền văn học thế kỉ XX, các bài viết và các công trình nghiên cứu tập trung khai thác: con

Trang 8

đường thơ Chế Lan Viên (Các tập thơ của Chế Lan Viên và khuynh hướng vận động của thơ ông); phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên; tìm hiểu, phân tích, bình luận, đánh giá các tác phẩm đặc sắc ở tất cả các thể loại của Chế Lan Viên; tìm hiểu con người nhà thơ qua kí ức bạn bè, đồng nghiệp và người thân

Về các tập tiểu luận và phê bình văn học của Chế Lan Viên, chúng tôi nhận thấy, các nhà nghiên cứu đã quan tâm bình giá, nhận xét ngay từ những ngày đầu mới xuất bản, song số lượng bài viết và công trình nghiên cứu còn xuất hiện thưa thớt và chưa toàn diện Hầu hết các bài viết chỉ tập trung đến một vài tập tiểu luận, phê bình đơn lẻ Giá trị đóng góp của mảng phê bình và tiểu luận của Chế Lan Viên vì thế cũng chưa được nhìn nhận ở tính hệ thống Đồng thời quan niệm nghệ thuật thơ trong những bài phê bình và tiểu luận của Chế Lan Viên cũng chỉ mới được đề cập đến dưới dạng những lời nhận định, những ý kiến đánh giá, những nhận xét chung chung

Năm 1963, trên tạp chí Văn học, số 6, Triêu Dương viết Phê bình cuốn Phê bình văn học của Chế Lan Viên Phần đầu tiên trong bài viết của mình,

Triêu Dương đề cập đến lý luận về nghề nghiệp của Chế Lan Viên Đi qua

những suy nghĩ, kiến giải của Chế Lan Viên về vấn đề sống và viết, về cái sáo trong thơ, về sự thành công của Huy Cận hay Những bước đường tư tưởng

của Xuân Diệu Triêu Dương cho rằng đây là “Những đóng góp nghiêm túc của một người đã sống lâu năm trong nghề, bây giờ nghĩ về nghề, cố gắng truyền đạt lại cho lớp người đi sau những kinh nghiệm thiết thân rất đáng hoan nghênh” [1, tr 489]

Hồ Sĩ Vịnh trong Nghĩ về “Suy nghĩ và bình luận” của Chế Lan Viên (12/1973) đã thấy, “Suy nghĩ và bình luận trong tập sách còn là những điều

nghĩ và bàn luận về thơ”[1, tr 478] Hồ Sĩ Vịnh khẳng định “Vấn đề lý tưởng

thơ ca đặt ra trong Suy nghĩ và bình luận rất mới” [1, tr 480] Ông khâm

Trang 9

phục sâu sắc sức sống của ngòi bút phê bình trong Suy nghĩ và bình luận:

“Không phải chỉ ở đây, trong Suy nghĩ và bình luận, nhưng nhất là ở đây, Chế

Lan Viên là nhà phê bình đã đưa văn phê bình trở về với cuộc sống xanh tươi

sinh động” [1, tr 481] Đọc Nghĩ về Suy nghĩ và bình luận của Chế Lan Viên,

chúng tôi có được nhiều gợi ý từ tác giả Hồ Sĩ Vịnh trong quá trình tìm hiểu quan niệm nghệ thuật thơ qua phê bình và tiểu luận của Chế Lan Viên

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong Giọng văn xuôi tiểu luận của Chế Lan Viên (1/1/1982) đã nhận xét: “Chế Lan Viên của thơ – đó là chân

dung nhìn nghiêng, Chế Lan Viên của văn xuôi - ấy mới là chân dung nhìn thẳng” [1, tr 511] Ông phát hiện ra “Giọng của một người có nghề đi truyền nghề, dạy nghề, tâm sự và lý sự về nghề của mình”[1, tr 513] Và chúng tôi nhận thấy, qua gợi ý của Lại Nguyên Ân, sự đổi giọng của một nhà thơ để nói lên quan niệm nghệ thuật của mình qua phê bình và tiểu luận bằng một “cái tôi biện lý”

Vẻ đẹp của văn Chế Lan Viên được Nguyễn Xuân Nam viết năm 1995

Đọc Chế Lan Viên nhiều lần, Nguyễn Xuân Nam đã phải dừng lại suy nghĩ:

“Làm sao một người từng viết những vần thơ siêu hình hư ảo trước kia lại có thể viết những trang văn lý lẽ sắc sảo và thắm thiết tình đời đến thế?”[1, tr 508] Ông trân trọng những trang văn của Chế Lan Viên trong thời chống Mỹ

và coi đó là những trang văn của một người “muốn cho thơ văn sát với cuộc đời hơn, có ích hơn” [1, tr 509] Trong bài viết của mình, Nguyễn Xuân Nam

đã nhận diện những đổi thay tích cực về quan niệm thơ của Chế Lan Viên song như chính tác giả đã nói ở phần kết luận: “Tôi cứ muốn xem bài viết này như một phác thảo về những đóng góp của Chế Lan Viên về lý luận, phê bình

và bút ký” [1, tr 510], nên ông mới chỉ dừng ở những nhận xét khái quát mà chưa đi sâu vào việc làm rõ từng khía cạnh của quan niệm nghệ thuật thơ Chế Lan Viên qua những trang phê bình tiểu luận

Trang 10

Trong Một phong cách phê bình trực cảm mới (1999) tác giả Hoàng

Nhân có những nhận xét tinh tế về phong cách phê bình của Chế Lan Viên và cho rằng: “Chế Lan Viên đã tiếp tục một phong cách phê bình trực cảm từ

thời Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam nhưng hòa nhập nhiều yếu tố tích cực

mới từ sau thắng lợi của cách mạng và bút pháp của một nhà thơ tài hoa của

Điêu tàn (1937), Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa trên đá (1984)” [1, tr

518] Đồng thời Hoàng Nhân cũng có những phát hiện sâu sắc về quan niệm của Chế Lan Viên đối với nghệ thuật: “Chế Lan Viên yêu cầu cao về nghệ thuật của tác phẩm văn chương nhằm biểu hiện sinh động nội dung” [1, tr 521] và mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống : “Sự sống bao giờ cũng cao hơn nghệ thuật, sự sống tự nó là nghệ thuật rất cao” [1, tr 521]

Tha thiết với sự nghiệp văn học của Chế Lan Viên, năm 2010, tác giả

Hà Minh Đức đã ra mắt bạn đọc cuốn “Chế Lan Viên người trồng hoa trên đá” Tập sách là những nghiên cứu sâu sắc và toàn diện của tác giả về sự

nghiệp văn học của Chế Lan Viên trong đó có phê bình, tiểu luận Trong bài

“Dòng văn xuôi sắc sảo và trí tuệ”, tác giả Hà Minh Đức đánh giá cao những đóng góp của Chế Lan Viên trong việc đưa lý luận vào thực tiễn sáng tác cũng như cách Chế Lan Viên dùng thực tiễn để giải quyết những vấn đề của sáng tác văn nghệ Đi qua những bài viết, bài nói chuyện của Chế Lan Viên,

từ “Nói chuyện thơ văn”, “Vào nghề”, đến “Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân” Hà Minh Đức khẳng định: “Chế Lan Viên thông minh, trí tuệ và

linh hoạt trong đối thoại Bài viết, bài nói của anh bao giờ cũng để lại nhiều ý tưởng sắc sảo, gây ấn tượng”[15, tr 180]

Bên cạnh những bài viết của các nhà nghiên cứu về phê bình và tiểu luận của Chế Lan Viên, chúng tôi tiến hành khảo sát một số những công trình

có liên quan đến việc nghiên cứu, tìm tòi, khám phá các phương diện trong quan niệm nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên

Trang 11

Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, sáng tác của ông đi qua những chặng đường đầy biến động của lịch sử, vì thế,

sự nghiệp sáng tác ấy không đơn giản, một chiều Quan niệm thơ vì thế cũng

đa dạng, phong phú, phức tạp và chia làm nhiều chặng khác nhau với quá trình vận động, biến đổi không ngừng Những bài viết, những công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên, đề cập đến quan niệm nghệ thuật thơ Chế Lan Viên thực sự là một dòng chảy mạnh mẽ, liên tục và chưa bao giờ đứt

đoạn kể từ Điêu tàn cho đến ngày hôm nay Trong đó chúng tôi chú ý đến những công trình lớn: Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy tưởng (1999), chuyên luận của Nguyễn Bá Thành; Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên (2004), chuyên luận của Hồ Thế Hà và Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên (2006),

chuyên luận của Đoàn Trọng Huy

Nguyễn Bá Thành và chuyên luận Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy tưởng đã đem đến những nhận định sâu sắc về nghệ thuật suy tưởng và

suy tưởng trong thơ Chế Lan Viên Khẳng định suy tưởng là một phương thức biểu hiện của tư duy thơ, trong quá trình khai thác chất suy tưởng trong thơ Chế Lan Viên qua các thời kỳ, tác giả đã nhận ra sự “phong phú vô biên” của một hồn thơ tự do, phóng túng Tìm hiểu những quy luật vận động của toàn

bộ tư tưởng và tình cảm của nhà thơ thể hiện qua tác phẩm, Nguyễn Bá Thành

đã chỉ cho người đọc thấy, thơ Chế Lan Viên “có một số đã không đi theo con đường mòn mà thơ ca xưa nay vẫn đi, tức là con đường: “từ trái tim đi đến trái tim” Thơ ông đi theo con đường trí tuệ để đến với trái tim”[46, tr 198] Con đường ấy đã là một con đường thơ rất riêng của một quan niệm nghệ thuật thơ độc đáo đã được định hình trong suốt hành trình thơ kéo dài hơn nửa thế kỉ của thơ Chế Lan Viên

Nhà nghiên cứu Hồ Thế Hà, khi khám phá “Thế giới thơ rộng rinh, kỳ

ảo và nhiều biến hóa của Chế Lan Viên” đã dành cả chương 1 trong cuốn

Trang 12

chuyên luận của mình để làm sáng rõ quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên Căn cứ ở thơ viết về nghề và căn cứ ở chất thơ, ở phương thức thể hiện,

ở mối quan hệ giữa chủ thể - khách thể, Hồ Thế Hà trình bày những quan

niệm đặc sắc về nghệ thuật của Chế Lan Viên ở ba mốc thời kỳ đặc biệt: Điêu tàn, từ Vàng sao hư vô đến sao vàng cách mạng và Những lá thơm hái lúc về già Đồng thời chuyên luận cũng trình bày khá cụ thể quan niệm về hình thức

nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên Chế Lan Viên là nhà thơ suy nghĩ nhiều và sâu sắc về những khát vọng và giá trị vĩnh cửu của cuộc sống cách mạng, của

Tổ quốc và sứ mệnh của thi ca Nhận thức về quan niệm thơ của Chế Lan Viên, Hồ Thế Hà khẳng định: “Từ những quan niệm về thơ thể hiện ở nội dung và hình thức được chứng nhận qua một đời thơ đã đưa địa vị Chế Lan Viên lên tầm một trong rất ít những nhà thơ hiện đại Việt Nam xuất sắc”[16,

tr 64]

Trong Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, tác giả Đoàn Trọng Huy

đã nhận định: Chế Lan Viên là người nghệ sỹ sáng tác có quan niệm rõ ràng

về nghệ thuật Ông cho rằng, không ai viết nhiều thơ về thơ như Chế Lan Viên, cũng ít người viết phê bình, tiểu luận về thơ nhiều như vậy Thường xuyên, liên tục trong cả đời thơ, Chế Lan Viên phát biểu bằng nhiều cách, ở trong nước và trên diễn đàn quốc tế Tìm hiểu thơ viết về thơ của Chế Lan Viên, tác giả phát hiện và trình bày về quan niệm nghệ thuật thơ của Chế Lan

Viên nổi bật ở ba phương diện: Hình thức thơ là vũ khí; lấy đá mới tạc nên thần mới và nền thơ chung cần có rất nhiều cá tính riêng

Nhìn chung cả ba tác giả đã dành sự quan tâm đặc biệt đến quan niệm nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên, có cái nhìn khái quát và đưa ra những nhận định sâu sắc

Trang 13

Điểm lại lịch sử nghiên cứu về quan niệm nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên và quan niệm thơ qua phê bình và tiểu luận của Chế Lan Viên, chúng tôi

có những nhận xét như sau:

- Các nhà phê bình nghiên cứu đã có sự nhìn nhận đánh giá sâu sắc và hệ thống về quan niệm nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên qua thực tế sáng tác của ông ở những thời kỳ lịch sử khác nhau

- Các nhà nghiên cứu phê bình đã đánh giá cao giá trị của các tập phê bình tiểu luận văn học của Chế Lan Viên, đồng thời có những luận điểm quan trọng, khái quát, những phát hiện mới mẻ và sâu sắc về quan niệm nghệ thuật thơ qua phê bình và tiểu luận của Chế Lan Viên

- Tuy nhiên, các bài viết chỉ đi vào một khía cạnh nào đó hay dừng lại ở một tập tiểu luận, phê bình văn học cụ thể mà chưa đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ, có hệ thống về toàn bộ hoạt động phê bình, lý luận văn học của Chế Lan Viên cũng như

hệ thống quan niệm nghệ thuật thơ được phát biểu qua những trang phê bình

và tiểu luận của Chế Lan Viên

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Với đề tài Quan niệm nghệ thuật thơ Chế Lan Viên qua phê bình

và tiểu luận, luận văn tập trung khảo sát 9 tập tiểu luận - phê bình văn học

của tác giả như sau:

- Kinh nghiệm tổ chức sáng tác, Nxb Thép mới, Hà Nội, 1952

- Nói chuyện thơ văn (Chàng Văn), Nxb Văn học, Hà Nội, 1960

- Vào nghề (Chàng Văn), Nxb Văn học, Hà Nội, 1962

- Phê bình văn học, Nxb Văn học, Hà Nội, 1962

- Suy nghĩ và bình luận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1971

- Bay theo đường dân tộc đang bay, Nxb Văn nghệ giải phóng, 1976

- Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1981

- Nàng tiên trên mặt đất, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1985

Trang 14

- Ngoại vi thơ, Nxb Thuận Hóa, Huế,1987.

3.2 Bên cạnh đó, luận văn còn khảo sát các bài thơ nghĩ về nghề,

về thơ, văn xuôi, các bài viết đăng báo của Chế Lan Viên

4 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi đặt ra hai mục đích chính khi tiến hành nghiên cứu đề tài này:

4.1 Tìm hiểu vị trí mảng phê bình, lý luận trong sự nghiệp văn học của

Chế Lan Viên, từ đó khẳng định những đóng góp toàn diện của Chế Lan Viên đối với sự phát triển của nền văn học dân tộc

4.2 Tìm hiểu những đóng góp về quan niệm nghệ thuật thơ qua phê

bình và tiểu luận của Chế Lan Viên

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp chủ yếu sau:

5.1 Phương pháp nghiên cứu xã hội học lịch sử:

Đặt quan niệm nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên thể hiện trong các tập phê bình và tiểu luận trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội để tìm hiểu, phân tích và

lý giải

5.2 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử

Chúng tôi tìm hiểu, nghiên cứu cuộc sống và hoạt động xã hội của tác giả như là một yếu tố quan trọng chi phối quan niệm nghệ thuật cũng như sáng tác, lý luận của Chế Lan Viên

5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Trong quá trình triển khai luận văn, chúng tôi vận dụng phương pháp phân tích để tìm hiểu sâu sắc và sáng tỏ những quan niệm nghệ thuật thơ mà Chế Lan Viên gửi gắm trong mỗi trang phê bình và tiểu luận Từ đó tổng hợp

Trang 15

khái quát để có được những nhận định, ý kiến đánh giá làm sáng lên những nét đặc trưng, tiêu biểu trong quan niệm nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên

5.4 Phương pháp so sánh đối chiếu

So sánh đối chiếu quan niệm nghệ thuật thơ Chế Lan Viên thể hiện trong phê bình tiểu luận và thực tế sáng tác của chính ông; So sánh đối chiếu quan niệm nghệ thuật thơ được Chế Lan Viên trình bày trong các giai đoạn trước

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, tương ứng với các

mục đích nghiên cứu đã nêu trên, luận văn được triển khai qua ba chương :

Chương 1: Tổng quan về phê bình và tiểu luận trong sự nghiệp văn học của Chế Lan Viên

Chương 2: Quan niệm của Chế Lan Viên về nhà thơ và nghề làm thơ

Chương 3: Quan niệm của Chế Lan Viên về thơ

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHÊ BÌNH VÀ TIỂU LUẬN TRONG SỰ NGHIỆP

VĂN HỌC CỦA CHẾ LAN VIÊN 1.1 Sự nghiệp văn học của Chế Lan Viên

1.1.1 Thơ ca

Suốt hành trình thơ của mình, bằng tài năng và bản lĩnh của người nghệ

sỹ hết lòng vì nghệ thuật, Chế Lan Viên thực sự đã chinh phục được những

đỉnh cao của các thời kỳ thi ca Điêu tàn xuất hiện giữa đồng bằng Thơ mới

(1932-1945) “sừng sững như một tháp Chàm chắc chắn và lẻ loi bí mật” (Hoài Thanh) Cách mạng đến, hướng người thi sĩ đi từ “thung lũng đau thương đến cánh đồng vui”, tiếng thơ cô đơn lạc lõng một thời nay cất cao

thành lời thức tỉnh, “không chỉ ơ hời mà còn đập bàn, quát tháo, lo toan” (Chế Lan Viên) Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường, chim báo bão thực sự

là Những bài thơ đánh giặc, đã làm rạng rỡ cho nền văn học chiến đấu chống

ngoại xâm Cho đến khi Chế Lan Viên bước về phía sông Mê bến Lú, người

đọc của thời kì đổi mới lại một lần nữa sửng sốt khi ba tập Di cảo thơ được

xuất bản Có thể khẳng định, Chế Lan Viên, đã sống hết mình với lịch sử, dân tộc và thời đại Ông xứng đáng là nhà thơ tiêu biểu của thế kỉ XX

Mở đầu cho sự nghiệp thơ của Chế Lan Viên là tập Điêu tàn (1937)

Với 37 bài thơ, người thi sĩ 17 tuổi đã khiến dư luận đặc biệt chú ý bởi một tâm hồn nghệ sĩ thiên phú, bởi nỗi cô đơn đầy ám ảnh và bế tắc trong thơ và đặc biệt là thế giới nghệ thuật bí ẩn với bóng tối, yêu ma làm rợn ngợp và

hoang mang người đọc Điêu tàn là âm thanh của chết chóc, khóc than

Những tháp Chàm bí mật, câm nín mấy trăm năm chợt nấc lên uất nghẹn

Điêu tàn là bi kịch của đất nước Chiêm Thành đã bị vùi sâu vào quá khứ Nhưng Điêu tàn còn là bi kịch tình thần của một nhà thơ, của một thế hệ các

Trang 17

nhà thơ, gửi gắm trong đó bi kịch mất mát đau thương của dân tộc Tiếng thơ

ấy vì thế đã khiến biết bao người đã phải lắng tai nghe

Cùng những biến thiên vĩ đại của lịch sử dân tộc sau Cách mạng tháng Tám, vượt qua “thung lũng đau thương”, thơ Chế Lan Viên bắt đầu một hành

trình mới Gửi các anh gồm 14 bài thơ, in năm 1955, ra đời sau 10 năm nhà

thơ Chế Lan Viên gắn bó với Cách mạng Mặc dù còn nhiều hạn chế song tập thơ này có ý nghĩa như một sự nhận đường Đó là những xót xa đau đớn của nhà thơ khi nghĩ về mẹ đang bị cầm chân nơi đất giặc, “Bốn phía là gươm bốn

bề là sắt”, nghĩ về nhân dân trong cảnh “Ngút trời đồng bốc lửa” Đó là những xúc động mãnh liệt trước những hi sinh cao đẹp của người chiến sỹ nơi “Bốn

bề núi dựng/ Núi hiên ngang bốn bề vách đứng/ Canh mồ cho anh” Đó là ngọn lửa căm thù bùng cháy khi nhà thơ ghi khắc nỗi đau lớn của quê hương

để “Nhớ lấy để trả thù” Có thể nói, sống chân thành, sâu sắc với hiện thực đời sống kháng chiến chống Pháp của dân tộc, Chế Lan Viên đã đưa thơ ông thoát khỏi dĩ vãng buồn thương để trở về với cuộc đời hiện tại trong niềm tin yêu

“Khi đã có hướng rồi”, Chế Lan Viên nhanh chóng khẳng định mình như một thi sĩ tiên phong Năm 1960, mừng Đảng ta 30 tuổi, Chế Lan Viên

xuất bản tập Ánh sáng và phù sa với 69 bài

Sự thật của cuộc sống và chiến đấu lớn của nhân dân đã in bóng trong từng trang thơ của Chế Lan Viên sống động, chân thực Tập thơ phản ánh, ngợi ca cuộc sống mới đang đổi thay trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, góp thêm tiếng nói đấu tranh cùng miền Nam trong lửa đạn Tiếng nói vượt lên

“nỗi đau” cũ để tiếp nhận “niềm vui” mới được cái tôi trữ tình Chế Lan Viên thể hiện sâu sắc, có chiều sâu của một cái tôi giàu suy tư, chiêm nghiệm Chế Lan Viên đã trở thành người thi sĩ ca hát vẻ đẹp muôn màu sắc của thời đại

Trang 18

mới, say sưa, mê mải lượn trăm vòng trên tổ quốc thân yêu để thu nhận

“Ngàn núi trăm sông diễm lệ” vào hồn thơ đang căng tràn sức sống của mình

Nối tiếp Ánh sáng và phù sa, những tập thơ Hoa ngày thường, chim báo bão, Những bài thơ đánh giặc và Đối thoại mới lần lượt được ra đời trong

những năm kháng chiến chống Mỹ hào hùng và quyết liệt

Hoa ngày thường, chim báo bão xuất bản năm 1967, gồm 49 bài thơ Chùm thơ Hoa ngày thường giản dị, gần gũi và giàu chất sống Với những Bé Thắm đàn, Nhớ em nơi huyện nhỏ, Con đi sơ tán xa…người đọc gặp một Chế

Lan Viên cởi mở với những đề tài riêng tư mà đời thường, mộc mạc Những

lời ru tha thiết như Con cò, giọng điệu bi bô khi Con tập nói…là cuộc sống, là

chất sống ngời lên vượt qua sự hủy diệt khốc liệt của chiến tranh Tập thơ

không dừng ở đó, bên cạnh Hoa ngày thường là cánh Chim báo bão Thơ Chế

Lan Viên đã tiến sát hơn tới những tuyến đầu của cuộc chiến đấu của dân tộc

và thời đại Trong tập thơ có nhiều bài thơ chống Mỹ rất trữ tình mà cũng rất

quyết liệt như: Cái hầm chông giản dị, Ở đâu? Ở đâu? Ở đất anh hùng, Con mắt Bạch Đằng, con mắt Đống Đa…

Xuất bản năm 1972, giữa những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc

kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Những bài thơ đánh giặc thực sự đã tham gia trực tiếp vào cuộc đấu tranh của dân tộc Phác thảo cho một trận đánh, một bài thơ diệt Mỹ đã vừa vạch trần âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ vừa phản

ánh chân thực khí thế hào hùng của quân và dân ta trong quá trình chuẩn bị

chiến dịch Khe Sanh – Đường Chín – Nam Lào Với “Phản diễn ca” hay

“phản diện ca” về học thuyết Nichxơn, Chế Lan Viên đã kiên quyết phản bác

lại những luận điệu sảo trả của Nichxơn trong những cuộc viễn du thương

lượng của chúng Thời sự hè 72 – Bình luận được Chế Lan Viên viết khi cả

nước đang sôi sục căm thù vì những vụ ném bom B.52 xuống Hải Phòng của

đế quốc Mỹ Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên không chỉ bám sát

Trang 19

những sự kiện nóng hổi mang tính thời đại mà còn có những lời giải thấu đáo trước những vấn đề bức thiết trong đời sống chính trị, báo trước viễn cảnh phát triển của tình hình, làm tăng thêm lòng tin tưởng vào thắng lợi của nhân dân

Tiếp nối những âm vang nung đốt trong Những bài thơ đánh giặc, cuối năm 1973 Chế Lan Viên xuất bản tập thơ Đối thoại mới 68 bài thơ trong tập

thơ này cho thấy một sức viết dồi dào và sự thúc bách của thời đại Bên cạnh mảng thơ chống Mỹ gồm những bài thơ dài, có dung lượng lớn và chiếm vị trí quan trọng, trong tập thơ còn xen lẫn những bài thơ ngắn và những chùm tứ tuyệt dịu nhẹ, êm đềm Cả tập thơ vì thế có được sự cân bằng thời sự và cuộc sống, giữa trí và tình

Tự nguyện đem thơ phục vụ lợi ích cách mạng, Chế Lan Viên vì thế

cũng đã dứt khoát lựa chọn sứ mệnh mới cho thơ: “Thơ cần có ích cho cuộc đời, cho nhân dân” Với quan niệm ấy, thơ Chế Lan Viên đã đi qua hai cuộc

kháng chiến thần thánh của dân tộc và thực sự trở thành con đẻ của thời đại, của Tổ quốc, của Nhân dân

Cũng như bao nhà thơ khác, Chế Lan Viên đã viết về Bác Hồ với niềm

cảm hứng mãnh liệt Hoa trước lăng người (1976) với 14 bài thơ làm rải rác

trong khoảng hai mươi năm là tấm lòng của nhà thơ đối với vị cha già kính yêu của dân tộc Bằng tất cả sự kính trọng, yêu thương, biết ơn vô hạn, thơ Chế Lan Viên đã đem đến cho người đọc một bức chân dung bằng thơ giản dị, thanh cao, thiêng liêng, vĩ đại về Người

Sau năm 1975, thơ Chế Lan Viên kết tinh trong những tập thơ Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986)

Khép lại một giai đoạn thơ kháng chiến, Ngày chiến thắng và Thơ bổ sung trong tập Hái theo mùa được Chế Lan Viên viết trong những ngày náo

nức của tháng 5 năm 1975, có ý nghĩa như khúc ca khải hoàn trong ngày đất

Trang 20

nước trọn niềm vui Bên cạnh đó Hái theo mùa còn là những xúc cảm đời thường với hơn 40 bài tứ tuyệt giàu sức gợi 15 bài thơ trong tập Hoa trên đá

là một chất thơ mới của nhà thơ đang tìm hướng đi mới cho thơ, đang muốn vượt lên chính mình để làm mới thơ Qua giông bão chiến tranh, sau những bài thơ hùng tráng, giờ đây hồn thơ Chế Lan Viên chín lại một lần nữa trong những khúc trữ tình không còn trẻ trung nhưng sâu lắng, tha thiết, thấm tận đáy lòng

Ở các tập thơ Hoa trước lăng Người, Hái theo mùa và một phần Hoa trên đá, Ta gửi cho mình, thơ Chế Lan Viên vẫn là tiếng kèn xung trận, tiếng

hát cất cao ngợi ca, cổ vũ nhân dân Nhưng càng về sau đặc biệt trong ba tập

Di cảo (xuất hiện sau khi Chế Lan Viên qua đời) thơ Chế Lan Viên lắng lại,

đằm sâu trong suy tưởng, thơ lặn vào trong, viết cho riêng mình

Di cảo thơ của Chế Lan Viên do nhà văn Vũ Thị Thường – người bạn đời của ông, tuyển chọn và giới thiệu tới bạn đọc Ba tập Di cảo thơ với 567

bài thơ (bao gồm cả những bài thơ hoàn chỉnh và những bài còn ở dạng phác thảo) là những dằn vặt, mâu thuẫn trong nội tâm Chế Lan Viên, là sự “sám hối”, “phản tỉnh” xuất hiện đâu đó, là những xao xác đến nao lòng từ bề ngoài

an nhiên bình đạm…Chỉ với 3 tập thơ mà “Nghìn trò cười khóc” Người đọc

thấy một Chế Lan Viên vừa quen vừa lạ, tưởng đã hiểu ông và thơ ông đến

ngọn ngành, lại tưởng chừng như chưa hiểu Di cảo thơ chính là ba mặt còn lại của“Tháp Bayon bốn mặt” trong những suy tưởng về thơ và đời của Chế

Lan Viên

Đi qua các chặng đường thơ Chế Lan Viên, chúng tôi nhận thấy: thơ Chế Lan Viên có một diện mạo phong phú và phức tạp Ông là nhà thơ bản lĩnh, tha thiết với thời đại, mê mải tìm tòi và hầu như không bao giờ bằng lòng với những gì đã đạt được Người đọc tìm thấy trong thơ Chế Lan Viên tiếng nói của một cái tôi trữ tình đa giọng điệu Khi đau đớn bi ai, khi hào

Trang 21

hùng quyết liệt, khi thủ thỉ tâm tình, lúc ngọt ngào tha thiết…Đó là tiếng nói của một hồn thơ luôn tìm đường mở lối cho thi ca hiện đại, một hồn thơ luôn muốn lật xoay đời sống, xã hội và cả tâm hồn mình để khám phá đến tận cùng mọi chiều kích Tất cả những điều ấy làm nên phẩm chất tiểu biểu của thơ Chế Lan Viên: phẩm chất triết học Tư duy triết học tạo cho thơ Chế Lan Viên một màu sắc trí tuệ, một màu sắc nhận thức luận sắc nét Thơ Chế Lan Viên chú trọng khai thác những yếu tố nghịch lý, những mặt đối lập rồi liên kết chúng lại bằng một khả năng liên tưởng đa dạng và linh hoạt Trí tuệ nhưng không khô khan, trí tuệ nhưng vẫn rất đỗi trữ tình Mạch nguồn sống của thi

ca nói chung là sự xúc động chân thành của cảm xúc Và thơ Chế Lan Viên cũng không nằm ngoài mạch nguồn chung ấy

Đọc thơ của Chế Lan Viên, người đọc cảm nhận sâu sắc về một nhà thơ với ý thức trách nhiệm lớn lao Trách nhiệm với thơ, trách nhiệm với đời, trách nhiệm với lịch sử và thời đại Sáng tạo nghệ thuật bằng cả sức lực và trí

tuệ, thơ Chế Lan Viên thực sự là “Trái tim anh móc lại - Cho đời”, để anh được tồn tại mãi giữa cõi đời, “Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên” (Từ thế chi ca)

1.1.2 Văn xuôi dưới dạng bút kí

Nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân trong bài viết Giọng văn xuôi tiểu luận Chế Lan Viên đã khẳng định: “Có một Chế Lan Viên – văn xuôi –

bên cạnh một Chế Lan Viên – thơ” [1, tr 511] Cùng với thơ, văn xuôi bút kí Chế Lan Viên đã ghi lại sâu sắc sự vận động trong tư tưởng của nhà thơ suốt hơn 50 năm cầm bút; trải qua biết bao thăng trầm, biến động của lịch sử để đi

từ sầu bi huyền bí đến nơi có “Ánh sáng và phù sa” chan hòa, để cất cao tiếng

nói ngợi ca, cổ vũ, khích lệ, động viên Cùng với thơ, văn xuôi, bút kí đã góp thêm những trang văn làm phong phú thêm sự nghiệp văn chương vốn rất đa dạng và giàu sức hấp dẫn của Chế Lan Viên

Trang 22

Khi Cách mạng tháng Tám diễn ra, Chế Lan Viên vừa tròn hai mươi lăm tuổi, nhưng đã cảm thấy già đi vì mang một gia tài đồ sộ của hàng triệu nỗi buồn Tác giả đã có lúc tự thú nhận: “Nỗi buồn ghê gớm nhất, những hư

vô sâu thẳm nhất để lại cho tôi, chính do các nền tôn giáo”[85, tr 612] Tập

Vàng sao ra mắt bạn đọc gồm các sáng tác của Chế Lan Viên từ 1937 đến

1942 Xuyên suốt Lệ (Tựa chung cho Vàng sao và Gai lửa), Chiều tin tưởng, Đêm giao thừa, Tạp bút, Trốn lửa, Bỏ trường mà đi, Sõi tối 1 , Vàng sao…là

một Chế Lan Viên với tiếng nói thiết tha ca tụng cái đẹp linh thiêng, một Chế Lan Viên tìm đến cúi mình trước những tượng trưng tôn giáo “Thích Ca! Jésus! Khổng Khâu! Lão Tử! Tôi đều thành tâm cúi đầu trước uy linh huyền

diệu của các ngài”[84, tr 20] Trong Vàng sao có sự đan dệt của triết học và

thi ca, của không gian vô tận và thời gian vô cùng, tự nhiên và con nguời, cái

khoảnh khắc và cái vĩnh cửu… Có thể nói, với Vàng sao Chế Lan Viên đã đạt

đến sự tổng hợp và tổng hoà của triết học và thi ca: “Ta nhìn ra Muôn sao thôi độc dữ Không tách riêng ra tư tưởng để nói triết học giữa trời Chúng ta

đã lẫn vào thi ca, trong chăn gối dâng lên từ cảnh vật”[84, tr 63]

Cùng với Vàng sao, Gai lửa được viết ngay năm 1942 nhưng chỉ được

ra mắt bạn đọc sau khi Chế Lan Viên đã qua đời Chìm trong Điêu tàn và Vàng sao, Chế Lan Viên nhận thức rõ “Sống quen trong bóng tối đi rồi làm

như bây giờ người ta đã đâm ra sợ lửa”[84, tr 13] Vì thế ông muốn “Đốt vài nhành Gai, nhen một ngọn Lửa, chúng ta thành tâm khêu lên hình bóng của cuộc đời”[84, tr 13] Hình bóng của cuộc đời ở đây chủ yếu được cảm nhận

qua hình bóng của đấng sinh thành Trong những tác phẩm Mẹ sầu bi, Muối tối, Vinh, ngày 18 – 3 năm kháng chiến, mẹ như một nguồn cứu rỗi, một niềm

an ủi, một lượng từ bi “Nhưng rồi một ngày kia…Đột nhiên mà chàng lẻ loi

1

Trang 23

giữa một sự thù nghịch bao vây Đột nhiên mà hình ảnh mẹ buồn hiện ra trước mắt, uẩn khúc đằng sau một trời thương mến ngọt ngào […] và một buổi sáng khác, đang lầm lũi trong gai, trong cỏ, kiếm kiếm tìm tìm, Phan Thơ bỗng ngạc nhiên thấy Mẹ bên mình! Không hỏi han duyên cớ, Phan Thơ ngả vào lòng Mẹ…Nước thiên đàng đã đến gần”[86, tr 773] Chàng Phan Thơ ấy, chàng Phan Thơ có thực ngoài đời và chàng Phan Thơ trong tâm tưởng, cô đơn, hoảng loạn, bế tắc trước một câu hỏi lớn đầy hứng khởi và cũng đầy đau đớn: “Tôi là một Người có thể được yêu không?”[86, tr 777]

Vàng sao và Gai lửa đã cùng Điêu tàn đánh dấu một giai đoạn sáng tác

đặc biệt của Chế Lan Viên – giai đoạn có thể xem như cả cuộc sống và sáng tác đều thuộc về thế giới của những hư vô và siêu hình

Đến với Cách mạng, Chế Lan Viên dứt khoát từ bỏ những hư vô, siêu hình, đem ngòi bút và chính cuộc đời mình phụng sự nền văn nghệ kháng chiến Từ chiến trường đầy ác liệt, từ những nỗi đau chiến tranh chất chứa đầy

máu và cả sự hy sinh, những áng văn bất hủ đã được viết lên Thăm Trung Quốc, Những ngày nổi giận, Giờ của số Thành được viết từ năm 1963 đến

năm 1976 đã phản ánh thật rõ ràng và đậm nét ý chí quyết tâm đánh giặc ngoại xâm của dân tộc ta, lòng căm thù giặc cũng như những phẩm chất anh hùng của người chiến sỹ trong công cuộc đấu tranh để gìn giữ non sông của ông cha ngàn đời

Thăm Trung Quốc, tập bút kí xuất bản năm 1963 gồm 6 bài viết với

nhiều cảm xúc Trước hết là niềm vui hân hoan của tác giả khi tận mắt chứng

kiến sự đổi thay của đất nước bạn trong cuộc sống mới tươi đẹp (Cảnh xưa trong đời mới , Về thăm những nơi chiến đấu cũ) Tình hữu nghị bền vững giữa hai dân tộc được tác giả thể hiện sâu sắc trong Sức mạnh và tình yêu Thầy giáo Lưu Thiếu Kỳ ở mỏ An Nguyên và Gặp đồng chí Hồng Quân ở tỉnh Cương Sơn là tấm lòng cảm phục của Chế Lan Viên đối với tinh thần đấu

Trang 24

tranh cách mạng quyết liệt của nhân dân Trung Quốc Lời văn giản dị, những ghi chép tỉ mỉ, chi tiết và đặc biệt là cảm xúc chân thành, mãnh liệt, sâu sa đã khiến cho tập tùy bút có được nhiều hấp dẫn từ phía bạn đọc

Những ngày nổi giận, tập bút ký chống Mỹ được Chế Lan Viên viết

nên từ chính sức nóng của tình hình chính trị mang đậm tính thời sự những năm từ 1962 đến 1966 Với 11 bài viết, Chế Lan Viên đã xây dựng sống động hai chiến tuyến: “chúng ta” và “chúng nó” “Chúng nó” là đế quốc Mỹ cuồng chiến Viết về “chúng nó”, ngòi bút Chế Lan Viên đanh thép, dữ dội vạch trần những âm mưu xâm chiếm thâm độc, những luận điệu sảo trá, những tội ác dã man chúng đã gieo rắc trên đất nước Việt Nam Viết về “chúng ta”, giọng điệu trong bút ký mềm mại hơn khi ông bộc lộ niềm tin yêu tha thiết đối với những đổi thay của Miền Bắc xã hội Chủ nghĩa; khi ông ngợi ca cuộc chiến

đấu anh dũng của nhân dân ta (Hoa lửa miền Nam, Ý nghĩa dọc đường, Viên kim cương đầu giới tuyến…); giọng điệu bút ký sôi sục căm thù, thiết tha yêu thương khi ông viết Những ngày nổi giận; giọng điệu bút ký hân hoan, tươi vui rạng rỡ khi ông viết Mùa xuân ủng hộ ta

Hoàn cảnh chiến tranh, hiện thực chiến tranh vừa rất đỗi hào hùng, vừa rất đỗi bi tráng tự bản thân nó đã tạo nên những bản anh hùng ca đầy khí thế

Trong lúc này, giặc Mỹ điên cuồng lồng lộn bắn phá Vậy mà khi đọc Những ngày nổi giận của Chế Lan Viên, người đọc lại có cảm giác bình tĩnh thư thái

lạ lùng Đó là cảm giác của những con người đang sẵn một niềm tin tưởng tuyệt đối: Chúng ta tất yếu sẽ chiến thắng

Giờ của số Thành (1970-1976), là những trang bút ký được viết từ tâm

thế của con người nhìn thấy trước chiến thắng và thực sự được hoà mình với thắng lợi trọn vẹn của dân tộc Trong 15 bài viết của tập bút ký, hình tượng

bao trùm là hình tượng Bác Hồ và hình tượng mùa xuân Trong Tổ quốc đã rằm, Những mùa xuân truy kích giặc, Bài học mùa xuân, Khi con đường

Trang 25

mang danh hiệu của Người… Bác hiện lên là niềm tin, là hi vọng, là động lực

thôi thúc lên đường “Một bức ảnh Người – một cái tên Người cũng góp phần làm nên thống nhất Người cho chúng ta mượn danh hiệu mà thành công trong chiến dịch, mượn tên tuổi Người mà hoá thân cho cả một đô thành…ở đâu, đi đến đâu, thấy ảnh Người là ta rất an tâm Biết rằng Tổ quốc đã tự do, thống nhất”[85, tr 479]

Nếu như Trên đỉnh Trường Sơn – Trên đỉnh thời gian, Những mùa xuân truy kích giặc, Bài học mùa xuân…đất nước tự do thống nhất là niềm

tin, là hi vọng thì nay đã trở thành hiện thực Từ mùa xuân trên đỉnh Trường Sơn, những mùa xuân truy kích giặc, đến hôm nay, mùa xuân đến “sóng đôi cùng chiến thắng”, “nhân hậu”, “yêu thương” “nâng sự sống và lòng chúng ta lên hoàn mỹ”[85, tr 518] Chế Lan Viên say sưa với chiến thắng, niềm vui lớn hiện hữu, ngập tràn khắp muôn nơi trên đất nước này Những bài bút ký của Chế Lan Viên đã ghi lại chân thật và đẹp đẽ khoảnh khắc lịch sử thiêng liêng ấy của đất nước

Cũng như thơ, những trang văn xuôi, bút ký của Chế Lan Viên đã thể hiện sâu sắc những bước đường tư tưởng của người nghệ sĩ Từ cái tôi cô đơn,

bế tắc, siêu hình đến cái tôi hồn hậu, mê say chan hoà với cuộc sống và chiến đấu của dân tộc, mỗi trang văn xuôi bút ký của Chế Lan Viên đều thấy sự tha thiết, sự nặng lòng của người nghệ sỹ đối với cuộc đời

1.1.3 Phê bình và tiểu luận

Hoạt động nghệ thuật trong ý thức của Chế Lan Viên là một hoạt động đòi hỏi trách nhiệm lớn lao ở người nghệ sỹ Nghiêm khắc với nghề và nghiêm khắc với chính mình, mỗi trang viết của Chế Lan Viên là sản phẩm của biết bao tìm tòi, nghiên cứu, suy ngẫm, trải nghiệm và chiêm nghiệm Yêu nghệ thuật như một lý tưởng, Chế Lan Viên sáng tác nghệ thuật với một

hệ thống quan niệm chặt chẽ Hệ thống quan niệm ấy được thể hiện qua thơ,

Trang 26

qua văn xuôi bút ký, và đặc biệt là qua phê bình và tiểu luận Viết phê bình và tiểu luận, Chế Lan Viên trao đổi về đời sống xã hội, về chính trị, thời sự, về dân tộc, Tổ quốc …và đặc biệt là về thơ Ở đây, cái tôi trữ tình đã cùng với cái tôi biện lý sắc sảo tạo nên một sự nghiệp phê bình, tiểu luận phong phú, xứng đáng là đứa con tinh thần đáng tự hào của Chế Lan Viên

Tại hội nghị cán bộ văn nghệ Liên khu Bốn, tháng 12 – 1950, Chế Lan Viên trình bày một bài thuyết trình dài và tâm huyết Bài thuyết trình đó được

Nhà xuất bản Thép Mới biên tập và cho ra mắt bạn đọc với nhan đề Kinh nghiệm tổ chức sáng tác vào năm 1951 Từ Kinh nghiệm tổ chức sáng tác đến Ngoại vi thơ (Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế, 1987), 9 tập phê bình, tiểu luận

được xuất bản Bằng bút lực dồi dào, trí tuệ sắc bén và sự nhạy cảm của tâm hồn người nghệ sỹ, Chế Lan Viên đã say sưa phê bình, tranh luận, hùng biện, đối thoại Ông nói chuyện văn thơ, đem hết những kinh nghiệm, những tâm

sự của nghề viết mà truyền nghề, dạy nghề Ông phê bình và giới thiệu thơ văn, ủng hộ cổ vũ khích lệ các nhà thơ trẻ, giới thiệu thành tựu thơ văn Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế…Trên văn đàn, ngòi bút phê bình tiểu luận của Chế Lan Viên thực sự đã góp phần không nhỏ vào việc làm sống động đời sống văn học nghệ thuật đương thời

Nhằm mục đích góp phần thúc đẩy công việc sáng tác, Kinh nghiệm tổ chức sáng tác được xuất bản với ba phần súc tích: Kinh nghiệm về việc đi tìm

tài liệu; kinh nghiệm về việc ghi chép; kinh nghiệm về việc thực hiện tác phẩm

Là kinh nghiệm của một cây bút vững vàng trong sáng tác, nhưng Chế Lan Viên khẳng định, đây chỉ là kinh nghiệm của các lần thất bại, “Đi sao không sáng tác, sáng tác sao không thành công” nhiều hơn là kinh nghiệm của các lần thành công Đó không phải chỉ là kinh nghiệm của riêng Chế Lan Viên, những gì được trình bày trong bài thuyết trình này là sự tha thiết với

Trang 27

sáng tác của nhiều bạn văn nghệ, nhiều đoàn công tác trong Liên khu Đó là

điều đáng quý ở Kinh nghiệm tổ chức sáng tác

Sau Kinh nghiệm tổ chức sáng tác, Nói chuyện thơ văn và Vào nghề

tiếp tục được Nhà xuất bản Văn học cho ra mắt bạn đọc vào những năm 1960

và 1962

Nói chuyện thơ văn (1960) thực sự là một cuộc đối thoại mà chủ đề

chính là thơ văn Tập sách này đem đến cho người đọc những câu hỏi có thực của những bạn đọc có thực về những vấn đề có thực Có biết bao người yêu thơ, quan tâm đến thơ, muốn làm thơ là có bấy nhiêu câu hỏi Chế Lan Viên gom góp lại trong bảy vấn đề lớn: “Lập trường tư tưởng, tình cảm”; “Học tập, nghiên cứu, thưởng thức”; “Về năng khiếu, khả năng và cá tính”; “Về đề tài

và cách thể hiện đề tài” Những câu hỏi đó đã được Chàng Văn trả lời họ một cách kĩ lưỡng và rất say mê Đến với tập sách này, người đọc không chỉ có được những câu trả lời giản dị, chân thành, hóm hỉnh, trí tuệ mà còn được nhen lửa, tiếp lửa, được truyền lửa đam mê từ Chàng Văn

Với Vào nghề (1962) Chế Lan Viên đã làm một việc quá sức mình

(Chàng Văn tâm sự) nhưng Chàng Văn “bao giờ…cũng rất phấn khởi”[84, tr 466] Bởi nhiều câu hỏi được gửi tới có nghĩa là nhiều người quan tâm, nghĩa

là nền văn nghệ đã và đang được mở rộng Mà không chỉ quan tâm tới thơ, những câu hỏi đã không ngần ngại mà hướng sang cả lĩnh vực của văn xuôi, truyện ngắn, phóng sự…Nếu như tập trước nói về phần lập trường tư tưởng chung thì tập này Chàng Văn đã bàn đến một số kĩ thuật phương pháp cần thiết (cách xây dựng một cốt truyện, tìm chi tiết cho một truyện ngắn, cách

leo thang cho một câu thơ…) Hai chữ Vào nghề Chàng Văn đặt cho tập sách

này có ý nghĩa là như vậy

Xuất bản năm 1962, Phê bình văn học là tập hợp của 19 bài viết từ

1956 đến 1961 Chế Lan Viên đã sôi nổi đóng góp làm dày thêm những trang

Trang 28

lý luận về nghề văn Ông trở lại quá khứ với Nguyễn Du, ông đọc Những bước đường tư tưởng của tôi của Xuân Diệu, Trời mỗi ngày lại sáng của Huy Cận Ông trải lòng mình Từ thung lũng đau thương đến cảnh đồng vui Ở đâu trong mỗi câu, từ, ngữ, nghĩa của Phê bình văn học đều thấy một niềm sôi

nổi

Trong quá trình tìm hiểu tập phê bình, tiểu luận này, chúng tôi nhận thấy, Chế Lan Viên chủ yếu tập trung vào ba nội dung cơ bản:

- Những quan niệm của Chế Lan Viên về thơ và nghề thơ được ông

trình bày qua 5 bài viết: Sống và viết, Sự chân thành của nhà văn, Nghĩ về nghề, Cái sáo ở trong thơ, Ý của thơ

- Những nhận định khách quan và khoa học về thơ thể hiện qua những bài Chế Lan Viên viết để giới thiệu thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Ngọc Minh,…; bài giới thiệu cho “Tuyển tập thơ Việt Nam (1945-1960)…

- Đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù đối với

Cách mạng và phong trào văn nghệ Cách mạng qua Trả lời bức thư của nhóm dân chúng (miền Nam) gửi giới văn nghệ miền Bắc

Là một nhà văn ham tìm tòi, nhiều trăn trở, những năm tháng kháng chiến chống Mỹ quyết liệt và dữ dội đã trở thành mảnh đất tốt để Chế Lan

Viên Suy nghĩ và bình luận (1971) “Suy nghĩ và bình luận của Chế Lan Viên

gồm 20 bài viết với nội dung phong phú Ông suy nghĩ và bình luận về dân tộc, lịch sử, thời đại Về những điều Đảng nghĩ, về kẻ thù, về vận mệnh của thơ ca và sứ mệnh của thơ ca

Tác giả Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Đọc “Suy nghĩ và bình luận” của Chế Lan Viên nhận xét: “Nếu lấy chiều sâu của suy nghĩ, lấy tính

hệ thống hoàn chỉnh làm chuẩn thì chất lượng không đều nhau”[1, tr 485]

Song điều đáng kể ở đây là bên cạnh lý luận của một nhà lý luận, Suy nghĩ và bình luận của Chế Lan Viên còn là lý luận của một nhà thơ “Lý luận dựa trên

Trang 29

kinh nghiệm sáng tác thiết thân, lý luận đi đôi với một năng lực cảm thụ thẩm

mỹ chắc chắn Chế Lan Viên chẳng những là một nhà thơ trong Suy nghĩ và bình luận mà còn là một nhà Suy nghĩ và bình luận trong thơ”[1, tr 486]

Bay theo đường dân tộc đang bay xuất bản năm 1976, (Nhà xuất bản

Văn học giải phóng), gồm 25 bài, là tập hợp những bài viết từ năm 1963 đến

1976 Là một đại biểu Quốc hội, Chế Lan Viên đã xuất sắc thể hiện vai trò

“chỉ đạo” của mình qua những bài tham luận Ông đề cao vai trò của văn nghệ

trong đời sống xã hội, thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế, thiếu sót Bay theo đường dân tộc đang bay còn là những trăn trở với nghề của Chế Lan Viên, là những suy tư Nghĩ về nghề…nghĩ về thơ…nghĩ Tiếp tục những dòng suy tưởng về Hồ Chí Minh vĩ đại, Bay theo đường dân tộc đang bay là những cảm

nhận sắc nét của Chế Lan Viên trước những vần thơ của Bác

Viết sau ngày đất nước trọn niềm vui, Từ Khuê Văn Các đến quán Trung Tân (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1981) ngập tràn các cảm xúc vui

sướng hân hoan Tập tùy bút tiểu luận gồm 16 bài viết với nhiều cảm xúc Đó

là niềm vui của một nhà thơ suốt 30 năm đã biến mình thành một ngọn sáng, một vị mặn, một hạt muối của đời trong cái biển đời vô tận” [85, tr 611] Chế Lan Viên say mê bàn luận về Tổ quốc, về mùa xuân, về thi ca, về văn hoá Từ Khuê Văn Các đến Quán Trung Tân là một tập phê bình tiểu luận phong phú

về nội dung, độc đáo trong cách thức thể hiện, đa dạng trong giọng điệu, sắc

sảo trong tư duy

Ngoại vi thơ (Nhà xuất bản Thuận Hoá, 1987) tập tiểu luận – tạp văn

gồm 21 bài viết, ghi lại những nhận xét sắc sảo, độc đáo và tinh tế của Chế Lan Viên về thơ của Xuân Hoàng, Yến Lan, Xuân Diệu, Trần Nhật Thu,

Hoàng Tố Uyên Hình tượng Bác Hồ ngời sáng trong Trời cao xanh ngắt sáng Tuyên ngôn Những bài tham luận trong cuộc gặp gỡ, hội thảo khoa học được

Trang 30

đưa vào Ngoại vi thơ cho thấy Chế Lan Viên thực sự xứng đáng với vai trò sứ

giả của thi ca Việt Nam

Những năm 80 của thế kỷ XX đánh dấu bước chuyển mình đổi mới sâu sắc trong đời sống văn học Nhiều tư tưởng, quan niệm được xem xét lại, nhiều giá trị văn học được nhìn nhận lại, nhiều nhà văn, nhà thơ dũng cảm, gan góc, bản lĩnh mở đường đổi mới Trên con đường văn học nhiều thử thách của giai đoạn ấy, là một con người gắn bó tha thiết với nghề, Chế Lan Viên luôn canh cánh một nhiệm vụ thiêng liêng, nhiệm vụ thúc đẩy, cổ vũ các

phong trào sáng tác Nàng tiên trên mặt đất là những cảm nhận chân thành,

tha thiết của một người chú, một người bác, một người anh đối với phong trào sáng tác của các cháu thiếu nhi Với 10 bài viết được tập hợp từ năm 1978 đến

năm 1983, Nàng tiên trên mặt đất trước hết là sự cổ vũ của Chế Lan Viên đối với cuộc thi thơ của báo Khăn Quàng Đỏ diễn ra sau ngày giải phóng (1978) Không dừng lại ở đó, Chế Lan Viên còn viết bài phát động cuộc thi Viết và vẽ lần thứ hai của báo Khăn Quàng Đỏ (1981) Chế Lan Viên băn khoăn trước

hiện tượng các cháu bé đã thi thơ, đã có bài đăng trong tuyển thơ mà sau đó lại không viết được thơ…Những tâm sự ấy chỉ có thể có được trong người nghệ sỹ luôn nung nấu về nghề, luôn trăn trở với nghề, và luôn nghĩ về nghề với một ý thức trách nhiệm lớn lao

Chế Lan Viên từng quan niệm: “Văn xuôi đo bằng đấu, nhưng thơ phải

đo bằng cân tiểu li”[85, tr 684] Theo cách nói này của chính tác giả thì sự nghiệp phê bình tiểu luận này của ông vẫn còn là khiêm tốn Song điều làm nên một Chế Lan Viên sắc sảo trong phê bình tiểu luận không chỉ là số trang giấy được in, cũng không chỉ đơn giản điểm lại những tập phê bình tiểu luận được xuất bản mà là những đóng góp của Chế Lan Viên với nghề, với đời sống xã hội và lịch sử dân tộc Có thể khẳng định rằng, những trang phê bình tiểu luận của Chế Lan Viên đã chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp

Trang 31

văn học của ông và góp phần làm nên một nền văn học nước nhà phong phú

Nhận thức sâu sắc vai trò của lý luận, phê bình đối với quá trình sáng tạo, nhà thơ Chế Lan Viên đã không chỉ luôn tìm tòi đổi mới trong thơ mà còn muốn dùng lý luận về thơ, phê bình thơ để làm phong phú hơn đời sống thi ca nghệ thuật đương thời Giữa lúc tình hình phê bình của văn học cách mạng còn nhiều bất cập Lý luận văn học nghệ thuật chưa theo kịp với thực tiễn sáng tác, trong khi phê bình đang có những biểu hiện lúng túng, chưa khẳng định được vị trí, vai trò đồng hành định hướng cho sáng tác Một số bài phê bình còn ở dạng chung chung, dễ dãi, thiếu tìm tòi, suy nghĩ, khả năng khái quát còn thấp, tầm nhìn xa chưa rõ; một số cây bút lại rơi vào tình trạng sách

vở, hiểu biết phong trào sáng tác và thực tiễn lao động nghệ thuật của nhà văn chưa nhiều, tuy có nêu được vấn đề mà thiếu sức rung cảm trước cái đẹp của tác phẩm, quá nặng nề về suy lý khái niệm mà thiếu phân tích hình tượng Lý luận phê bình của Chế Lan Viên vì thế có đóng góp lớn lao đối với đời sống văn học đương thời

Trang 32

Là một nhà thơ ưa nghiên cứu, tìm tòi, Chế Lan Viên có những hiểu biết sâu sắc về trào lưu, trường phái của văn học nghệ thuật thế giới, về lý luận văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa, về đường lối văn nghệ của Đảng Lý luận văn học mang tính khoa học được Chế Lan Viên tiếp thu có nguyên tắc và sáng tạo Cùng với hệ thống lý luận về thơ được ông chắt lọc từ thực tế sáng tác, lý luận, phê bình của Chế Lan Viên đã có những đóng góp không nhỏ trong việc khai phá, mở đường và định hướng cho sáng tác Không chỉ là sáng tác của riêng Chế Lan Viên mà còn là sáng tác của cả một thời đại văn học Lý luận, phê bình của Chế Lan Viên thực sự đã tồn tại với đúng ý nghĩa và vai trò của nói, khơi gợi và kích thích sự sáng tạo của người nghệ sỹ Chúng tôi nhận thấy, Chế Lan Viên trong lý luận, phê bình của mình thực sự

đã trở thành một người nghệ sỹ tiên phong, vừa khai mở, tìm đường vừa soi

bóng vào tác phẩm văn học nghệ thuật để khám phá, giải mã tác phẩm

Trong bài viết Thơ và phê bình (đọc tại cuộc họp thơ quốc tế hàng năm

tại cộng hoà Macédoine trong liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Nam Tư), Chế Lan Viên đã khẳng định: “Người ta làm những bài thơ đâu chỉ với chất thơ; cần đủ mọi thứ để làm ra một thế giới Với thơ cũng vậy Do đó cần có phê bình, cần có óc phê bình”[85, tr 705] Vẫn trong bài viết này, ở một đoạn khác, Chế Lan Viên viết: “Phê bình có thể thấy xa, chỉ vì nó đã được hứng cảm bởi hồn thơ Không có thơ trong hồn, anh chỉ có thể thốt lên những lời càu nhàu, chửi rửa, chứ đâu có phải phê bình?”[85, tr 705] Vấn đề đặt ra từ bài viết này cho thấy sự trăn trở của Chế Lan Viên về mối quan hệ giữa thơ và phê bình Soi chiếu vào hành trình sáng tác của ông, chúng ta nhận thấy thực

sự có một mối quan hệ khăng khít giữa tư duy nghệ thuật thơ và tư duy lý luận phê bình ở cả hai chiều, phê bình trong thơ và thơ trong phê bình

Chế Lan Viên cho rằng, đời sống văn học nghệ thuật tồn tại hai thứ phê

bình, phê bình bên ngoài và phê bình bên trong Phê bình bên ngoài là phê

Trang 33

bình trên báo chí, trong dư luận xã hội, sau khi bài thơ đã ra đời Phê bình bên

trong là cách tác giả tiến hành với chính mình, từ trong trứng, từ trong bào

thai tác phẩm, và đôi khi loại phê bình này theo tác giả suốt một đời, loại phê

bình này lồng với lương tâm thi sỹ Trong bài Sống và viết, Chế Lan Viên

khẳng định: trong mỗi nhà văn, “cần sự có mặt của một người suy nghĩ, một

người phê bình ”[84, tr 241] Trong bài Hồn nhiên và công thức, một lần

nữa ông khẳng định mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa thơ và lý luận, phê

bình: “Một nhà thơ chỉ có cảm xúc mà không biết các ý, các khái niệm thì

khác gì một con vật không có xương”[86, tr 82] Hình ảnh của một nhà phê

bình lưu dấu ấn đậm nét trong những trang thơ của Chế Lan Viên Bén duyên

với nghệ thuật thi ca từ rất sớm, hành trình thơ của Chế Lan Viên có nhiều

biến đổi cùng những đổi thay lớn lao của lịch sử dân tộc Điêu tàn mở đường

cho người trí thức trẻ bước chân vào thế giới thi ca, song con đường đó buồn

sầu và mờ mịt quá Khi được ánh sáng cách mạng soi đường, Chế Lan Viên

đã không ít lần nhìn lại mình qua thơ, đấu tranh, phê bình với chính con người

cũ của mình

Tự phán xét trở thành tiếng nói sâu sắc không chỉ trong những trang

phê bình tiểu luận mà còn cả trong thơ:

“Những năm Cách mạng chưa về, vườn ta có hoa mà không đậu quả Rặng liễu tâm hồn chưa xanh tơ mà đã úa vàng

Nhiều chim bằng chưa bay đã hoá cu nhà, chim sâu ăn đất

Chưa gặp trời đã gãy cánh giữa lồng nan

Bàn tay muốn gieo, đã nắm nhầm hạt giống

Lẽ ra cầm tờ truyền đơn thì khoe văn tự bán hồn

Cờ chiến đấu ướp trong mùi hương phấn

Trong khói hương chùa lẫn với dấu môi son”

(Nghĩ về thơ II)

Trang 34

Trong những câu thơ ông viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần tự phê được thể hiện sâu sắc và thấm thía:

“Chớ bao giờ quên nỗi chua cay của một thời thơ ấy

Tổ quốc trong lòng ta mà có cũng như không

Nhân dân ở quanh ta mà ta chẳng thấy

Thơ xuôi tay như nước chảy xuôi dòng”

(Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi) Trong những biến động lớn lao của lịch sử, Chế Lan Viên thấy mình chỉ là một cơn mưa, một dòng nước mắt, một viên gạch đổ, một ánh hoàng hôn mà thôi

“Chưa có gì dính líu giữa thơ tôi và truyền đơn Bác viết

Tôi không biết khi Bác đau phải ăn một nắm lá rừng

Trong nước mắt thơ tôi, tôi chưa ngờ chất thép,

Chưa thấy trong mắt mình sắp cuộn máu nhân dân”

(Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi) Cuộc đấu tranh để tự cải tạo mình không đơn giản, dĩ vãng không phải chỉ ở đằng sau lưng, có khi nó xâm nhập ngay trong hiện tại và xen lẫn cả tương lai:

“Vết thương xa nhưng chỗ sẹo đang còn

Hãy nhớ chỗ tâm hồn ta phí máu

Cái đã qua có khi còn giở lại đón đường

Chớ bảo rằng dĩ vãng ở sau lưng và bặt dấu”

(Nghĩ về thơ II)

Tố Hữu cho rằng, lúc bấy giờ, những thi sỹ như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận “lòng đúng mà trí lạc” Có người đi lạc gần, có kẻ đi lạc xa,

có kẻ đi lạc trong đời, có kẻ lại lạc đến hụt chân ra ngoài, tí nữa thì rơi vào hư

vô nữa Chế Lan Viên đã đi hụt chân vào cõi siêu hình để hành trình trở về tự

Trang 35

ông cảm thấy “biết bao là nhiêu khê” Vượt lên những “nhiêu khê” ấy, thơ ông cống hiến những thành tựu lớn cho Cách mạng Song chưa bao giờ người nghệ sỹ ấy tự bằng lòng với chính mình cũng như những câu thơ ông đã viết

“Thơ cần có ích”, tâm niệm cả một đời thơ, đến Di cảo, người đọc vẫn thấy

Chế Lan Viên thổn thức:

“Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay

Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ”

(Ai?Tôi!) Trăn trở về nghề, trăn trở về thơ, Chế Lan Viên có nhiều bài thơ dưới dạng tuyên ngôn nghệ thuật, thể hiện rõ quan niệm của ông về thơ, về nghề thơ, về nhà thơ, chức năng và nhiệm vụ của thơ Những bài thơ ấy đồng thời

thể hiện rất đậm chất phê bình và lý luận Nghĩ về thơ (I), Nghĩ về thơ (II), Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ là những bài thơ viết bằng tư duy của một

nhà phê bình, là những bài thơ của một ngòi bút phê bình Bằng chiều sâu của lối suy tư đa chiều ấy, Chế Lan Viên đã đem đến cho thơ những ý nghĩa triết

lý sâu sa:

“Đánh giá anh đâu phải mắt xếch của nhà phê bình hay mắt xanh người đẹp

Đánh giá anh là giọt máu im lìm ngủ giữa Trường Sơn

Im lìm thế mà lắng nghe mọi điều anh viết

Xem khi máu đã đổ rồi, thơ có cao hơn?”

(Thơ bình phương, đời lập phương) Trước cuộc đời muôn hình muôn trạng, thơ đã phản ánh được những gì trên mỗi trang giấy trắng? Đằng sau những hào hùng oanh liệt là máu đổ và hi sinh, mất mát; đằng sau những sao vàng chiến thắng là biết bao đau thương hằn in trên từng tấc đất .thơ đã nói được những gì từ cuộc đời đa chiều, đa diện ấy? “Thơ bình phương’ mà “đời lập phương”, người nghệ sỹ Chế Lan

Trang 36

Viên suốt một đời làm thơ vẫn đau đáu những nỗi ưu tư bởi thơ đã chưa thể nói hết cuộc đời

Vì thế, ông cũng nhận ra rằng bình giá thơ, không chỉ là công việc của nhà phê bình hay công chúng yêu nghệ thuật, ở một tầm cao hơn, thơ cần phải vượt qua sự đánh giá khắt khe của thời gian, lịch sử, của những máu xương đã

đổ để đem lại tự do cho nghệ thuật thi ca Vì thế, hơn ai hết, ông hiểu rằng, thơ không đơn giản là “đi nhặt cái sẵn có” mà “phải đi tìm” Nhà thơ trên

hành trình tìm thơ, khi là người thợ đào sông:

“Sông thơ cạn dòng

Anh làm gì? Làm thợ đào sông

Sông lại chảy”

(Sông thơ) Hình ảnh người “thợ đào sông” trong thơ Chế Lan Viên khiến chúng tôi liên tưởng tới quan niệm nghệ thuật của Nam Cao, khi ông cho rằng người nghệ

sỹ cần “khơi những nguồn chưa ai khơi” để sáng tạo những gì chưa có Bởi nghệ thuật là lĩnh vực của sự sáng tạo không ngừng cho nên lặp lại mình và lặp lại người khác là cái chết của nghệ thuật Người gắn bó với nghệ thuật suốt một đời như Chế Lan Viên càng thấm thía giá trị của sự sáng tạo đối với

sự sống của nghệ thuật, thi ca

Hình ảnh nhà thơ trong những chảy trôi của thời gian khiến Chế Lan

Viên hình dung đến “Người nữ tử tù đan áo”: “Anh phải viết sao cho khi ra

đi thì chiếc áo đã thành” “Chiếc áo” để lại cho đời được đan trong cơn thúc bách của thời gian phải có ý nghĩa, có giá trị nào đó với đời Những trăn trở

ấy trong thơ Chế Lan Viên không phải bây giờ mới xuất hiện song càng về cuối đời, những dằn vặt, day dứt về giá trị của thơ càng trở đi trở lại sâu sắc hơn trong thơ Chế Lan Viên Tư duy phê bình không cho phép nhà thơ bằng lòng thoả mãn với chính mình Nó đòi hỏi nhà thơ không ngừng suy ngẫm,

Trang 37

tìm tòi, sáng tạo, để không phải tiếc nuối khi “Nhìn các trang thơ bay không ngoái lại – Và gió thổi anh đi” (Mùa thu quân)

Là một nhà thơ viết phê bình, cho nên phê bình của Chế Lan Viên cũng đậm chất thơ Chất thơ trong phê bình của Chế Lan Viên chủ yếu thể hiện ở cảm xúc mãnh liệt, tha thiết, sôi nổi chân thành Đọc thơ Nguyễn Du, yêu thơ Nguyễn Du, Chế Lan Viên có cảm giác: “Ghé vào tác phẩm còn hôi hổi hơi Anh thở, tôi còn nghe đập trái tim tôi trong trái tim Anh”[84, tr 267] Ông tìm thấy những đồng điệu sâu sắc từ trong cảm xúc của những thế hệ nhà thơ cách nhau mấy trăm năm lịch sử: “Những gì anh yêu, mãi mãi chúng tôi còn yêu Chúng tôi vẫn ghét những gì anh ghét Những tiếng nói đấu tranh, hoà bình, hạnh phúc của chúng tôi bây giờ không cắt đứt với những ước mơ, cả những thở than sầu muộn của Anh xưa, như cuộc sống người lành không cắt đứt với người đau, lúc trưởng thành không cắt đứt với tuổi trẻ”[84, tr 267]

Đọc Trời mỗi ngày lại sáng, ông muốn “hôn lên tâm hồn người bạn đã viết

nên tập thơ”[84, tr 300] Đồng thời, ông cũng chân thành chỉ rõ những hạn chế của thơ Huy Cận: “Huy Cận thiếu những cái vui thật là nổ vỡ, cũng như những cái đau xoắn chặt lấy lòng người”[84, tr 299] Viết về thơ Xuân Hoàng, Chế Lan Viên thầm cảm ơn tác giả vì: “không có anh thì tôi quên đi cái cảnh :

“Chợ Bố Trạch sắn nhiều, gạo ít, Nâu Ba Rền củ tốt hơn khoai”

Quên cái cảnh:

“Bờ tre gần lại dần

Màu xanh sao ấm quá!

Trong tre là nhân dân, Trong tre là cơ sở ”[86, tr 172]

Trang 38

Viết về thơ và số phận may rủi của thơ ở đời, Chế Lan Viên không khỏi cảm thấy xót xa tiếc nuối: “Thơ là cái đẹp im lặng, đi lầm lũi trong im lặng Nếu không ai nhắc đến, chỉ ra, gọi lên, tán dương, ủng hộ thì nó bị vùi lấp đi, đầu

là trong im lặng mà sau là trong lãng quên Tựa, bạt, giới thiệu, bình thơ, điểm danh là để bù lại, góp phần xoá cái rủi may số phận ấy”[86, tr 194]

Luôn đề cao sự chân thành trong thơ, Chế Lan Viên cũng dành tất cả

sự chân thành ấy cho phê bình thơ Đọc được ý thơ hay, hình ảnh đẹp, ông say sưa bình luận, khám phá tới tận cùng cái hay cái đẹp của thơ Ông giới thiệu, ông ngợi khen, trầm trồ thán phục, trân trọng tin yêu tất cả những cảm xúc ấy, ông thể hiện tự nhiên trên mỗi trang phê bình, và cũng rất thẳng thắn, ông góp ý những thiếu sót, những hạn chế Mỗi lần cầm bút viết phê bình, Chế Lan Viên luôn tâm niệm: “Phải lấy ngọn lửa đang ngùn ngụt ngoài đời để soi những sách vở rơi đến tay ta”[84, tr 255] Ngọn lửa ấy thắp lên từ cuộc sống, bằng những rung động mãnh liệt của cảm xúc nơi trái tim người cầm bút Ngọn lửa ấy đã cháy trong thơ, và luôn rực sáng trên mỗi trang phê bình tiểu luận của Chế Lan Viên

Bên cạnh cảm xúc, hình ảnh và nhạc điệu cũng là những yếu tố góp phần không nhỏ tạo nên chất thơ độc đáo trong phê bình, tiểu luận của Chế Lan Viên Coi nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc và gian nan, Chế Lan Viên đặt cho mình cũng như những người nghệ sỹ những yêu cầu nghệ thuật có phần khắt khe nhưng thiết yếu Một trong những yêu cầu ấy là khả năng phản ánh hiện thực của thơ, không phải chỉ đơn thuần phản ánh sự việc thời đại mà là phản ánh tình cảm thời đại Ông không nói những điều mang tính lý luận này bằng lý thuyết rút ra từ sách vở Ông nói bằng hình ảnh, hình ảnh từ cuộc sống, từ kinh nghiệm Thứ hình ảnh cô đọng, súc tích, dồn nén, được nhấn nhá, luyến láy, khiến người đọc liên tưởng tới những câu thơ giàu màu sắc triết luận của ông: “Làm sao anh yêu khí trời bằng anh cán bộ

Trang 39

chết ngạt dưới hầm bí mật? Anh yêu hoa sao bằng anh công nhân sau giờ lao động ở hầm mỏ ra thấy nó nở trước miệng hầm? Và anh thù ghét súng đạn sao bằng người chiến sỹ cộng sản phải ra trường bắn? Thế mà ta phải phản ánh những tình cảm ấy đấy, bạn ơi!”[84, tr 247] Để đáp ứng được yêu cầu nghệ thuật ấy, Chế Lan Viên đặt ra vấn đề sống, chỉ có sống bằng hơi thở của thời đại, sống trong sự sống của thời đại, người nghệ sỹ ấy mới có thể viết để phản

ánh được tinh thần, tình cảm của thời đại “Mà sáng nay anh phải thấy bể để chiều nay ghép nó với chữ trời, mười năm trước anh phải sống cuộc kháng chiến để chiều nay ghép nó với chữ hoà bình; và luôn luôn phải ra khỏi nhà mình, vào trong thực tại khách quan để lúc trở về, tâm hồn mới có được

những tương quan đột ngột”[84, tr 248]

Trong bài viết Thơ và phê bình đọc trước cuộc Hội thảo thơ Quốc tế tại

Nam Tư (1979), Chế Lan Viên đã hình dung mối quan hệ giữa thơ và phê bình giống như quan hệ giữa nàng thơ và đức ông chồng Đó là một mối quan

hệ gắn bó vô cùng khăng khít, không thể tách lìa Thơ và phê bình, tiểu luận của Chế Lan Viên cũng có một mối quan hệ khăng khít như thế Trong thơ có phê bình và trong phê bình có thơ, cái tôi trữ tình luôn song hành cùng cái tôi biện lý Điều này làm nên sức hấp dẫn riêng cho thơ ca và phê bình, tiểu luận của Chế Lan Viên

1.2 Giá trị của phê bình và tiểu luận của Chế Lan Viên

1.2.1 Cổ vũ thúc đẩy phong trào sáng tác

“Đầu tiên muốn bước chân vào đời văn chương thì phải làm thế nào?”[84, tr 144] Câu hỏi ấy cứ trở đi trở lại trong những bài tham luận, những câu chuyện văn chương, những tâm sự nghề nghiệp của Chế Lan Viên Ông hiểu sâu sắc những khó khăn gian nan của những nguời mới bước chân vào nghề viết “Chàng Văn vẫn biết các bạn mới viết văn chưa tìm thấy rõ khả năng nào là khả năng chính của mình”[84, tr 465] Cho nên bằng tất cả kinh

Trang 40

nghiệm của bản thân, bằng tất cả tấm lòng của người nghệ sỹ, Chế Lan Viên

đã truyền nghề, dạy nghề, tâm sự về nghề một cách hết sức chân thành Sau

hai cuốn Nói chuyện thơ văn và Vào nghề được in, Chế Lan Viên còn hứa hẹn

rằng “Còn phục vụ bạn đọc trong những quyển khác, thứ 3, thứ 4, thứ 5, thứ

6, cho đến suốt đời mình không mỏi, không thôi”[84, tr 467] Bởi vì, ông hiểu rằng, nền văn học nghệ thuật của dân tộc chỉ có thể phát triển khi phong trào sáng tác của quần chúng được nhân lên rộng khắp

Sôi nổi cổ vũ các phong trào sáng tác, Chế Lan Viên đã dành nhiều tâm

huyết trong các tập Kinh nghiệm tổ chức sáng tác, Nói chuyện thơ văn, Vào nghề, Nàng tiên trên mặt đất…để truyền nghề, dạy nghề, đào tạo nghề Các bài viết “Có phải trong ca dao đang có vấn đề?” (Suy nghĩ và bình luận);

“Thơ của thợ”, “Thơ của nhân dân, thơ đầu tuyến lửa” (Suy nghĩ và bình luận); “Thơ ở những ngày và những nơi chống Mỹ” (Bay theo đường dân tộc đang bay)…thể hiện sâu sắc sự tha thiết của Chế Lan Viên đối với phong trào

thơ đáng trân trọng của quần chúng nhân dân kháng chiến

Nền văn học trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh đã có xu hướng vận động hướng về đại chúng Quần chúng Cách mạng không chỉ là đối tượng sáng tác, là độc giả mà còn là một lực lượng sáng tác lớn Quần chúng làm thơ, quần chúng làm báo tường, hội diễn văn nghệ quần chúng đã thúc đẩy

phong trào sáng tác quần chúng phát triển mạnh mẽ Kinh nghiệm tổ chức sáng tác của Chế Lan Viên được xuất bản chính là nhằm mục đích mở rộng

con đường nghệ thuật để tổ chức sáng tác cho quần chúng nhân dân

Kinh nghiệm tổ chức sáng tác của Chế Lan Viên là kinh nghiệm đi tìm

tài liệu, kinh nghiệm ghi chép tài liệu và kinh nghiệm thực hiện tác phẩm Với Chế Lan Viên thì chỉ thị, thông cáo, biên bản hội nghị, báo cáo, nhật ký đơn

vị, cá nhân, thư từ hàng binh, tù binh…các bản tự kiểm thảo lý lịch đều trở thành những tài liệu hữu ích cho các nhà văn nhà thơ Dự các buổi công khai,

Ngày đăng: 30/03/2016, 07:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm