Mỹ học ẩn trong nghệ thuật Nhìn chung, ở thời kỳ trước cổ điển, nền văn hóa nước ta phát triển khá rực rỡ đặc biệt là ở thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân ta không những gìn giữ được nền văn h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
LÊ THỊ NGỌC TRANG
SƢ̣ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA MỸ HỌC MÁC XÍT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
LÊ THỊ NGỌC TRANG
SƢ̣ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA MỸ HỌC MÁC XÍT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Đỗ Văn Khang
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của Tôi, các số liệu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực, khách quan, khoa học, nội dung Luận văn không trùng lặp với những công trình nghiên cứu trước đó
Các số liệu, kết quả do trực tiếp tác giả thu thập, thống kê và xử lý Các nguồn dữ liệu khác được tác giả sử dụng trong luận văn đều có ghi nguồn trích dẫn và xuất xứ
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2015
Tác giả Luận văn
Lê Thị Ngọc Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6
7 Kết cấu 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI MỸ HỌC Ở VIỆT NAM 7
1.1 Tư tươ ̉ ng mỹ ho ̣c truyền thống ở phương Đông và ở Viê ̣t Nam 7
1.1.1 Thời kỳ văn minh từ đồ đồng sang đồ sắt 7
1.1.2 Văn hóa thẩm mỹ từ lập nước tới trước thời Lý(1010) 8
1.1.3 Mỹ học ẩn trong nghệ thuật 10
1.2 Tư tươ ̉ ng mỹ ho ̣c Phương Tây trước Mác: 25
1.2.1 Khuynh hướng coi đối tượng của mỹ học là cái đẹp tuyệt đối tồn tại trong thế giới ý niệm (Platôn, Hêghen) 25
1.2.2 Khuynh hướng coi đối tượng của mỹ học là cái đẹp tiến tới sự hài hòa giữa hoạt động và hình thức (Arixtốt) 31
1.2.3 Khuynh hướng coi đối tượng của mỹ học là cái đẹp vô tư, không vụ lợi (Kant) 35
1.2.4 Khuynh hướng coi đối tượng của mỹ học là cái đẹp lý tưởng hình thành trong cuộc sống của con người (Tsécnưsépski) 41
Chương 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỸ HỌC MÁC XÍT Ở VIỆT NAM : NHỮNG KHUYNH HƯỚNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN 45
2.1 Như ̃ng khuynh hướng cơ bản của mỹ ho ̣c Mácxít ở Viê ̣t Nam 45
2.1.1 Khuynh hướng coi mỹ học là khoa học nghiên cứu đời sống thẩm mỹ 46
Trang 52.1.2 Khuynh hướng coi mỹ học là khoa học nghiên cứu sự vận động của
các quan hệ thẩm mỹ 49
2.1.3 Khuynh hướng coi mỹ học là cái thẩm mỹ 52
2.1.4 Khuynh hướng coi mỹ học là cái Đẹp 54
2.1.5 Các khuynh hướng nghiên cứu mỹ học gắn với tính chất phát triển của lịch sử dân tộc 63
2.2 Những vấn đề cơ bản của mỹ học Mác xít ở Việt Nam: 69
2.3 Phương hướng và triển vọng của mỹ học Mácxít ở Việt Nam 71
2.4 Đóng góp của mỹ học Việt Nam: 77
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử hình thành và phát triển của mỹ học là một quá trình lâu dài
và phức tạp Mỹ học hình thành cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người
Mỹ học với tính cách là hình thái ý thức xã hội đă ̣c thù đã xuất hiện từ thời kỳ thượng cổ Thời kỳ, mà lịch sử tư tưởng của nhân loại về cơ bản là những ý niệm sơ khai về chuẩn mực đạo đức và tín ngưỡng , đồng thời cũng xuất hiê ̣n các chuẩn mực về cái Đẹp cách ta 3000 năm Các nhà mỹ học lấy di
vâ ̣t văn hóa ở Hang ChauVét làm chuẩn cho sự xuất hiê ̣n Đời sống Thẩm mỹ
Trước khi trở thành mô ̣t khoa ho ̣c đô ̣c lâ ̣p, các tư tưởng mỹ học của loài người đã xuất hiê ̣n từ rất sớm trong các nền văn hóa Đông – Tây cổ đa ̣i Nếu không kể đến các tư tưởng thẩm mỹ được dân gian hóa mà chỉ kể đến những
tư tưởng có ý nghĩa lý luâ ̣n thì các quan điểm thẩm mỹ ra đời từ thời văn – sử – triết bất phân
Có thể nói, Mỹ học là một bộ phận của triết học gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của triết học từ thời kỳ cổ đại Đến thế kỷ XVIII, mỹ học tách khỏi triết học và trở thành một khoa học độc lập
Thuật ngữ “Mỹ học” đã có nguồn gốc trong ngôn ngữ Hy Lạp, xuất phát từ chữ “aisthetikos” - có nghĩa là “cảm giác”, là “tính nhạy cảm” Thực
ra “aisthetikos” có hai nghĩa: thứ nhất, thường được giải thích là nhận thức cảm tính; thứ hai cũng được giải thích là nhận thức cảm tính, nhưng là nhận thức cảm tính của sự xúc động (rung động cảm xúc)
Baumgacten cũng xuất phát từ chữ “aisthetikos” để tạo ra thuật ngữ “ Aesthetics” có nghĩa là “học thuyết về cảm giác” Ông cho rằng, mỹ học là một khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu những đặc điểm của con đường nhận thức thế giới bằng cảm xúc, để phân biệt với các hình thái khác của hoạt động nhận thức như triết học
Trang 7Có thể nói, thành tựu lớn nhất của mỹ học từ thời kỳ cổ đại đến nay , đó
là hệ thống quan điểm của mỹ học Mácxít Hê ̣ thống mỹ ho ̣c này là sự kế thừa những thành tựu của hầu hết các quan điểm của mỹ ho ̣c thời kỳ trước đó Mỹ học thời kỳ này đã giải thích quá trình phát triển xã hộ i trên lâ ̣p trường duy
vâ ̣t biê ̣n chứng và duy vật lịch sử , đã phát hiê ̣n mô ̣t cách toàn diê ̣n các mối quan hê ̣ thẩm mỹ với các mối quan hê ̣ xã hô ̣i khác Đó là mối quan hê ̣ liên tu ̣c giữa hiê ̣n tượng và bản chất, giữa li ̣ch sử tự nhiên và li ̣ch sử xã hô ̣i
Ở Việt Nam, mỹ học cũng ra đời từ rất sớm gắn liền với thời kỳ dựng nước và giữ nước của dân tộc Tuy nhiên, mỹ học thời kỳ này chưa có hệ thống quan điểm mà chỉ là ẩn dưới hình thức của văn học nghệ thuật Mỹ học thật sự
là khoa học triết học chỉ được nghiên cứu từ cuối những năm 50 của thế kỷ
XX Các nhà mỹ học Việt Nam cũng chủ yếu tiếp thu những thành tựu của mỹ học Mác – Lênin trong nghiên cứu mỹ học của Nga, Pháp và Trung Quốc
Để làm sáng rõ những thành tựu của mỹ học Mácxít ở Việt Nam, tôi đã chọn cho mình đề tài : “Sự hình thành và phát triển của mỹ ho ̣c Mác xít ở Viê ̣t
2 Tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay đã có rất nhiều những cuốn sách và công trình nghiên cứu về mỹ học nói chung như:
LQ TSKH Đỗ Văn Khang: Lịch sử mỹ học, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1984
học, 1985
LQ TSKH Đỗ Văn Khang: Mỹ học đại cương, Nxb Giáo dục, 1997
Nô ̣i, 2000
GS, TS Đỗ Huy, Nguyễn Chương Nhiếp: Tìm hiểu tư tưởng văn hoá thẩm mỹ và nghệ thuật của Đảng trong thời kỳ đổi mới, Nxb Thành phố Hồ
Trang 8Đỗ Huy, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Ngọc Long: Giáo trình Mỹ học
Mác Lênin, Khoa Triết học Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000
Đỗ Huy, Vũ Trọng Dung: Giáo trình Mỹ học Mác Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001
Đỗ Huy: Mỹ học khoa học về các quan hệ thẩm mỹ,Nxb Khoa học Xã
Chính vì vậy, trong khuôn khổ của luận văn này đã giải quyết vấn đề sự hình thành và phát triển của mỹ học Mác xít ở Việt Nam hiện nay ” Hy vọng rằng kết quả của luận văn này sẽ bước đầu làm sáng tỏ về vấn đề nghiên cứu sự hình thành và phát triển của mỹ học Mác xít ở Việt Nam về phương diện
mỹ học Mác xít cũng như phương diện lịch sử mỹ học nói chung
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Phân tích và trình bày một số quan niệm của các nhà mỹ học
trước Mác và các nhà mỹ học mácxit về sự hình thành và phát triển của mỹ học để qua đó, góp phần tìm ra quan niệm nào là có cơ sở khoa học nhất để tiếp tục phát triển mỹ học Mácxít ở Việt Nam trong tình hình mới
Nhiệm vụ:
Tìm hiểu tiền đề cho sự ra đời của mỹ ho ̣c ở Viê ̣t Nam
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của mỹ học Mácxít ở Việt Nam hiê ̣n nay
Trang 94 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Đối tượng:
Vấn đề hình thành và phát triển của mỹ học Mácxít ở Việt Nam: thành tựu và triển vo ̣ng
Phạm vi:
Nghiên cứu các khuynh hướng của các nhà mỹ học trước Mác, các nhà
mỹ học Mácxit và những nhà mỹ học Việt Nam về sự hình thành và phát triển của mỹ học Mác xít ở Việt Nam để khẳng định tính khoa học của quan niệm khoa học của các vấn đề mỹ học
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về sự hình thành của khoa học nói chung để xác định sự hình thành và phát triển của mỹ ho ̣c Mác xít ở Việt Nam nói riêng
Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là phương pháp đồng đại và lịch đại kết hợp với phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp quy nạp - diễn dịch…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Góp phần làm cơ sở cho việc nghiên cứu mỹ học ở Việt Nam nói
xít ở Việt Nam nói riêng thêm khoa học
7 Kết cấu
Khóa luận gồm 2 chương, 6 tiết được trình bày cụ thể như sau:
Trang 10NỘI DUNG Chương 1:
TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI MỸ HỌC Ở VIỆT NAM
1.1.1 Thời kỳ văn minh từ đồ đồng sang đồ sắt
Từ thời đại đồ đá tiến lên thời đại kim khí - thời đại đồ đồng và đồ sắt -
là một chuyển biến lớn lao của lịch sử nhân loại Đó là thời kỳ kỹ thuật luyện kim, thời kỳ xuất hiện những nền văn minh và nhà nước đầu tiên, và cũng là thời kỳ mở đầu sự nghiệp dựng nước của dân tộc
Trên lãnh thổ Việt Nam, nền văn minh sớm nhất là nền văn minh sông Hồng gắn liền với nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng, với quá trình hình thành nước Văn Lang đời Hùng Vương và nước Âu Lạc đời An Dương Vưong
Di tích văn hóa Đông Sơn phân bố rộng khắp miền Bắc Việt Nam trên lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Lam Văn hóa Đông Sơn tồn tại trong khoảng 7-8 thế kỷ trước công nguyên đến 1-2 thế kỷ sau công nguyên, thuộc thời kỳ thịnh đạt của đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt Đó là sự hội tụ của nhiều chặng đường dẫn đến Đông Sơn
Trên lưu vực sông Hồng, khảo cổ học đã xác lập được một phổ hệ gồm
3 giai đoạn: Trước Đông Sơn diễn ra trong thiên kỷ 1 trước công nguyên:
Giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên thuộc sơ kỳ đồng thau
Giai đoạn văn hóa Đồng Đậu thuộc trung kỳ đồng thau
Giai đoạn văn hóa Gò Mun thuộc hậu kỳ đồng thau
Đến văn hóa Đông Sơn thì các loại hình địa phương vẫn tồn tại nhưng tính thống nhất văn hóa trở nên bao trùm và chi phối Dù thuộc di tích nào , ở địa phương nào , văn hóa Đông Sơn vẫn mang những đặc trưng chung biểu
cày ) vũ khi (rìu chiến, dao găm, mũi giáo, mũi tên ), đồ dùng và trang sức
Trang 11(thạp, thổ, vòng tay, khuyên tai ) trong kỹ thuật chế tác và trong nghệ thuật trang trí Văn hóa Đông Sơn vừa có cội rễ bản địa, vừa qua giao lưu và hội nhập, tiếp thụ một số ảnh hưởng văn hóa bên ngoài từ phương Bắc và từ phương Nam
Quá trình thống nhất văn hóa Đông Sơn cũng là quá trình liên kết các nhóm cư dân Việt cổ - người Lạc Việt và người Âu Việt - thành một cộng đồng quốc gia với một hình thái nhà nước sơ khai Đó là nước Văn Lang đời Hùng Vương và tiếp theo là nước Âu Lạc đời An Dương Vương
Nước Văn Lang và Âu Lạc ra đời trên một nền tảng kinh tế đã phát triển, chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước đạt đến trình độ dùng lưỡi cày bằng đồng thau và sức kéo của trâu, bò Chăn nuôi có chó, lợn, gà, vịt, trâu,
bò, voi Nghề thủ công có đúc đồng, luyện sắt, làm đồ gốm, đan lát , mộc, dệt, sơn Nhà cửa, trang phục, nhiều phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa còn được ghi lại bằng hình ảnh trên các di vật Đông Sơn, nhất là trên trống đồng Tiếp nối nước Văn Lang, nước Âu Lạc ra đời vào nửa sau thế kỷ III trước công nguyên, còn để lại dấu tích của kinh đô Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội)
1.1.2 Văn hóa thẩm my ̃ từ lập nước tới trước thời Lý(1010)
Giai đoạn trước cổ điển được đánh dấu bắt đầu từ thời đại nguyên thủy, sau đó là thời đại dựng nước và được kết thúc là thời kỳ Bắc thuộc Thời Âu Lạc, người Việt đã đạt đến trình độ tương đối cao về canh tác, họ đã biết sử dụng hệ thống thủy lợi Công cụ đồ sắt đã xuất hiện vào cuối thời Hùng Vương Có thể nói, người Việt đã đạt đến sự ngang bằng về trình độ sản xuất
so với kẻ đô hộ, và điều này khiến cho sự phát triển về văn hóa trở nên nổi bật Bởi vì, đây là thời kỳ văn hóa nguyên khai của các dân tộc, tất cả những thành tựu văn hóa bản địa đều nảy sinh trên cơ sở văn minh bản địa – chứa đựng đặc tính tộc người riêng biệt được hình thành trong những điều kiện sống tự nhiên đặc thù Tuy nhiên, văn minh phương Bắc đạt đến sự phân chia đẳng cấp trong xã hội phát triển hơn văn minh Lạc Việt ở trình độ của quan hệ sản xuất Sự tác
Trang 12động có ý nghĩa của thiết chế bộ máy đô hộ phương Bắc làm thay đổi xã hội Việt chủ yếu là ở quan hệ sản xuất chứ không phải sự thay đổi ở lực lượng sản xuất Trong thời kỳ Bắc thuộc, mặc dù kẻ đô hộ dùng nhiều chính sách và thủ đoạn thâm độc để đồng hóa dân tộc nhằm Hán hóa Việt tộc và nền văn hóa Việt song nhân dân ta vẫn bảo tồn và không ngừng phát triển nền văn hóa bản địa, nội sinh đã được tích lũy qua hàng ngàn năm lịch sử trước đó Bởi vậy, mặc dù chữ Hán và tiếng Hán được du nhập ồ ạt vào Việt Nam nhưng không thể tiêu diệt được tiếng nói của dân tộc, nhân dân ta vẫn sống theo cách sống riêng của mình theo cuộc sống và tâm hồn Việt Nam
Những phong tục, tập quán tốt đẹp của thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc vẫn được gìn giữ như tục nhuộm răng, ăn trầu, đấu vật, chọi trâu, đá cầu, đánh đu, ném còn… Trong các lễ hội ngàn năm như hội làng, hội mùa xuân, mặc dù có những biến đổi ít nhiều trong các nghi lễ nhưng tính chất căn bản của nó vốn
có từ thời Văn Lang, Âu Lạc vẫn được bảo lưu
Trong các gia đình người Việt từ xa xưa đã định hình một quan hệ ứng
xử đẹp đẽ như thờ cúng tổ tiên, kính trọng ông bà, cha mẹ, anh em thuận hòa
và nhường nhịn nhau Nho Hán và văn hóa Hán truyền bá vào Việt Nam nhưng vẫn không thể làm thay đổi truyền thống văn hóa đó của dân tộc người Việt vẫn từ chối tư tưởng gia trưởng nặng nề, xem khinh phụ nữ của người Hán Nhìn chung, dưới thời Bắc thuộc, chữ Hán và Nho giáo cùng với toàn bộ
hệ tư tưởng phong kiến Trung Hoa không xâm nhập và không ảnh hưởng nhiều đến các làng xóm người Việt cổ
Trong cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp để bảo vệ di sản văn hóa truyền thống thời Bắc thuộc, nhân dân ta đã biết tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hóa ngoại nhập phù hợp với đặc tính, tâm hồn Việt Nam để làm phong phú thêm văn hóa truyền thống Điều này được thể hiện ở chỗ trong hơn một nghìn năm đô hộ, tiếng nói của dân tộc Việt Nam đã trải qua một quá trình đơn âm tiết hóa và thanh điệu hóa Bởi vậy, bên cạnh những âm tiết thuần Việt còn có nhiều âm tiết Hán - Việt
Trang 13Trên cơ sở ý thức dân tộc và tinh thần tự cường nhưng không bảo thủ, đóng kín, nhân dân ta đã biết kết hợp giữa truyền thống và cách tân cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, đã tiếp thu một số cái hay, cái đẹp của văn hóa ngoại nhập Đó là sự tiếp thu có chọn lọc, có ý thức, có sự dung hợp Điều này được thể hiện ở nhiều lĩnh vực như từ tập quán giã gạo bằng tay đã chuyển sang lối giã gạo bằng cối đạp từ đầu Công nguyên; từ tập tục ở nhà sàn, dần dần người Việt chuyển sang ở nhà nền đất nện; trong trang phục, y phục, nghệ thuật cũng phong phú, đa dạng và phát triển cao hơn trên cái căn bản của nền văn hóa cổ truyền
Nhìn chung, những thay đổi trên đây về tư tưởng văn hóa cũng đã dẫn đến sự biến đổi trong tâm lý cộng đồng Trong xã hội Việt cổ, phương thức tư duy mới chỉ dừng lại ở tính biểu tượng được thể hiện qua tín ngưỡng dân gian, các truyện thần thoại, tuy còn chất phác nhưng đã vươn tới kiểu nhận thức hướng tới tính chất “vũ trụ luận” Khoảng thế kỷ I trước Công nguyên, Phật giáo từ Ấn Độ đã ảnh hưởng vào nước ta Thời kỳ Bắc thuộc là thời kỳ Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo trở thành hệ tư tưởng dẫn dắt văn hóa Đại Việt phát triển rực rỡ
1.1.3 Mỹ học ẩn trong nghệ thuật
Nhìn chung, ở thời kỳ trước cổ điển, nền văn hóa nước ta phát triển khá rực rỡ đặc biệt là ở thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân ta không những gìn giữ được nền văn hóa bản địa truyền thống mà còn biết tiếp thu một cách có chọn lọc những tư tưởng tinh hoa của các dân tộc khác để làm phong phú cho nền văn hóa của mình Tuy nhiên, ở thời kỳ này vẫn chưa xuất hiện những tư tưởng về
mỹ học mà mỹ học được ẩn trong nghệ thuật, cụ thể là nghệ thuật đồ đồng mà chủ yếu là trống đồng và trong văn học dân gian
a) Nghệ thuật đồ đồng tiêu biểu là trống đồng
Dân cư thời kì này đã đạt đến một trình độ thẩm mỹ, tư duy trừu tượng khá cao, điều này được thể hiện rất rõ ở trong nghệ thuật đồ đồng mà tiêu biểu
Trang 14Trong cuộc sống, con người thời kỳ này rất thích cái đẹp và luôn hướng đẹp Từ đồ trang sức, công cụ lao động và đồ dùng trong sinh hoạt cũng như các vũ khí đều hết sức phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ
Nghệ thuật Đông Sơn trở thành đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình thời
kỳ này Nghệ thuật đó vừa phản ánh cuộc sống thường nhật của cư dân Việt
cổ vừa thể hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh Những đường nét có tính ước lệ, cách điệu và một bố cục cân xứng, hài hòa trong nghệ thuật Đông Sơn đã thể hiện điều đó
Nghệ thuật âm nhạc thời kỳ này rất phát triển, nhạc cụ gồm nhiều loại
mà tiêu biểu nhất là trống đồng Kết cấu của trống đồng gồm có phần tang phình ra, phần thân và chân trống loe ra giúp cho hình dáng trống đẹp mà có sức cộng hưởng làm cho âm thanh vang xa Cư dân bấy giờ biết sử dụng nhiều nhạc cụ phối hợp trong các lễ hội Trên Tha ̣p đồng Đào Thịnh có cảnh
sử dụng dàn trống đồng từ 2 đến 4 chiếc, dàn cồng từ 6 đến 8 chiếc và một tốp người vừa múa, vừa sử dụng những nhạc khí khác nhau như chuông, khèn, sênh Trên trống đồng có hình ảnh người nhảy múa hóa trang và múa vũ trang Đặc biệt, trống đồng Đông Sơn có cấu tạo hết sức hài hòa, cân xứng Mặt trống tròn, giữa có ngôi sao nhiều cánh Trên mặt trống có nhiều hình người hóa trang lông chim đang nhảy múa, hát, thổi khèn và các cảnh sinh hoạt khác như giã gạo, đua thuyền hoặc trang trí hình các con vật như hươu, nai… Những hình trên mặt trống đồng thể hiện một không khí sôi động, hồ hởi trong sinh hoạt của người Việt cổ Đó là sự phản ánh khá trung thực cuộc sống văn hóa hàng ngày của cư dân lúc bấy giờ
Văn hóa thẩm mỹ Đông Sơn còn go ̣i là văn minh Sông Hồng, có những thành tựu nổi bâ ̣t là đã thu thâ ̣p được 52 trống đồng cỡ lớn, có cái đường kính
to gần mô ̣t mét Trong cuốn: Những trống đồng Đông Sơn phát hiê ̣n ở Viê ̣t
số trống đồng Đông Sơn nhiều như vậy, kể cả Trung Quốc
Trang 15Theo Lưỡng quốc Tiến sĩ Khoa ho ̣c Đỗ Văn Khang , tư duy thẩm mỹ
đo ̣c qua hình tượng trên các trống đồng Đông Sơn và Tha ̣p đồng Đào Thi ̣nh chứng tỏ người Viê ̣t xưa đã có quan niê ̣m:
hữu cơ giữa Trời – Đất và Con người
2/ Họ đã coi con người là trung tâm
khoảng trống trong hình tượng thẩm mỹ)
Trống đồng được sử dụng phổ biến với tư cách nhạc khí quan trọng trong các buổi tế lễ, hội hè, ca múa…Ngoài ra, nó còn được sử dụng làm hiệu lệnh trong chiến đấu, trong giữ gìn an ninh hoặc làm đồ tùy táng
Tóm lại, trống đồng với những nét đặc sắc nói trên, là một sản phẩm của lao động, một tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu cho trí tuệ, tài năng sáng tạo của cư dân Văn Lang – Âu Lạc và là một mặt biểu hiện rõ nét, tập trung của nền văn minh Việt cổ
b) Văn học dân gian
Nếu như nghệ thuật của con người Việt Nam giai đoạn trước cổ điển thể hiện qua nghệ thuật đồ đồng là chủ yếu thì chúng ta không thể không kể đến nghệ thuật văn học dân gian Mặc dù thư tịch về văn học dân gian thời kỳ này không có nhiều tuy nhiên, những truyền thuyết về thời kỳ này hiện nay còn lưu hành trong dân gian thì lại khá phong phú
Loại hình văn học dân gian ra đời sớm nhất ở nước ta là thần thoại
Trang 16lông chim, cầm vũ khí nhảy múa được khắc ở trên đồ đồng Đông Sơn đã chứng
tỏ rằng việc diễn xướng sử thi của con người Lạc Việt là rất phong phú
Người Lạc Việt diễn xướng sử thi không phải chỉ để phản ánh những chiến thắng của mình đối với thiên nhiên và kẻ thù ngoại xâm mà còn là để sống mãnh liệt hơn những chiến thắng ấy Họ diễn sử thi là để phản ánh thực tiễn sản xuất, chiến đấu và là để diễn tập kĩ năng, kĩ thuật, rèn luyện ý chí và
sự dũng cảm Điều này chứng tỏ rằng trong xã hội Lạc Việt xưa kia không phải người ta chỉ xem, chỉ nghe và chỉ diễn xướng sử thi mà trước hết và chủ yếu là người ta “sống sử thi”
- Cổ tích
Đây là loại hình phát triển mạnh mẽ từ khi trong xã hội có sự phân chia giai cấp Nội dung của các tác phẩm là những vấn đề liên quan đến những mâu thuẫn trong gia đình, đến số mệnh của đứa trẻ mồ côi, đứa con riêng trong gia đình hay đứa em út… Phản ánh những mâu thuẫn và lý giải chúng theo quan điểm của nhân dân lúc bấy giờ là nhiệm vụ chính của truyện cổ tích
Tâm – Chí – Mỹ - Văn
khoa ho ̣c
Về phương diê ̣n triết ho ̣c, Lão Tử coi đạo là nguyên lý tối thượng Đa ̣o không sinh, không diê ̣t, không tăng, không giảm Tuy nhiên, Đa ̣o cũng rất khó nắm bắt vì nó thể hiê ̣n dưới hai da ̣ng Vô và Hữu
Về mă ̣t đa ̣o đức, Khổng Tử coi Đa ̣o là “lẽ trời” quy đi ̣nh các mối quan
hê ̣ của con người Đa ̣o Khổng đề cao phép đối nhân xử thế theo 5 nguyên tắc thể hiê ̣n qua năm chữ : “Nhân, Nghĩa , Lễ, Trí, Tín” và xây dựng thành lý tưởng chính tri ̣ của nhà Nho: “Tu than, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
Trang 17Về phương diê ̣n văn ho ̣c , khái niệm Đạo gắn bó với các quan niệm “ Văn dĩ minh Đạo” , “Văn dĩ quán Đa ̣o” và “Văn dĩ tải đa ̣o”
Có thể nói mối quan hệ giao lưu văn hóa và văn học giữa Việt Nam và
hóa Trung Hoa tuy nhiên trong quan niệm của ông cha ta thời kỳ này về bản chất của văn ho ̣c và nghê ̣ thuâ ̣t nhìn từ góc đô ̣ Đa ̣o cũng mang bản sắc riêng
Quan niê ̣m về Đa ̣o của ông cha ta được thể hiê ̣n rõ nhất ở mă ̣t bản thể luâ ̣n Điều này thể hiê ̣n bắt đầu từ thời đa ̣i văn minh đồ đồng ở nước ta
Trong văn hóa bản đi ̣a người Viê ̣t thời kỳ Đông Sơn , ta bắt gă ̣p quan niê ̣m Đa ̣o T rời đầu tiên được thể hiê ̣n qua ngôn ngữ hình ảnh có trước chữ viết – ngôn ngữ chưa thành văn trên trống đồng Điều này thể hiê ̣n rõ nhất trên trống đồng Ngo ̣c Lũ (loại trống Hêgơ 1) Mă ̣t trống không chờm quá tang trống, ngôi sao tượng trưng cho mă ̣t trời , ở giữa thường có 12 hoă ̣c 14 cánh Quanh tia mă ̣t trời trống thường có khối lượng cóc (ở đây chính là mối quan
hê ̣ giữa đất và trời với câu dân gian : con cóc là câ ̣u ông trời ) Trung tâm của
mă ̣t trống là hình mặt trời có mười bốn tia sáng lớn , quanh mă ̣t trời là ba tầng thiên thể đang chuyển vâ ̣n Tiếp sau ba tầng thiên thể là hình con người với ba hình thái hoạt động chính là lao đô ̣ng, chiến đấu và sinh hoa ̣t văn hó a, nghê ̣ thuâ ̣t Sau người là vâ ̣t Có vật dưới đất và vật trên trời (hươu và chim)
Như vâ ̣y, khái niệm Đạo ở đây được coi như bản chất của sự vật , mọi sự vâ ̣t đều bi ̣ Đa ̣o chi phối (tất cả đều quay ngược chiều kim đồng hồ, quay từ Đông sang Tây theo hướng đi của mă ̣t trời ) và sự quy định của Đạo là vừa rõ ràng, vừa huyền bí Rõ ràng thể hiện ở tính tất yếu của trật tự trên dưới
những chuyển đô ̣ng tròn và xoáy như Ôn Như Hầu đã khái quát về con ta ̣o xoay vần trong hai câu thơ:
Cái quay búng sẵn trên trời Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm
Trang 18Nói về bản thể của Đạo, tiến sĩ Trần Danh Lâm trong lời tựa về bô ̣ Vân
đài loại ngữ của Lê Quý Đôn viết : Trong khoảng trời đất, vốn sẵn có đa ̣o lý
Đa ̣o lý ấy bao la vô cùng Bản thể của nó rất tinh vi Công du ̣ng của nó rất rõ
rê ̣t Chỉ có những bậc thánh nhân quân tử mớ i có thể hô ̣i tu ̣ đầy đủ rồi phát triển thêm bằng lời nói trên sách vở Tinh thần giữ la ̣i ở đó, không phải là câu chuyê ̣n cẩu thả vâ ̣y”
Bên ca ̣nh sự chú ý trực tiếp đến tính bản thể của Đa ̣o cha ông ta còn phân ra thành b a phương diê ̣n biểu hiê ̣n của Đa ̣o đó là Đa ̣o Trời , Đa ̣o Người,
Đa ̣o Đất Từ đó mới sinh ra Văn Trời, Văn Người, Văn Đất
Với cách hiểu này , Văn cũng là mô ̣t bản thể , cũng là Quy luật , là đạo Trời nhưng là Đa ̣o Trời được hiểu qua cái Đe ̣p Đây chính là mô ̣t cách hiểu tinh tế trong mối quan hê ̣ Văn và Đa ̣o của cha ông ta
Lê Quý Đôn là người thể hiê ̣n rõ nhất quan niê ̣m này v ề Văn Ông đã từng viết: “Mă ̣t trời, mă ̣t trăng, các vì tinh tú là văn của bầ u trời; khí hậu ở trong nước, ở ngoài nước tuy khác nhau nhưng thứ xá , triền đô ̣, thuâ ̣n nghi ̣ch, châ ̣m chóng, nào có cái gì là chẳng có phép thường (quy luâ ̣t) Núi, sông, cây
cỏ là Văn của đất , hình dung chủng loại đây tuy có khác nhau , nhưng ma ̣ch lạc, nguyên thủy, cao thấp, tốt xấu nào có cái gì chẳng có phép thường Lễ nhạc, pháp độ là Văn của Người , sự theo cũ , đổi mới của người đời xưa , đời
nhưng tùy thời lâ ̣p ra chính giáo , thông biến cho ki ̣p với ý muốn củ a dân , cũng là một mà thôi” [28;166]
Ông cha ta đã không hoàn toàn tách rời Đa ̣o và Văn nhưng coi Văn bắt nguồn từ Đa ̣o Điều này thể hi ện rõ nhất trong , quan điểm của Nguyễn Văn Siêu, ông viết: “Vì Văn và Đạo tuy có tên khác nhau , nhưng nô ̣i dung của nó thì bắt nguồn từ Đạo Song, thế nào go ̣i là Đa ̣o? Đó là cái Tâm ta sẵn có Văn chương ắt lưu giữ ở tâm này Điều huấn về “lời đa ̣t” tiên nho Đông Pha đã từng bàn tới Nhưng Đi ̣nh (tên thâ ̣t là Nguyễn Vă n Siêu) tôi la ̣i cho “đa ̣t” là
Trang 19cái “có gốc” Ví dụ như nước vậy Nước ở biển khơi tuy gò đảo chắn ở phía trước, nhưng dòng sông rối loạn Ao, vịnh rất xa , nhưng nguồn ma ̣ch thường
đô ̣ng thì tham cứu nó ở sự Nó là cái mà ta nắm bắt được, để làm trọn vẹn cho
“cái vốn có ” của mình Sau đó, tiếp xúc với sự vâ ̣t thì nó bâ ̣t ra Không mô ̣t lời nào là không thong suốt ở nơi tâm , thì sao thong suốt ở nơi tay và miệng
Có thể hiểu Đạo là tâm hồn , tình cảm của con người , cái gốc của “ nhân tâm thế đạo” không có đâu là không có Đa ̣o : “Cái diệu trong chế tác tác tỏ ra ở điển lễ, hiến chương; cái hay trong tâm thuật, ngụ vào văn, trong văn chương, sách vở Cho nên xem đến tư văn thì biết được Đa ̣o trời”.[28;167]
Nhìn chung, các nhà Nho xưa khi cầm bút luôn chú ý tìm hiểu nô ̣i dung của Đạo được thể hiện như thế nào trong cuộc sống và nó có sức mạnh thế nào đối với con người và cuộc đời
Như vâ ̣y, Đa ̣o không chỉ là cái quy luâ ̣t hoàn toàn khách quan, mà còn phụ thuộc vào cả quy luật chủ quan, vấn đề là phải biết thời, thế, nhân tâm thì viê ̣c hành Đa ̣o của Người mới kết hợp với Đa ̣o của Trời mới thành văn được
Người Không có Đa ̣o, nhà văn sẽ lạc vào cõi Vô Đạo
- Phạm trù Tâm và Chí
Người xưa cho rằng, Tâm là nơi sâu thẳm của Văn Nói về mối quan hệ
nà giữa Tâm và Chí , Nguyễn Bỉnh Khiêm có viết: “Ôi, nói đến Tâm là nói về chỗ mà Chí đa ̣t tới vâ ̣y , mà thơ lại là để nói đến Chí ” (trong tâ ̣p Am Ba ̣ch Vân) Tuy nhiên, Chí ở mỗi người trước thời cuộc lại khác nhau , có người chí
để ở đạo đức, có người chí dồn vào công danh, có người chí để ở sự nhàn dâ ̣t Nho gia thì cho rằng “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” , Tâm được thể hiê ̣n qua chữ Trung và “tấm lòng từ thiê ̣n” [28;168]
Có thể thấy điều này được biểu hiện rõ nhất là ở quan niệm và hành
đô ̣ng của Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông khi từ quan về làng đã cùng ho ̣c trò của
Trang 20mình và các bậc kỳ lão trong làng dựng Quán Trung Tân để làm nơi dừng chân cho người qua đường Khi có người hỏi vì sao ông la ̣i đă ̣t quán tên như
vâ ̣y ông đã trả lời rằng “Trung, nghĩa là đứng giữa , không nghiêng lê ̣ch , giữ được điều thiê ̣n là Trung, không giữ được điều thiê ̣n thời không phải là Trung
vâ ̣y; Tân có nghĩa là bến, biết chỗ đáng đâ ̣u là bến chính, không biết chỗ đáng
đâ ̣u là bến mê vâ ̣y Quán ta đặt tên Trung Tân chính là nghĩa ấy Như trung với vua, hiếu với cha me ̣, thuâ ̣n giữa anh em, hòa giữa vợ chồng, tín giữa bạn
bè, đó là Trung vâ ̣y Thấy của phi nghĩa đừng có lòng tham , vui là m điều thiê ̣n, lại có độ với mọi người , đó là Trung vâ ̣y Trung ở chỗ nào tức là điều chí thiện ở chỗ đó Nếu mo ̣i người biết lấy Trung làm bến chính , giữ được đúng mức, thì mọi công việc trong thiên hạ cứ do đó mà th i thố ra đi đến chỗ
tâ ̣n thiê ̣n, như vâ ̣y thì công đức tốt đe ̣p đến nhường nào”.[28;168]
Có thể nói , các nhà văn xưa coi Tâm là chỗ “tâ ̣n thiê ̣n”, là “công đức tốt đe ̣p” Và cho rằng , muốn có “công đức tốt đe ̣p ” thì làm văn phải có Tâm sáng Mà Tâm là đạo , Đa ̣o là cái mà Tâm có Tâm là cái thăng trầm khi tốt , khi xấu nên luôn phải được giữ gìn Muốn giữ được cái Tâm , Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói rất rõ trong quan niê ̣m của mình rằng , sự giữ gìn Tâm sáng của người quân tử trước hết là ở chỗ chọn nơi đứng và “lấy điều thiê ̣n , chí thiện làm tiêu chuẩn tuyệt đối ” Như vâ ̣y, Tâm có thể coi là cái cốt lõi , Chí là cái “ phát khởi” từ tâm ra hành đô ̣ng , Chí gắn với sự lập thân Điều này được Lê Quý Đôn viết : “Đa ̣i để tinh hoa phát tiết ra ngoài , là do ở trong chứa nhiều hòa thuận Cho nên, người có đức biết ăn nói , người có ha ̣nh tất có ho ̣c : như con phượng thì có cánh , sắc lông rực rỡ , con báo thì lông trơn mượt Trang sức ở ngoài với chứa đựng bên trong vẫn là mô ̣t”.[28;169]
Có thể nói về mối quan hệ giữa Chí và Văn đã được ông cha ta hiểu rất sâu sắc , thể hiê ̣n quan niê ̣m biê ̣n chứng giữa nô ̣i dung và hình thứ c Không thể coi Văn chỉ là hình thức của Chí Và Chí của kẻ sĩ cũng có những cấp độ khác nhau Tâm và Chí đều phải lấy đức làm nền Chí gắn với Tâm và thống
Trang 21nhất ở chỗ : Tâm là tấm lòng bên trong , Chí là nơi Tâm hướn g đến Tâm là nguồn Chí là xung lực của Tâm
- Phạm trù cái Mỹ
Nói về cái Mỹ , Hoàng Đức Lương (đâ ̣u Hoàng Giáp năm Hồng Đức thứ chín, 1468) cho rằng, văn thơ là “sắc đe ̣p ngoài cả sắc đe ̣p ” Ông viết: “ Đối với văn , thơ, cổ nhân ví như gỏi nem , ví như gấm vóc ; gỏi nem là vị rất ngon trên đời, phàm người có miệng, có mắt, ai cũng quý tro ̣ng mà không vứt
bỏ, khinh thường Đến như văn , thơ, thì lại là sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp , vị ngon ngoài cả vị ngon, không thể đem mắt tầm thường mà xem , miê ̣ng tầm thường mà nếm được Chỉ có thi nhân là có thể xem mà biết được sắc đẹp , nếm mà biết được vi ̣ ngon ấy mà thôi”.[28;172]
Đề cao cái đe ̣p trong Văn , cha ông ta đã tiến b ước xa, khi cho rằng cái
đe ̣p trong Văn khác với cái đe ̣p thông thường ở chỗ , cái đẹp trong Văn phải là cái đẹp đạt tới mức điêu luyê ̣n, cái đẹp “diễn đa ̣t tình cảm đến tô ̣t mức và thu lượm được mo ̣i cảnh hay viê ̣c la ̣”
Quý Đôn , đã coi cái Mỹ là mô ̣t tiêu chí cơ bản để đánh giá tác phẩm Văn chương Để phân biê ̣t văn chương v ới trước thuật , ông viết : “Viê ̣c trước thuâ ̣t của Lê Công như s ông dài bề rô ̣ng , tràn đầy , tít tắp , không nơi nào không đến, thế mà sự kỳ diê ̣u của những lời ngâm , vịnh của ông lại như con
thanh tao đâu phải là nhờ đẽ o go ̣t cầu kỳ mà có thể có được Có lẽ vì vốn học của ông thì phong phú , tài năng của ông lại đầy đủ , do đó mới ó thể vừa hoàn thành xuất sắc công việc của nhà học giả , lại vừa kiêm luôn được cái viê ̣c người xưa cho l à khó chăng ? Tôi xưa kia từng được đo ̣c các bô ̣ sách trước thuâ ̣t của ông , rồi sau la ̣i tìm được thấy mấy tâ ̣p thơ , tâ ̣p văn c ủa ông
Đo ̣c xong than rằng “cái nguồn cảm hứng rộng lớn , sâu thẳm này , thực là gần đây hiếm người có được”.[28;172]
Trang 22Có thể nói, theo quan niê ̣m của các nhà văn, nhà thơ xưa thì cái Mỹ làm nên điều huyền diê ̣u của văn chương là vì nó có cái thần rô ̣ng đến ngàn xưa , ngụ ý sâu xa ngoài cảnh vật Nhưng điều huyền diê ̣u kia la ̣i không phải là mông lung hư ảo , mơ hồ, không sao lần ra được Ngược la ̣i trong cái mông lung huyền diê ̣u của Văn luôn luôn có mối ràng buô ̣c đă ̣ c biê ̣t từ “tâm pháp”
và “ngôn pháp” Nói về điều này, Ngô Thì Nhâ ̣m (1746-1803, đâ ̣u tiến sĩ năm
nhân không truyền la ̣i , ta chỉ có thể hiểu bằng “thần”, không thể hiểu được bằng “trí” được Sao vâ ̣y? Vì ở trong lòng là chí, phát ra lời là thơ Lời phát ra nếu không có phép tắc, tức lòng mình cũng không có phép tắc Những lời đe ̣p đẽ văn hoa , những câu la ̣nh lùng , đau xót, cảm xúc đến đâu phát ra đến đấy , những người biết làm thơ đều làm được cả, mà phép tắc chưa kể đến Phép tắc
là cái gì để làm khuôn khổ cho sự vận dụng của lòng Hãy xem các thơ chính
thương mà không đau xót , nêu lên cái tình v ui, thương; đó là ngôn pháp của thánh nhân, tâm pháp của người cũng không ngoài điều đó Suy rô ̣ng ra đến viê ̣c tu, tề, trị, bình cũng đều có phép tắc cả Công du ̣ng của thơ rô ̣ng lớn lắm thay”.[28;173]
Như vâ ̣y , nếu theo cách ph ân tích hiê ̣n đa ̣i về mối quan hê ̣ giữa nô ̣i dung và hình thức, chúng ta thấy nói đến Mỹ, các nhà văn đều nghiêng về cái
“ngôn pháp” tức là hình thức của nô ̣i dung Song cha ông ta không tách rời hình thức của nội dung , mà đã tiến tới coi hình thức là “hình thức của nội dung và nô ̣i dung được thể hiê ̣n qua hình thức”
nhất của :Đa ̣o, Tâm, Chí với Mỹ là một, cha ông ta trong quan niê ̣m của mình còn nói đến sư tổ hợp riêng của cái Mỹ Khi bàn về bô ̣ sách Ngô gia văn phái
rong ruổi trong rừng văn , cầm bút viết lên văn không phải là ít , nhưng nói về viê ̣c tâm tư linh hoa ̣t , cốt cách cao kỳ , hơn hẳn người thường , tất phải ý khí
Trang 23như vàng ngo ̣c, thanh điê ̣u như nha ̣c ca, sóng từ kết lại, phát ra thành văn, mới xứng đáng là danh gia” Theo đó, quan niê ̣m của ông về cái Mỹ là cái làm nên bởi nhiều thành tố nhưng thành tố nào cũng phải đa ̣t tới chỗ cá i gì cũng phải hơn người: “tâm tư linh hoa ̣t ”, “cốt cách cao kỳ ”, “ý khí như vàng ngọc ”, “ thanh điê ̣u như nha ̣c ca”…
Trong khi quan niê ̣m coi Mỹ là cái đẹp, mà cái đẹp tột mức, điêu luyê ̣n; cái đẹp này phải được kết hợp tinh vi trong hệ thống : ý lời, nhạc, thần, hứng; các bậc văn nhân xưa còn cho rằng cái đẹp này phải luôn luôn mới
Điều này được thể hiê ̣n trong v iê ̣c bày tỏ quan niê ̣m viết văn của Nhữ
Bá Sĩ Ông viết :
Gió đông tràn khắp thiên hạ Ngọn bút màu bắt đầu viết lúc mùa xuân Xuân đi rồi xuân la ̣i trở la ̣i
Sức bút phải nên mới mẻ luôn luôn
… Ruô ̣ng sách cày lưỡi bảo đao lấp lánh
Ra hùng quan nơi trâ ̣n đi ̣a văn chương Qua bài thơ trên có thể thấy Nhữ Bá Sĩ đã quan niê ̣m coi cái mới là cơ sở làm nên cái đe ̣p và sức ma ̣nh mo ̣i mă ̣t của cái đe ̣p
Nói chung, trong quan niê ̣m của cha ông ta đều coi tro ̣ng Đa ̣ o, Tâm, Chí như phần nội dung nhưng các cụ vẫn coi Văn phải có Mỹ , Mỹ phải làm được nổi bâ ̣t lên ở cái đă ̣c sắc , làm thành cái riêng của Văn Mă ̣t khác, ông cha ta cũng không ha ̣n chế nô ̣i dung của Mỹ chỉ là Đe ̣p, mà còn cho cái Mỹ là cái “thấu muôn trời đất, làm nên cái tuyệt vời” Về ý này, người xưa đã nói rõ
“Có người hỏi về chỗ kỳ diệu của Văn chương , xin trả lời rằng: Khó nói đấy Muốn hiểu được chỗ kỳ diê ̣u, phải cầu ở lòng ta Muốn cầu ở lòng ta phải chất vấn thánh hiền, phải hiểu trời đất, phải xem xét muôn vật Vâ ̣t có xem că ̣n kẽ,
Trang 24thì hiểu biết mới đến nơi đến chốn Có hiểu biết đến nơi đến chốn thì văn chương mới tuyê ̣t vời”
Có thể nói , Mỹ ở đây làm nên bản chất của Văn , Mỹ cũng là một bản thể, mô ̣t khí chất của trời đất , của người , vì nó do thanh khí sinh ra ; bản nguyên của thanh khí có gốc ở trời và cũng có liên quan đến thời , từ đó tan vào lòng người
Khi nghiên cứu quan niê ̣m về bản chất của văn ho ̣c của cha ông ta ngày xưa chúng ta không t hể không kể đến bản chất “kinh bang tế thế ” của văn chương Đó là sự chung đúc lên đến đỉnh cao của quan niê ̣m Đa ̣o , Tâm, Chí,
Mỹ Đó là cơ sở của chủ nghĩa yêu nước trong văn học dân tộc Người thể hiê ̣n nổi bâ ̣t nhất quan niê ̣m này là Nguyễn Trãi (1380-1442)
Nói về quan niệm này , Nguyễn Mô ̣ng Tuân , người cùng thời đã làm
mô ̣t bài thơ ca ngợi Nguyễn Trãi:
Ông ngồi trong gác vàng , phong cách thanh cao như mô ̣t vi ̣ tiên trong lầu ngo ̣c
Có tài kinh bang tế thế làm rạng rỡ cho đất nước
Từ trước tới nay chưa ai có được như thế
Văn từ nổi tiếng mô ̣t thời, mọi người phải tôn ông làm bậc thầy văn bá,… Trong bài thơ Ha ̣ Quy Lam Sơn (Mừng về Lam Sơn) Nguyễn Trãi đã viết: Nhớ khi xưa ở Lam Sơn xem sách võ kinh
Bấy giờ chí cũng đã ở dân đen rồi
Câu thơ đã thể hiê ̣n Chí lớn của nhà Nho , nhà thơ Chí đó không chỉ là
mô ̣t pha ̣m trù tinh thần - tâm lý, chỉ là sức mạnh nội lực của cá nhân ; mà ở mức đô ̣ khác, còn chỉ cái nhân sinh quan của các bậc văn nhân xưa
Có thể nói, văn chương “Kinh bang tế thế ”, văn chương “Kinh luân vũ trụ”, văn chương “dùng bút đánh giặc ” của người xưa còn trực tiếp tạo ra sự
đă ̣c sắc của cái Mỹ trong văn ho ̣c Viê ̣t Nam cổ điển Cái nguyên khí của đất
Trang 25nước, của dân tộc trở thành một nguồn gốc sâu xa tạo ra cái Mỹ trong văn , trước hết cái Mỹ đó không chỉ là tâm sự , là gan ruột, còn lại là thể loại hùng
Tóm lại , cha ông ta từ xưa đã để la ̣i cho chúng ta mô ̣t hê ̣ thống qua niê ̣m văn chương rất tinh tế , được thể hiê ̣n trên nhiều khía ca ̣nh và tâ ̣p trung trong hê ̣ thống pha ̣m trù : Văn- Đa ̣o- Tâm- Chí- Mỹ Toàn bộ quan niệm về bản chất văn học của ông cha ta , có thể kết lại bằng câu của Lê Quý Đôn trong bài Vân Đài Loa ̣i Ngữ : “Hòa thuâ ̣n chứa ở trong, anh hoa phát ra ngoài,
đă ̣t đường kinh, đường vĩ cho trời đất, đó là đa ̣i văn chương”
d) Quan niệm “Văn dĩ tải đạo”, “Thi dĩ ngôn chí”
Khái niệm Đạo gắn với hai quan niệm “Văn dĩ minh Đạo” và “Văn dĩ tải Đạo” Khái niệm “Văn dĩ minh Đạo” là quan niệm của các nhà Đường Nho, thời này rất chú ý đến vai trò của Đạo và của “ Văn làm sáng Đạo”
Đến đời Tống, Lý học hưng thịnh, trên cơ sở xã hội có nhiều biến đổi, các nhà Lý học Tống Nho đem Đạo đối lập với Văn Người đầu tiên trong số những nhà Lý học Tống Nho đưa ra quan niệm “Văn dĩ tải Đạo” là Chu Đôn
Di Ông coi văn chỉ là công cụ để chuyển tải Đạo Đây là cách nhìn thụt lùi so với “Văn dĩ minh Đạo” của Hán Vũ đời Đường
Mối quan hệ giao lưu văn hóa và văn học giữa Việt Nam và Trung Hoa
có mối quan hệ chặt chẽ nên trong quan niệm mỹ học và văn học của Việt Nam thời kỳ này cũng chịu ảnh hưởng của quan điểm thẩm mỹ và văn học Cổ điển kiểu phương Đông, tập trung vào hai định hướng cơ bản là “Văn dĩ tải đạo” và “Thi dĩ ngôn chí”
“Văn dĩ tải đạo” dưới ảnh hưởng của Nho giáo, Văn bị thu hẹp trong phạm vi của Đạo, là công cụ của Đạo
Còn “Thi dĩ ngôn chí” là quan điểm thẩm mỹ thuộc chủ thể sáng tạo, ở đây có sự tác động của chủ thể là nhà văn, nhà thơ Lúc này, mỹ học dành
Trang 26quyền cho chủ thể được phép bày tỏ cái Chí lớn của mình trong phạm vi của Nho giáo đó là: “Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ‟
Đầu thế kỷ XX, văn minh phương Tây đã bỏ lại phía sau thời kỳ công nghiệp cổ điển để bước vào thời kỳ hiện đại Cuộc cách mạng công nghiệp sau đó là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm biến đổi tận gốc nền sản xuất xã hội Điều đó không thể không làm thay đổi tận gốc tâm lý con người nói chung và tâm lý thẩm mỹ nói riêng Mặc dù ở phương Tây đã diễn
ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất nhưng Pháp chỉ đưa thứ công nghiệp cổ lỗ của phương Tây vào Việt Nam Tuy vậy, nền công nghiệp này đã làm thay đổi tâm lý con người Việt Nam, chuyển từ tâm lý nông dân sang tâm
lý thị dân tiểu tư sản từ đó dẫn đến sự thay đổi đối tượng thẩm mỹ mới
Trong cơ cấu xã hội nông nghiệp kiểu phương Đông với những quan hệ ràng buộc chằng chịt, cá nhân con người gần như không được coi trọng Cá nhân bị các quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng… chi phối do đó không có điều kiện phát huy sức mạnh sáng tạo của riêng mình, nó trở thành một thực thể trừu tượng, chìm trong cái chung vì vậy mà đối tượng thẩm mỹ của thời
cổ điển cũng trở nên trừu tượng
Dưới ảnh hưởng của cuộc hội nhập thế giới lần thứ nhất (hội nhập qua
áp đặt của thực dân Pháp), văn hóa Việt Nam đã gia nhập thế giới qua hành lang văn hóa Pháp Từ đó, mỹ học Việt Nam cũng đi vào quỹ đạo mỹ học thế giới và giải quyết những vấn đề mỹ học cơ bản sau:
Thứ nhất, đó là xây dựng quan điểm mỹ học mới, đặc biệt là hướng mỹ học vào Chủ nghĩa Hiện thực
Thứ hai, tìm hiểu ý thức của chủ thể nghệ sĩ đối với thời cuộc và thời đại Thứ ba là xây dựng hệ thống chủ đề và hình tượng nghệ thuật kiểu mới sát gần đời sống, khắc phục lối dùng điển tích, điển cố
Thứ tư là việc hướng văn hóa vào sử dụng tiếng Việt – ngôn ngữ hiện đại
Trang 27Thứ năm, chọn thể loại văn xuôi và thơ ca kiểu mới
Thứ sáu là đưa ra những quan điểm cách tân nhưng phải giữ gìn truyền thống
Thứ bảy, Quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu – Mô ̣t bước tiến về phía hiê ̣n thực
Thời cổ phương Đông, các nhà Nho cho rằng, Văn là để tải Đạo: “Văn
dĩ tải Đạo”; thơ là để nói cái chí “Thi dĩ ngôn chí” Đến Nguyễn Đình Chiểu đã có một quan niệm mới về văn học Cụ thể rằng, Văn để chở đạo, nhưng Văn còn để vạch mặt bọn gian ác, làm tay sai cho giặc Điều này được thể hiện qua hai câu thơ:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà Hai câu thơ thể hiện tấm lòng trung kiên với đất nước của nhà thơ Đó
là chữ Đạo gắn liền với chữ Tâm, là sự phân biệt chính tà rõ ràng, yêu ghét rõ ràng để chọn cho mình một con đường duy nhất xuất phát từ lòng yêu nước Chính vì thế đến tận ngày nay, hai câu thơ này của cụ vẫn là chân lý bất di bất dịch cho người cầm bút
Như vậy, có thể thấy mỹ học Việt Nam thời kỳ này đã gắn với quá trình phát triển của dân tộc mà ở đây là quá trình đấu tranh giữ nước, bảo vệ độc lập dân tộc
Thứ tám, Nghệ thuật là nói sự thật ở đời:
Dưới ảnh hưởng của văn hóa Pháp, các nhà văn trẻ họ đã đi theo nghệ thuật tả thực – nghê thuật biểu hiện cuộc đấu tranh giữa cái đẹp, cái xấu những tư tưởng, tác phẩm thời kỳ này chịu ảnh hưởng của các tác giả như
tác phẩm Viên mỡ bò
Các nhà văn thế kỷ XIX đã mô tả cuộc sống thực của xã hội lúc đó
Trang 28văn tả thực để hướng về tầng lớp thị dân, những người bị thiệt thòi, những người cần có sự quan tâm, nâng đỡ
Các nhà văn Việt Nam lúc này chịu ảnh hưởng của tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng tư sản Pháp cho nên họ dùng ngòi bút của mình
để bênh vực những con người yếu thế trong xã hội Vì vậy, mỹ học thời kỳ này là mỹ học tả chân
Thứ chín, Nghệ thuật là tiếng nói vạch trần sự bất công
Nghệ thuật thời kỳ này ngoài nhiệm vụ đấu tranh, nói lên sự thật ở đời thì nó còn có ý nghĩa vạch trần sự bất công, bênh vực những người nghèo khó
Tư tưởng nghệ thuật của các tác giả thời kỳ này chịu ảnh hưởng của Banzac khi cho rằng: “Nghệ sĩ là người thư ký trung thành của thời đại” và ảnh hưởng của Stangdan cho rằng nghệ thuật là tấm gương soi sáng cuộc đời nhưng không phải soi nơi bằng phẳng mà ở bùn lầy Vì vậy mỹ học thời kỳ này hướng về cái lộn xộn của cuộc đời và phải vượt qua nó để đi tìm cái đẹp, tìm định hướng mới
1.2.1 Khuynh hướng coi đối tượng của mỹ học là cái đẹp tuyệt đối tồn tại trong thế giới ý niệm (Platôn, Hêghen)
Platôn (427 - 347 trước công lịch) – nhà triết học và mỹ học duy tâm
Hy Lạp cổ đại – học trò của Xôcrát, Platôn là một trong những nhà triết học đối địch tư tưởng sâu sắc nhất đối với Đêmôcrít và chủ nghĩa duy vật
Những tác phẩm chính của Platôn là các đối thoại: Híppiatsơ Anh, Ansibiátđơ, Biện hộ cho Xôcrát, Critôn, Hippiátsơ Em, Lydítsơ, Prôtagorát, Phêđôn, Bữa tiệc, Phêđơrơ, Nước Cộng hòa, Pácmêmiđơ, Têêtetơ, Sôphistơ (kẻ ngụy biện), Chính trị học và Philêbe, Timê, Critiát, Luật pháp – một bộ sách còn 20 quyển mà vẫn còn coi là dở dang
Trang 29Xuất phát điểm của mỹ học Platôn là thuyết “Ý niệm” (tức là tinh thần,
tư tưởng, linh hồn) Và mỹ học Platôn là mỹ học nghiên cứu về cái Đẹp, muốn nghiên cứu về cái Đẹp trong mỹ học của ông, trước hết phải hiểu học thuyết “Ý niệm”
Platôn cho rằng, cảm giác phụ thuộc vào giác quan, mà giác quan lại chỉ cung cấp cho ta những hình ảnh của sự vật, do đó, chúng ta chỉ có những cảm giác không rõ, không xác định, không vĩnh hằng Ông lại cho rằng, chỉ
có thế giới tinh thần, thế giới của “Ý niệm” mới là cái “ tồn tại chân thực” Theo Platôn, thế giới tinh thần (thế giới “Ý niệm” ) là cái có trước, còn thế giới các vật thể là cái có sau, do thế giới kia sinh ra mà chúng ta ở đều không phải do ta tự làm ra, tất cả các vật thể đó đều là sự “ thăng hoa” của tinh thần, tất cả đều do một “Ý niệm” cao siêu chói lọi xuyên qua một sự hé mở thần diệu, dần dần con người mới nhìn thấy đồ vật và những người xung quanh
Từ quan điểm đó, cái Đẹp theo cách hiểu của Platôn không phải là số
lượng, cũng không phải là một hình thái, một nhân tố cụ thể nào đó, mà cái
Đẹp phải là một khái niệm, là “thế giới Ý niệm”, là một thứ ý thức, một sự cảm nhận của thế giới linh hồn bên trong con người Như vậy, Platôn đã xuất phát từ quan điểm duy tâm, thần bí về tồn tại, về ý niệm để lý giải các hiện tượng thẩm mỹ
Platôn cũng như các nhà mỹ học cổ trước đó, ông cũng nghiên cứu cái Đẹp dưới hai góc độ: vật chất và tinh thần Tuy nhiên, ông chủ yếu khẳng định cái Đẹp tinh thần và bác bỏ cái Đẹp vật chất Ông đã cho rằng, cái Đẹp
có biểu hiện ở giới hiện thực khách quan song nó không phải là cái Đẹp bản chất Chỉ có cái Đẹp của “Ý niệm”, của tâm hồn mới là cái Đẹp bản chất, cái Đẹp vĩnh hằng
Theo Platôn, cái Đẹp là một “Ý niệm” tồn tại vĩnh viễn Nguồn gốc của cái Đẹp nằm trong thế giới tinh thần chứ không phải nằm trong thế giới vật thể cảm tính “Ý niệm” đẹp không phải là cái bóng cũng không phải là cái ở
Trang 30bên ngoài, mà là cái hồn của sự vật Hình thức tồn tại của cái “Ý niệm” Đẹp trong vật thể là dưới dạng cái chung, cái phổ biến và cái toàn thể “Ý niệm”
về cái Đẹp là cái bất biến, cái vĩnh cửu trong mọi trường hợp, mọi thời gian, mọi không gian Chính “Ý niệm cái Đẹp” đã sáng tạo ra cái Đẹp của sự vật cá biệt Đẹp của các sự vật cá biệt là bản sao của cái Đẹp ý niệm
Như vậy, nếu cái Đẹp là một “Ý niệm” trừu tượng thì làm thế nào để có thể nhận thức được nó
Platôn cho rằng, người ta nhận thức là nhận thức cái bản chất của sự vật, song cái bản chất đó nằm trong thế giới “Ý niệm”, nên đối tượng của nhận thức và chân lý của sự vật là ở thế giới “Ý niệm” Muốn nhận thức thế giới “Ý niệm”, người ta không thể dùng cảm giác, mà phải dùng đến sự hồi tưởng của linh hồn Sở dĩ Platôn cho là như vậy là do ông quan niệm linh hồn bất tử trước khi ở trong con người, linh hồn đã tồn tại, đã quan sát thế giới “Ý niệm” Và khi nhận vào cơ thể con người, dường như linh hồn đã bị xóa đi những hồi ức trước đó Muốn cho linh hồn bất tử hồi tưởng lại về thế giới “Ý niệm” thì phải kích thích nó Phương pháp kích thích để linh hồn hồi tưởng lại thế giới “Ý niệm” là nghệ thuật đối thoại nhằm so sánh và phân tích các khái niệm trong khi tranh luận Với quan niệm này, muốn nhận thức ý niệm về cái Đẹp người ta phải kích thích linh hồn cho nó hồi tưởng lại cái toàn thiện, tinh khôi mà đã từng chiêm ngưỡng khi nó còn ở thế giới thần linh:
“Cái Đẹp sẽ hiện ra với tất cả sự lộng lẫy của nó khi chúng ta bước theo sau thần Duypite cũng như những người khác bước sau những vị thần khác, trong tiếng nhạc hòa tấu của thiên đình, khi đứng trước một cảnh huy hoàng, chúng ta như cảm thông được những bí mật mà người ta có thể gọi là những
bí mật của những người sung sướng, những bí mật mà chúng ta say sưa, lòng không có những đau khổ và thiếu thốn đang đợi ta sau đó”
Và chỉ khi “Chúng ta đạt đến đỉnh cao nhất của sự nhập định, chúng ta ngắm những sự vật toàn thiện, đơn giản đầy yên tĩnh và xung mãn đó, chúng
Trang 31ta ngắm chúng trong một ánh sáng tinh khôi vì đã rũ sạch cái thể xác nó đã giam hãm chúng ta như những vỏ sò Còn cái Đẹp thì rực lên giữa những thực thể ! …” [20;158]
Nếu Xôcrát cho cái Đẹp có tính chất tương đối và ở trong các quan hệ
cụ thể, thì Platôn cho cái Đẹp là tuyệt đối, và cái Đẹp “Ý niệm” là cái Đẹp chung, bất biến Và Xôcrát mới dừng lại ở quan niệm cái Đẹp gắn với cái Thiện và cái có ích thì Platôn đã đề cập đến những tính chất đặc biệt của cái Đẹp Trong khi mỹ học của Xôcrát là thứ mỹ học của nội dung thì Platôn đã nhận thấy tính chất đặc biệt của hình thức trong đời sống thẩm mỹ Trong khi Xôcrát hiểu, cái Đẹp là phải hướng tới sự tu thiện thì Platôn quan niệm cái Đẹp phải gắn liền với tính chất “ thanh lọc”, tính chất làm “ trong sạch” tâm hồn của nghệ thuật Ông cho rằng tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người đều là cái Đẹp, lòng Cao thượng, sự Dũng cảm Tất cả những cái
đó đều là kết quả của quá trình đã được «thanh lọc», được làm sạch Như vậy, Platôn cũng coi sự vật là phương tiện để sửa chữa, uốn nắn con người về mặt đức hạnh
Như vậy, xuất phát điểm của triết học Platôn chính là cái Đẹp tuyệt đối tồn tại trong thế giới ý niệm Đây cũng chính là đối tượng trong nghiên cứu
mỹ học của ông
Hêghen (1770 – 1831), là đại biểu xuất sắc của mỹ học cổ điển Đức
Mỹ học của ông là một trong ba đỉnh cao sáng chói của nhân loại trước khi
mỹ học mácxit xuất hiện Mỹ học Hêghen xuất phát từ quan điểm về hiện tượng luận tinh thần Ông coi đối tượng của mỹ học là cái đẹp trong nghệ thuật, và ông đã đặt nghệ thuật trong ý niệm tuyệt đối
Theo Hêghen, cả nghệ thuật, triết học, tôn giáo cùng có một nhiệm vụ
là nhận thức về cơ sở, bản nguyên, cội nguồn của thế giới là tinh thần tuyệt đối Trong đó, triết học (khoa học) “Chỉ lo làm sao nhận thức được chúng (sự vật) ở trong tính phổ biến của chúng, lo làm sao tìm được cái bản chất bên
Trang 32trong của chúng cũng như quy luật của chúng và lý giải chúng phù hợp với khái niệm của chúng” [4; 106] và “trí tuệ lo tìm cái phổ biến, quy luật, tư tưởng và khái niệm của đối tượng” Trong khi rời bỏ đối tượng ở trong dạng
cá biệt trực tiếp của nó Trí tuệ hoán cải nó ở trong cái thế giới bên trong của mình, biến đổi nó từ chỗ là một đối tượng cảm quan cụ thể thành một cái gì
về căn bản là khác, trừu tượng được quan niệm hóa Nghệ thuật không làm việc ấy và nó khoa học là ở chỗ ấy Tác phẩm nghệ thuật vẫn là một đối tượng bên ngoài, bị quy định trực tiếp và đơn nhất về mặt cảm quan nếu xét về màu sắc, hình dáng, âm thanh hay nói khác đi, vẫn là một sự chiêm ngưỡng đơn nhất… Cũng hệt như vậy, tác phẩm nghệ thuật không vượt xa ra khỏi phạm vi tính sự vật trực tiếp đã cấp cho nó cũng như khoa học không cố gắng đạt đến một cách lý giải tính chất khách quan này với tính cách một khái niệm phổ biến”[4; 107]
Trong hệ thống Hêghen, nghệ thuật, tôn giáo, triết học cùng nằm trong lĩnh vực tinh thần tuyệt đối tự do Ông viết rằng “ Chỉ trong trình độ tự do này, sáng tác nghệ thuật lần đầu tiên mới trở thành nghệ thuật chân chính và chỉ khi nào sáng tác nghệ thuật nhập vào cùng một phạm vi chung với tôn giáo và triết học chỉ là một trong những phương thức nhận thức và biểu hiện cái thần linh, những quyền lợi sâu sắc nhất của con người, những chân lý tinh thần rộng lớn nhất thì đến lúc đó, sáng tác nghệ thuật mới giải quyết được nhiệm vụ tối cao của mình Các dân tộc đã kí thác vào sáng tác nghệ thuật những chiêm ngưỡng nội tâm và những biểu tượng của mình Nghệ thuật thường thường là một cái chìa khóa, và ở một vài dân tộc, đó là cái chìa khóa duy nhất để hiểu sự khôn ngoan sáng suốt và tôn giáo của họ Nghệ thuật có được đặc tính này ngang với tôn giáo và triết học song điểm độc đáo của nó là
ở chỗ ngay cả những đối tượng siêu việt nhất cũng được nghệ thuật thể hiện dưới một hình thức cảm quan, bằng cách làm cho các đối tượng ấy gần tự nhiên hơn, gần tính chất biểu hiện của tự nhiên hơn, gần tri giác và tình cảm hơn”[4; 64-65]
Trang 33Trong quan niệm của Hêghen: nghệ thuật chính là quá trình tư khách quan hóa (tự biểu hiện) và tự nhận thức của tinh thần tuyệt đối về chính bản thân mình trong lĩnh vực lịch sử nhân loại, mà cụ thể là trong lĩnh vực lịch sử nghệ thuật để vươn tới tự do Ở đây, tinh thần tuyệt đối tự nhận thức về mình thông qua các sản phẩm hoạt động của tinh thần con người là cá tác phẩm nghệ thuật Nghệ thuật là sự khám phá cơ sở của thế giới dưới hình thức cụ thể, cảm quan bằng hình tượng, là sự mô tả ý niệm (chân lý) dưới hình thức cái đẹp
Với quan niệm như vậy thì vấn đề xác định tính đặc thù của nghệ thuật đã được Hêghen giải quyết Ông cho rằng đối tượng mỹ học là vương quốc của cái đẹp rộng lớn đúng hơn, đúng hơn lính vực nghệ thuật hay đúng hơn nữa là lĩnh vực sáng tác nghệ thuật Mỹ học là triết học của nghệ thuật – đó là luận điểm quan trọng mà Hêghen đặt cơ sở cho toàn bộ hệ thống Mỹ học của ông Nói một cách khác, Mỹ học là phương pháp luận của nghệ thuật Trong toàn bộ hệ thống bài giảng về Mỹ học của Hêghen trên giảng đường trường Đại học Beclanh nhằm khẳng định: lĩnh vực của mỹ học là cái đẹp lý tưởng thông qua mối quan hệ biện chứng của “ý niệm tuyệt đối” với hình thức biểu hiện “ý niệm tuyệt đối”
Hêghen thú nhận rằng, ông tiến hành công trình tìm tòi về mỹ học “ không phai với mục đích khích lệ việc sáng tạo nghệ thuật, nhưng cốt nhằm nhận thức một cách khoa học: nghệ thuật là gì? Để tìm kiếm và chỉ ra sợi dây của sự phát triển thấu suốt của lịch sử nghệ thuật
Theo hệ thống hoạt động nghệ thuật là một bộ phận mà hình thức thể hiện tiến tình phát triển của lịch sử nhân loại Nghệ thuật là một phương thức con người dùng để tự sản sinh ra chính mình trong thế giới hiện thực Nghệ thuật có nhiệm vụ khám phá ra chân lý dưới hình thức cảm tính Dưới dạng nghệ thuật, cái đẹp được biểu hiện là bản thân chân lý Sáng tạo nghệ thuật là
sự kết hợp hài hòa giữa tài năng chủ quan và nội dung khách quan
Trang 34Toàn bộ nghệ thuật một loại hình lao động đặc thù tạo ra một loại sản phẩm đặc biệt là cái đẹp Nhưng sản phẩm nghệ thuật đậm đà tính thẩm mỹ
ấy phải hướng tới con người theo những nguyên tắc của chủ nghĩa nhân đạo Tính nhân đạo là trung tâm điểm, là nội dung của cái đẹp chân chính Trong
tác phẩm Hiện tượng học tinh thần Hêghen viết “Triết học của tôi chỉ nghiên
cứu một phạm trù duy nhất – đó là phạm trù con người”
Mỹ học nghiên cứu những tính quy luật phổ biến về sự phát triển của nghệ thuật Một trong những vấn đề quan trọng nhất của mỹ học là đặc trưng của việc phản ánh hiện thực trong nghệ thuật Mỹ học xem xét nghệ thuật như
là sự lĩnh hội thế giới về mặt nghệ thuật bằng tư duy hình tượng Bêlinxki có nhận xét rằng: “đối tượng của nghệ thuật cũng như đối tượng của khoa học hiện thực Song đặc trưng của các tác phẩm nghệ thuật thể hiện ở chỗ nhà triết học, nhà sử học tư duy bằng khái niệm, phạm trù, con người nghệ sỹ tư duy bằng hình tượng” Đặc trưng trong tác phẩm Mỹ học, Hêghen là người phân biệt rõ nhất các kiểu tư duy đặc trưng cho ba hình thái quan trọng nhất thế
giới “ý niệm tuyệt đối” Ông cho rằng triết học khám phá ra chân lý thông
qua các khái niệm, tôn giáo biểu hiện thế giới thần linh thông qua các biểu tượng Còn nghệ thuật khám phá chân lý thông qua các hình tượng cảm quan
1.2.2 Khuynh hướng coi đối tượng của mỹ học là cái đẹp tiến tới sự hài hòa giữa hoạt động và hình thức (Arixtốt)
Arixtốt (384 – 322 TCN), là người đã phê phán chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platôn và đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật
Arixtốt cũng như những bậc tiền bối của ông, cũng cho rằng đối tượng của mỹ học là cái Đẹp và từ đó ông đi tìm tòi quy luật khách quan của cái Đẹp Nhưng khác với Platôn, ông tìm cái Đẹp không phải ở đâu đâu trên thế giới siêu cảm giác mà ở giữa thế giới thực tại Theo ông, vẻ đẹp là một tính chất tồn tại khách quan và bao gồm nhiều phẩm chất: trật tự, hài hòa, tỷ lệ, xác định, số lượng… Và cái Đẹp không tách rời thực tại Đẹp, ý muốn về cái Đẹp dựa trên đặc tính của vẻ đẹp thực tại
Trang 35Arixtốt cho rằng cái Đẹp chân chính, mà nghệ thuật cần tập trung để bắt chước là cái Đẹp của con người, Arixtốt rất chú trọng coi con người là đối tượng chủ yếu của văn học nghệ thuật Đối tượng trước hết của sự tái tạo nghệ thuật là con người, là cơ thể của con người cùng những phẩm chất của nó như
sự hài hòa, cân xứng v.v
Arixtốt là một trong những người đầu tiên thấy rõ tính chất chủ quan và tính chất khách quan của cái Đẹp ông khẳng định rằng, Đẹp chỉ có thể xác lập tính chất khách quan trong mối tương quan của những đặc tính của vật thể với sự cảm thụ của con người
Qua đó, Arixtốt nghiên cứu cái Đẹp tĩnh và cái Đẹp động Cái Đẹp tĩnh
là cái Đẹp của các vật thể bất động như hòn đảo, núi non, phong cảnh v.v Còn cái Đẹp động là cái Đẹp gắn với con người, cái Đẹp gắn với cái Thiện vì Thiện bao giờ cũng biểu hiện qua hành động, mà cái Đẹp nằm trong hành động đó Nếu trong Siêu hình học, Arixtốt định nghĩa cái Đẹp bao gồm các thuộc tính như trật tự, hài hoà, cân xứng, tính tỷ lệ thì trong Thi pháp ông còn gắn cái Đẹp với tính hữu hạn, tính thống nhất, với cái Thiện Như vậy ông đã nhìn thấy cả mặt tự nhiên và mặt xã hội của cái Đẹp
Một trong những vấn đề chính trong mỹ học của Arixtote là mối quan
hệ giữa cái Đẹp với cái Thiện hoặc cái Có ích Các khái niệm này ở ông không bị đồng nhất, trong khi đó ở Platôn còn có một sự hòa nhập Trong mối quan hệ giữa cái Đẹp với cái Thiện, cái tốt với cái Đẹp, ông phân biệt cái Đẹp tinh thần và cái Đẹp hình thức
Về cái Đẹp tinh thần: Khi gắn cái Đẹp với cái Thiện, Arixtốt cho rằng
cái Thiện là cơ sở của cái Đẹp tinh thần Ông phân biệt các loại Thiện: cái Thiện bao quát, cái Thiện thực tiễn và cái Có ích
Cái Thiện bao quát là lĩnh vực của mục đích tốt đẹp Cái Thiện là mục đích cuối cùng mà tất cả mọi hoạt động đều hướng tới Xét mọi hoạt động, nhất là hoạt động của con người, đều là hoạt động có mục đích Trong đó, đối
Trang 36tạo thành một hệ thống Trong hệ thống nhất thiết phải xác định được yếu tố cuối cùng Mục đích cuối cùng đó chính là cái Thiện bao quát, có đặc điểm là không thể trở thành phương tiện của cái Thiện khác Trong lĩnh vực linh hồn cũng vậy, các ham muốn chỉ tồn tại là để tạo điều kiện cho lý trý hoạt động đạt được mục tiêu cuối cùng Với cách hiểu này, Arixtốt tiến sát tới quan niệm về hoạt động của lý tưởng thẩm mỹ Bởi vì, một trong những cơ sở quan trọng nhất của lý tưởng thẩm mỹ là cái hoàn thiện mà hoạt động thẩm mỹ hướng tới Ở đây, lý tưởng thẩm mỹ chính là cái thiện bao quát, cái không thể
là phương tiện của cái khác
Về cái Thiện thực tiễn: Hoạt động có mục đích cũng là hoạt động của
ý chí cố gắng đạt mục tiêu Do đó, cái được thể hiện trong hành động là cái Thiện thực tiễn Chẳng hạn, cái Thiện đối với đôi tai là việc nghe, cái Thiện đối với đôi mắt là việc nhìn Nhưng cái việc nghe và việc nhìn ấy cũng có hai mặt: một là hoạt động thực tiễn của nghe và nhìn ấy chỉ thể hiện mục đích ham muốn tự nó nên nó không có tính tư lợi, hai là hoạt động thực tiễn
ấy lại nhằm vì một mục đích khác nữa nên nó có tính tư lợi Mặt thứ nhất có giá trị hơn và có tính thẩm mỹ hơn Mặt thứ hai là cái có ích Do đó, Arixtốt cho rằng, nếu chỉ chú ý cái có ích, con người dễ xa vào thói xấu Người ích
kỷ là người hành động chỉ vì cái có ích chứ không phải vì cái Thiện và cái Đẹp, bởi vì cái có ích là một cái Thiện cá nhân, còn cái Đẹp là cái Thiện tự
nó Về mặt này Aritxtốt đã tiến một bước khi ông nhận thấy tính vô tư, không vụ lợi để vào cuối thế kỷ XVIII I Kant – nhà mỹ học cổ điển Đức mới phát triển nó lên
Phải có sự sáng suốt để đạt tới cái Thiện Chính sự sáng suốt ấy là một phẩm chất đạo đức Lĩnh vực của đức hạnh là sự tổng hợp của vẻ đẹp và đạo đức Một hành động được gọi là đẹp khi tính vô tư của nó được bộc lộ một cách rõ rệt vượt ra ngoài phương hướng và mục đích cụ thể của hành động chỉ
vì cá nhân Thực hiện được mục đích vô tư là con người đã tiến tới cái cao cả
Sự cao cả của hành động là tiếp điểm thẩm mỹ
Trang 37Như thế, cái Đẹp là sự tổng hợp của hai mặt: tính vô tư và phẩm chất cao cả Nhưng theo Arixtốt, cái Đẹp và cái Thiện có sự khác nhau: cái Đẹp là cái được chiêm ngưỡng còn cái Thiện là cái được thực hiện
Về cái đẹp hình thức: Cái Đẹp tinh thần chưa đủ làm nên một sự vật
đẹp Do đó, bên cạnh cái Đẹp tinh thần là cái Đẹp hình thức Arixtốt rất coi trọng cái Đẹp tinh thần, điều ông quan tâm hơn cả là những đặc điểm riêng của lĩnh vực thẩm mỹ Ông chú ý nhiều đến sự biểu hiện hình thức của cái Đẹp trong những sự vật và những mối quan hệ khác nhau của hiện thực
Ông đã nhìn thấy cái cụ thể mang tính chất toán học của cái Đẹp hình
thức Trong tác phẩm Siêu hình học ông viết: Những hình thức tối cao của cái
Đẹp là sự thích ứng với quy luật, tính đối xứng và tính xác định, chính những hình thức ấy tìm thấy trong toán học ; và bởi vì những hình thức ấy có vẻ là nguyên nhân của nhiều sự vật, nên toán học, ở một mức độ nào đó, xét nguyên nhân, là vẻ Đẹp
Như vậy, những cơ sở của một hình thức Đẹp là:
Cơ sở thứ nhất: là sự thích ứng với quy luật Hình thức đẹp không phải
là sự võ đoán, ngẫu nhiên, phi lý tính Vẻ đẹp đó là lý tưởng nâng lên thành
quy luật Trong cuốn Thi pháp Arixtốt còn nói rõ thêm: Cái Đẹp là sự vĩ đại
và trật tự Như thế, những hiện tượng rất khác nhau của tự nhiên, của xã hội, những đồ vật và những động vật có một đại lượng nhất định, có một sự cân đối nhất định, tất cả cái đó đem lại cho chúng một hình thức Đẹp Cái tính
nhịp nhàng trọng một tổng thể này phổ biến cả đến nghệ thuật Trong Siêu
hình học, Arixtốt còn gọi trật tự trong không gian, tính đều đặn và tính xác
định là những hình thức của cái Đẹp Nhờ có những nguyên lý chung này mà những yếu tố cá biệt làm thành một thể thống nhất, làm thành cái Đẹp chung
Ưu điểm của Arixtốt là muốn xác định tính khách quan của hình thức đẹp, dù hình thức đó là sự sáng tạo của tự nhiên hay của chủ thể thẩm mỹ Nhưng Arixtốt đã thái quá khi nhấn mạnh tính toán học Ông đã không thấy
Trang 38phần duy lý và khô khan Bổ sung cho thiếu xót này Arixtote cố gắng đi từ lĩnh vực toán học sang lĩnh vực cảm quan, ông quan niệm màu sắc và âm thanh cũng tạo ra vẻ đẹp Màu sắc là cái đẹp của thị giác, âm thanh là cái Đẹp cuả thính giác
Cơ sở thứ hai là tính đối xứng, tính tỷ lệ Tính đối xứng là tượng trưng của cái hoàn thiện “Người đàn bà không cân đối là người nham hiểm” Nhờ
sự so sánh mà biết được tính đối xứng: có thể dùng thước đo, quy về đơn vị, hoặc chồng khít lên nhau
Cơ sở thứ ba là tính xác định Đó là sự xác định đặc tính cơ bản của sự vật này so với đặc tính cơ bản của sự vật khác Đó cũng là sự định loại, định tính, định lượng và thậm chí là định nghĩa nữa Cái hình thức đẹp cơ bản là cái hình thức xác định được bản chất
Cái tốt đẹp: Đó là mối quan hệ giữa cái Đẹp và cái Tốt Arixtote quan niệm, cái Đẹp cao nhất không chỉ nằm trong nội dung, không chỉ là hình thức
mà là sự tổng hợp của cái duy lý và cái cảm quan, sự tổng hợp thể hiện trước hết ở con người Vẻ đẹp con người bao gồm hình thức đẹp của cơ thể, hình thức đẹp ấy phải đi vào giác quan, phải tạo nên một hấp dẫn Sự hấp dẫn này
là một tổng hợp của hình thể đẹp và phẩm chất tốt Như thế, Arixtốt đã đi từ cái Đẹp và cái Tốt đến cái Đẹp đạo đức, tức là cái Tốt đẹp Cái Đẹp như vậy
có tính chất duy lý và nằm sâu trong cảm quan, chứa đựng tính xã hội sâu sắc
Tính chất hiện thực, duy vật và biện chứng của mỹ học Arixtốt dựa trên học thuyết triết học của ông về sự thống nhất giữa “vật chất” và “hình thức”
Vì vậy, mà ông đã cho rằng đối tượng của mỹ học là cái đẹp tiến tới sự hài
hòa giữa hoạt động và hình thức
1.2.3 Khuynh hướng coi đối tượng của mỹ học là cái đẹp vô tư, không vụ lợi (Kant)
Trong cuốn Phê phán năng lực phán đoán I.Kant đặt vấn đề “không có
khoa học về cái đẹp, chỉ có sự phán đoán về cái đẹp mà thôi” Như vậy, I.Kant từ chối việc dùng tư duy lý tính để vạch ra quy luật của cái đẹp
Trang 39I.Kant nhận định về cái đẹp như sau: “cái đẹp là cái gây thích thú
một cách tất yếu, phổ quát cho mọi người một cách vô tư và bằng tính hình thức thuần túy tuyệt đối của nó”[43;86] Như vậy, cái đẹp là một phạm trù
vừa có tính tất yếu, phổ quát; lại vừa có tính cá biệt đặc thù Đẹp mang tính chất không vụ lợi trực tiếp, nó được cảm nhận bằng hình ảnh trực giác; nó đem lại cho con người một sự khoái cảm vô tư về tính muôn màu, muôn vẻ của cuộc sống
I.Kant ít đi sâu giải quyết những vấn đề như: thế nào là cái đẹp, nguồn gốc cái đẹp, cái đẹp có tồn tại trong thế giới khách quan hay không Ông đặc biệt quan tâm nghiên cứu quan hệ giữa con người với tư cách là chủ thể hoạt động với các sự vật tự nhiên “vật tự nó” nhất là những thành quả sáng tạo của con người Trong quan hệ con người – tự nhiên “vật tự nó” với phán đoán thẩm mỹ, I.Kant cho rằng, con người dù không nhận thức được “vật tự nó” nhưng có thể cảm nhận, đánh giá và thưởng ngoạn nó để vươn tới cái ý niệm cao đẹp, toàn vẹn, tất yếu, phổ biến
Nghiên cứu năng lực phán đoán thẩm mỹ, I.Kant cũng dùng đến phép phân tích của triết học nhận thức (trong Phê phán lý tính thuần túy) Phép phân tích này có nhiệm vụ phân tích cái đẹp bằng hệ thống phạm trù và quy luật của triết học, nhận thức bản chất cái đẹp
Cái đẹp được I.Kant phân tích theo phương pháp hệ thống phạm trù triết học Chất lượng, số lượng, quan hệ tự do và hình thái khoan khoái hưởng thụ
Ở khía cạnh chất lượng: khác với phán đoán lôgíc là phán đoán khái
niệm, phán đoán lý tính… phán đoán thẩm mỹ là phán đoán tình cảm, nó chỉ đơn giản là làm chủ thể thích thú hay khó chịu mà thôi, nó không nhằm một
sự nhận thức nào I.Kant viết “muốn nhận thức rõ xem một sự vật có đẹp hay không chúng ta không mang liên hệ cái biểu tượng với đối tượng của nó bằng trí tuệ để nhận thức nó, mà với chủ thể và với cái cảm giác về sự khoái lạc hay khó chịu mà chủ thể cảm thấy, bằng trí tưởng tượng”[43; 74]
Trang 40Nguyên tắc quyết định của phán đoán thẩm mỹ theo Kant “chỉ có thể là chủ quan mà thôi”[3; 58]
Sự phán đoán thẩm mỹ về cái đẹp, về mặt chất lượng, có đặc điểm là
vô tư Tuyệt đối hóa tính vô tư chủ quan trong phán đoán của khiếu thẩm mỹ, I.Kant khẳng định rằng phán đoán chủ quan ấy không liên quan gì đến lợi ích, tới sự tồn tại của đối tượng, do đó không liên quan gì đến nhu cầu, lòng ham muốn và những dự định của con người
Khi phân biệt giữa khoái cảm và khoái cảm thẩm mỹ, Kant cho rằng cái khoái cảm có được nhờ vào sự tác động của đối tượng lên hệ thần kinh, chỉ có cái đẹp mới tạo ra khoái cảm thẩm mỹ, vì chỉ có nó mới tạo ra cái khoái lạc về một sự thưởng ngoạn tự do
Cái khoan khoái, cái tốt, cái đẹp là ba phong thái khác nhau biểu thị sự liên quan với tình cảm khoái lạc và khó chịu… Trong ba loại thỏa mãn do chúng đem lại, thì sự thỏa mãn về cái đẹp mới là sự thỏa mãn vô tư và tự do
vì sự thỏa mãn ấy thuộc về sự ưu đãi Còn sự thỏa mãn, cái khoan khoái thuộc
về xu hướng thỏa mãn, cái tốt thuộc về sự tôn kính Cả hai đều do một định luật của lý tính bắt ta phải theo, đều không cho ta có quyền tự do, tự bản thân chúng ta biến chúng thành một đối tượng của sự khoái lạc Mọi cái tư lợi đều dựa trên một nhu cầu sinh ra một yêu cầu cá nhân vì cái tư lợi đã là cái lý do quyền định của sự ưng thuận nên không còn cho phép sự phán đoán về đối tượng tự do nữa Chẳng hạn, khi một người đói thì bất kì cái gì ăn được anh ta đều cho là ngon cả Một sự thỏa mãn như vậy không thông báo một sự lựa chọn nào theo sở thích cả Cho nên người ta gọi cái khoan khoái là cái mà mình hưởng thụ, gọi cái tốt là cái mà mình quý chuộng (nghĩa là cái mà mình đã giành cho một giá trị khách quan), còn gọi là cái đẹp là chỉ đơn giản làm cho mình thích thú Cái đẹp không liên quan đến sự tồn tại của đối tượng, bởi
vì cái đẹp, theo I.Kant, không phải thuộc tính vốn có của đối tượng nên nó không đem đến cho chúng ta một sự nhận thức này Bản chất của cái đẹp nằm