Các tư tưởng, các học thuyết triết học chủ yếu ẩn chứa bên trong các tác phẩm văn học, sử học.Vì vậy, việc tìm hiểu vấn đề quan niệm triết học về con người trong thơ ca là một trong nhữn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ THU PHƯƠNG
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI
TRONG THƠ CA VIỆT NAM
TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ THU PHƯƠNG
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI
TRONG THƠ CA VIỆT NAM
TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX
Trang 3LỜI CẢM ƠN!
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm khoa Triết học,
Phòng Đào tạo sau đại học, các Quý Thầy Cô giáo đã giảng dạy, trang bị
những kiến thức quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt
quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới
thầy giáo, TS Vi Thái Lang - người đã khuyến khích và tận tình chỉ dẫn cho
tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và tập thể đồng nghiệp nơi tôi
công tác - Trường THPT Sóc Sơn - đã luôn tạo điều kiện tốt cho tôi học tập
trong toàn khóa học
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và bạn bè đã luôn động viên,
hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Phạm Thị Thu Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều đƣợc dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Phạm Thị Thu Phương
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
UNDP: United Nations Development Programme HDI: Human Development Index
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
8 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM THƠ CA VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX 9
1.1 Điều kiện, tiền đề cho sự ra đời tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX 9
1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 9
1.1.2 Điều kiện chính trị 12
1.1.3 Tiền đề văn hóa - tư tưởng 14
1.2 Đặc điểm thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX 24
1.2.1 Một số quan niệm về “thơ” và “thơ ca” 24
1.2.2 Sự phát triển của thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX 28
Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌCVỀ CON NGƯỜI TRONG THƠ CA VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX 31
2.1 Tư tưởng về sự sinh thành và bản tính con người 31
2.1.1 Về sự sinh thành con người 31
Trang 72.1.2 Về bản tính con người 36
2.2 Tư tưởng về mối quan hệ giữa con người và thế giới 39
2.3 Tư tưởng về đối nhân xử thế 43
2.3.1 Tư tưởng về mối quan hệ giữa con người với con người 43
2.3.2 Tư tưởng nhân nghĩa 47
2.3.3 Tư tưởng vô sự 52
2.4 Một số giá trị của tư tưởng triết học về con người trong thơ ca ViệtNam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX 57
2.4.1 Những giá trị tích cực của tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX 57
2.4.2 Những hạn chế của tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX 60
2.4.3 Một số khuyến nghị nhằm phát huy những giá trị tích cực và khắc phục những mặt tiêu cực của tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX đối với quá trình xây dựng con người mới Việt Nam 62
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người là vấn đề trung tâm của mọi nghiên cứu khoa học Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã phát hiện ra rất nhiều điều lý thú về con người Trong quá khứ, hiện tại và mãi mãi về sau, con người vẫn là một đề tài phong phú, hấp dẫn cho mọi lĩnh vực nghiên cứu, nhất là triết học và các khoa học nhân văn
Trung Quốc và Ấn Độ được coi là cái nôi của văn minh nhân loại Đồng thời, đây cũng là trung tâm ra đời những tư tưởng triết học về con người Trong quá trình nghiên cứu, các nhà tư tưởng có nghiên cứu về thế giới tự nhiên, nghiên cứu về quỷ thần.v.v nhưng cũng chỉ nhằm mục đích lý giải cuộc sống và số phận con người trong thế giới này với tất cả những hạnh phúc, đau khổ, niềm tin, khát vọng của chính con người Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều từ hai nền văn minh Trung Quốc và Ấn Độ, do đó, cũng đã kế thừa được khá nhiều thành tựu trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng Trước đây, Việt Nam có truyền thống văn, sử, triết bất phân Triết học ở Việt Nam chưa giữ vai trò là một môn khoa học độc lập Các tư tưởng, các học thuyết triết học chủ yếu ẩn chứa bên trong các tác phẩm văn học, sử học.Vì vậy, việc tìm hiểu vấn đề quan niệm triết học về con người trong thơ
ca là một trong những góc độ nghiên cứu nhằm làm nổi bật lên tư tưởng của các bậc tiền bối, giúp thiết lập được chiếc cầu nối giữa người xưa và người sau
Quan niệm về con người trong thơ ca, tuy không đồng nhất với con người trong triết học nhưng lại có những ảnh hưởng nhất định Con người trong thơ ca là hình tượng nghệ thuật về con người, nó khác với con người theo quan niệm của triết học Thế nhưng, xét trong tính tổng thể, cả triết học
và văn học đều là những hình thái ý thức xã hội nên không thể không có
Trang 9những nguồn gốc tương đồng Vì thế, những quan niệm về con người trong thơ ca Việt Nam luôn chịu sự quy định của các quan niệm chính trị, xã hội và
tư tưởng triết học đương đại
Trong quá trình hội nhập ngày càng sâu, rộng với quốc tế, vấn đề văn hóa, lối sống của con người Việt Nam đang bị tác động, lay chuyển nhanh chóng cả về những mặt tích cực và những yếu tố tiêu cực Những giá trị nhân văn truyền thống hàng ngàn năm của con người Việt Nam đang có nguy cơ bị biến dạng, bị mai một theo năm tháng Một số giá trị thực dụng, chạy theo lối sống thiên về vật chất tầm thường đang được hình thành;.v.v Vì lẽ đó, những giá trị về đạo đức làm người, đạo lý Thánh hiền;.v.v cần được tìm hiểu, khơi dậy để đánh thức và đưa con người trở lại với “con người” nhân văn phương Đông và đặc thù Việt Nam
Từ trước đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề con người ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, vấn đề quan niệm về con người trong thơ
ca được xem xét dựa trên cơ sở tư duy triết học vẫn còn khá mới mẻ và chưa
được tập hợp quy mô, hoàn chỉnh Vì vậy, tôi chọn đề tài “Tư tưởng triết học
về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX” làm
đề tài nghiên cứu nhằm đạt được những kết quả mới có ý nghĩa
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Con người luôn là đề tài hấp dẫn đối với mọi khoa học Vấn đề quan niệm
về con người ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Theo thời gian, số lượng các công trình nghiên cứu ngày càng tăng lên Giá trị ẩn chứa trong các quan niệm về con người vì thế cũng ngày càng được khám phá dưới nhiều góc độ Điều này tạo cơ hội cho những người đi sau có một nền tảng kiến thức vững chắc để kế thừa Song, nó cũng đặt ra thách thức
là phải làm sao để không dẫm lên lối mòn khoa học của người đi trước
Xung quanh vấn đề quan niệm về con người, đã có nhiều công trình
Trang 10khoa học trong nước và cả nước ngoài nghiên cứu.Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ chọn những công trình gần với đề tài nghiên cứu để phân tích, xem xét và kế thừa
- Trong cuốn“Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam”của Trần Đình Sử ở phần “Sự vận động và phát triển của con người trong thơ Việt
Nam trung đại”, ông cho rằng, qua các giai đoạn văn học, dưới ảnh hưởng của
tư tưởng chính thống và hoàn cảnh lịch sử xã hội mà con người trong thơ trung đại cũng có sự thay đổi Từ con người sử thi trong thơ Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung;.v.v với tình cảm yêu nước có sức lay động mãnh liệt đến con người khí tiết biết giữ mình trong sạch, biết ứng xử trước thời thế dưới sự chỉ dạy của Nho giáo Bước sang giai đoạn từ thế kỷ
XV đến thế kỷ XVII cùng với sự ra đời của thơ chữ Nôm, con người trong thơ cũng mở rộng về giá trị riêng tư, trần tục, ít quan phương hơn so với giai đoạn trước Trong khi đó, theo bước đi của lịch sử, cùng với sự suy thoái của xã hội phong kiến, sự trỗi dậy của ý thức cá nhân nên con người trong thơ giai đoạn
từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX lại nghiêng về những khát khao trần tục
- Trong cuốn “Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam” của
nhóm nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc
Vương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân, qua chương “Sáng tác thơ ca thời
cổ và sự thể hiện cái tôi tác giả”, các nhà nghiên cứu đã phân tích một cách
cụ thể những vẻ đẹp của tâm hồn con người trong mối tương quan với thiên nhiên, xem thiên nhiên như thước đo nhân cách của nhà Nho Đồng thời trong công trình này, nhóm nghiên cứu cũng đề cập một cách khái quát về con người cá nhân trong thơ, biểu hiện những vẻ đẹp về nhân cách
- Giáo sư Lê Trí Viễn trong công trình “Đặc trưng văn học trung đại
Việt Nam” có giới thuyết về khả năng nhận thức trước tự nhiên của con người
trung đại Tác giả vạch ra ba dạng cảm thức: con người thấy mình trong tự
Trang 11nhiên, thấy trong con người mình có cả vũ trụ, nhìn sự vật trong thế giới để thấy một ngụ ý hay một lời giáo huấn Tiếp đến, tác giả đi vào giới thiệu cảm thức về thời gian và không gian của con người thời trung đại, từ đó đi đến khẳng định thế giới và con người là một
- “Con người nhân văn trong thơ ca sơ kì trung đại” của Đoàn Thị Thu
Vân là công trình trực tiếp đề cập đến vấn đề con người nhân văn trong thơ Nguyễn Trãi Để không lặp lại những điều mà các nhà nghiên cứu đã nhận định về con người siêu việt ấy, tác giả chỉ xoáy sâu vào khía cạnh một con người biết tìm niềm vui sống, thể hiện trong cách sống giản dị mà tự do phóng khoáng, gần gũi với thiên nhiên vạn vật và con người lao động
- Luận văn thạc sĩ “Văn học thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII trong tiến
trình văn học trung đại Việt Nam”(2004) của tác giả Nguyễn Thanh Hoài
cũng đã có những luận bàn về vấn đề con người trong phần “Nội dung văn
chương nhà Nho ẩn dật thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII” Nhờ sự xuất hiện
của các nhà Nho ẩn dật này mà văn học Việt Nam đã có những bước phát triển mới về mặt nội dung, đặc biệt là những nội dung xoay quanh con người, góp phần làm phong phú hơn cho hệ tư tưởng Việt Nam thời kỳ trung đại
- Trong cuốn luận văn tốt nghiệp “Vấn đề con người trong triết học
Trung Hoa cổ đại” (2009) của tác giả Mai Thị Cẩm Nhung đã trình bày một
cách hệ thống các quan điểm của Nho gia, Đạo gia và Pháp gia về vấn đề con người Hệ thống quan điểm này đã giúp tôi có thêm được cơ sở lý luận để xây dựng nên các luận điểm về con người phương Đông nói chung và con ngườiởViệt Nam nói riêng
- Luận văn thạc sĩ “Con người nhân văn trong tiến trình văn học trung
đại qua thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du” (2010)của tác
giả Nguyễn Thị Huyền Thương đã có những khám phá khá mới mẻ về vấn đề con người trong thơ ca Việt Nam thời kỳ trung đại Luận vănđã trình bày một
Trang 12cách có hệ thống những khía cạnh về con người nhân văn được thể hiện qua
tư tưởng của ba nhà thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du Qua đó, người đọc có được hình dung về quá trình vận động, phát triển của con người qua các chặng đường của văn học trung đại
- Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự phát triển con người, lấy đó làm cơ sở lý luận, phương pháp luận cho nghiên cứu về sự nghiệp giải phóng, xây dựng và phát triển toàn diện con
người Việt Nam Đó là các công trình: “Tư tưởng về sự giải phóng con người
trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” của Trần Hữu Tiến, trích trong “Sống mãi với Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
(1998), “Quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người và sự nghiệp
giải phóng con người”, của Bùi Bá Linh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
(2003);.v.v
- Cũng có một số người đi vào nghiên cứu các khía cạnh xã hội khác nhau về con người như về chính sách y tế, giáo dục, chính sách xóa đói, giảm nghèo.v.v từ đó đề ra những giải pháp cụ thể nhằm phục vụ các yêu cầu về
phát triển con người mới Có thể kể ra các công trình như: “Về phát triển toàn
diện con người thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Phạm Minh Hạc,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2001); “Tính tương thích giữa phát triển
giáo dục và phát triển kinh tế trong phát triển con người ở Việt Nam” của
Đặng Quốc Bảo, trong tạp chí Nghiên cứu con người, số 2, (2002); “Nhà
nước và sự phát triển con người trong quá trình đổi mới ở Việt Nam” của Bùi
Tất Thắng trong tạp chí Nghiên cứu con người, số 2, (2002);.v.v
- Vấn đề phát triển con người và xác định nội hàm của khái niệm “phát triển con người” được UNDP (United Nations Development Programme) đưa
ra vào năm 1990 trong “Báo cáo phát triển con người” (Human Development Report - HDR) Hàng năm “Báo cáo phát triển con người” của UNDP được
Trang 13xuất bảnđể đánh giá những thành tựu và hạn chế của các quốc gia về phát triển con người, nghiên cứu những cơ hội và thách thức cũng như trao đổi những kinh nghiệm về phát triển con người trên phạm vi thế giới vì sự tiến bộ
và văn minh của nhân loại Đây là tài liệu hữu ích phục vụ cho quá trình tác giả của luận văn này nghiên cứu về định hướng phát triển con người sao cho phù hợp với những yêu cầu của thời đại
Cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại, các trào lưu triết học, các tôn giáo ra đời Các nhà tư tưởng, các triết gia, các tôn giáo lớn như Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo;v.v đều đem con người ra để luận giải theo những quan niệm riêng của mình
Nhìn chung, các công trình đều khẳng định nghiên cứu vấn đề con người mang nhiều ý nghĩa quan trọng Vấn đề con người trong triết học và quan niệm về con người trong thơ ca trung đại Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu đề cập trên nhiều bình diện khác nhau Nhưng để đánh giá đúng đắn, sâu sắc vấn đề vẫn cần có những chuyên đề đi sâu vào các tác phẩm với những nội dung cụ thể
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Lý giải những tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
Hệ thống hóa và phân tích một số nội dung cơ bản của tư tưởng triết học
về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
Trên cơ sở đó, chỉ ra một số giá trị của tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX đối với việc xây
dựng con người Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích những điều kiện, tiền đề ra đời tư tưởng triết học về con người
Trang 14trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
Đi sâu lý giải một số nội dung của tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
Chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam
từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX đối với việc xây dựng và phát triển con người Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX qua một số tác phẩm, tác giả tiêu biểu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung làm sáng tỏ tư tưởngtriết học về con người trong phạm
vi thơ ca Việt Nam từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỷ XIX qua một số tác phẩm, tác giả tiêu biểu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Tìm hiểu vấn đề quan niệm triết học về con người trong thơ ca Việt Nam
từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX, cơ sở lý luận mà tôi viện đến là chủ nghĩa Mác - Lênin; những quan niệm, đường lối của Đảng và các tư tưởng truyền thống của dân tộc Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp khoa học khác nhau như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, logic - lịch sử, so sánh, điều tra;.v.v
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn đã phân tích khá sâu những điều kiện, tiền đề cho sự xuất hiện
tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu
Trang 15thế kỷ XIX, đặc biệt là ảnh hưởng của các học thuyết triết học, tôn giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra được một cách thức truy tìm “cái triết học” trong thơ ca về con người
Việc tìm hiểu về những giá trị tốt đẹp của con người là hết sức quan trọng,đặc biệt là đối với môi trường giáo dục trong nhà trường, gia đình và xã hội Bởi lẽ, đây chính là điểm tựa về văn hóa, về tinh thần để giáo dục cho các thế hệ biết tự hào, trân trọng, giữ gìn và học tập theo tấm gươngcủa cha ông ta.Thông qua luận văn, tác giả muốn góp một phần nhỏ bé vào việc làm nổi bật tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX Từ đó, chỉ ra được một số giá trị chủ yếu của tư tưởng này đối với việc xây dựng con người Việt Nam hiện nay.Đồng thời, luận văn cũng góp phần vào việc xây dựng hệ thống những quan điểm về vấn
đề phát triển con người trong giai đoạn mới hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn phân tích vàlàm rõ một số nội dung của tư tưởng triết học về con người mà các nhà tư tưởng Việt Nam đã đúc kết trong thơ ca giai đoạn từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX Từ đó, người đọc dễ dàng hệ thống hóa được những nội dung này và có thêm cách nhìn nhận sâu sắc hơn về vấn đề con người thông qua các quan niệm, các học thuyếttriết học Việt Nam
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy
và học tập các môn Lý luận chính trị, các môn khoa học xã hội và nhân văn
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được sắp xếp thành 2 chương, 6 tiết
Trang 16Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM THƠ CA
VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX
1.1 Điều kiện, tiền đề cho sự ra đời tư tưởng triết học về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Cuối thế kỷ XV, đầu thế kỉ XVI, nhà Lê sơ sau một thời kỳ thịnh trị đã bước vào giai đoạn suy thoái Xã hội lúc này bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu khủng hoảng trầm trọng về mọi phương diện Dưới sự thống trị của triều đình chuyên chế đồi bại, đời sống của nhân dân ngày càng chìm đắm trong tối tăm, cơ cực.Ruộng đất tập trung vào tay địa chủ, đội ngũ quan liêu bị tha hóa, đời sống của đông đảo nhân dân ngày càng bị bần cùng Tô thuế và lao dịch không ngừng tăng thêm, đè nặng lên cuộc sống của người nông dân Kinh tế nông nghiệp không được chăm lo, đê điều và các công trình thủy lợi bị bỏ bê; thiên tai, mất mùa xảy ra quanh năm
Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến cầm quyền, gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp Trong hoàn cảnh đó, những người sản xuất vẫn nỗ lực để duy trì cuộc sống, xây dựng quê hương, bản quán Nông dân ở cả hai vùng vẫn tiếp nối truyền thống lao động cần cùvà trong một mức độ, đã thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệpphát triển.Công cuộc khai hoang lập làng xóm mới, mở rộng thêm diện tích đấtđai canh tác tiếp tục được thực hiện ở nhiều địa phương trong cả nước, nhất là vùng đồng bằng, ven biển
Ở Đàng ngoài, hàng chục vạn mẫu đất đai được khai khẩn đưa vào sản xuất.Ở vùng trung du thuộc các tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, công cuộc khẩn hoang cũng được tiến hành mạnh Nền kinh tế nông nghiệp ở Đàng ngoài trong các thế kỷ XVI, XVII và XVIII vẫn có sự phát triển mạnh mẽ Đây
là một biểu hiện rõ nét về sự ổn định của quan hệ sản xuất phong kiến và sự phát triển của chế độ phong kiến ở Đàng ngoài bấy giờ
Trang 17Ở Đàng trong, ban đầu các chúa Nguyễn dựa vào những người Việt đã sinh sống lâu đời ở đây lập thành xóm làng và tiếp tục công cuộc khẩn hoang Về sau, số người lưu tán từ Thuận Quảng vào ngày càng nhiều, do đó, chúa Nguyễn đã cho phép và khuyến khích các quan lại, địa chủ mộ người phiêu tán đi khẩn hoang và làm chủ tất cả ruộng đất khai phá Với cách này, chúa Nguyễn đã tạo nên một tầng lớp đại địa chủ giàu có, là cơ sở xã hội vững chắc cho chính quyền mới.Những người nông dân, nhất là lực lượng nông dân lưu tán đã tích cực và chủ động đẩy mạnh công cuộc khai phá đất đai dưới những hình thức và quy mô khác nhau (tự động khai phá, khai hoang do các nhà giàu, có thế lực đứng ra chiêu tập, thuê mướn;.v.v.) Đối với dân lưu tán từ Đàng ngoài vào vùng Thuận Quảng, chúa Nguyễn khuyến khích họ khẩn hoang lập làng xóm Ruộng đất khai khẩn trở thành công điền chia cho người khai phá Đối với bộ phận ruộng đất do những người giàu có
tổ chức khai khẩnthì nhà nước cho phép biến thành ruộng đất tư Ngoài ra, chúa Nguyễn còn sử dụng quân đội, tù binh và những người dân bị bắt trong chiến tranh Trịnh - Nguyễn vào việc khẩn hoang
Nhờ có chủ trương đẩy mạnh công cuộc khai phá đất đai và nhờ sức lao động cần cù, bền bỉ của những người dân lao động, trong đó có một bộ phận đông đảo từ Đàng ngoài vào, Đàng trong đã trở thành một vùng đất trù phú.Giai cấp địa chủ ở Đàng trong chủ yếu thực hiện phát canh thu tô, bóc lột theo quan hệ địa chủ - tá điền.Do có đất đai màu mỡ, được khai khẩn nhiều, nhất là ở phương nam mà nền kinh tế nông nghiệp ở Đàng trong khá phát triển
Thủ công nghiệp phát triển thêm một bước, buôn bán phồn vinh, những thành thị hưng khởi, những mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
có điều kiện nảy sinh.Trong nhân dân, các nghề thủ công truyền thống tiếp tục phát triển và trở nên phổ biến rộng khắp ở nhiều làng xã Trong những thế kỷ
Trang 18XVII, XVIII ngành kinh tế thủ công nước ta phát triển rất mạnh mẽ Xuất hiện nhiều làng nghề thủ công trong cả nước Về làng nghề Bát Tràng dân gian có câu ca:
“Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây Xây dọc rồi lại xây ngang Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân”
Về nghề dệt tơ lụa có làng nghề Vạn Phúc:
“Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về Vạn Phúc quê anh thì về Vạn Phúc có một cây đề
Có ao tắm mát có nghề quay tơ”
Nghề làm gốm được cải tiến, nâng cao trình độ kỹ thuật và mỹ thuật, đã xuất hiện các lò gốm lớn nổi tiếng như Chu Đậu, Hợp Lễ (Hải Dương), Bát Tràng nay thuộc Gia Lâm - Hà Nội Nhiều làngnghề thủ công chuyênnghiệpnổi tiếng ra đời như làng Mỹ Thiện(Quảng Ngãi), Phú Trạch(Thừa Thiên) làm nồi đất nung, dệt chiếu, lụa hoa; làng Thổ Hà (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc) chuyên sản xuất chum vại, vò, chĩnh; làng Yên Thái (Hà Nội) chuyên làm giấy;v.v Hầu như các làng xã Đàng ngoài đều làm nghề trồng bông dệt vải, chăn tằm dệt lụa Tơ trở thành một mặt hàng buôn bán quan trọng bậc nhất
Thương nghiệp cũng phát triển lên một bước đáng kể về cả nội thương
và ngoại thương Ở các làng hình thành nhiều chợ mới họp theo phiên, xuất hiện một số chợ có quy mô cấp huyện hay phủ nên có tên gọi là chợ huyện, chợ phủ Sự trao đổi buôn bán với các thương nhân nước ngoài được tăng
Trang 19cường và mở rộng Bên cạnh các thương nhân Trung Quốc, Xiêm, Nhật Bản còn có thuyền buôn của các nước tư bản phương Tây Sự phát triển của công thương nghiệp đã làm xuất hiện một số thành thị mới và làm hưng thịnh, phồn vinh các trung tâm kinh tế hàng hoá cũ Ví như Kẻ Chợ (hay Kinh Kỳ) là đất Thăng Long nổi tiếng với 36 phố phường.Phố Hiến cũng là một thành thị sầm uất của Đàng ngoài thời bấy giờ.Nhiều thương nhân các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Anh, Pháp đều có mặt và buôn bán ở Phố Hiến
Ở Đàng trong có Hội An là thành phố cảng lớn nhất, từ thế kỷ XVI đã có thương nhân nước ngoài đến buôn bán Ngoại thương ở Đàng trong cũng có bước phát triển mạnh từ thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII Đầu thế kỷ XVII, các thuyền buôn Trung Quốc thường đến buôn bán ở sông Thu Bồn Hội An
từ một chợ địa phương đã phát triển thành thương cảng nổi tiếng Đàng trong Mặc dù có những bước phát triển mạnh mẽ nhưng nhìn chung quan hệ ngoại thương giữa Đàng trong với các nước phương Tây cũng giống như ở Đàng ngoài, chỉ phát triển khá mạnh mẽ ở thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, sau đó thuyền buôn các nước thưa thớt dần và chấm dứt hẳn
1.1.2 Điều kiện chính trị
Tình hình chính trị, xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
có nhiều biến chuyển mạnh mẽ Lúc này, loạn lạc khắp nơi nổ ra, các phe phái đánh giết nhau để tranh giành quyền lực Trong suốt hai thế kỷ XVII, XVIII chiến tranh Nam - Bắc, chống ngoại xâm, diệt Trịnh, Nguyễn, phong trào nông dân khởi nghĩa diễn ra liên miên Do đó, đạo lý, luân thường không còn trong khuôn thước Nỗi lòng người dân được thể hiện qua câu ca:
“Sông Gianh nước chảy đôi dòng
Đèn chong đôi ngọn biết trông ngọn nào?”
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Sự khủng hoảng này được bộc lộ trên nhiều
Trang 20phương diện nhưng nổi bật nhất là tính chất thối nát, suy thoái trong toàn bộ
cơ cấu của chế độ phong kiến.Nó còn được biểu hiện ở sức trỗi dậy mãnh liệt với một khí thế chưa từng có của phong trào nông dân Ðỉnh cao lúc này là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi, đánh đổ các tập đoàn phong kiến thống trị trong nước, đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh xâm lược, lập nên một vương triều phong kiến mới với nhiều chính sách tiến
bộ Nhưng vua Quang Trung chỉ lên ngôi trong một thời gian ngắn Sau khi Quang Trung mất, nhà Tây Sơn lại trở nên lục đục Nhân cơ hội ấy, Nguyễn Ánh trở lại tấn công nhà Tây Sơn, lập nên triều đại nhà Nguyễn Buổi đầu, để củng cố địa vị thống trị của mình, nhà Nguyễn đã thực hiện được một số chính sách tiến bộ nhưng càng về sau nhà Nguyễn càng đi vào con đường phản động Vì thế, các cuộc khởi nghĩa của nông dân vẫn liên tiếp xảy ra Tuy nhiên, khởi nghĩa nông dân trong hoàn cảnh của xã hội đương thời không thể
đi đến thắng lợi hoàn toàn và triệt để Nó mới chỉ là động lực thúc đẩy xã hội phát triển chứ chưa thể làm thay đổi chế độ xã hội
Tình hình chính trị bất ổn đã đẩy nhân dân vào tình cảnh khốn cùng, giai cấp thống trị ra sức củng cố quyền lực bằng đủ mọi thủ đoạn phi nhân tính, những người tài đều không có đất dấn thân.Tuy vậy, con người trong giai đoạn này, đặc biệt là giới trí thức không còn là những con người chỉ biết cúi đầu cam chịu trước sự áp bức của chế độ nữa Sự tiếp xúc ngày càng mở rộng với văn hóa phương Tây một mặt làm nứt vỡ đạo đức thánh hiền, khiến cuộc sống xã hội đảo lộn, nhưng mặt khác cũng tạo ra một sự khởi động về mặt ý thức Đã đến lúc người ta nhìn đời, nhìn người, nhìn số phận mình không còn như cũ Họ biết thẩm định lại những giá trị vật chất và tinh thần, rằng giá trị nào đem lại hạnh phúc cho con người, những gì gây đau khổ, chết chóc Điều đáng nói là họ nhận ra nhưng lại chưa thể tìm được một con đường nào để giải thoát cho bản thân và cộng đồng, sự bế tắc đó chính là bi
Trang 21kịch của giới trí thức thời kỳ này
Nhìn một cách tổng quát, giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam từ thế
kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX đã diễn ra nhiều bước chuyển mang ý nghĩa to lớn Đây là thời kì sụp đổ, tan rã toàn diện của kỷ cương, của lễ giáo phong kiến, của bộ máy quan liêu và nói chung là của toàn bộ cơ cấu xã hội.Đồng thời, đây cũng là thời kỳ bão táp của các phong trào nông dân khởi nghĩa.Phong trào đấu tranh rầm rộ của quần chúng liên tiếp nổ ra làm bùng dậy nhiều khát vọng, làm quật cường thêm tinh thần dân tộc, tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột, bảo vệ quyền sống của con người, cổ vũ cho sự vươn dậy của tài năng, của trí tuệ Chính tiền đề đó đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các trí thức gia với hàng loạt các tác phẩm mang ý nghĩa thời đại, đặc biệt nổi lên là những vấn đề về con người
1.1.3 Tiền đề văn hóa- tư tưởng
1.1.3.1 Sự ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo đến sự hình thành quan niệm triết học về con người trong thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
Lật lại những trang sử của dân tộc, chúng ta dễ dàng nhận thấy văn hóa Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ Trong đó, Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo với tất cả những gì ưu tú nhất của nó đã được nhân dân ta tiếp nhận và sáng tạo, trở thành một phần của bản sắc văn hóa Đại Việt Bởi vậy, tư tưởng triết học về con người trong văn học nói chung,trong
thơ ca nói riêng cũng mang đậm dấu ấn của tam giáo
Hiện diện trong nhiều thế kỷ như một mô hình tổ chức và quản lý xã hội mang tính chất chính thống, một phương thức hoạt động và pháttriểnvăn hóa đóng vai trò chủ đạo,Nho giáo từ lúc thâm nhập vào Việt Nam cho đến lúc bấy giờ có ảnh hưởng sâu sắc tới các tư tưởng chính trị, đạo đức và nhân sinh
Trang 22Ngay từ khi ra đời, nó đã có điểm khác căn bản với tư tưởng của các tôn giáo, đặc biệt là về vấn đề con người, quan tâm đến con người, đến cuộc đời và tìm thú vui trong cuộc sống
Nho giáo quan niệm“thiên nhân hợp nhất”và cho rằng con người là một
yếu tố của tam tài(thiên - địa - nhân) Con người đó thông với trời, hợp với trời, chứ không hợp với xã hội, ý thức xã hội kém phát triển.Về luân lý, đạo hiếu, luân thường được đặc biệt coi trọng.Giáo lý của Nho giáo có nhiều phương châm xử thế giúp con người giữ được tâm hồn cao thượng, nhân cách trong sáng.Nho giáo rất chú trọng dạy đạo làm người, hướng vào rèn luyện đạo đức, đề cao giáo dục và cải tạo con người.Song, đạo ở đây là cái đạo của
xã hội phong kiến, là hệ tư tưởng phục vụ quyền lợi của giai cấp phong kiến
Mô hình xã hội là mô hình gia đình Quan đối với dân là cha mẹ, còn vua là con trời Các quan hệ xã hội được coi trọng, bản thân mỗi cá nhân nói chung chưa được phát triển.Con người Nho giáochỉ coi trọng lý tính siêu nghiệm mà coi nhẹ tri thức, trọng trực giác mà coi nhẹ lý trí Họ thích tự do ý chí, một thứtự do nội tại, vứt bỏ nhu cầu ngoại tại càng nhiều thì lượng tự do nội tại càng lớn Vì không có ý niệm tự do ngoại tại như tự do ngôn luận, xuất bản, biểu tình, tín ngưỡng;.v.v cho nên con người này không có khái niệm về quyền lợi, về đấu tranh, chỉ thích nghĩa vụ, thích nhường nhịn, thích tỏ ra thanh cao.Nho giáo đặt rõ vấn đề người quân tử, tức là người lãnh đạo chính trị phải có đạo đức cao cả Trong thực tế, nguyên tắc đó là điểm tựa, là chỗ dựa cho những sĩ phu đấu tranh Điều đó đã tạo ra cho kẻ sĩ một tinh thần trách nhiệm cao cả với xã hội, là yếu tố tạo nên truyền thống khí tiết của kẻ sĩ
Từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX, Nho giáo vẫn được nhà nước phong kiến bảo vệ, duy trì để làm nền tảng cho các tổ chức chính trị, kinh tế của chính quyền, làm kỷ cương củaxã hội Tuy vậy, Nho giáo thời kỳ này đã bước vào suy đốn dần, không còn được độc tôn như trước Điều đó được biểu hiện ở lĩnh
Trang 23vực giáo dục, thi cử Các chính quyền phong kiến vẫn duy trì và mở rộng giáo dục, thi cử làm phương tiện đào tạo quan lại, đáp ứng nhu cầu tổ chức bộ máy ngày một đông đảo, nhưng không còn được nghiêm túc như trước Những nguyên tắc đạo đức và lễ giáo phong kiến chỉ còn là hình thức
Sống trong thời đại Nho giáo bị sụp đổ như vậy, một tầng lớp nhà Nho chân chính bị khủng hoảng về mặt lý tưởng Họ không tìm ra con đường đi và hoang mang trước thời cuộc Họ mất hết niềm tin vào chính quyền, vào minh chúa Số đông đã lui về ở ẩn để giữ gìn khí tiết, nhân cách của mình Trong hoàn cảnh đó, một khuynh hướng tư tưởng mới đã xuất hiện Đó là những tư tưởng bảo vệ, khẳng định quyền sống và giá trị, phẩm chất của con người.Khuynh hướng này lên án, tố cáo hiện thực cuộc sống đương thời đã chà đạp con người, đấu tranh đòi cuộc sống cơm áo, giải phóng tình cảm, bản năng Nócòn ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người, đồng tình, xót thương, thông cảm với các nạn nhân của xã hội
Tóm lại, Nho giáo đã đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hoá tinh thần.Trước hết, nó làm cho nền giáo dục phát triển hết sức mạnh
mẽ Nền giáo dục ấy cùng với chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ trí thức đông đảo cho dân tộc Việt Nam như: Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du;.v.v Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, Nho giáo cũng đem lại không ít tác động tiêu cực.Nó đã không giải đáp được vấn đề số phận và yêu cầu giải phóng con người, làm cho chủ nghĩa giáo điều và bệnh khuôn sáo phát triển mạnh trong lĩnh vực tư tưởng và trong giáo dục khoa học Cho đến nay,trong một chừng mực nhất định, những tư tưởng Nho giáo vẫn là nhân tố kìm hãm
sự phát triển con người, nhất là tại các vùng nông thôn Việt Nam.Không thể phủ nhận được rằng, Nho giáo đã tham gia một phần đáng kểvào sự hình thành văn hoá dân tộc, tạo nên diện mạo tinh thần dân tộc
Đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ rất lâu và tồn tại, phát triển cùng với
Trang 24dân tộc ta cho đến tận hôm nay Trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội,đặc biệt là xét trên khía cạnh tư tưởng, Đạo Phật đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần hình thành một hệ thống quan niệm nhân sinh cho con người Các nhà tư tưởng Việt Nam đã tiếp cận vấn đề nhân sinh quan từ giác độ suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý Phật giáo là ngôn ngữ để biểu đạt niềm ước vọng được cứu khổ cứu nạn Đối với tầng lớp quý tộc, đó là con đường để đạt tới sự thanh thản cho tâm hồn trước mọi biến động đột ngột
Người Việt Nam tiếp xúc Nho, Phật, Lão từ đầu Công nguyên, nhưng Nho giáo là công cụ thống trị của ngoại bang Đồng thời, từ đời Hán, Nho gia kết hợp vớiPháp gia nên khá tàn bạo Phật giáo, ngược lại, là công cụ chống lại sát sinh, bạo tàn, đề xướng từ bi hỉ xả, cứu khổ cứu nạn, vạch rõ quy luật
“ác giả ác báo”, đòi hỏi chăm lo thiện căn Đó là con đường giải thoát cho
những người đang bị chìm đắm trong đau khổ
Phật giáo coi cuộc đời là bể khổ Con người vì vô minh nên cứ chấp trước về cái “ngã”, tham muốn nên tạo ra duyên nghiệp, không thoát khỏi vòng luẩn quẩn luân hồi.“Ngã” là sinh mệnh, dựa vào thực thể sinh vật, biểu hiện thành đời sống sinh vật (thân).Có thân thì có dục, vô cầu, vô dục là con đường đạt đến vô ngã, cũng tức là vô khổ Coi vạn pháp đều không thì thế giới trở nên trong suốt, thanh tĩnh, không có khác biệt giữa tâm, vật, đạt tới chỗ cao siêu của tồn tại Đó cũng là con đường tiêu diệt cái tôi vật chất để được giải phóng cái tôi tinh thần, là giải quyết vấn đề của bản thân bằng con đường hướng nội, tự cải tạo thế giới ý thức của chính mình để sống với một thế giới chủ quan mới khác về chất so với cái chủ quan tự nhiên.Phật giáo đề xướng chủ trương giải thoát khỏi vô minh, thoát khỏi duyên nghiệp để được đến cõi Niết Bàn Để đạt được mục đích giải thoát, con người cần phải trải qua một quá trình tu hành lâu dài, vừa hướng nội tu tâm dưỡng tính, vừa hướng ngoại bố thí cầu thiện nghiệp Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật giáo là giáo lý từ bi Tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh đã ảnh hưởng và thấm
Trang 25nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt Nam
Ngoài đạo lý từ bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo lý khác của Phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trường, ân quốc gia và
ân chúng sanh Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với bước phát triển tâm lý tình cảm của dân tộc Việt Nam Tình thương ở mọi người bắt đầu từ thân đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đến các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào, quê hương đất nước và mở rộng đến cuộc sống của nhân loại trên vũ trụ này Đặc biệt trong đạo lý tứ ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người Việt.Nhìn chung, đạo lý hiếu ân có cùng một đối tượng thực hiện là nhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân, chúng sanh, vũ trụ Đó là môi trường sống của chúng sanh gồm cả mặt tâm linh
Phật giáo quan niệm cuộc đời là vô thường kể cả cái tâm của con người
Vì thế, theo thời gian cùng với những biến động của lịch sử, con người biểu hiện trong thơ ca cũng có những thay đổi Đó là sự vận động và phát triển từ
vẻ đẹp của con người hành động sang con người tư tưởng, từ con người cộng đồng sang con người tự ý thức về thân phận cá nhân của mình và những người xung quanh Tuy nhiên, dù vẻ đẹp của con người trong tiến trình thơ ca
có những thay đổi, song trên cái nhìn tổng quan, đó chỉ là những biểu hiện khác nhau của một nhân cách cố định - nhân cách con người Việt Nam
Những cơ sở tư tưởng triết học trên đã giúp cho Phật giáo hình thành được một bản sắc đặc thù riêng biệt tại Việt Nam, góp phần làm phong phú và
đa dạng nền văn hóa tinh thần của dân tộc
Suốt ngàn năm Bắc thuộc, đất nước ta không thể không tránh khỏi ảnh hưởng của Đạo giáo Đạo giáo ở Việt Nam không có tính hệ thống thuần nhất với giới tăng lữ, đạo sĩ, đạo trưởng chuyên luyện đan, làm bùa chú và những danh gia nghiên cứu học thuật thánh điển như ở Trung Quốc Tuy vậy, nó vẫn
Trang 26luôn sinh động trong sự thờ phụng của dân gian
Đạo giáo không coi đời là bể khổ mà cũng không coi con người là ngu xuẩn Họ quan niệm có một thế giới tốt đẹp hơn thế giới trước mắt Và trong con người tiềm ẩn khả năng tìm đến được thế giới đó ngay trong hiện thế, không thoát li cuộc đời mà cũng không phải chờ đến sau khi chết Hướng tu luyện của Đạo giáo là rèn luyện, phát huy những khả năng đó của con người
để đến tiên cảnh Cách tu dưỡng là tập trung “tinh”, “khí”, “thần” làm cho
nó không hư hao mà tăng trưởng, tạo thành sức mạnh có thể sai khiến được thần linh, có thể làm cho xương thịt không già, sống hàng trăm tuổi vẫn như trẻ thơ Ưu thế của Đạo giáo là hiểu biết con người tự nhiên, thân thể và những khả năng vật chất và tinh thần của nó dựa vào sự tích lũy của y học
và võ thuật
Trong triết học Lão - Trang, với các quan niệm “tề vạn vật”, “đẳng thị
phi”, “vật ngã đồng nhất”, Trang Tử kịch liệt phản đối xem con người là
trung tâm của vũ trụ Ông cho rằng con người là một giới hạn trong không
gian, thời gian, chỉ có quên tôi, quên vật (vong ngã, vong kỷ, vong vật), đạt tới cõi “vật ngã lưỡng vong”, “vô kim cổ” thì con người mới có thể hòa đồng với
vũ trụ, sống một cuộc đời vô tận, vô cùng Điều này không có nghĩa là phủ định con người mà lại là một sự khẳng định Trang Tử khẳng định con người
tự nhiên, tự do, thoát khỏi luân lý và chính trị kiểu Nho giáo đầy trói buộc và nặng về công danh Theo ông, vô ngã là không chấp cái “Ta” và cái “Của ta”, tức không còn phân biệt cái này, cái kia thuộc về ta; không còn lo lợi ích cho riêng mình, khư khư bám víu vào lòng ham muốn của mình Vị tha là vì chúng sinh, vì mọi người Một phần biểu hiện cụ thể là những con người vừa
có tấm lòng khoan dung độ lượng; vừa yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước; đem hết năng lực, trí tuệ của mình để phục vụ nhân dân, đất nước Những tư tưởng này của Đạo giáo đã được con người Việt Nam tiếp
Trang 27nhận một cách sâu sắc và sáng tạo.Cuộc đời của một nho sĩ thường chia làm
ba giai đoạn: hành nho, hiển nho, ẩn nho Ngoài thời kỳ làm quan lập danh còn lại họ lui về ẩn dật, lấy thú vui là cầm kỳ thi tửu Triết lý sống của họ là
an bần lạc đạo, vui thỏa trong cảnh tiêu dao, thanh nhàn, rời xa công danh phú quý.Đó là những con người tự chọn thú vui nhàn tản, không ưa hành động, không màng danh lợi Nhưng cũng có những nhà trí thức buộc phải lựa chọn con đường ẩn dật vì bất mãn và bất lực Khi không thể thích ứng với cục diện
xã hội, họ phản ứng lại với trật tự xã hội ấy bằng những hành vi khác nhau: hoặc tự đặt mình ra khỏi vòng xã hội ấy hoặc sống như những “ẩn quân tử”.Họ đã tìm thấy ở học thuyết Lão Trang niềm an ủi cho tâm trạng bất đắc chí trước thời cuộc của mình Không hành thì tàng, họ rời bỏ chính trường và thế tục để giữ thân cao quý, di dưỡng tính tình, giữ trọn khí tiết chốn lâm tuyền điền viên Tư tưởng phủ nhận danh lợi và lối sống ẩn dật thanh nhàn, gần gũi với thiên nhiên đã trở thành nguồn cảm hứng ngợi ca trong thơ của các nhà trí thức sau khi lui triều
Trên phương diện triết học, tư tưởng Lão Trang đã tạo cảm hứng tiêu dao cho giới trí thức Việt Nam.Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm là những nhà nho tiêu biểu cho tầng lớp trí thức lựa chọn con đường ẩn dật sau những
năm tháng tận tâm cống hiến tài lực cho triều đình phong kiến “Quốc âm thi
tập” và “Bạch Vân quốc ngữ thi” đã bày tỏ tư tưởng tự do, khát vọng nhàn tản
và lối sống thanh sạch, rũ bỏ công danh phú quý trong văn học Việt Nam.Họ vẫn luôn mong ước được sống thong thả tiêu dao, kết bạn với thiên nhiên, xem đó là hạnh phúc để nghỉ ngơi thân xác, thanh thản tâm hồn.Phùng Khắc Khoan cũng từng là nho sĩ quan liêu nhưng rồi cũng lựa chọn con đường ẩn dật giữa thời cuộc hỗn loạn Trong những ngày ẩn chí đợi thời, những khi bị biếm trích, ông đã say sưa với thú lâm tuyền trong tâm trạng của một ẩn sĩ Đặc biệt, phải kể tới cái tôi phóng túng, ngất ngưởng trên thi đàn văn học
Trang 28trung đại Việt Nam: Nguyễn Công Trứ Ông là nhà thơ lớn, hiện thân của con người tự do trong cõi tục, có được phong thái tiêu dao nội tại của kẻđứng trên tình thế, đứng ngoài trần ai, không vướng tục Ông nhàn ngay cả khi đang làm quan, ung dung tự tại ngay cả khi bị biếm trích Cái ngông của Nguyễn Công Trứ kế tục cái ngông của Trang Tử
Tiếp nhận học thuyết Lão Trang ở những khía cạnh tích cực nhất của nó, các tác gia Việt Nam tiêu biểu trong thời kỳ trung đại nói chung đã tạo ra một truyền thống hưởng nhàn với cuộc sống thanh bạch nơi làng quê Đồng thời, đối với nền văn học dân tộc, họ đã tạo ra một không gian thanh thoát trong một xã hội kỷ cương chặt chẽ, xô bồ và nhiều ngang trái
Ở Việt Nam từ thế kỷ XVI, do nhiều nguyên nhân kinh tế, chính trị tác động mạnh vào xã hội, sự tự ý thức về cá nhân lớn dần lên, đòi quyền sống và quyền tựthể hiện mình Điều đó làm cơ sở cho hệ tư tưởng Việt Nam phát triển lên một bước mới Biểu hiện cụ thể đó là sự phê phán gắt gao những thói xấu xa, sự xa hoa, phung phí tiền của, mồ hôi của nhân dân hoặc phê phán thẳng thừng, lên án quyết liệt từ vua quan, không trừ thần thánh, bộc lộ hết nỗi khổ của nhân dân Đặc biệt, từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, tình hình chính trị xã hội có nhiều biến động, kéo theo là sự đòi hỏi gắt gao, bức thiết về quyền sống thì con người “vô ngã” dần chuyển sang con người “hữu ngã”, là con người xương thịt trong cuộc đời
Nói chung, triết học con người phải giải quyết ba vấn đề lớn: người đối với vật, người đối với người khác và người đối với bản thân Nho giáo chủ yếu quan tâm quan hệ giữa người với người khác, do đó cái tôi của nó thể hiện trong quan hệ đó Phật giáo nghiên cứu thái độ con người đối với chính mình, còn Đạo giáo đứng giữa hai vấn đề thứ hai và thứ ba Tính chất bổ sung này có thể được giải thích khác hơn một chút: Đạo Nho nói tới đạo đức, chính trị, nghĩa vụ Đạo Lão - Trang chỉ đề cao tính chất tự do, tự tại của con người
Trang 29Đạo Phật chỉ chú ý con đường giải thoát khỏi vòng luân hồi khổ ải Do vậy, khi gặp thời thì dựa vào Nho, khi thất thế thì theo Đạo, lúc cùng quẫn thì theo Phật Và trong mỗi quan hệ bộc lộ một khía cạnh củacon người
1.1.3.2.Ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Tín ngưỡng có thể hiểu là niềm tin, sự ngưỡng mộ đối với một đối tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống sinh hoạt của con người.Như vậy, tín ngưỡng là một sản phẩm văn hoá do con người quan hệ với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mà hình thành;là niềm tin về những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người chỉ cảm nhận
được mà khó có thể nhận thức được
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam chủ yếu dựa trên lòng biết ơn và ngưỡng
mộ của các thế hệ sau đối với tiền thần, tiền nhân Mỗi loại tín ngưỡng này đều có nguồn gốc sâu xa từ quan hệ giữa con người với các đối tượng siêu nhiên Chẳng hạn, tại sao con người lại sùng bái tự nhiên? Là bởi trong sinh hoạt và lao động, hằng ngày hằng giờ tự nhiên gắn bó mật thiết và chi phối sự thành bại, tốt xấu, hay dở trong hoạt động của con người Nó làm nảy sinh sự
sợ hãi hay e ngại, tâm lí ngưỡng mộ hay sùng bái, cũng từ đó con người nhìn nhận tự nhiên như những đấng thần thánh linh thiêng Tự nhiên thành biểu tượng trong tín ngưỡng thờ cúng, trong văn hóa mỗi dân tộc, trong văn học và nghệ thuật nhiều thời đại Đó cũng là con đường chung để các tín ngưỡng thẩm thấu vào văn hóa hay sinh hoạt cộng đồng nhiều dân tộc trên thế giới mà không phải chỉ ở Việt Nam
Sự thể hiện tín ngưỡng đó trong đời sống sinh hoạt văn học dân gian có mối liên quan với nhau và được thể hiện ra ở nhiều khía cạnh mang tính quan niệm khá rõ.Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam có sự trọng mẫu,
đề cao, suy tôn nữ tính và người mẹ Tín ngưỡng đó bắt nguồn từ chế độ nguyên thuỷ với những thị tộc mà người đứng đầu là phụ nữ, người chia thức
Trang 30ăn, người sinh sản và nuôi lớn cộng đồng trong cả nghĩa đen và nghĩa bóng cũng đều là nữ Từ tín ngưỡng đó, các thần trên trời được sáng tạo dưới ánh sáng của trí tưởng tượng và niềm tin ngây thơ vào siêu nhiên bất diệt cũng phần lớn là nữ Từ đó mà hình thành hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu, người Việt Nam gọi các nữ thần tự nhiên là Mẫu - mẹ với niềm tôn kính và tin tưởng rằng các Mẫu sẽ che chở cho những đứa con mình khỏi mọi tai hoạ do thiên nhiên gây ra Hệ thống tín ngưỡng thờ nữ thần vì vậy càng ngày càng trở nên phong phú
Tín ngưỡng chính là cơ sở, là khí trời, hơi thở của văn học nói chung Phải có tín ngưỡng với những lễhội đã làm sống lại, thể hiện rõ những điều truyền tụng trong văn học, ngược lại, văn học chính là nơi lưu giữ lâu dài, làm cho tín ngưỡng được lí giải.Mối quan hệ đó giữa tín ngưỡng và thơ ca song song tồn tại, xoắn bện chặt chẽ, thẩm thấu qua nhau trong sinh hoạt cộng đồng người Việt Nam như một chỉnh thể không thể tách rời
Trong thời đại xây dựng quốc gia Đại Việt, sự suy sụp của nhà nước trung ương tập quyền, đất nước bị chia cắt, chiến tranh phong kiến, thiên tai;.v.v đã ảnh hưởng lớn đến tâm linh của người dân ở các xóm làng Người
ta không chỉ đến chùa cầu Phật, vào nhà thờ xin Chúa mà còn phát triển các tục lệ tín ngưỡng cổ truyền Sự xuất hiện của con người sử thi trong thơ tiếp nối những con người thần thoại và thần linh đã trở thành những khuôn mẫu của hình tượng người yêu nước có sức vang dội lâu dài.Những con người này không chỉ mang đầy chiến công mà còn mang lương tâm của dân tộc Họ biết hận, biết thẹn, biết day dứt khi nghĩa vụ chưa thành Đây là tư tưởng, là ý thức dân tộc con người Việt Nam Bên cạnh sự thỏa mãn một nhu cầu của tâm linh, bên cạnh một số yếu tố tích cực ít nhiều có ý nghĩa cộng đồng, sự phát triển của tín ngưỡng dân gian cổ truyền đã thể hiện sự khủng hoảng tinh thần của nhân dân Đại Việt đương thời Sự khủng hoảng này tăng lên ở những thập
Trang 31niên của chiến tranh nông dân vào nửa cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX Tóm lại, từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX, đời sống văn hoá, tư tưởng
ở nước ta có nhiều chuyển biến Nho giáo tuy vẫn giữ vị trí thống trị trong xã hội nhưng không còn độc tôn, Phật giáo và Đạo giáo có phần được phục hồi Chữ Quốc ngữ xuất hiện, các tín ngưỡng dân gian, văn hoá, văn học, nghệ thuật dân gian phát triển mạnh Trên cơ sở đó, các quan niệm về con người ở Việt Nam là sự kết tinh của những truyền thống đạo đức dân tộc cùng với những nhân tố ngoại lai phù hợp với thuần phong mỹ tục của nhân dân Và đây trở thành nền tảng, chuẩn mực để giáo dục con cái ở gia đình, cũng như giáo dục cho thanh niên trong xã hội
1.2 Đặc điểm thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
1.2.1 Một số quan niệm về “thơ” và “thơ ca”
Thơ là một dạng thức cổ được lưu truyền xuyên qua nhiều thời đại và tác động lâu dài lên thời gian Mặc dù đã có từ lâu đời, đã trải qua nhiều thăng trầm và thay đổi từng bước theo đà tiến hóa của nhân loại nhưng con người
vẫn chưa tìm được một định nghĩa cụ thể cho “thơ” Tùy vào những cách tiếp
cận khác nhau mà đã có nhiều quan niệm khác nhau về thơ
1.2.1.1 Thơ theo quan niệm phương Tây
Ở phương Tây, các quan niệm về thơ thường nghiêng về lý trí nhiều hơn.Từ thế kỉ XVII, Boileau - nhà thơ, nhà phê bình văn học Pháp -đã nói đến
cái “chí” mà theo ông, đó là “thiên hướng” dưới sự hướng dẫn của “lý
trí”: “Nhà thơ trước hết phải thiên hướng thơ ca, cần được lý trí hướng dẫn thơ phải sáng sủa, rõ ràng, nghiêm ngặt tuân theo các quy tắc nhịp, vần, quãng ngắt, nghỉ, bố cục”[27, tr.192] Ông nhấn mạnh yếu tố lý trí trong
thơ:“Lý trí tạo nên cái đẹp và giá trị tác phẩm” [27, tr.193]
Trong thơ ca lãng mạn Pháp thế kỷ XIX, Lamartine dù có nhấn mạnh
yếu tố “lời ca” nhưng cũng là lời ca của lý trí, của triết học, tôn giáo, chính
Trang 32trị: “Thơ ca sẽ là lý trí biến thành lời ca, đó là định mệnh lâu dài của
nó.Nó phải có tính triết học, tôn giáo, chính trị, xã hội như những thời đại
mà nhân loại sắp trải qua” [27, tr.102].Đồng thời, ông còn bổ sung thêm
cái phần tâm hồn, mà theo ông là yếu tố quyết định của thơ: “Thơ ca phải
thầm kín, có cá tính, suy tư và nghiêm trang” [27, tr.103], “là sự hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên” [27, tr.7 - 8]
Stephan Malácmê thì quan niệm thơ có vẻ lý tính hơn và triết học hơn:
thơ là “một sự tái tạo lý tính của vũ trụ là sự biểu hiện ý nghĩa bí ẩn của
sinh tồn, nhờ ngôn ngữ của con người được cô đọng vào tiết tấu thiết yếu của nó” [27, tr 327]
Vigny thì cho rằng: “mọi thơ ca đều khẳng định một chân lý, còn mọi
xã hội đều dựa trên việc thừa nhận một điều giả dối: xung đột nhất thiết phải xảy ra giữa việc sáng tạo thơ ca và sự tồn tại của xã hội Chỉ có một cách giải quyết, nhà thơ phải bảo vệ lấy tư tưởng của mình chống lại đám đông” [27, tr.109]
1.2.1.2 Thơ theo quan niệm phương Đông
Thời trung đại, ở phương Đông thường có quan niệm: văn dĩ tải đạo,thi
dĩ ngôn chí Tức là văn chở đạo, thơ nói chí, nhưng thực ra, chí ở đây cũng
không đơn thuần là chí hướng của con người mà chứa đựng nhiều nội hàm khác nhau Có thể đó là chí lập thân của người quân tử, cũng có thể chứa đựng ở đó lòng yêu nước, thương dân;.v.v thậm chí có những giai đoạn các nhà Nho còn xem chí chính là việc “xuất thế” để giữ lòng mình trong sạch, không a dua theo triều đình làm phương hại đến nhân dân và phẩm chất kẻ sĩ của mình Đây là quan niệm của Nho học đời Tống với nghĩa văn chương
phải chuyên chở đạo lý, mà đạo ởđây làđạo của Thánh hiền Do vậy, vănchở
Trang 33đạo ở đây là chuyên chở cái đạo yêu nước thương dân
1.2.1.3 Thơ theo quan niệm truyền thống trong văn học Việt Nam thờikỳtrung đại
Ở Việt Nam, thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra Các nhà thơ cũng đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau:
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói: “Ôi, nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới
vậy, mà thơ lại là để nói chí Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sựnhàn dật” [43, tr.36]
Phùng Khắc Khoan đã cắt nghĩa cái chí rất rõ để tìm ra nguồn cội của
thơ:“Cái gọi là thơ thì không phải láu lưỡi trong tiếng sáo, chơi chữ dưới
ngòi bút thôi đâu, mà là để ngâm vịnh tính tình, cảm động mà phát ra chí nữa Thế cho nên nếu chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí
mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thích vẻ thơ thanh cao, chí ở nỗi uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở niềm cảm thương thì làm
ra điệu thơ ai oán” [43, tr.41]
Nguyễn Cư Trinh lại cụ thể hóa quan niệm thơ cả về nội dung và hình
thức Về nội dung đó là “cái gốc trung hậu” , về hình thức là “phải giản
dị”: “Để trong lòng là chí, ngụ ra ý là thơ… Người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc, ý nghĩa phải hàm súc, lời thơ phải giản dị” [43, tr.49]
Ngô Thì Nhậm thì khẳng định về bản chất của thơ: “Thơ mà quá cầu kỳ
thì sa vào giả dối, quá trau chuốt thì sa vào xảo trá, hoang lương hiu hắt thì phần nhiều sa vào buồn bã Chỉ có thuần hậu, giản dị, thẳng thắng, không giả dối, không xảo trá, không buồn bã mà rốt cuộc chú trọng đến sự ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay, mới là những đặc sắc chính của thơ” [43, tr.77]
Phan Huy Ích cũng quan niệm: “Thơ để nói chí hướng” nhưng phải là của “bậc quân tử” làm ra để lưu lại được thành “kho báu” cho đời sau: “Bậc
Trang 34sĩ quân tử lúc nhàn rỗi miêu tả tâm tình, ghi lại hành trạng, thường thường biểu hiện ra thiên chương truyền lại cho người sau, dùng làm niên phả để lại lâu dài Đó thực là kho báu trong nhà đâu chỉ để phô bày ý tứ văn vẻ, phẩm bình phong vật mà thôi” [43, tr.7]
Lê Hữu Trác chú tâm về ý thơ hơn là chú trọng lời: “Thơ cốt ở ý, ý có
sâu xa thơ mới hay Không phải bất cứ điều gì cũng phải nói ra bằng thơ Như thế mới là thơ có giá trị” [43, tr.36]
Lê Quý Đôn phát biểu về thơ một cách vừa khái quát lại vừa rất cụ
thể: “làm thơ có ba điểm chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự Trong lòng
có cảm xúc thực sự, rung cảm nên lời Thực tế bên ngoài gây thành ý, rồi dùng điển tích để nói việc ngày nay, chép việc xưa hay thuật chuyện hiện tại, đều tự nhiên có tinh thần (…) Trong ba điều ấy, lại lấy ôn nhu, đôn hậu làm gốc, còn như thể loại, âm tiết, cách điệu, đều là bàn thêm thôi Tình là người, cảnh là tự nhiên, sự là hợp nhất cả trời và đất Lấy tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì nói ra lời, thành tiếng Như vậy, cảnh không hẹn đến mà
tự đến, nói không mong hay mà tự hay, cứ như thế có thể trở thành người làm được thơ tao nhã” [43, tr 99]
Nguyễn Văn Siêu thì phân biệt thơ thành hai loại: “Có loại đáng thờ Có
loại không đáng thờ Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người” [43, tr 135]
Tóm lại, dù ở phương Đông hay phương Tây thì quan niệm về thơ đều chưa được thống nhất thật sự, vẫn chưa có một định nghĩa nhất quán về thơ.Khái quát lại có thể hiểu: Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữlàm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức logic nhất định, tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹcho người đọc, người nghe
Thơ, thơca hay thica,là một khái niệm chỉ các loại sáng tác
Trang 35vănhọc có vần điệu, có đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều ý cô đọng Một bài văn cũng có thể là một bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó súc tích và gây cảm xúc cho người đọc một cách nhanh chóng Bên cạnh đó, một bài thơ thường còn mang tính vần giữa câu nọ với câu kia và tổ hợp của các câu gây
ra âm hưởng nhạc tính trong bài Thơ thường dùng như một hình thức biểu tả cảm xúc trữ tình, hoặc tình cảm xúc động trước một hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, như khi người ta đứng trước một phong cảnh ngoạn mục, hoặc đứng trước một thảm cảnh Sự tương tác giữa tình cảm con người và hoàn cảnh tạo nên những cảm nghĩ mà người ta muốn bày tỏ với một phong độ chắt lọc, tinh khiết, không rườm rà, song có mức thông tin cao, đột phát, nhưng cô đọng và khúc chiết Muốn làm được như vậy, người làm thơ phải có một con mắt quan sát chi tiết, tổng quát hóa, và nhanh chóng liên tưởng giữa những hình ảnh quan sát được với những gì vốn có trước đây
1.2.2 Sự phát triển của thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế
kỷ XIX
Thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong lòng xã hội và văn hoá phong kiến Về mặt lịch sử, đây là giai đoạn nhà nước phong kiến Việt Nam phát triển đến mức toàn thịnh và bắt đầu suy thoái từ thế kỷ XVI cho đến khủng hoảng trầm trọng vào thế kỷ XVIII Song giai đoạn này là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của văn học trung đại Việt Nam Thơ văn có thay đổi lớn: Thành phần văn học Nôm đã xuất hiện lẻ
tẻ trong đời Trần nay đã tạo thành tác phẩm, tác giả Số lượng các sáng tác thơ bằng chữ Nôm tăng lên đáng kể theo thể Đường luật Hình thức lục bát và song thất lục bát xuất hiện ở thế kỷ XVI đã phát triển thành thể loại diễn ca phồn thịnh vào thế kỷ XVII, tạo đà cho sự ra đời thể ngâm và truyện Nôm ở những thế kỷ sau
Lực lượng sáng tác thời kì này đại đa số là những trí thức Nho sĩ.Nội
Trang 36dung thơ ca biểu hiện cảm hứng nhân đạo Đó là tiếng nói cảm thương với số phận con người, đặc biệt là số phận của người phụ nữ; là tiếng nói ngợi ca trân trọng họ, đồng thời cũng lên án xã hội phong kiến, đấu tranh đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người
Đối với thơ ca giai đoạn thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XIX, đặc trưng cơ bản
có tính lịch sử của nó là khám phá ra con người, khẳng định những giá trị chân chính của con người Nội dung đó đã được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm, đặc biệt là ở trong các tác phẩm thơ nửa sau thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX.Có thể nói, chỉ đến giai đoạn này, vấn đề con người mới được đưa lên hàng đầu và sự khám phá ra con người mới xuất hiện như một tất yếu lịch
sử Điều đó tạo ra một bước ngoặt lớn cho lịch sử tư tưởng dân tộc Đó là sự
ra đời của một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa Thơ ca giai đoạn này là tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc, đấu tranh để giải phóng con người Các tác phẩm tiêu biểu: Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Thơ Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều (Nguyễn Du);.v.v Mặt khác, thơ ca giai đoạn này bước đầu đã phản ánh được quan niệm về con người trong xã hội Nhiều nhân vật nữ đã thể hiện sự phản kháng, sự tố cáo xã hội cũ, nêu lên nhiều suy nghĩ và quan điểm chống đối lại tư tưởng của
xã hội phong kiến, tiêu biểu hơn cả là thơ Hồ Xuân Hương Nét đặc trưng về quan niệm con người trong thơ ca giai đoạn này là nhu cầu tự nhiên của con người được khẳng định
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, thơ ca phát triển rực rỡvới sự chín muồi, điêu luyện của thơ Nôm trong các thể loại thơ Đường luật, ngâm khúc, truyện Nôm, hát nói Thơ chữ Hán cũng đạt được đỉnh cao Số lượng sáng tác rất lớn Số nhà thơ tiêu biểu của thời đại cũng nhiều: Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ;.v.v Các thể thơ chữ Hán được sử dụng rất đa dạng: thất luật, tuyệt cú, ngũ
Trang 37ngôn;.v.v
* Tiểu kết
Nghiên cứu tư tưởng triết học về con người không giống với việc tìm hiểu quan niệm con người trong văn học Mỗi khoa học tiếp cận vấn đề con người theo một phương pháp riêng, phù hợp với đối tượng đặc điểm của mình Giai đoạn này, xã hội phong kiến mục ruỗng, nội bộ phân tranh, nông dân khởi nghĩa khắp nơi, đạo đức băng hoại, không còn đủ sức kiềm tỏa con người Mặt khác, đô thị phát triển gắn với các trung tâm chính trị và đời sống kinh tế nông nghiệp, thì cũng tạo một môi trường cho ý thức thị dân phát triển, làm nảy sinh tư tưởng muốn giải phóng của con người Chính tiền đề đó
đã tạo điều kiện cho sự ra đời các tư tưởng triết học về con người
Trang 38Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
VỀ CON NGƯỜI TRONG THƠ CA VIỆT NAMTỪ THẾ KỶ XVI
ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XIX 2.1 Tư tưởng về sự sinh thành và bản tính con người
Các quan niệm về con người giai đoạn này chịu nhiều ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo Mặc dù tiếp thu truyền thống tư tưởng phương Đông, nhưng tư tưởng thời kỳ này đã có những kiến giải mới mẻ, độc đáo, thể hiện trí tuệ củacáctrí thức gia
2.1.1 Về sự sinh thành con người
Thời kỳ này đã cótriết lý khá sâu sắc về con người Một số tác giảdựa trên những tư tưởng triết học của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và cho rằng con người là trung tâm của vũ trụ, được lòng người là cơ sở của sự hoà hợp và phát triển, là điều kiện để có được sự cân bằng cả trong xã hội và tự nhiên Họ
luôn tin vào sự chi phối của“trời” đối với cuộc sống con người, kể cả sự
hưng thịnh hay suy vong của một thời đại Dưới góc độ triết lý Phật giáo, cótư tưởng cho rằng con người là sự tồn tại theo duyên cảnh, là tất nhiên, mang tính tiền định và phải hứng chịu mọi kiếp nạn đã bị quy định từ kiếp trước.Trong những lời ca, câu hát được nhân dân truyền miệngđãthể hiện rõ tinh thần của thuyết luân hồi, duyên nghiệp:
“Ai ơi ăn ở cho lành,
Tu nhân tích đức để dành kiếp sau”
Hay:
“Đời cha tích đức làm giàu,
Đời mẹ tích đức mai sau con nhờ”
Mỗi con người bước vào cuộc đời với một nghiệp riêng: là sung sướng,
là khổ đau, là bất hạnh;.v.v Và cho đến khi chết đi cũng không ai giống ai Đại thi hào Nguyễn Du từng viết:
Trang 39“Gặp phải lúc đi đường lỡ bước,
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau Mỗi người mỗi nghiệp khác nhau Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ” [20]
Bên cạnh những tư tưởng của đạo Phật,thời kỳ này còn có những tư
tưởng của Nho gia khi coi số phận con người là do “mệnh trời” quyết định.Từ quan điểm: “Trời và người cùng chung một lý” (“Lý” ở đây được hiểu như là
quy luật vận hành tự nhiên của trời đất và muôn vật), một số tác giả coi sự xuất hiện của con người là do trời sinh ra và chi phối Ví như Nguyễn Du viết:
“Ngẫm hay muôn sự tại trời Trời kia đã bắt nhầm người có thân Bắt phong trần phải phong trần Cho thanh cao được mới phần thanh cao” [20]
Theo thuyết “Thiên mệnh” của Nho giáo, người ta ở đời giàu, nghèo, sướng, khổ là do số phận định trước bởi “Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại
thiên” Con người bằng kinh nghiệm ở đời mà suy ra huyền bí của càn khôn
và từ ấy,cho rằng tài mệnh không hợp nhau: “Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét
nhau” Hay như Lý Thương Ẩn nói : “Cổ lai tài mệnh lưỡng tương phương”
Người ta không chịu tìm nguyên nhân trong xã hội mà lại theo khuynh hướng duy tâm thần bí để suy ra rằng, sở dĩ có điều bất bình là bởi đạo trời vốn ghét
cái trọn vẹn: “Tạo vật đố toàn, tạo hóa kị doanh” Cho nên, cái lẽ “bỉ sắc tư
phong” người ta gọi là luật thừa trừ trong kiếp người Không những Thúy
Kiều, Đạm Tiên mà cả Tây Thi, Điêu Thuyền, Chiêu quân;.v.v đều như vậy:
“Hồng nhan tự thưở xưa - Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu” Nguyễn Du
từng so sánh:
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” [20]
Trang 40Tư tưởng thời kỳ này cũng đã mang màu sắc duy tâm khi cho rằng cuộc
sống con người là phụ thuộc vào ý trời Về sự phát triển của xã hội và cuộc
đời con người Một số tác giả đã lý giải đạo người trên cơ sở đạo trời, không thừa nhận vai trò hoạt động của con người trong sự phát triển xã hội mà dường như con người vẫn phải nương nhờ vào số mệnh, trời định:
“Chữ rằng phú quý giai do mệnh, Gặp được bao nhiêu hay bấy nhiêu”[54]
Hầu hết các nhà tư tưởng Việt Nam thời kì này đều đã từng bước vào cửa Nho nên việc tiếp nhận có sáng tạo học thuyết Nho giáo là một điều tự nhiên Xét về bản thể luận, tư tưởng của Khổng Tửvề triết lý thiênmệnhđều nhằm mục đích giải thích các vấn đề xoay quanh con người Khổng Tử đã
từng nói: “Người quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ vương công đại
nhân, sợ lời nói của thánh nhân” Cái sợ đầu tiên khi con người sống trên cõi
đời là “mệnh trời” Mọi việc đều do ý trời Họa hay phúc, may hay rủi, vui
hay buồn, giàu hay nghèo;.v.v tất cả đều do thiên mệnh tiền định từ khicon người mới chào đời cho đến lúc rời bỏ cõi thế và không ai có thể thay đổi được nó dù là người tài giỏi hay kẻ tầm thường:
“Biết thân chạy chẳng khỏi trời, Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh”[20]
Mặc dù chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo nhưng khi nhìn nhận về
sự sinh, diệt theo lẽ tự nhiên của con người thì trong tư tưởng của số đông các nhà thơ thời kỳ này lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo Họthấm thía triết lý của đạo Phật, coi cuộc đời là vô thường và cho rằng, sự nhận thức về lẽ sinh diệt
của con người tất thảy đều từ cái “Tâm” tạo ra.Ngô Thì Nhậm từng cho rằng:
“người nào không có ý, không có xúc thì không thấy cái đó”, tức là không thể nhận thức được “Tâm” - cái tạo ra sự sinh, diệt trong con người Con người
dù có cố gắng đến nhường nào, nhưng nếu chưa giác ngộ được lẽ vô thường,