1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở việt nam hiện nay

121 315 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở có kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn, năng lực vận dụng đường lối, chủ trương, quan điểm đổi mới của Đảng vào việc xây dựng các chương trình, chính

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Thị Lan

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Thị Lan (Giảng viên khoa Triết học – Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân Văn, Đại học quốc gia Hà Nội) Cảm ơn cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cho em những góp

ý bổ ích để em hoàn thành luận văn của mình

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể các thầy cô giáo Khoa Triết học và các thầy cô tham gia giảng dạy lớp Cao học K20 đã tận tình truyền đạt kiến thức cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường

Do khả năng và trình độ của em còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô

và các bạn để em có thể hoàn thiện luận văn tốt nghiệp của mình

Hà Nội, ngày 9 tháng 10 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Hằng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là do tôi nghiên cứu Các số liệu, thông tin nêu trong luận văn là trung thực

Học viên

Nguyễn Thị Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

8 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9

1.1 Khái niệm tư duy, tư duy lý luận 9

1.1.1 Tư duy 9

1.1.2 Tư duy lý luận 14

1.2 Tư duy lý luận đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 20

1.2.1 Cán bộ lãnh đạo và cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 20

1.2.2 Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 24

1.3 Các nhân tố tác động đến phát triển tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 39

CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 56

2.1 Thực trạng phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 56

2.1.1 Những thành tựu về phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở Việt Nam hiện nay 56

Trang 6

2.1.2 Những hạn chế trong công tác phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán

bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân 65

2.2 Những yêu cầu và phương hướng cơ bản nhằm phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 77

2.2.1 Yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 77

2.2.2 Những phương hướng cơ bản nhằm phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 86

Tiểu kết chương 2 101

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sức mạnh của tư duy lý luận đối với đời sống và hoạt động thực tiễn đã được chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi… và có kinh nghiệm mà không có lý luận thì như một mắt sáng một mắt mờ” [59, tr.233-234] Nhận định này đã khẳng định tầm quan trọng của tư duy lý luận và vai trò của nó đối với sự phát triển đất nước trong bối cảnh hiện nay

Nghị quyết lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII

đã chỉ rõ: “Đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhiệm vụ chính trị mới rất nặng nề, khó khăn và phức tạp đòi hỏi Đảng

ta phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ ngang tầm, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” [28, tr.66], đã cho thấy đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói chung và lãnh đạo cấp cơ sở nói riêng có vai trò quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ này có ý nghĩa quyết định đối với quá trình phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa

và phát triển đất nước hiện nay

Cấp cơ sở là cấp đầu tiên trong bộ máy hành chính ở nước ta, nhưng lại

là cấp gần với dân nhất, trực tiếp đưa các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống của nhân dân Đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở có kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn, năng lực vận dụng đường lối, chủ trương, quan điểm đổi mới của Đảng vào việc xây dựng các chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở cho phù hợp; rút ra các bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khái các chương trình, kế hoạch

ở cơ sở Bên cạnh đó, thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở cấp cơ sở cũng còn tồn tại nhiều hạn chế, đặc biệt là về trình độ tư duy lý luận thấp; còn nhiều yếu kém trong tổng kết thực tiễn; bệnh chủ quan, giáo điều, dập khuôn

Trang 8

máy móc, tôn sùng kinh nghiệm; mới dừng lại ở tư duy mạnh về triển khai, vận dụng mà chưa nhạy bén và sáng tạo trong các hoạt động ở cấp cơ sở… Nguyên nhân của những hạn chế này thì do rất nhiều nguyên nhân khác nhau,

có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan Trong đó có một số nguyên nhân

cơ bản: trình độ văn hóa, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ các các kỹ năng phục vụ cho công tác lãnh đạo quản lý của cán bộ còn thấp; công tác của đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập, thiếu quy hoạch và

sử dụng còn nhiều bất cập; kinh tế, văn hóa, xã hội ở các cơ sở còn kém phát triển; trình độ dân trí thấp; cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ công tác

ở cơ sở còn nhiều thiếu thốn, chưa được đầu tư đồng bộ

Cùng với sự phát triển của đường lối đổi mới đất nước, trình độ tư duy

lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, trong đó có tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở trên cả nước đã có những bước phát triển mới, từng bước khẳng định được vai trò và vị trí quan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp

cơ sở, trong công tác lãnh đạo, quản lí các hoạt động ở mỗi địa phương Tuy nhiên, đứng trước những yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo đã và đang đặt ra những yêu cầu mới với những tiêu chuẩn mới, trong đó đặc biệt là

sự phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở Để đáp ứng được những yêu cầu mới, đòi đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở phải có một trình độ tư duy lý luận nhất định mới hoàn thành tốt những nhiệm vụ đang đặt ra Như vậy, phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở

là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cấp bách và lâu dài của đất nước Tư duy lý luận đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở như là “kim chỉ nam” cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của người cán bộ Tư duy lý luận còn là

cơ sở quan trọng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở có thể tiếp cận và hiểu sâu sắc các quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở đó có thể vận dụng một cách sáng tạo vào trong quá trình lãnh đạo, quản lý ở mỗi cơ sở đạt hiệu quả cao

Trang 9

Thực tế những năm gần đây cho thấy, đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở cấp cơ sở nói riêng đã có những chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu và trình độ Đội ngũ cán bộ ngày càng được trẻ hoá

và hoạt động ngày càng hiệu quả hơn Tuy nhiên, phẩm chất trí tuệ mà trực tiếp là năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế, bất cập, chưa ngang tầm với những đòi hỏi và nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, vấn đề quan tâm phát triển

tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có ý nghĩa và vai trò to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay

Vậy, làm gì và làm như thế nào để phát triển tư luy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay là vấn đề đang đặt ra cấp thiết

cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn Đây cũng là vấn đề hết sức quan trọng đối với chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước trong thời

kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Phát triển tư

duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay” làm

đề tài nghiên cứu của luận văn Thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề tư duy, tư duy lý luận được nghiên cứu từ rất sớm, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, trong đó có nhiều các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vấn đề này

và cũng có nhiều công trình khoa học được công bố, xuất bản thành sách, đăng tải trên các báo, tạp chí, luận văn, luận án, các hội thảo khoa học Vấn

đề tư duy, tư duy lý luận đã được nhiều các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu cũng như đề cập đến dưới nhiều góc độ khác nhau Ở nước

ta, nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều tác phẩm, bài viết trên tạp chí, một số luận án đã đề cập đến vấn đề đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, vấn đề nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, có tác giả lại tìm hiểu

về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn hoặc gắn nó với một vấn đề cụ thể

Trang 10

nào đó, luận giải cho sự cần thiết của việc đổi mới tư duy lý luận Trong đó

có một số công trình cơ bản như:

Vấn đề tư duy lý luận và đổi mới tư duy lý luận: “Đổi mới tư duy lý luận

và công tác xây dựng Đảng” của tác giả Hoàng Tùng, Nxb Sự thật, Hà Nội,

1987 Trong đó tác giả tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu về: đổi mới

tư duy là tiền đề khắc phục sự chậm trễ về lý luận; đổi mới công tác xây dựng Đảng Trên cơ sở phân tích tác giả đưa ra nhận định: để thực hiện thành công nhiệm vụ đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội của đất nước, trước hết cần phải đổi mới tư duy lý luận và đổi mới công tác xây dựng Đảng Nghiên cứu này đã chứng tỏ được sức mạnh to lớn của tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung

Nghiên cứu về tư duy lý luận trong tác phẩm “Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn” do tác giả Trần Thành chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 Trong đó tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, là quả trình tiếp cận, năm bắt, nhận thức và tái tạo hiện thực khách quan bằng lý luận, hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật Bàn về vai trò của tư duy lý luận đối với người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn được coi như “chìa khóa” mở ra cho hoạt động nhận thức và thực tiễn Tư duy lý luận giúp cho người cán bộ nắm được thực chất quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; cũng nhờ có tư duy lý luận người cán bộ mới có khả năng phân tích sự phong phú, đa dạng và phức tạp của thực tiễn, từ đó vận dụng lý luận một cách chủ động, sáng tạo, biết tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận

“Mấy vấn đề cấp bách về đổi mới tư duy lý luận” của tập thể học viện Nguyễn Ái Quốc, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1988 Các tác giả đã cho rằng chính cách nghĩ bảo thủ, chủ quan, máy móc, duy ý chí là nguyên nhân đã làm cản trở quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, từ đó nêu lên sự cần thiết của việc phải đổi mới tư duy Bởi chỉ có đổi mới tư duy mới có thể nhìn thấy

Trang 11

rõ được cái lạc hậu, lỗi thời cần phải loại bỏ, và đi đến khẳng định những nhân tố mới, cách làm mới phù hợp với thực tiễn cụ thể của đất nước

“Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới” của GS.Trần Nhâm, Nxb Chính trị quốc gia, 2004 Tác giả trên cơ sở nghiên cứu vấn đề đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta trong bối cảnh thời đại, trong mối quan hệ với toàn cầu hóa

và những thách thức đặt ra, cũng như trong mối tương quan giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và thời đại hiện nay

“Qúa trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay”, do tập thể tác giả Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (Chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Tác phẩm đã đề cập đến nhiều vấn

đề liên quan tới quá trình đổi mới và phát triển ở nước ta, góp phần làm sáng tỏ quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng, nhất là nhận thức lý luận của Đảng

về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

“Đổi mới tư duy lý luận - tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới”, Tạp chí Triết học, số 1, 1988 Tác giả đã đề cập vấn đề đổi mới tư duy lý luận đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra, cũng như tính cấp thiết của vấn đề đổi mới được thông qua, để thấy được vai trò của tư duy lý luận trong

sự nghiệp đổi mới đất nước Đây là một nhân tố không nhỏ trong việc định hướng các chiến lược, sách lược phát triển đất nước

“Tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao tư tưởng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của GS Đặng Xuân Kỳ, đăng trên Tạp chí Đảng cộng sản,

số 8, 4/1999 Tác giả cho rằng: quá trình đổi mới tư duy lý luận đã có những biến đổi, song cần phải tiếp tục đổi mới hơn nữa bởi lý luận của chúng ta còn nhiều chỗ lạc hậu so với thực tiễn Đổi mới không phải chỉ là đưa ra những nhận thức, phương pháp tư duy khác trước mà ở đây đổi mới có nghĩa là cái mới đã bao hàm cái đúng đắn đã có trước kia, loại bỏ những sai lệch, lỗi thời của cái cũ và bổ sung những gì mới mẻ, phản ánh đúng thực tiễn, phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển xã hội

Trang 12

Vấn đề về thực trạng tư duy lý luận ở nước ta và đổi mới tư duy lý luận được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tiêu biểu như: Tác giả Lê Hữu Nghĩa “Một số căn bệnh trong phương pháp tư duy của cán bộ ta”, Tạp chí Triết học số 2, 1988 Tác giả Ngô Đình Xây “Vài nét về thực trạng tư duy lý luận ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học số 4, 1990

Một số công trình đề cập đến vấn đề phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ như: “Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã hiện nay” của Hồ Bá Thâm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Tác giả Nguyễn Đa Phúc “Phát triển tư duy biện chứng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở nước ta hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Triết học năm 1997 Tác giả

Vũ Đình Chuyên “Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý cấp huyện ở nước ta hiện nay qua thực tế tỉnh Kiên Giang” Luận văn Thạc sĩ Triết học năm 2000 Tác giả Vũ Đức Quyền “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Triết học năm 2004

Nhìn chung, trong những công trình nghiên cứu trên các tác giả đã luận giải về vấn đề lý luận, tư duy lý luận, các hoạt động trong công tác lãnh đạo, quản lí của đội ngũ cán bộ và sự cần thiết phải đổi mới tư duy lý luận ở nước

ta hiện nay theo những mức độ khác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu nhấn mạnh vai trò tư duy lý luận trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước còn chưa đủ độ và chưa đầy đủ Công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước đang đòi hỏi tư duy của chúng ta cũng cần phải đổi mới, được bổ sung cho phù hợp với tình hình, hoàn cảnh cụ thể Vì vậy, vấn đề nhận thức rõ vai trò của tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay là một vấn

đề cấp thiết Trong đó, đặc biệt là xuất phát từ yêu cầu và nhiệm vụ bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở cấp cơ sở có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trên cơ sở kế thừa quan điểm cơ bản của các nhà nghiên cứu trước, tác giả đặt ra mục đích trình bày một cách có hệ thống vấn đề phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở hiện nay ở nước ta, góp

Trang 13

phần vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở trong

sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

*Mục đích:

Làm rõ vấn đề phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

*Nhiệm vụ:

- Trình bày một số vấn đề lý luận chung về tư duy lý luận, phát triển tư

duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

- Đánh giá thực trạng phát triển tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

*Đối tuợng nghiên cứu: Tư duy lý luận và phát triển tư duy lý luận cho

cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở

* Phạm vi nghiên cứu:

Cán bộ lãnh đạo và phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo là những vấn đề lớn, có phạm vi rộng và nhiều vấn đề liên quan rất phức tạp Vì vậy, trong luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một mảng vấn đề cụ thể là phát triển tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

- Về thời gian, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở từ năm 1986 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên lập truờng của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở, kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đã công bố làm cơ sở thực hiện mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Trang 14

* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của

chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, so sánh, khái quát hóa và các phương pháp khác

6 Đóng góp của luận văn

- Bước đầu khái quát khái niệm phát triển tư duy lý luận, nội hàm phát

triển tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở; chỉ ra đặc điểm, vai trò phát triển tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

- Đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

* Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm

sáng rõ hơn bản chất, đặc điểm, vai trò phát triển tư duy lý luận cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất những giải pháp khả thi góp phần phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

* Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho

công tác giáo dục, tuyên truyền về phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm về vấn đề này

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 2 chương, 6 tiết

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ Ở VIỆT NAM

có thể đi sâu phân tích và khám phá bản chất của thế giới khách quan Qúa trình này được lặp đi lặp lại dựa trên sự kiểm nghiệm của thực tiễn đối với tri thức lý luận, giúp cho tư duy không ngừng hoàn thiện và phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

Tư duy là một thuộc tính đặc biệt của con người, thể hiện trình độ nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của chủ thể Tư duy chính là vấn đề cơ bản nhất của nhận thức luận Vì vậy, tư duy đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: nhận thức luận, lôgic học, tâm lý học, sinh lý học… Trong mỗi lĩnh vực khoa học, tư duy lại được tiếp cận dưới góc độ khác nhau cụ thể là: trong nhận thức luận nghiên cứu tư duy trong quá trình nhận thức với các quan hệ tri thức - hiện thực, chủ thể - khách thể; lôgic học lại nghiên cứu các quy luật, hình thức và

Trang 16

thao tác tư duy; lĩnh vực tâm lý học nghiên cứu tư duy với tư cách là hoạt động của bộ não, hệ thần kinh cao cấp trong quá trình tương tác với môi trường xung quanh; còn trong sinh lý học nghiên cứu tư duy đơn thuần là hoạt động thuần túy của hệ thần kinh

Trong lịch sử Triết học, khi bàn về vấn đề tư duy đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau, sự khác nhau đó là do xuất phát từ các lập trường triết học khác nhau tạo nên Nhưng dù đứng trên lập trường duy vật hay duy tâm, dưới sự kế thừa lẫn nhau thì các nhà triết học trước Mác đã đạt được những thành quả nhất định trong việc phân chia các giai đoạn của nhận thức, khẳng định vai trò của cảm giác, kinh nghiệm, lý tính, tư duy Tuy nhiên, họ vẫn chưa đi sâu vào giải quyết một cách đúng đắn, khoa học về vai trò, tác dụng, cách thức hoạt động của cảm tính, tư duy; quan hệ cảm tính và lý tính theo lập trường duy vật Như vậy, các nhà triết học trước Mác vẫn chưa xây dựng được một quan niệm đầy đủ về tư duy nói riêng và phương pháp nhận thức khoa học nói chung cho hoạt động nhận thức của con người

Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, đã tạo nên một bước tiến mới trong việc đưa ra những quan điểm khoa học đúng đắn về tư duy Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của một dạng vật chất, được

tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới

khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận… Thực chất, tư duy

chính là sản phẩm cao nhất của một dạng vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận… Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật của thực tại” [72, tr.634-635] Ph.Ăngghen cho rằng: “Nếu người ta đặt câu hỏi rằng tư duy, ý thức là gì, chúng từ đâu

đến, thì người ta sẽ thấy rằng chúng là sản vật của bộ óc con người” [35, tr.55]

Tư duy phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc con người một cách khái quát và gián tiếp Chính trong quá trình lao động sản xuất của xã

Trang 17

hội loài người tư duy đã xuất hiện và phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối quan hệ hợp quy luật của thực tiễn Vì vậy, tư duy luôn gắn liền với hoạt động sinh lý của bộ não người, bên cạnh yếu tố sinh học thì yếu tố xã hội cũng có tác động quyết định đối với tư duy Tư duy là sản phẩm của xã hội từ những đặc điểm, phương thức hoạt động và cả kết quả Vì thế,

tư duy luôn gắn liền với các hoạt động đặc trưng của xã hội loài người là lao động sản xuất, giao tiếp và ngôn ngữ

Hoạt động thực tiễn của con nguời là nguồn gốc, động lực chủ yếu của

tư duy nên thực tiễn trở thành tiêu chuẩn cao nhất của tư duy con nguời Tư duy với tư cách là hoạt động không thể thiếu trong hoạt động chủ quan của con người, với sự sáng tạo và tiên đoán các sự vật hiện tượng trong thế giới

Tư duy còn được xuất hiện và hiện thực hóa trong quá trình đặt ra và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của con người Như vậy, tư duy của con người không bất biến mà phát triển từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp,

có thể trình bày một số đặc trưng cơ bản của tư duy như sau:

Thứ nhất, tư duy là hình thức cao nhất của sự phản ánh trong nhận thức của con người

Chính quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan đã đem lại nhận thức khoa học, năng lực khám phá và sáng tạo những tri thức mới về các mối quan hệ bản chất, quy luật khách quan chi phối sự phát triển của hiện thực Triết học Mác - Lênin khẳng định nhận thức chính là một quá trình đi từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn,

đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [29, tr.179] Vậy, tư duy là quá trình nhận thức của con người đi từ việc nhận thức các tính chất, hiện tượng bề ngoài trong thế giới hiện thực Trong đó, quá trình nhận thức chỉ có thể đạt đến sự nhận thức về bản chất và quy luật vận động, phát triển của các sự vật hiện tượng khi nhận thức ở trình độ tư duy lý luận Tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức,

đó là quá trình phản ánh khái quát hóa, chỉ ở trình độ nhận thức này mới có

Trang 18

thể phản ánh được những thuộc tính chung mang tính phổ biến, cơ bản của sự vật khách quan Tư duy không phải là toàn bộ quá trình nhận thức, mà là một giai đoạn của quá trình nhận thức và được hình thành trên cơ sở nhận thức cảm tính Vì vậy, nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con người

sẽ hạn chế, bởi con người không thể dùng cảm giác để nhận thức và hiểu các vấn đề như tốc độ, âm thanh, hình ảnh, cũng như các hiện tượng phong phú và phức tạp khác trong xã hội Để có được những nhận thức khoa học về các vấn

đề phong phú đó, không thể thiếu được sức mạnh của tư duy Tư duy được diễn

ra dưới hình thức của các khái niệm, phán đoán, suy lý, giải thuyết, lý thuyết, lý luận Kết quả của các quá trình tư duy này là sự phản ánh các thuộc tính, các mối quan hệ cơ bản, phổ biến ở mỗi sự vật riêng lẻ và cả ở nhóm các sự vật nhất định và kết quả cuối cùng được ghi lại thông qua ngôn ngữ

Thứ hai, tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp và khái quát

Tư duy là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của con người một cách khách quan và gián tiếp bởi con người, xã hội thông qua chính quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới Trong giai đoạn nhận thức bằng tư duy, sự vật được phán ánh một cách gián tiếp và khái quát bằng các khái niệm, phán đoán, suy lý Qúa trình trừu tượng hóa của tư duy hướng vào việc

đi tìm chân lý, những mối liên hệ khách quan có tính bản chất và phát hiện ra quy luật chi phối các sự vật hiện tượng Chính sự phản ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp và khái quát mà tư duy có khả năng tách rời nhất định với sự vật và có sự độc lập tương đối với các sự vật, hiện tượng Sự xuất hiện của các khái niệm, phạm trù đã cho thấy khả năng phản ánh thực tại khách quan mang tính khái quát cao của tư duy con người Như vậy, đặc trưng khái quát và gián tiếp của tư duy được biểu hiện ở việc đi từ “một hình thức liên hệ

và phụ thuộc lẫn nhau này đến một hình thức khác sâu sắc hơn, chung hơn” [31, tr.240], từ sự hiểu biết có tính chất hiện tượng đến hiểu biết có tính bản chất; đi từ cái ngẫu nhiên, bên ngoài đến quan hệ có tính tất nhiên, mang tính quy luật

Trang 19

Thứ ba, tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách tích cực, sáng tạo

Nghĩa là tư duy phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người không phải một cách thụ động, rập khuôn máy móc mà mang tính tích cực, sáng tạo Bởi bản chất của con người là một thực thể năng động, sáng tạo trong việc nhận thức và cải tạo thế giới, xuất phát từ hoạt động thực tiễn nên

tư duy của con người cũng phản ánh thế giới một cách tích cực và sáng tạo

Tư duy thể hiện tính tích cực ở việc vượt lên trên nhận thức cảm tính, xây dựng hệ thống tri thức mới về thế giới khách quan, từ đó phản ánh bản chất của sự vật Tính sáng tạo của tư duy được thể hiện ở quá trình tư duy khám phá, sáng tạo ra tri thức Đó là khả năng xây dựng các khái niệm, phạm trù, liên kết chúng lại với nhau, hệ thống hóa tri thức, vạch ra các mối quan hệ giữa chúng và khái quát các quy luật chi phối tự nhiên, xã hội và bản thân Năng lực sáng tạo của tư duy mỗi người là hạn chế và phụ thuộc vào yếu tố chủ quan, khách quan nhưng năng lực sáng tạo của tư duy nhân loại là vô tận

Tư duy của con người thuộc phạm trù trí tuệ người, giúp cho con người khám phá các thuộc tính, các mặt, các mối liên hệ của sự vật hiện tượng để đi sâu vào bản chất và phát hiện ra quy luật vận động, phát triển của thực tại khách quan [72, tr.634] Mặc dù, tư duy diễn ra trong đầu óc của con người nhưng

có xu hướng vươn ra đời sống và quay trở về thực tiễn để chỉ đạo hành động của con người Thông qua tư duy, con người có thể xây dựng các giải thuyết khoa học, lý thuyết trừu tượng, các mô hình lý tưởng cho hiện thực và dự báo tương lai

Như vậy, quá trình hoạt động thực tiễn của con người chính là nguồn gốc, động lực chủ yếu của tư duy và thực tiễn trở thành tiêu chuẩn cao nhất của tư duy con người V.I.Lênin khẳng định “quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” và khái quát mối quan hệ giữa tư duy và thực tiễn là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [29,

Trang 20

tr.120] Tư duy xuất phát từ thực tiễn, nó không dừng lại ở trừu tượng mà còn quay trở lại thực tại để kiểm tra các tri thức mới thu được Nhờ vậy mà con người có thể chứng minh được tính đúng đắn, chân thực của tư duy

Ngay từ khi xuất hiện tư duy đã gắn liền với ngôn ngữ, hay ngôn ngữ chính là vỏ vật chất của tư duy, vì vậy ngôn ngữ và tư duy luôn thống nhất với nhau Tư duy không thể tồn tại nếu thiếu ngôn ngữ hay tách rời ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ chính là phương tiện cho sự tồn tại của tư duy Trong khi

tư duy có chức năng khái quát, tổng hợp và sáng tạo thông tin mới thì ngôn ngữ đóng vai trò là phương tiện đi chuyển tải thông tin, ngôn ngữ mang chức năng nhận thức

Tóm lại, tư duy có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức thế giới

Khi tư duy của con người nhận thức về giới tự nhiên, lịch sử, xã hội, hoạt động tinh thần thì tư duy đã mang đến cho chúng ta sự hiểu biết về những mối liên hệ phong phú, đa dạng, phức tạp; về sự vận động và biến đổi, sự phát triển và tiêu vong của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Tư duy có nhiều đặc trưng tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau, dựa trên mỗi cách tiếp cận khác nhau lại có cách phân loại tư duy khác nhau, ở mỗi cấp độ, loại hình tư duy có chức năng, đối tượng, phương pháp, vị trí và vai trò khác nhau Vì vậy, sự phân chia chúng thành các đặc trưng riêng chỉ mang tính tương đối, bởi chúng tồn tại, gắn bó và liên hệ với nhau rất chặt chẽ, làm giả định và tiền đề cho nhau

1.1.2 Tư duy lý luận

* Khái niệm tư duy lý luận

Tư duy lý luận là trình độ phát triển cao nhất của tư duy, là quá trình

mà tư duy tiếp cận, nắm bắt, nhận thức và tái tạo hiện thực khách quan bằng

lý luận thông qua những giả thiết, lý thuyết có mối quan hệ tương hỗ với nhau Có nhiều cách hiểu khác nhau về tư duy lý luận, nhưng cho đến nay trong các tài liệu triết học có thể hiểu tư duy lý luận qua 3 lát cắt sau:

Trang 21

Một là, tư duy lý luận được hiểu với tư cách là một động từ, nó được xem như là qúa trình đang vận động, nắm bắt và tái tạo hiện thực Đây là một quá trình kép bao gồm bốn quy trình: quá trình tư duy tiếp cận, nắm bắt hiện thực để thu thập thông tin; quá trình xử lý thông tin để tìm ra mối liên hệ bản chất và quy luật của sự vật; quá trình liên kết các quy luật để tìm ra mối liên hệ bản chất; quá trình tư duy trở về với hiện thực để chỉ đạo và cải tạo hiện thực

Hai là, tư duy lý luận với tư cách là một danh từ, được hiểu là một kết quả đã được hình thành, là sản phẩm của trí tuệ cao và có được thông qua sự tích lũy tri thức trong hoạt động hàng ngày của con người, từ đó tư duy lý luận được khái quát và hình thành nhờ tư duy kinh nghiệm

Ba là, tư duy lý luận được hiểu với tư cách là một tính từ Ở đây, tư duy lý luận được hiểu như là phương pháp, phương thức tư duy khi nó phản ánh và tái tạo hiện thực khách quan Hiểu tư duy lý luận với tư cách là một tính từ, nó được hiểu thông qua các cặp đối lập: tư duy biện chứng đối lập với

tư duy siêu hình, tư duy lôgic đối lập với tư duy phi lôgic, tư duy khoa học đối lập với tư duy phi khoa học Tư duy lý luận theo nghĩa này được hiểu và đồng nghĩa với tư duy biện chứng

Như vậy, tư duy lý luận là tư duy lôgic, khoa học và sáng tạo Tư duy lý

luận thể hiện trình độ phát triển cao của năng lực tư duy của chủ thể nhận thức,

vì năng lực là toàn bộ những đặc tính tâm lý của con người, khiến cho nó thích hợp với một hoạt động nghề nghiệp nhất định đã hình thành trong lịch sử

* Đặc trưng của tư duy lý luận

Tư duy lý luận là giai đoạn phát triển cao nhất của tư duy khoa học Với

tư cách là một nấc thang cao nhất của tư duy, tư duy lý luận có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, tư duy lý luận phản ánh thế giới hiện thực một cách gián tiếp,

có tính khái quát và trừu tượng hoá cao Tư duy lý luận là trình độ cao của tư duy, có đặc điểm là phản ánh khái quát và trừu tượng cao khách thể hiện thực Tư duy kinh nghiệm có đối tượng là những khách thể hiện thực riêng lẻ,

Trang 22

còn tư duy lý luận có đối tượng là những khách thể trừu tượng, khái niệm, phạm trù, quy luật Từ những cái trừu tượng, tư duy lý luận đi vào khái quát

và tổng hợp thành cái cụ thể trong tư duy Kết quả mà tư duy lý luận có được

là sự phản ánh khái quát, trừu tượng cao đối với khách thể hiện thực

Thứ hai, tư duy lý luận được diễn đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật Tư duy lý luận phản ánh bản chất sự vật, hiện tượng Đồng thời, nó mang tính trừu tượng hóa, khái quát hóa cao nên chủ yếu hướng vào việc đi phân tích, tổng hợp, khái quát để tìm ra mối liên hệ bên trong quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng

Vì vậy, tư duy lý luận đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật khách quan và có khả năng đưa ra những dự báo khoa học, định hướng cho hoạt động thực tiễn

Thứ ba, tư duy lý luận có vai trò chỉ đạo hoạt động thực tiễn đúng đắn, phản ánh sự vật, hiện tượng trong tính chỉnh thể hệ thống Thế giới khách quan tồn tại rất đa dạng, phong phú và nhiệm vụ của tư duy lý luận là không chỉ dừng lại ở việc nhận thức các hiện tượng bề ngoài mà còn phải đi sâu vào bản chất, gạt bỏ những cái ngẫu nhiên, bề ngoài để tìm ra cái tất yếu, quy luật Thứ tư, tư duy lý luận có khả năng đưa ra các dự báo khoa học nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong hoạt động thực tiễn Tư duy lý luận cũng như tư duy nói chung đều có tính năng động, sáng tạo Tính năng động sáng tạo của tư duy lý luận không chỉ thể hiện trong hiện thực mà còn trên cơ

sở của những tri thức đã có Từ đó, tư duy lý luận có khả năng tạo ra những mối liên hệ giữa các tri thức, đồng thời sáng tạo ra những tri thức mới, dự báo

xu hướng phát triển của các sự vật hiện tượng Tư duy kinh nghiệm mới chỉ dừng lại ở sự phản ánh các sự vật hiện tượng đã và đang diễn ra thông qua các số liệu thu được trong hoạt động thực tiễn Còn tư duy lý luận trên cơ sở phản ánh chính xác quá khứ, hiện tại và với tất cả các điều kiện đã biết thì nó thực hiện các thao tác theo quy luật của tư duy như: phán đoán, chứng minh, suy luận… rồi đưa ra những kết luận mới, tri thức mới, những tiên đoán và

Trang 23

dự báo khoa học Nhờ có tư duy lý luận mà con người có khả năng phản ánh

và dự báo đúng xu hướng vận động của hiện thực khách quan trong một thời gian dài Tư duy lý luận có chức năng dự báo và định hướng cho hoạt động thực tiễn

Tư duy lý luận với tư cách là mức độ cao nhất của tư duy đóng vai trò là thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận chung nhất cho mọi loại hình tư duy

* Bản chất và cấu trúc của tư duy lý luận

Tư duy lý luận về bản chất là biện chứng, là trình độ phát triển cao nhất của tư duy khoa học mà nhân loại đạt đến, vì ở trong nó đã bao hàm hai yếu

tố cơ bản nhất của khoa học hiện đại đó là tư duy biện chứng và duy vật “Tư duy lý luận chân chính, khoa học, hiện đại đó là tư duy lý luận mácxít Về thực chất tư duy lý luận mácxít là tư duy biện chứng duy vật - một loại hình

tư duy được hình thành trên cơ sở tổng kết những tri thức tinh túy nhất của khoa học Nó là sản phẩm của sự kết tinh tư duy nhân loại và bao chứa trong

đó hai thành tố, hai hạt nhân cơ bản và hợp lý của khoa học hiện đại là: duy vật và biện chứng” [23, tr.23-24] Trong đó, yếu tố biện chứng làm cho tư duy thấy được mối liên hệ, quan hệ qua lại bên trong của sự vật và hiện tượng cũng như mối liên hệ và quan hệ giữa các sự vật hiện tượng Còn yếu tố duy vật giúp cho nhận thức con người nắm bắt được thực chất của sự vật, căn nguyên của sự vật, các quy luật của sự vật

Tư duy lý luận là quá trình sáng tạo Tính sáng tạo của tư duy lý luận được thể hiện ở chỗ nó đem lại những tri thức mới về bản chất, cái bên trong, những quy luật của hiện thực khách quan dưới dạng lý luận theo hướng khái quát hóa, trừu tượng hóa cao hơn nên nó đem lại nhận thức sâu sắc, đầy đủ,

hệ thống chỉnh thể hơn về bản chất và những tính quy luật vốn có của hiện thực khách quan Do vậy, tư duy lý luận giúp cho con người nhận thức đúng đắn về sự vật và đưa ra những biện pháp tác động phù hợp vào chúng Nhờ

Trang 24

quá trình sáng tạo tư duy lý luận luôn vươn tới cái mới và nhận thức ngày càng đầy đủ, đúng đắn về thế giới khách quan

Tư duy lý luận là trình độ cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình tiếp cận, nắm bắt, nhận thức và tái tạo hiện thực khách quan bằng lý luận, bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật Với tư cách là hình thức cao nhất của tư duy, tư duy lý luận nắm bắt, tái tạo hiện thực khách quan không phải bằng những khái niệm thông thường mà bằng những khái niệm lý luận Thông qua những khái niệm này giúp cho tư duy con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật, tìm ra những quy luật của sự vật hiện tượng

Chính vì vậy, thông qua những giả thuyết và lý thuyết với tư cách là công cụ chủ yếu trong tư duy lý luận, tư duy lý luận đã góp nhần nâng nhận thức của con người lên một trình độ mới về chất, để không chỉ nhận thức được thực chất của những sự vật hiện tượng đã, đang tồn tại mà còn đưa ra những tiên đoán khoa học về sự vật, hiện tượng Đây là sức mạnh của tư duy

lý luận, là sự sáng tạo lại hiện thực khách quan theo hướng khái quát hóa, trừu tượng hóa cao hơn nên nó đem lại nhận thức sâu sắc, đầy đủ, hệ thống – chỉnh thể hơn về bản chất và những tính quy luật vốn có của hiện thực khách quan Tư duy lý luận đặc biệt coi trọng tính khoa học và sử dụng những tri thức lý luận đạt được như là công cụ, phương pháp khoa học để phát hiện những mâu thuẫn, những vấn đề mới nảy sinh, đồng thời đưa ra những giải pháp mới để giải quyết, đây là điều mà tuy duy thông thường không có được Hạt nhân của tư duy lý luận là tư duy triết học Xét theo lôgic nội tại của

tư duy lý luận có hai cấp độ lớn là: tư duy của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư duy của các khoa học cụ thể, trong đó tư duy của chủ nghĩa Mác - Lênin làm

cơ sở còn Triết học làm hạt nhân Nhưng thực ra ngay trong cơ sở của tư duy

lý luận cũng lại có hai cấp độ là: tư duy triết học và tư duy của các bộ môn còn lại hợp thành chủ nghĩa Mác - Lênin Ở đây tư duy lý luận cũng vẫn giữ vai trò là nền tảng, cơ sở và hạt nhân Như vậy, về thực chất tư duy lý luận có

ba cấp độ lớn đó là: tư duy Triết học, tư duy của các bộ môn còn lại hợp thành

Trang 25

chủ nghĩa Mác - Lênin và tư duy khoa học cụ thể Trong cấu trúc phân tầng của tư duy lý luận, tư duy triết học vừa là cơ sở, vừa là hạt nhân Tư duy Triết học cần thiết và đóng vai trò quan trọng trong tư duy lý luận chủ yếu là do những đặc trưng của tư duy Triết học quy định Cấu trúc của triết học Mác - Lênin đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và sự thống nhất gắn bó không tách rời là chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong thành phần của triết học Mác - Lênin còn có những vấn đề triết học trong khoa học tự nhiên, tâm lý học, lôgic học, đạo đức học, mỹ học, chủ nghĩa vô thần khoa học và lịch sử triết học Vì vậy,

nó không chỉ là lý luận của biện chứng khách quan và lôgic của nhận thức khoa học, mà còn là lý luận của học thuyết xã hội học, của học thuyết đạo đức học và mỹ học Phương pháp tư duy triết học là tư duy lý luận, loại tư duy dựa vào việc tổng kết kinh nghiệm của nhân loại, thành quả của khoa học và của văn hóa nói chung

Triết học ở bất cứ thời đại nào cũng đều là kết tinh của tri thức nhân loại

Tư duy triết học bao chứa trong nó những yếu tố cơ bản như: tính trừu tượng

- khái quát, tính chỉnh thể - bao quát, tính phê phán Chính những đặc trưng này đã giúp cho tư duy triết học đóng vai trò là thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận chung nhất cho mọi lĩnh vực của tư duy và sử dụng nó một cách đúng đắn và sáng tạo trong các vấn đề mà hoạt động thực tiễn đã và đang đặt ra Mặt khác, những đặc trưng này còn làm cho tư duy triết học có được không chỉ là ở sự thuyết minh, chứng minh mà còn ở sự phát minh Vì vậy, tư duy triết học có thể đóng được vai trò và thực hiện được sứ mệnh là nhân tố vừa là cơ sở vừa là hạt nhân trong tư duy lý luận

Tóm lại, tư duy lý luận là cấp độ tư duy ở trình độ phản ánh các sự vật hiện tượng một cách khái quát, trừu tượng cao, đầy đủ về mối liên hệ bản chất, tính tất yếu, quy luật của sự vật, hiện tượng Vì vậy, tư duy lý luận đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn Tư duy lý luận còn có khả năng đưa ra các dự báo khoa học về xu hướng vận động và phát triển của hiện thực khách quan Tư duy lý luận là đỉnh cao

Trang 26

của tư duy con người và ngày càng được phát triển trong thời đại ngày nay, khi mà xã hội loài người đang bước vào nền văn minh tri thức, tri thức khoa học đang thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì tư duy lý luận có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển Chính vì vậy, việc chú trọng phát triển tư duy lý luận, phát huy sức mạnh và vai trò của nó là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, đặc biệt là trong bối cảnh xây dựng nước ta hiện nay

1.2 Tư duy lý luận đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

1.2.1 Cán bộ lãnh đạo và cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

* Khái niệm cán bộ lãnh đạo

Theo từ điển Tiếng Việt: “Cán bộ” là chỉ những người làm các công tác nghiệp vụ, chuyên môn trong các cơ quan Nhà nước, những người có chức vụ trong một cơ quan, tổ chức để phân biệt với những người không có chức vụ

Theo cách hiểu thông thường: “Cán bộ” được hiểu là những người làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, các đoàn thể và lực lượng vũ trang

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của nhân dân báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu

rõ để đặt chính sách cho đúng” [15, tr.269]

Lãnh đạo được hiểu là hoạt động của người có khả năng tạo ra tầm nhìn cho một tổ chức hay một nhóm, đồng thời biết sử dụng quyền lực của mình để gây ảnh hưởng cho những người đi theo thực hiện tầm nhìn đó

Như vậy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về cán bộ nhưng về cơ bản thì cán bộ là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, vai trò, cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức

và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức

Trang 27

Cán bộ lãnh đạo là những người đứng đầu, phụ trách một tổ chức, đơn

vị nào đó do bầu cử hoặc chỉ định Cán bộ lãnh đạo có trách nhiệm đề ra những phương hướng, chủ trương, quyết định liên quan tới những đơn vị, phong trào mà họ phụ trách Cán bộ lãnh đạo còn là người dẫn dắt, tổ chức phong trào theo một hướng đi cụ thể Họ là người điều hành, chỉ đạo thông qua các quết định, chính họ cũng là người điều chỉnh những quyết định sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn

- Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay ở nước ta được tổ chức thành bốn cấp:

+ Cấp Trung ương

+ Cấp Tỉnh (Thành phố và trực thuộc Trung ương),

+ Cấp Huyện (Quận, Thị xã, Thành phố trực thuộc Tỉnh)

+ Cấp Cơ sở (Xã, Phường, Thị Trấn)

* Cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn): là cấp nhỏ nhất trong hệ thống 4 cấp nhưng lại là cấp rộng rãi nhất, đông đảo nhất Cơ sở là nơi chấp hành, là nơi giao tiếp trực tiếp của toàn bộ hệ thống chính trị với dân, là nơi mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước được triển khai thực hiện và đây cũng là nơi trực tiếp nắm bắt được sự phản hồi những ý kiến, kiến nghị, tâm tư nguyện vọng và đề xuất của nhân dân đối với Đảng

và Nhà nước

Cán bộ cấp cơ sở là cán bộ có chức năng và nhiệm vụ tổ chức, thực hiện các đường lối, chính sách, phương hướng, kế hoạch của cấp Trung ương và cấp quản lý trực tiếp cho phù hợp với điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương

Theo Điều 118, Hiến Pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 và luật

tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003, cấp cơ sở bao gồm: Xã, Phường, Thị Trấn Đây là nơi nhân dân sinh sống, cư trú, gắn bó chặt chẽ với các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội, huyết thống, phong tục, tập

Trang 28

quán, ngành nghề và những sinh hoạt chung khác Cấp cơ sở có vị trí rất quan trọng, là nơi trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân; là nơi cụ thể hóa các nghị quyết, nghị định, hướng dẫn của cấp tỉnh và cấp huyện, đi sâu, đi sát với địa phương và quản lý địa phương về mọi mặt Đồng thời, cấp cơ sở còn là nơi có nhiều tiềm năng lớn về kinh tế ở cả trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp, góp phần to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước nói chung

Theo khoản 3, Điều 4 Luật cán bộ công chức năm 2008, cán bộ cấp cơ

sở là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó bí thư Đảng

ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội cấp xã trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách của nhà nước Cán bộ cấp cơ sở bao gồm các chức vụ: Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân,

Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam; Chủ tịch hội nông dân Việt Nam; Chủ tịch hội cựu chiến binh Việt Nam; Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Trong khuôn khổ của luận văn chỉ đề cập đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở: Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Với những chức danh này, đội ngũ cán bộ có vai trò quan trọng và là lực lượng nòng cốt trong tổ chức thuộc hệ thống chính trị cấp cơ sở

Như vậy, cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở là những người đứng đầu các tổ chức chính trị, xã hội, các phòng ban của cấp cơ sở; là những người lãnh đạo, quản lý, triển khai, tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đồng thời cũng là người phát hiện, khái quát những sáng tạo, những nhân tố mới từ cơ sở, góp phần hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Vì vậy, cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở cần phải có trình

độ và năng lực tư duy lý luận nhất định mới có thể hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó

Trang 29

* Chức năng cơ bản của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở

Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức phân thành bốn cấp: Trung ương; tỉnh; thành phố; quận, huyện và cơ sở (xã, phường, thị trấn) Trong đó, cấp cơ sở là cấp quản lý hành chính nhỏ nhất nhưng lại là cầu nối sâu sát nhất các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào đời sống

và trở thành phong trào của nhân dân Do vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao việc quan tâm, xây dựng bộ máy chính trị cấp cơ sở Đồng thời, đưa ra các Nghị quyết để củng cố, kiện toàn, phát triển toàn diện cấp cơ sở như ở Nghị quyết Trung ương V khóa IX nhấn mạnh: “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cấp cơ sở xã, phường, thị trấn, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước” [3, tr.165]

Cán bộ cấp cơ sở cũng xác định được vai trò quan trọng của mình trong

hệ thống chính trị nước ta Họ là những người đại diện cho nhân dân trong công tác lãnh đạo, quản lý Nhà nước ở địa phương, đồng thời là đội ngũ trực tiếp điều hành, tổ chức, cụ thể hóa các đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước hiện nay Như vậy, cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở

là một bộ phận quan trọng, không thể tách rời trong đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị nước ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [15, tr.269] Qua lời khẳng định của chủ tịch Hồ Chí Minh, cho thấy rõ hơn đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói chung, hay cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở nói riêng thực sự là chiếc cầu nối giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân Cán bộ cấp cơ sở là những người trực tiếp đi sâu,

đi sát với dân, cùng chung sống hàng ngày với người dân, hiểu rõ những phong tục tập quán của địa phương để có thể giải quyết những vấn đề phức tạp của dân một cách có hiệu quả Cán bộ cấp cơ sở trực tiếp thực hiện,

Trang 30

triển khai các quy định của Nhà nước, trực tiếp giải quyết những yêu cầu, các ý kiến, kiến nghị của nhân dân Từ đó, họ có thể tập hợp đầy đủ và phản ánh một cách trung thực những ý kiến, nguyện vọng của người dân lên các cơ quan cấp trên, đồng thời đề xuất những giải pháp trong việc giải quyết các vướng mắc và yêu cầu của nhân dân Để làm được điều này, đòi hỏi đội ngũ cán bộ này phải lấy dân làm gốc, thực sự vì dân, nhưng vẫn phải dựa trên đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã đề ra

Cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở không chỉ là cầu nối giữa các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với nhân dân mà còn trực tiếp triển khai, tổ chức thực hiện các quy định của Nhà nước và giải quyết các yêu cầu của dân Sau quá trình tích lũy, rèn luyện tại địa phương họ chính là những dự nguồn quan trọng cung cấp cho cán bộ lãnh đạo cấp huyện Cấp cơ sở là môi trường thực nghiệm quan trọng tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ trưởng thành Như vậy, đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở chính là lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong việc điều hành hoạt động của bộ máy tổ chức ở cấp cơ sở, vừa thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, vừa vừa đảm bảo quyền lực của chính quyền và quyền làm chủ của nhân dân

Thông qua những chức năng cơ bản của cán bộ cấp cơ sở đã cho thấy rõ hơn những đặc trưng của bộ máy chính quyền cấp cơ sở và vai trò quan trọng của đội ngũ này trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước hiện nay Chính vì vậy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở phải luôn tích cực, chủ động và sáng tạo trong tổ chức, điều hành các hoạt động tại địa phương

1.2.2 Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

* Quan niệm về phát triển

Phát triển là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống

và trong nghiên cứu khoa học Theo từ điển tiếng Việt, phát triển là: “Biến đổi

Trang 31

hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản

đến phức tạp” [73, tr.769] Triết học lại khẳng định: “Phát triển là một phạm

trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên của sự vật hiện tượng theo chiều hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật” [10, tr.187-188] Xã hội học quan niệm phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên

và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ

Nhìn chung, các quan điểm trên đều thống nhất ở chỗ phát triển bao giờ cũng gắn với con người và các hoạt động của con người; với các sự vật, hiện tượng theo chiều hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; vận động theo khuynh hướng tiến lên, có sự kế thừa của cái cũ; kết quả của quá trình phát triển là cái mới ra đời thay thế cái cũ; trong đó phát triển mang ba tính chất cơ bản là tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan vì nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, nó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của các sự vật, hiện tượng Chính vì vậy mà sự vật luôn có sự phát triển

và sự phát triển đó là một tiến trình khách quan Phát triển mang tính phổ biến được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực trong tự nhiên, xã hội, tư duy và các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan Trong các khái niệm, phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển, trên cơ sở của

sự phát triển các hình thức của tư duy, các khái niệm, phạm trù mới phản ánh đúng hiện thực đang vận động và phát triển Phát triển còn là một khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, nhưng ở mỗi sự vật hiện tượng lại

Trang 32

diễn ra quá trình phát triển khác nhau Trong quá trình phát triển các sự vật, hiện tượng còn chịu tác động của các yếu tố, các sự vật và hiện tượng khác, chính sự tác động này sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật Quan điểm phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật phải đặt nó trong quá trình phát triển, tìm ra xu hướng vận động biến đổi chuyển hoá của nó, thấy được

sự nảy sinh tất yếu của cái mới thay thế cái cũ Với tư cách là một trong những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm phát triển góp phần vào việc định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và thực tiễn

* Quan niệm về phát triển tư duy lý luận

Tư duy lý luận là hình thức tư duy ở cấp độ cao, dựa trên các công cụ khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận, hướng tới phân tích, tổng hợp, khái quát để tìm ra bản chất, quy luật của hiện thực khách quan; từ đó đưa ra định hướng và hướng dẫn hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của con người ngày càng mang lại những kết quả cao

Phát triển tư duy lý luận ở đây được hiểu là quá trình biến đổi nhận thức theo khuynh hướng nhất định, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,

từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, góp phần định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người ngày càng có hiệu quả hơn Trong đó phát triển tư duy lý luận có những đặc điểm cơ bản:

Thứ nhất, phát triển tư duy lý luận phụ thuộc vào chủ thể tư duy, đó là quá trình nâng cao những yếu tố về trí tuệ, tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn, khả năng sáng tạo và vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn

Thứ hai, phát triển tư duy lý luận là sự phát triển tư duy khoa học, khả năng sử dụng các nội dung, phương pháp, thao tác tư duy khoa học nhằm đáp ứng được những yêu cầu về nhận thức ở trình độ lý luận và sáng tạo ra tri trức mới

Thứ ba, phát triển tư duy lý luận là phát triển khả năng, cách thức vận dụng những tri thức lý luận vào trong hoạt động thực tiễn nhằm mang lại hiểu quả cao hơn, đồng thời có khả năng đưa ra các dự báo khoa học

Trang 33

Như vậy, có thể hiểu phát triển tư duy lý luận là: quá trình nâng cao các yếu tố của chủ thể như về trí tuệ, tri thức, kinh nghiệm, khả năng sáng tạo… cùng với khả năng sử dụng các phương pháp tư duy khoa học nhằm đáp ứng được những yêu cầu của nhận thức ở trình độ lý luận, từ đó vận dụng các tri thức lý luận vào trong hoạt động thực tiễn của mình nhằm mang lại hiệu quả cao Phát triển tư duy lý luận là sự phát triển cao của năng lực tư duy, có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn Tùy thuộc vào các cấp độ, phạm vi, đối tượng khác nhau mà quá trình phát triển tư duy luận được biểu hiện cụ thể Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào nghiên cứu việc phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ

sở ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

* Quan niệm phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp

cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt

Nam hiện nay có thể quan niệm là: Quá trình tác động biện chứng,hợp quy

luật của các điều kiện khách quan và chủ quan làm cho các yếu tố như tư chất trí tuệ, tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn, năng lực sáng tạo và phương pháp tư duy khoa học của đội ngũ này được hoàn thiện Nhờ đó trình

độ tư duy của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở biến đổi từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, nhằm đáp ứng những yêu cầu và nhiệm vụ của nguời quản lý, tổ chức, điều hành các hoạt động ở cấp cơ sở trong thời kỳ mới

Phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay là tập trung đi vào phát triển tư duy về lý luận, làm cho tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ này có sự biến đổi và từng bước trưởng thành từ thấp đến cao,

từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, phù hợp với những điều kiện khách quan

và chủ quan của đất nước ta trong thời kỳ mới, dựa trên cơ sở của những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Qua

đó, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về mọi mặt đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và những yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách trong thời kỳ đổi

Trang 34

mới của đất nước Đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ trực tiếp giữ nhiệm vụ quản lý các hoạt động ở cấp cơ sở trong giai đoạn hiện nay

Phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay là một quá trình tác động biện chứng, hợp với quy luật của các điều kiện khách quan và chủ quan, các yếu tố tích cực và hạn chế Đồng thời, phát triển tư duy lý luận cho đội ngũcán bộ lãnh đạo này chính là quá trình tác động vào trình độ tư duy lý luận của họ, làm cho tư duy lý luận của họ có sự biến đổi theo chiều hướng tích cực, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện và từng bước trưởng thành trong công tác quản lý, tổ chức các hoạt động ở cơ sở

Mục đích của sự phát triển là nhằm bồi đắp, bổ sung những tri thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy khoa học làm chuyển hóa năng lực tư duy

lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của người cán bộ lãnh đạo ở cấp cơ sở hiện nay Sự tác động vào trình độ tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ này làm cho khả năng tư duy lý luận của họ có sự phát triển theo hướng từ thấp đến cao, chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, nhằm phù hợp với những yêu cầu đối với người cán bộ lãnh đạo nói chung và cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở nói riêng Đồng thời, phải phù hợp với những mục tiêu, nhiệm vụ, chủ trương, đường lối mà Đảng và Nhà nước đề ra Góp phần đáp ứng những yêu cầu cụ thể đối với đội ngũ cán

bộ lãnh đạo trong công tác của họ ở cấp cơ sở

Nội dung phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở: Thứ nhất, phát triển các yếu tố của tư duy lý luận là tri thức khoa học Trong đó, bao gồm tri thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, nhiệm vụ và yêu cầu của cán bộ cấp cơ

sở, cập nhật các tri thức mới, các thông tin kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội,

an ninh quốc phòng, đối ngoại

Thứ hai, phát triển tư duy lý luận thông qua việc nâng cao khả năng vận dụng những tri thức lý luận vào trong công tác lãnh đạo của đội ngũ cán bộ

Trang 35

lãnh đạo ở cấp cơ sở Cụ thể là khả năng vận dụng các tri thức khoa học vào trong công tác quản lý; khả năng vận dụng các phương pháp, kỹ năng trong các công tác và phong trào thực tiễn của cơ sở; nâng cao chất lượng các hoạt động, đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời các tình huống nảy sinh ; phát triển năng lực vận dụng tri thức lý luận vào hoạt động thực tiễn ở cơ sở Về kinh nghiệm thực tiễn bao gồm: kinh nghiệm thực tiễn trong các phong trào, hoạt động cụ thể ở cấp cơ sở, kinh nghiệm trong công tác quản lý, tổng kết kinh nghiệm, kinh nghiệm sống của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở Đặc biệt, chú trọng đến việc đổi mới các hình thức tổ chức, quản lý trong hoạt động thực tiễn ở cơ sở của đội ngũ cán bộ này; phải gắn lý luận với thức tiễn, vận dụng một cách sáng tạo vào trong việc phát triển lý luận, triển khai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Thứ ba, rèn phong cách lãnh đạo quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở; kỹ năng của người cán bộ, các kỹ năng mềm (thuyết phục, thuyết trình ) cần thiết cho mỗi vị trí lãnh đạo cụ thể ở địa phương Đồng thời, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học cho đội ngũ cán bộ này thể hiện ở việc: phát triển khả năng sử dụng nguyên tắc phương pháp luận biện chứng duy vật

và phương pháp tư duy lôgic của họ vào việc xác định lập trường tiếp cận, cách thức, biện pháp sử dụng các hình thức, thao tác tư duy lôgic chặt chẽ vào quá trình phản ánh ngày càng sâu sắc hơn, chính xác về đối tượng, góp phần tái tạo tri thức mới và vận dụng hiệu quả các tri thức vào hoạt động quản lý ở cấp cơ sở

Thứ tư, thay đổi các nội dung, hình thức, phương pháp tư duy khoa học đang trực tiếp hay gián tiếp tác động đến sự phát triển tư duy lý luận cho cán

bộ lãnh đạo cấp cơ sở Đổi mới các chính sách phát triển kinh tế - xã hội tạo tiền đề cho những buớc phát triển về đời sống vật chất, văn hoá - xã hội, góp phần nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở nước ta hiện nay

Trang 36

Điều kiện của sự phát triển là dựa trên: sự quan tâm, tạo điều kiện ngay

từ các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở, chú trọng đến việc phát triển tư duy lý luận cho họ, tạo mọi điều kiện thuận lợi và môi trường để họ có cơ hội học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tác phong lãnh đạo Ngoài ra, cần quan tâm hơn nữa đến việc phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương, đặc biệt là những vùng còn gặp nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa, nâng cao chất lượng cuộc sống, trình độ dân trí cho người dân và chú trọng đến công tác thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo tại cơ sở

Đối tượng phát triển tư duy lý luận ở đây là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp

cơ sở (bao gồm các chức vụ): Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam; Chủ tịch hội nông dân Việt Nam; Chủ tịch hội cựu chiến binh Việt

Nam; Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ

Phát triển tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay được thể hiện trước hết là ở khả năng nắm bắt bản chất chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… trong quan hệ với nhiệm vụ của người cán bộ lãnh đạo; ở khả năng nắm bắt vấn đề thực tiễn trên địa bàn mình phụ trách và

đề ra phương hướng tối ưu để giải quyết vấn đề đó Như vậy, để phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở được thể hiện ở: khả năng thu nhận tri thức, năng lực tìm ra mối quan hệ và khái quát hóa tri thức, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, năng lực phát triển tri thức Phát triển tư duy lý luận phụ thuộc vào chủ thể tư duy, đó là quá trình nâng cao những yếu

tố về trí tuệ, tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn, khả năng sáng tạo và vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, khả năng sử dụng các nội dung, phương pháp, thao tác tư duy khoa học nhằm đáp ứng được những yêu cầu về nhận thức ở trình độ lý luận nhằm mang lại hiểu quả cao hơn

Trang 37

Tóm lại, thực chất phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo

cấp cơ sở là quá trình tác động biện chứng, hợp quy luật của những điều kiện khách quan và chủ quan để tạo ra sự chuyển biến về chất các yếu tố tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn, trình độ lý luận, kỹ năng sử dụng phương pháp tư duy khoa học của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở Giúp họ có khả năng nhận thức ở trình độ lý luận và vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn công tác, thực hiện các nhiệm vụ ở cơ sở đạt hiệu quả, đáp ứng những yêu cầu

và nhiệm vụ của người cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở nước ta hiện nay

* Đặc điểm của việc phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh

đạo cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Trải qua 30 năm đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước những thành quả đạt được đã chứng minh tính đúng đắn trong đường lối của Đảng Những thành quả đạt được là nhờ sự vận dụng một cách sáng tạo, khoa học chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những thành tựu về khoa học kỹ thuật

đi trước của nhân loại đã giúp cho chúng ta có điều kiện thuận lợi, đưa đất nước tiến lên từng bước vững chắc và đi vào thế ổn định Tuy nhiên, những thành quả đạt được đó mới chỉ là bước đầu, sự nghiệp đổi mới đất nước còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, cùng các tác động phức tạp từ trong và ngoài nước Đặc biệt, nước ta đang trong giai đoạn phục hồi sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế, khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và tiếp tục kiên cường chống lại các âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực chống phá trong và ngoài nước nhằm lật đổ nền chính trị của nước ta Trước những thành quả đạt được và những khó khăn, thách thức trong bối cảnh hiện tại của đất nước, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đưa ra những mục tiêu tổng quát sau: „„Phấn đấu đến năm 2020 nước

ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội

ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của

Trang 38

nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau“ [5, tr.31] Như vậy, để thực hiện được những mục tiêu mà Đại hội XI của Đảng

đề ra đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói chung và cán bộ lãnh đạo cấp cơ cở nói riêng không chỉ có trình độ hiểu biết về mọi mặt mà còn cần có tư duy nhạy bén, tích cực, sáng tạo, đặc biệt là trong công tác tổ chức, điều hành và quản lý của mình Để làm được điều này, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở cần được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao về trình độ, phát triển tư duy lý luận

để có thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó Như vậy, tư duy lý luận có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

Cấp cơ sở là cấp cuối cùng trong sự phân cấp hành chính quốc gia ở nước ta Cấp cơ sở là tế bào của xã hội, sự phát triển của toàn bộ xã hội là do

sự phát triển của các đơn vị cấp cơ sở hợp thành Trong đó, sự phát triển của cấp cơ sở và toàn xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Khi cấp cơ sở còn yếu kém thì chưa thể nói đến sự vững mạnh của xã hội, ngược lại sự phát triển của xã hội sẽ tạo điều kiện đảm bảo cho các cơ sở phấn đấu Do vị trí của mình nên cấp cơ sở có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng nước ta

Việt Nam có diện tích khoảng trên 330.900km2, nhưng dân số trên 88 triệu người, 64 tỉnh thành và 54 dân tộc khác nhau, đã tạo nên một nền văn hóa phong phú, đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Với nhiều vùng miền khác nhau như: đồng bằng, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, biên cương,… gây khó khăn cho công tác quản lý ở từng địa phương Hơn nữa, nước ta là một nước nông nghiệp quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa, với hơn 70% dân số sống và lao động ở nông thôn Vì vậy, việc phát huy vai trò của cấp cơ sở là tất yếu khách quan trong quá trình đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trong đó, việc phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ

Trang 39

cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Thứ nhất, phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ

sở phụ thuộc vào công tác lãnh đạo, kinh nghiệm trong công tác và tổng kết thực tiễn của đội ngũ cán bộ này Đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở có thế

mạnh về kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn, vì đa số họ là những người

có quá trình công tác và trưởng thành từ hoạt động thực tiễn tại địa phương Bởi vậy, đội ngũ này có điều kiện gần gũi với nhân dân, với phong trào quần chúng, hiểu rõ đặc điểm thực tế của địa bàn và các công tác mình phụ trách Xuất phát từ thực tiễn công tác ở cơ sở đã giúp đội ngũ cán bộ này có điều kiện tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong quá trình hoạt động phong phú, đồng thời tạo khả năng phát hiện vấn đề và đưa ra cách giải quyết các vấn đề, rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống nhanh và chính xác Như vậy, đội ngũ cán

bộ lãnh đạo cấp cơ sở có khả năng vận dụng những kinh nghiệm đã được họ rút ra trong chính quá trình công tác của mình và các cán bộ tiền nhiệm giàu kinh nghiệm Thông qua đó, phản ánh trình độ và năng lực tư duy kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, nó có vai trò quan trọng trong hoạt động lãnh đạo và góp phần phát triển trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán

bộ này Những kinh nghiệm trong quá trình công tác và tổng kết thực tiễn là một đặc điểm quan trọng giúp cho quá trình công tác của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở đạt hiệu quả cao và có những chủ trương, giải pháp phù hợp với thực tiễn ở mỗi địa phương

Thứ hai, phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ

sở còn phụ thuộc vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, Ban chấp hành Trung ương Đảng về công tác lãnh đạo cấp cơ sở Phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở

giúp đội ngũ này có khả năng triển khai, vận dụng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước một cách sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể ở cơ sở, từ đó xây dựng được các chủ trương, phương hướng,

Trang 40

chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện ở mỗi địa phương Xuất phát từ thực tế ở địa phương, từ những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng

để xây dựng các mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình và các giải pháp phù hợp

Vì vậy, yêu cầu đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở cần phải nhận thức đúng đắn và vận dụng một cách sáng tạo lý luận vào thực tiễn ở cơ sở Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay, việc phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở là yêu cầu cần thiết hơn bao giờ hết, có tác dụng thúc đẩy, nâng cao năng lực tư duy, năng lực quyết đoán, nhận định đúng đắn tình hình và khả năng nhạy bén, dám nghĩ dám làm

Thứ ba, phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ

sở còn phụ thuộc vào trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình

độ lý luận chính trị, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá của đội ngũ cán bộ này Trong mọi thời kỳ, việc thường xuyên học tập để

nâng cao trình độ tri thức, trình độ lý luận, trình độ chuyên môn nghiệp vụ là nhiệm vụ quan trọng đối với mọi cán bộ nói chung Nhiệm vụ này đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở càng cần thiết hơn Đặc biệt, với vai trò và nhiệm vụ tại cơ sở đòi hỏi đội ngũ cán bộ này cần phải có trình độ tri thức, trình độ tư duy lý luận nhất định để không chỉ góp phần định hướng cho hoạt động quản lý của họ mà thông qua đó có ý nghĩa định hướng và giải quyết các hoạt động tại cơ sở Khi có trình độ tư duy lý luận nhất định, đội ngũ cán bộ này mới đạt được trình độ tri thức khách quan, khoa học và toàn diện, trên cơ

sở đó vận dụng một cách sáng tạo các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn ở cơ sở Để phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở, đòi hỏi họ phải có trình độ tri thức, trình độ tư duy lý luận nhất định; nhận thức một cách có hệ thống và nắm bắt được các mối quan hệ, liên hệ giữa các bộ phận tri thức cấu thành hệ thống lý luận, hiểu rõ bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà

Ngày đăng: 30/03/2016, 07:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
5. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
6. Hoàng Chí Bảo (1988), “Từ tƣ duy kinh nghiệm tới tƣ duy lý luận”, Tạp chí lý luận (6), tr.54- 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ tƣ duy kinh nghiệm tới tƣ duy lý luận”, "Tạp chí lý luận
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1988
7. Nguyễn Đức Bình (1988), “Nguyên nhân của thực trạng tƣ duy”, Tạp chí Cộng sản (9), tr.28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân của thực trạng tƣ duy”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 1988
8. Vũ Đình Chuyên (2000), Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện nay qua thực tế tỉnh Kiên Giang, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện nay qua thực tế tỉnh Kiên Giang
Tác giả: Vũ Đình Chuyên
Năm: 2000
9. Nguyễn Thị Đào (2008), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Đào
Năm: 2008
11. Vũ Trà Giang (2008), Rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy lý luận cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn Hà Nội hiện nay, Luận văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy lý luận cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn Hà Nội hiện nay
Tác giả: Vũ Trà Giang
Năm: 2008
12. Hồ Chí Minh (1976), Về xây dựng Đảng, NXB Sự Thật, tr101-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xây dựng Đảng
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1976
13. Hồ Chí Minh (1984), Toàn tập, tập 4, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1984
14. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
15. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. tr.269 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
16. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
17. Hồ Chí Minh (2000), về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về xây dựng và chỉnh đốn Đảng
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
18. Hồ Chí Minh (1996), Sửa đổi lối làm việc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Sửa đổi lối làm việc
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
19. Đỗ Ngọc Hanh (2013), Phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên quân đội nhân dân việt nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy lý luận của đội ngũ chính trị viên quân đội nhân dân việt nam hiện nay
Tác giả: Đỗ Ngọc Hanh
Năm: 2013
20. Nguyễn Đình Hải (2006), “Triết học và năng lực tư duy của con người trong kỷ nguyên toàn cầu”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Hải (2006), “Triết học và năng lực tư duy của con người trong kỷ nguyên toàn cầu”, "Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự
Tác giả: Nguyễn Đình Hải
Năm: 2006
21. Nguyễn Thị Hằng (2011), Vai trò của tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở nước ta, Khóa luận tốt nghiệp Triết học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Hằng (2011), "Vai trò của tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ SỐ LƢỢNG CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ - Phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở việt nam hiện nay
BẢNG THỐNG KÊ SỐ LƢỢNG CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ (Trang 116)
BẢNG THỐNG KÊ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO - Phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở việt nam hiện nay
BẢNG THỐNG KÊ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w