1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng hán và tiếng việt (trên cơ sở tác phẩm hồng lâu mộng và bản dịch )

109 623 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ lý do đó, cũng như nhu cầu cần thiết trong việc tìm hiểu đặc điểm của các biểu thức biểu thị ý nghĩa thời gian trong tiếng Hán và tiếng Việt, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGÔN NGỮ HỌC -*** -

LÝ DOANH ( LI YING )

KHẢO SÁT TỪ NGỮ BIỂU THỊ THỜI ĐIỂM TRONG TIẾNG

HÁN VÀ TIẾNG VIỆT (TRÊN CƠ SỞ TÁC PHẨM HỒNG LÂU MỘNG VÀ BẢN DỊCH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Hà Nội- 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGÔN NGỮ HỌC

~~~☆~~~

LÝ DOANH ( LI YING )

Khảo sát từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Hán và tiếng Việt

(trên cơ sở tác phẩm Hồng Lâu Mộng và bản dịch)

Luận Văn Thạc Sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã Số: 60 22 02.40

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Thuý Hồng

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong hai năm học tập tại khoa Ngôn ngữ học – Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, được sự giúp đỡ tận tình từ các thầy các cô, các bạn học viên, và với sự nỗ lực của bản thân, cuối cùng, luận văn của tôi đã hoàn thành theo mong muốn Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, ngoài được học các kiến thức ngôn ngữ, tôi còn nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy

cô giáo về cách sống trong xã hội Sau hai năm học ở Việt Nam, tôi không những

đã được nâng cao kiến thức ngôn ngữ, về tiếng Việt, mà còn hoàn thiện bản thân hơn trong cách đối nhân xử thế Xin chân thành cảm ơn các thầy các cô, xin cảm

ơn các bạn học viên đã luôn động viên giúp đỡ tôi Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Phạm Thị Thúy Hồng – người đã tận tâm dạy dỗ và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này, xin cảm ơn cô, cô đã rất vất vả với em!

Ngoài ra, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bố mẹ, những người đã luôn động viên tôi, cho tôi thêm nghị lực, dũng khí phấn đấu trên con đường mình chọn

Một lần nữa xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo của khoa Ngôn ngữ học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội Kính chúc các thầy các cô sức khỏe, thành công! Xin cảm ơn các thầy cô cho tôi ý kiến nhận xét Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội , tháng 09 năm 2015

Học viên Lý Doanh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

cứ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Ban chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ học và Ban gián hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

Hà Nội , ngày 24 tháng 9 năm 2015 Học viên

Lý Doanh ( LI YING )

Trang 5

Mục Lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa và mục đích nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu 2

6 Bố cục luận văn 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

1.1 Vấn đề thời gian và thời gian trong phát ngôn 4

1.1.1 Cách xác định thời đoạn, thời điểm, khoảng cách thời gian, hoàn cảnh thời gian 6 1.1.2 Từ chỉ thời gian với biểu thị tình thái trong câu 6 1.1.3 Thời gian ngữ cảnh 7 1.1.4 Biểu thị thời gian gắn khung vị từ 8 1.1.5 Thời gian và trật tự các thành tố trong câu – phát ngôn 9 1.2 Khái quát ý nghĩa thời gian trong tiếng Hán 9

1.2.1 Quan điểm về từ ngữ chỉ thời gian trong tiếng Hán 9 1.2.2 Nghiên cứu từ ngữ chỉ thời điểm và thời đoạn trong tiếng Hán 11 1.3 Khái quát ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt 12

1.3.1 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về từ ngữ chỉ thời

gian 12 1.3.2 Khái quát về ý nghĩa thời điểm trong tiếng Việt 15 1.4 Tiêu chí nhận diện biểu thị thời gian và thời điểm 17

1.4.1 Tiêu chí về nội dung 17 1.4.2 Tiêu chí về hình thức 19 1.4.3 Tiêu chí về chức năng 21 1.5 Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học 22

1.5.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 22 1.5.2.Các cấp độ của thời gian nghệ thuật 24 1.5.3 Các điều kiện của thời gian nghệ thuật 24 1.5.4 Các chiều của thời gian nghệ thuật 25 1 6 Nhận diện từ ngữ biểu thị thời điểm 25

1.6.1 Nhân diện từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Việt 25 1.6.2 Nhân diện từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Hán 26 Tiểu kết: 28

CHƯƠNG 2 TỪ NGỮ BIỂU THỊ THỜI ĐIỂM TRONG NGUYÊN BẢN TIẾNG HÁN TÁC PHẨM HỒNG LÂU MỘNG 29

2.1 Giới thiệu khái quát tác phẩm Hồng Lâu Mộng 29

2.2 Khái quát về việc nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm “Hồng Lâu Mộng” ở Trung Quốc 29

Trang 6

2.3 Những tiêu chuẩn và phạm vi phân ranh giới của từ chỉ thời gian trong

Hồng Lâu Mộng 31

2.4 Chức năng ngữ pháp và chức năng cú pháp của từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Hán 32

2.5 Từ ngữ biểu thị thời điểm trong nguyên bản tiếng Hán của tác phẩm Hồng Lậu Mộng 34

2 5 1 Từ đơn biểu thị thời điểm 34 2 5 2 Từ phức biểu thị thời điểm 36 2 5 3 Cấu trúc kiểu số lượng 55 2 5 4 Cấu trúc giới tân 59 2 5 5 Kiểu chính phụ 61 2 5 6 Kiểu phương vị 67 Tiểu kết: 72

CHƯƠNG 3 KHẢO SÁT TỪ NGỮ BIỂU THỊ THỜI ĐIỂM TRONG BẢN DỊCH TIẾNG VIỆT HỒNG LÂU MỘNG 74

3.1 Vấn đề dịch Hồng Lâu Mộng tại Việt Nam 74

3.2 Đặc điểm của từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Việt ( đối chiếu với nguyên bản tiếng Hán Hồng Lâu Mộng) 75

3 2 1 Các cách biểu thị thời điểm có ý nghĩa đối lập về thời 76 3 2 2 Biểu thị thời điểm có ý nghĩa hiện tại 77 3 2 3 Biểu thị thời điểm có ý nghĩa quá khứ 78 3 2 4 Biểu thị thời điểm có ý nghĩa ở tương lai 80 3.3 Từ ngữ chỉ thời điểm trong 红楼梦 và bản dịch 81

Tiểu kết: 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Phụ Lục 101

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ trước đến nay, các từ ngữ biểu thị thời gian đã là đối tượng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và thế giới Thời gian là khái niệm luôn gắn với nhận thức của con người về sự tồn tại, diễn biến của sự vật trong thế giới khách quan Qua ngôn ngữ con người đã đề cập đến một hệ thống các đơn vị thời gian và phản ánh những hiểu biết của con người về các thuộc tính cũng như quy luật khách quan của thời gian

Khác với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, tiếng Hán và tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình, động từ không biến đổi hình thái do đó không có chức năng thông báo

về thời gian trong bản thân thực từ Vì vậy, khi đề cập đến thời gian trong tiếng Hán và tiếng Việt, chúng ta không thể không nói tới những từ ngữ chỉ thời gian Những từ ngữ này có chức năng biểu hiện và phân nghĩa thời gian Đó là những chức năng biểu hiện và phân định ý nghĩa của các thời, quá khứ, hiện tại và tương lai cũng như định vị các sự việc và hành động trên trục thời gian

Vấn đề thời gian đã được nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách toàn diện đặc điểm của các biểu thức thời gian, đặc biệt là các biểu thức thời gian có

ý nghĩa thời điểm Xuất phát từ lý do đó, cũng như nhu cầu cần thiết trong việc tìm hiểu đặc điểm của các biểu thức biểu thị ý nghĩa thời gian trong tiếng Hán và tiếng Việt, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu về: ―Khảo sát từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Hán và tiếng Việt (trên cơ sở tác phẩm Hồng Lâu Mộng và bản dịch)‖ Đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu khảo sát đặc điểm và ý nghĩa của các từ ngữ biểu thị ý nghĩa thời điểm trong Tiếng Hán vàTiếng Việt

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là khảo sát từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Hán và tiếng Việt qua nguyên bản tiếng Hán tác phẩm Hồng Lâu Mộng và bản dịch tiếng Việt

Đi sâu tìm hiểu khảo sát các từ ngữ biểu thị thời gian có ý nghĩa thời điểm, chúng tôi

sẽ lần lượt xem xét chúng về các mặt: đặc điểm ý nghĩa, chức năng ngữ pháp và hình thức biểu hiện

Trang 8

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Hán và tiếng Việt được thể hiện trong tác phẩm Hồng Lâu Mộng và bản dịch, từ đó tiến hành phân tích, miêu tả ý nghĩa của chúng,đồng thời khảo sát những từ ngữ này trong các ngữ cảnh khác nhau, xem xét trong mối quan hệ với hiện thực mà chúng biểu thị, đặc biệt trong mối quan hệ với người sử dụng, so sánh nhóm các từ ngữ này trong tiếng Hán với tiếng Việt, dùng các phương pháp thích hợp để tìm ra các đặc trưng văn hóa và tư duy dân tộc ẩn chứa trong ngữ nghĩa của các từ ngữ này, từ đó giải thích phần nào đặc điểm nhận thức

về thời gian của người Hán và người Việt

4 Ý nghĩa và mục đích nghiên cứu

―Hồng Lâu Mộng‖ là một tác phẩm rất quan trọng trong giai đoạn chuyển tiếp từ tiếng Hán cổ đại đến tiếng Hán hiện đại Luận văn tìm hiểu và giải thích từ ngữ biểu thị thời điểm trong Hồng Lâu Mộng vào việc định vị các sự việc và hành động trên trục thời gian và có so sánh với tiếng Việt Các kết luận rút ra trong luận văn là cần thiết đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ nói chung, đặc biệt đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ với văn hóa và tư duy nói riêng

Luận văn chọn tiếng Hán , một ngôn ngữ tượng hình, để đối chiếu với tiếng Việt, một ngôn ngữ tượng thanh, bởi thông qua sự khác biệt này việc đối chiếu phương tiện diễn đạt ý nghĩa, nội hàm ngữ nghĩa của từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Hán với tiếng Việt sẽ xác định được những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, tìm hiểu cách biểu đạt tương đương về nghĩa nhằm thấy được sự khác nhau về tư duy văn hóa dân tộc giữa hai ngôn ngữ

5 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu

Trong luận văn này, ngoài hai phương pháp nghiên cứu chung là qui nạp và diễn dịch chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp miêu tả, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh đối chiếu,

Nguồn tư liệu của luận văn chủ yếu được trích từ các báo, tạp chí, truyện ngắn, tác

Trang 9

phẩm Hồng Lâu Mộng và bản dịch Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng một số tư liệu lấy

từ các công trình nghiên cứu của một số tác giả khác hay từ thực tế cuộc sống Các câu này đều biểu hiện ý nghĩa thời điểm và được phân tích định tính và định lượng nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương với những nội dung chính như sau:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết

Trình bày một số nội dung lý thuyết liên quan đến từ, ngữ, từ chỉ thời gian, cách phân loại từ biểu thị thời gian và cách định vị thời gian

Chương 2 Biểu thị thời điểm trong tiếng Hán và trong nguyên bản tiếng Hán tác phẩm Hồng Lâu Mộng

Khảo sát đặc điểm từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Hán và trong nguyên bản tiếng Hán tác phẩm Hồng Lâu Mộng

Chương 3 Khảo sát từ ngữ biểu thị thời điểm trong bản dịch Hồng Lâu Mộng

Khảo sát các đặc điểm từ ngữ biểu thị thời điểm và cách biểu thị thời điểm trong tiếng Việt Giới thiệu lý thuyết dịch, phân tích sự bản dịch từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Hán sang tiếng Việt, từ đó nêu ra sự giống và khác nhau giữa chúng

Ngoài ra luận văn còn có phụ lục, tài liệu tham khảo

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Vấn đề thời gian và thời gian trong phát ngôn

Thời gian cũng như không gian là hai phạm trù lớn của triết học, là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất Thời gian và không gian là hai thực tại khách quan gắn liền với vật chất và quá trình vận động với vật chất Hay nói khác đi không có vật chất nào tồn tại ngoài thời gian và không gian

Như vậy thời gian là một trong những khái niệm cơ bản trong nhận thức của con người, nó không những chỉ nhận thức được về mặt vật lý học mà còn được nhận thức về mặt ngôn ngữ học

- Theo ―Từ điển Tiếng Việt‖ (Hoàng Phê chủ biên) thời gian có 3 nghĩa cơ bản

Nghĩa 1: Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với không gian), trong đó vật chất vận động sự phát triển liên tục, không ngừng

Nghĩa 2: Khoảng thời gian nhất định xét về mặt dài, ngắn, nhanh, chậm của

Nghĩa 3: Khoảng thời gian trong đó diễn ra sự việc từ đầu cho đến cuối [28,tr 956]

- Theo "Từ điển Hán Việt" của Đào Duy Anh thì quan niệm về thời gian là quá

khứ, hiện tại, tương lai, vị lai ba cái trạng thái ấy lưu chuyển với nhau vô cùng gọi

là thời gian [1, tr432]

Theo Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới: ―Thời gian là biểu tượng của giới

hạn trong sự kéo dài và của ranh giới dễ cảm nhận nhất ngăn cách cuộc sống trần thế và cuộc sống của thế giới bên kia, thế giới vĩnh hằng Trong định nghĩa, thời gian của người trần là hữu hạn, còn thời gian của thánh thần là vô hạn, hay nói đúng hơn là vô thời gian, là vô khởi, vô tận‖ [dẫn theo 14, tr 905]

Trên thực tế người ta cảm nhận được thời gian là những thay đổi biến cố trong

tự nhiên như (sáng, trưa, chiều, tối, xuân, hạ, thu, đông ), trong các lễ hội phong

Trang 11

tục của dân tộc (các ngày lễ hội, các phiên chơ, kỵ, giỗ, tết ), trong cuộc đời con người (lọt lòng, lớn lên, lấy vợ, lấy chồng, già, chết ), trong đời sống chính trị (triều đại, mốc lịch sử, bước ngoặt lịch sử ) Thời gian qua sự cảm nhận đó là thời

gian vật lý và thời gian vật lý thì tuân theo quy luật tất yếu: Có tính liên tục, nó chỉ

đo đếm được trên một chiều mà thôi Thời gian vật lý trùng với thời gian lịch sử đều là thời gian liên tục không cho phép đứt đoạn

Người ta nói đến thời gian trong ngôn ngữ bởi vì điều này gắn với đặc điểm tín hiệu của ngôn ngữ Tín hiệu của ngôn ngữ được lần lượt xuất hiện theo trình tự thời giangọi là tính hình tuyến Người ta không thể phát âm cùng một lúc các tín hiệu chồng lên nhau mà phải đi từ A lần lượt B rồi C

Như vậy thời gian trong ngôn ngữ chính là sự phản ánh một hiểu biết của con người về các thuộc tính và quy luật của thời gian khách quan Đây là một phạm trù

có tính phổ quát trong nhiều ngôn ngữ Với "bức tranh thế giới riêng, mô hình thế

giới, hình ảnh thế giới‖, trong từng cộng đồng người khác nhau nên phạm trù thời

gian cũng có cách thể hiện, mà người bản ngữ không giải thích nổi

Người ta có thể xem thời gian trong ngôn ngữ trùng với thời gian trong đời sống thực tiễn Và như vậy thời gian được coi là một đại lượng cần được phân chia, cần được hình thành các đơn vị để đo đếm Do đó có khái niệm về thời đoạn (các khoảng thời gian) Thời gian được hình dung như một chuỗi vận động liên tục theo một trục mà trên đó người ta có thể đánh dấu để ghi nhớ các mốc, các sự kiện, tức

là các khoảng thời gian ngắn được hạn định một cách chính xác, coi như một điểm trên trục thời gian Vì thế có khái niệm thời điểm (mốc thời gian)

Thời gian còn được coi như là một sự vận động có chiều hướng xác định và trong quan hệ với sự tồn tại bản thân mình, con người có nhu cầu sắp xếp nó vào một khu vực từ đây có khái niệm về thì (các miền thời gian) Như vậy thời đoạn, thời điểm và thì là ba nội dung biểu hiện cụ thể của khái niệm chung về thời gian đã được nhận thức trong lịch sử phát triển tư duy của loài người nói chung và của mỗi dân tộc nói riêng

Trang 12

1.1.1 Cách xác định thời đoạn, thời điểm, khoảng cách thời gian, hoàn cảnh thời gian

Để phản ánh các thuộc tính về lượng hay chất của thời gian, ta thấy có các loại

ý nghĩa như: ý nghĩa thời đoạn, thời điểm, thời hạn; ý nghĩa về khoảng cách thời gian, hoàn cảnh thời gian…

-Thời doạn là một khoảng thời gian nào đó được phân chia về mặt khối lượng

(nhiều/ít), về độ dài (dai/ngắn), là cách phân định các thời khoảng trong quá khứ - hiện tại – tương lai Thời đoạn có thể không xác định, có thể xác định khi nó gắn với thuộc tính của sự việc, của quá trình, của một hoạt động nào đó hoặc là chiều dài của một sự kiện từ khi nó bắt đầu cho đến khi nó kết thúc

-Thời điểm được xem là khoảng thời gian ngắn hoặc rất ngắn, được hạn định

một cách chính xác Nó là một điểm trên trục thời gian (như: sáng nay, 11 giờ trưa

nay, 3 giờ chiều nay, 15 phút nữa…)

-Thời hạn là phạm vi thời gian trong đó một sự tình xuất hiện được định

lượng là bao lâu (như: 5 ngày, 3 tuần, 4 tháng, 3 tiếng đồng hồ, 10 phút…)

-Khoảng cách thời gian là chiều dài được đo từ thời điểm phát ngôn đến thời

điểm xảy ra sự kiện, cũng có thể là khoảng cách giữa hai sự kiện xuất hiện ở hai thời điểm khác nhau

-Hoàn cảnh thời gian hay còn gọi là vị trí của người nói, ―điểm nhìn ― của

người phát ngôn Tất cả các thời đoạn, thời điểm đều được định vị, được xác định thông qua chủ thể phát ngôn

Các phường tiện dùng để diễn đạt những ý nghĩa này ở tiếng Việt

1.1.2 Từ chỉ thời gian với biểu thị tình thái trong câu

Thời gian luôn luôn được xác định bởi một tình thái nhất định Thời gian dài hay ngắn, sớm hay muộn tất cả là do nhận thức đánh giá của người nói và chỉ

được bộc lộ một phần trong tình thái của câu Theo Cao Xuân Hạo: Tình thái của

câu phản ánh thái độ của người nói đối với điều mình nói ra, cách người nói đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, giới hạn của tính hiện thực (trong thời gian chẳng hạn - phạm trù thì) mức độ của tính xác thực, của tính tất yếu (khách quan

Trang 13

hay đạo lý), tính khả năng (vật chất hay tinh thần), tính chất đáng mong muốn hay đáng tiếc của điều được thông báo [dẫn theo 13, tr51]

Như vậy tình thái của câu là nội dung chỉ mối quan hệ giữa người nói và người nghe còn gọi là tình thái liên cá nhân Nếu chỉ thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự việc nêu lên trong câu đối với phần nghĩa miêu tả sự việc còn gọi là tình thái chủ quan Nếu chỉ mối quan hệ của sự việc nêu lên trong câu với hiện thực khách quan như thời gian, cách thức diễn ra hành động còn gọi là tình thái khách quan

Trong Hồng Lâu Mộng, những nội dung tình thái này nhiều khi đan quyện vào nhau trong một yếu tố ngôn ngữ, khó bề tách bạch ra một cách rạch ròi, ví dụ:

Sau tuổi hai mươi đã trải đời

Qua một trăm ngày mới rước linh cữu về nguyên quán

Nay đang vào tiết đầu xuân

Không biết bao giờ mới đến

Từ "đã", "nay", "qua" ―bao giờ‖ vừa chứa tình thái khách quan chỉ quan hệ của sự việc "trước kia" với thời gian hiện tại

1.1.3 Thời gian ngữ cảnh

Ngữ cảnh là yếu tố quan trọng để biểu thị thời gian Ngữ cảnh của một từ chính là chuỗi kết hợp các từ ngữ xung quanh nó để làm cho nó được cụ thể hoá và xác định về nghĩa Ngữ cảnh có thể tối thiểu là một từ, tối đa là một chuỗi lớn hơn

có khả năng ứng với một câu, một phát ngôn Khi dùng ngôn ngữ để giao tiếp, người ta nói ra những câu, những phát ngôn chứ không phải là những từ rời rạc, ở

đó các từ kết hợp với nhau theo quy tắc và chuẩn mực ngôn ngữ Trong mỗi ngữ cảnh cụ thể từ thể hiện khả năng kết hợp từ vựng và khả năng kết hợp ngữ pháp của mình và cũng chính trong câu hay trong phát ngôn người ta mới biết được rằng

trong trường hợp hoàn cảnh cụ thể từ có nghĩa gì Chẳng hạn phụ từ ― đã ‖biểu thị ý nghĩa thời gian quá khứ nhưng trong hoàn cảnh cụ thể , ―đã‖ có thêm những nét

nghĩa khác: Bấy giờ đã đến lúc lên đèn Hai người bàn định xong rồi ra xem mọi

người đánh bài.(Hồng Lâu Mộng, Hồi thứ bảy, tr98) ―Đã‖ có nét nghĩa quá khứ

Trang 14

gần với hiện tại, mới xảy ra

Trong Hồng Lâu Mộng, ngữ cảnh có quan hệ chặt chẽ với thời gian Thông qua ngữ cảnh người ta mới liên tưởng đến yếu tố thời gian có xuất hiện rõ nét hay không rõ nét trong các câu thơ Thời gian trong Hồng Lõu Mộng chủ yếu là thời gian mang tính biểu trưng, khó xác định Chính vì vậy ngữ cảnh rất quan trọng, góp

phần tăng thêm ý nghĩa câu văn: Nay đang vào tiết đầu xuân, muôn vật đổi mới,

đáng nên hăng hái dựng lại mới phải (Hồng Lâu Mộng, Hồi thứ bảy mươi, tr 147).

1.1.4 Biểu thị thời gian gắn khung vị từ

Khung vị từ là cấu trúc vị từ tham thể được tổ chức theo yêu cầu diễn đạt của câu Hay nói một cách khác khung vị từ là dạng biểu hiện cụ thể trong câu của cấu trúc vị từ tham thể Cấu trúc vị từ tham thể một mặt phản ánh cấu trúc nòng cốt của

sự việc, mặt khác phản ánh cốt lõi trong cấu trúc miêu tả của câu Các tham thể được xác định theo vai trò của mình trong mối quan hệ với đặc trưng của sự việc nêu ở vị từ

Ví dụ: Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm

Bữa nay lạnh: Tham thể thời gian

Như buổi sáng đầu ngày: Tham thể thời gian

Ví dụ: Ánh sáng vấn vương chiều uể oải

Ánh sáng: Tham thể làm chủ ngữ

Vấn vương: Vị từ (vị ngữ)

Chiều uể oải: Tham thể thời gian

Như vậy, khi xét nghĩa thời gian ta phải gắn các đơn vị biểu thị thời gian với khung vị từ thì mới hiểu hết được ý nghĩa của câu

Trong Tiếng Việt, vị từ là một từ có chức năng làm thành một vị ngữ hoặc làm

Trang 15

trung tâm ngữ pháp, hay làm hạt nhân ngữ nghĩa của một vị ngữ biểu thị nội dung của sự việc Vị từ có thể là một động từ hay tính từ Trong giao tiếp các đơn vị biểu thị thời gian là phụ từ có khả năng đứng trước động từ và tính từ

Ngoài ra, vị từ còn được biểu hiện dưới dạng là một cụm từ Trong trường hợp

đó thì cụm thường được đánh dấu bằng các phụ từ trong đó có nhóm phụ từ biểu

hiện ý nghĩa thời gian: đã, đang, vừa, còn các phụ từ này có thể xuất hiện từng

yếu tố một cùng với động từ hay tính từ

1.1.5 Thời gian và trật tự các thành tố trong câu – phát ngôn

Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái, vì thế phương thức trật tự là phương thức rất quan trọng biểu thị ý nghĩa ngữ pháp

Trong câu, nếu thay đổi vị trí của từ thì ý nghĩa thay đổi và chức năng cú pháp của các thành phần câu cũng thay đổi

Ví dụ: Rồi một ngày mai tôi sẽ đi Hành động ―đi‖ chưa diễn ra

Ví dụ: Sao ngày tháng trôi đi vội vã Hành động ―đi‖ đã và đang diễn ra Thay đổi vị trí của từ chính là thay đổi trật tự từ từ ở trong câu Cần phải phân biệt phép trật tự từ và phép tuyến tính Tuyến tính là một đặc điểm vô cùng quan trọng của ngôn ngữ Nó là một đặc điểm phổ quát tồn tại trong mọi ngôn ngữ không phụ thuộc vào truyền thống, tập quán chân lý dân tộc Còn phép trật tự từ thì ngược lại, về hình thức thì giống với đặc điểm tuyến tính của ngôn ngữ nhưng nó lại mang dấu vết về truyền thống văn hoá, tập quán của dân tộc

Trong Tiếng Việt, dựa vào quan hệ giữa các phát ngôn, ta có thể thấy nhiều trật

tự sắp xếp các thành tố biểu thị thời gian khác nhau Có thể là trật tự sắp xếp các thành tố theo thời gian nghĩa là sự kiện hay hành động xảy ra theo trình tự thời gian

1.2 Khái quát ý nghĩa thời gian trong tiếng Hán

1.2.1 Quan điểm về từ ngữ chỉ thời gian trong tiếng Hán

Kể đến việc nghiên cứu từ chỉ thời gian, các nhà ngôn ngữ học tiền bối như cụ

Lê Cẩm Hy (1942), Vương Lực (1943), Lã Thúc Tương (1944), Cao Văn Khải…

đã có sự tìm tòi về các hình thức và thể loại diễn tả cơ bản về từ chỉ thời gian trong

Trang 16

tiếng Hán hiện đại Các thành quả nghiên cứu đương thời có ―Bàn về kết cấu tam nguyên của hệ thời gian tiếng Hán hiện đại‖ (1988) của Trần Bình, ―Sơ lược về từ chỉ thời gian trong tiếng Hán hiện đại‖ (1991) của Lục Kiện Minh đã bàn luận một cách khá toàn diện về từ chỉ thời gian Bài ―Kể về từ chỉ thời gian tiếng Hán‖ (1995) của Chu Tiểu Bình, bài ―Giai đoạn đặc chỉ trong việc diễn tả thời gian trong tiếng Hán hiện đại‖ (1999) và ―Nghiên cứu về thời điểm thời đoạn tiếng Hán hiện đại‖ (1997) của Lý Hướng Nông đã chú trọng phân tích sự khác biệt giữa từ chỉ thời gian với thời đoạn từ, đã có sự nghiên cứu khá thâm nhập về cách diễn tả của từ ngữ chỉ thời gian, thời điểm, thời đoạn; ―Nghiên cứu tìm hiểu ngữ nghĩa mơ hồ với tính chuẩn xác của từ chỉ thời gian tiếng Hán‖ (2006) của Chương Đình Đông cộng tác với Lý Bảo Gia đã nêu rõ trong sự diễn tả ngôn ngữ, từ chỉ thời gian tồn tại sự đối lập - thống nhất giữa tính mơ hồ với tính chuẩn xác Còn Dương Động Dụng và

Hồ Bồi An thì phân tích từ chỉ thời gian theo góc nhìn nhận phạm trù danh giới từ ngữ

Đi đôi với việc nghiên cứu từ chỉ thời gian trong tiếng Hán hiện đại, các nhà ngôn ngữ học cũng đã tiến hành nghiên cứu về từ chỉ thời gian trong tiếng Hán cổ đại và hiện đại, Cuốn ―Từ điển phạm trù thời gian trong tiếng Hán cổ‖ (2005) của Vương Hải Phấn đã thu lượm được hơn ba nghìn từ ngữ ghi thời gian, mỗi từ ngữ đều kèm theo giải nghĩa với một số câu mẫu chọn lọc kỹ càng Phần quan trọng và

có ý nghĩa hơn là bài báo cáo nghiên cứu ở phần mở đầu của cuốn từ điển ―Tổng quát về phạm trù thời gian trong tiếng Hán cổ‖ Trước tiên là tìm hiểu về đặc

điểm tính bất phong bế và tính mơ hồ của từ ngữ ghi thời gian, rồi quy nạp phân

tích hình loại kết cấu của từ ngữ ghi thời gian, đã liệt kê tường tận các loại phương

thức kết cấu; và bản báo cáo đã dành nhiều nội dung luận thuật các phương thức ký

thời và nội hàm văn hóa phong phú của nó; phần cuối bài đã khảo sát lịch thời (thời

gian, thời đoạn) về phạm trù thời gian trong tiếng Hán cổ, đã trình bày, thể hiện phạm trù thời gian trong tiếng Hán cổ một cách rõ ràng Bài ―Nghiên cứu về từ chỉ thời gian trong Hán thư‖ (2004) của Đặng Thụy Lệ đã sử dụng phương pháp miêu

tả trạng thái tĩnh, phân tích khá toàn diện về danh từ, phó từ và tính từ biểu thị thời

Trang 17

gian trong Hán thư, và đã phân tích tỉ mỉ tình hình sử dụng đại thể của từ chỉ thời gian và đã miêu tả về nội hàm và phạm vi từ chỉ thời gian trong Hán thư Bài nghiên cứu ―Một nhóm từ chỉ thời gian trong tiếng Hán cận đại‖ (1997) của Phạm Phan, đã khảo sát 21 từ chỉ thời gian chỉ xưng quãng thời gian sát gần thời điểm nói trong tiếng Hán cận đại, từ góc độ cộng thời và lịch thời trong một phạm vi khép kín, như ―thích tài, thích gian, kháp tài, cang tài, đầu lí,…‖; đã phân tích sự khác biệt của tỉ suất sử dụng, kết cấu trong và chức năng ngữ pháp, cùng với quan hệ đối ứng giữa phương thức kết cấu với chức năng ngữ pháp, chức năng tả nghĩa của những từ ngữ đó; rồi còn khảo sát sự biến hóa phát triển của những từ chỉ thời gian đó theo góc độ lịch thời.

1.2.2 Nghiên cứu từ ngữ chỉ thời điểm và thời đoạn trong tiếng Hán

Nghiên cứu từ ngữ chỉ ―thời điểm, thời đoạn‖ là một trong những tiêu điểm nghiên cứu ―từ ngữ chỉ thời gian‖, kết quả nghiên cứu rất phong phú ―Thời điểm‖

và ―thời đoạn‖ là sự phân loại về mặt ngữ nghĩa của từ thời gian Quan điểm cơ bản của giới học thuật về thời điểm và thời đoạn là: Thời điểm là một điểm trong thời gian, biểu thị vị trí của thời gian, có thể dùng để trả lời câu hỏi ―什么时候(lúc nào)‖ Ví dụ: 星期一(Thứ 2),9 点(9 giờ), 今天(hôm nay),明年(năm ngoái),

隐公元年(năm công lịch, năm âm lịch)… Thời đoạn là một độ dài ngắn của thời gian, có thể dùng để trả lời câu hỏi ―bao nhiêu lâu‖ Ví dụ: 三天(3 ngày), 两个月

(2 tháng), 五年(5 năm), 一会儿(một lúc), 片刻(một lát)…

Hai thuật ngữ ―thời điểm‖ và ―thời đoạn‖ lần đầu tiên xuất hiện là ở cuốn

―Yếu lược văn pháp Trung Quốc‖ của ông Lữ Thúc Tương Cuốn sách này cho rằng: Từ thời gian thực chỉ (ví dụ như 晋太元中năm Tấn Thái) và từ thời gian

xưng đại (như 将来sắp tới,hôm nay, hôm qua) đều là thời điểm; ngoài ra

còn thời đoạn, biểu thị thời gian dài hay ngắn, hoặc dùng các đơn vị như (年 năm,

ngày, tháng) và phía trước có các từ định lượng hoặc từ bất định lượng như

―三年 3 năm‖, ―数日 số ngày‖; hoặc biểu thị sự nhanh chậm, như ―一会儿một lát,

好久lâu rồi,dài, 、久lâu… Việc đưa ra thuật ngữ ―thời điểm‖ và ―thời đoạn‖

Trang 18

mang nhiều ý nghĩa, đặt nền móng nghiên cứu sâu hơn về thời điểm và thời đoạn cho các học giả và có đóng góp quan trọng tiên phong đối với việc nghiên cứu từ chỉ thời gian

Trong cuốn ―Ngữ pháp Hán ngữ hiện đại giảng giải‖ đã chia từ chỉ thời gian thành hai loại là thời điểm và thời đoạn, đồng thời đã định nghĩa rõ ràng cho thời điểm và thời đoạn từ góc độ ý nghĩa: ―Từ thời gian có 2 loại Một loại biểu thị lúc

nào, ‗ví dụ như: 一九五四年(năm 1954, 昨天(hôm qua,星期六下午(chiều thứ 7)…‘ để nói vị trí thời gian, sự sớm muộn của thời gian, đây gọi là ‗thời điểm‘

Một loại biểu thị thời gian bao nhiêu, như „五年5 năm, 三年3 năm)… để nói

độ dài ngắn của thời gian, sự tạm thời hay dài hạn của thời gian, đây gọi là ‗thời đoạn‘ Trong cuốn ―Ngữ pháp giảng nghĩa‖ của Châu Đức Hi cũng nói đến vấn đề

thời điểm và thời đoạn: ― ‗今天(ngày nay, 星期一(thứ 2‟ thể hiện ‗thời điểm‘ ,

tức là vị trí thời gian, sự sớm muộn của thời gian ‗一会儿(một lúc),半天 (nửa ngày),两个钟头(2 tiếng), 两个月(2 tháng)‘ biểu thị thời lượng, tức độ dài ngắn của thời gian.‖

1.3 Khái quát ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt

Khác với tiếng Hán, trong tiếng Việt tất cả các loại ý nghĩa thời gian hữu quan ( thời, thời điểm, thời đoạn, tần số) đều được biểu hiện bằng các biểu thức thời gian độc lập Các biểu thức thời gian này hoặc tồn tại như các đơn vị từ vựng (hôm qua, hôm nay, bây giờ ) hoặc được tạo thành tự do trong lời nói như là các ngữ (vào mùa xuân, vào tháng ba ) liên hợp (ngày 25 tháng 4 năm 1991 ) hoặc mệnh đề

1.3.1 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam về từ ngữ chỉ thời gian

Trong sự nhận thức về thời gian, người Việt thường sử dụng từ để biểu thị các

khoảng thời gian ngắn như: khắc, canh, giây, phút, giờ, …đến những từ chỉ các khoảng thời gian dài như: năm, thập kỷ, thế kỷ, … Đó là những từ chỉ thời gian

Tuy nhiên, việc phân loại từ chỉ thời gian hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất cao giữa các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học về kết quả phân loại và thuật ngữ để gọi tên Sau đây là một số quan điểm nổi bật của các tác giả về từ chỉ thời gian;

Trang 19

1.3.1.1 Quan điểm chia từ chỉ thời gian gồm 2 loại: danh từ và phụ từ (phó từ)

Với các tác giả Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt tập 2), từ chỉ thời gian gồm có hai loại: danh từ và phụ từ (phó từ) Cụ thể như sau:

Quan niệm của tác giả Nguyễn Kim Thản:

Danh từ chỉ thời gian là một nhóm nhỏ thuộc lớp danh từ không chỉ cá thể Có

các danh từ chỉ thời gian như sau: khi, hồi, lúc, … Đặc điểm là bao giờ chúng cũng

được đặt trực tiếp sau số từ

Phó từ chỉ thời gian gồm: sẽ, đã, từng, có, vừa, mới, rồi, vẫn, còn, lại,

sắp, …là những phó từ có tác dụng làm dấu hiệu thời gian [23, tr 318]

Quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban (trong Ngữ pháp tiếng Việt – tập 2):

Danh từ đơn vị thời gian:

Bao gồm danh từ chỉ đơn vị thời gian xác định và danh từ chỉ khoảng thời gian

không xác định: thiên niên kỷ, thế kỷ, thập kỷ, năm, tháng, tuần, ngày, giờ, phút,

giây, …; dạo, khi, hồi, lúc, chốc, hôm, vụ, mùa

Trong số những danh từ chỉ khoảng thời gian không xác định, có những từ thường không xuất hiện trực tiếp sau số từ số đếm xác định Những từ này chỉ đứng

sau ―những, một‖ (với ý nghĩa phiếm định) và ―một, đôi‖ (phiếm định), nhưng tuyệt đại đa số đứng trước các từ chỉ định ―ấy, nọ, này‖ [2, tr 30]

-Ý chỉ sự duy trì trong thời gian như: nữa, hoài, luôn, mãi, …

1 3.1 2 Quan điểm chia từ chỉ thời gian thành 2 loại: thực từ và hƣ từ

Theo quan điểm của các tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung [2, tr 34], hệ thống từ loại tiếng Việt có thể phân chia thành hai mảng lớn: thực từ và hư

từ

Thực từ gồm: danh từ, động từ, đại từ Trong đó:

Trang 20

- Danh từ chỉ ý nghĩa sự vật là thời gian: hồi, dạo, buổi, vụ, mùa

- Động từ chỉ quan hệ diễn biến theo thời gian: bắt đầu, tiếp tục, kết thúc, thôi

hết, …

- Đại từ:

+ Đại từ xác chỉ thời gian: bây giờ, giờ, bấy giờ, bấy, nãy, …

+ Đại từ phiếm chỉ thời gian: bao lâu, bao giờ, …

- Hư từ gồm: phó từ và kết từ Trong đó:

+ Phó từ chỉ thời gian: đã, từng, mới, sẽ, sắp, …

Phó từ chỉ thời gian chỉ quan hệ về thời gian với quá trình hay đặc trưng trong cách phản ánh của tư duy Quan hệ thời gian được xác định theo một điểm mốc tương ứng với thời điểm thực tại, hoặc tương ứng với thời điểm phản ánh, hoặc tương ứng với thời gian giữa các quá trình hay các đặc trưng Phó từ chỉ thời gian còn xác định tính hiện thực hoặc phi hiện thực của hành động, trạng thái, tính chất theo quan hệ thời gian

Qua quá trình khảo sát những quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam

về từ chỉ thời gian, người viết nhận thấy rằng, các tác giả có sự trình bày và phân loại một cách cụ thể, rõ ràng và có tính hệ thống

Tuy nhiên, có trường hợp, cùng một tác giả nhưng ở hai công trình khác nhau lại đưa ra những quan điểm không giống nhau Đó là trường hợp của tác giả Diệp Quang Ban trong hai quyển ―Ngữ pháp tiếng Việt – tập 1‖ và ―Ngữ pháp tiếng Việt

- tập 2‖

Ở quyển ―Ngữ pháp tiếng Việt - tập 1‖, ông phân từ chỉ thời gian làm 4 loại

Ở quyển ―Ngữ pháp tiếng Việt - tập 2‖, ông lại phân từ chỉ thời gian thành 2 loại

Về tiêu chí phân loại: cùng một từ, nhưng các tác giả lại xếp vào các từ loại

khác nhau Chẳng hạn, trường hợp từ ―đã‖, ―đang‖, thì có tác giả lại xếp vào lớp

động từ chỉ thời gian (Hữu Đạt), có tác giả lại xếp vào lớp phó từ (hay phụ từ) chỉ thời gian (Đỗ Thị Kim Liên, Diệp Quang Ban, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Hữu Ngọc)

Trang 21

Ngoài ra, việc gọi tên cũng chưa có sự thống nhất giữa các tác giả Cùng một

từ chỉ thời gian nhưng một số tác giả gọi là phụ từ chỉ thời gian (Lê Biên, Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt -tập 2), Nguyễn Đức Dân (Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn) Một số tác giả khác lại gọi là phó từ chỉ thời gian (Đỗ Thị Kim Liên, Hữu Quỳnh) Cũng có trường hợp như ở tác giả Diệp Quang Ban, ông vẫn chưa có sự thống nhất trong việc gọi tên Chẳng hạn, trong cuốn ―Ngữ pháp tiếng Việt - tập 1‖, ông gọi là phó từ, đến quyển ―Ngữ pháp tiếng Việt - tập 2‖, ông lại gọi là phụ từ

Như vậy, qua việc phân loại về từ chỉ thời gian chúng ta thấy vẫn còn khá phức tạp, chưa có sự thống nhất giữa các nhà ngôn ngữ học Việt Nam Đối với luận văn này, người viết sử dụng quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung trong quyển ―Ngữ pháp tiếng Việt - tập1‖ Song, người viết phân từ chỉ thời gian thành 3 loại: danh từ, đại từ, phụ từ

Phân loại từ ngữ chỉ thời gian

Danh từ chỉ thời gian Phụ từ chỉ thời gian Đại từ chỉ thời gian Ngày, giờ, giây, phút, lúc, khi, sáng,

chiều, đêm, hoàng hôn, tháng, mùa, năm, hồi,

canh, thế kỷ, dạo, buổi, thuở, ngày mai, hôm

nay, xuân, hè, thu, đông, quá khứ, tương

lai, …

Đã, đang, sẽ, sắp, vừa, mới, mãi, …

Bây giờ, bấy giờ, Bao lâu, bao giờ, nay,

1 3.2 Khái quát về ý nghĩa thời điểm trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, vấn đề ―thời‖ hiện nay vẫn chưa được giải quyết một cách

thống nhất Đối với một ngôn ngữ không có hình thức ngữ pháp của động từ thì việc xác định được miền thời gian, quá khứ, hiện tại và thời tương lai khi diễn ra hoạt động ngôn ngữ là hết sức quan trọng

Trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới khi nói về tính thời điểm trong mối quan hệ với hiện tại, có quan điểm cho rằng hiện tại thực chất chỉ là một điểm, bởi nếu kéo dài, nó sẽ bị phân chia ngay thành quá khứ và tương lai

Trang 22

Quan điểm này khởi nguồn của Augustins và cũng được coi là cơ sở để giải thích ý nghĩa thời gian trong ngôn ngữ theo quan điểm của vật lý học

Khác với quan điểm trên, Admoni cho rằng: ―Đa số các hành động không có

tính thời điểm, không diễn ra trong chớp mắt mà diễn ra trong một khoảng thời gian dài hay ngắn , và nếu như thời điểm của hiện tại rơi vào trong khoảng thời gian nào thì toàn bộ khoảng thời gian đó được coi là hiện tại‖ [dẫn theo 23, tr186]

Tính thời điểm còn được nhìn nhận một cách rõ ràng hơn theo quan điểm của

Saf: ―Thời điểm trong ngôn ngữ thường là sự khởi đầu hay sự kết thúc của một thời

đoạn và thời điểm lý tưởng là thời đoạn có sự khởi đầu và kết thúc trùng nhau ‖

[dẫn theo 23, tr29-30]

Đại biểu các nhà Việt ngữ học hầu hết đều cho rằng phạm trù thời gian trong tiếng Việt được nhận thức theo cách riêng, chủ yếu là trên phương diện từ vựng,

ngữ cảnh và ngữ dụng Tác giả Đào Thản cho rằng tính thời điểm chính là ―những

nội dung biểu hiện cụ thể về khái niệm chung về thời gian đã được nhận thức‖ [22,

tr 40] Theo ông thì thời điểm có thể có những nét nghĩa cụ thể về mốc thời gian trong mối quan hệ với hiện thực Thời điểm đó có tính chất tuyệt đối hay tương đối, thời điểm đó là trước hay sau, sớm hay muộn Nhìn thời điểm và thời đoạn trong mối tương quan với nhau ông nhận xét rằng: Thời điểm cũng chính là thời đoạn được rút lại đến mức ngắn nhất khi khoảng cách của hai điểm tiến tới số không Bản về tính thời điểm trong ngôn ngữ, tác giả Dư Ngọc Ngân trong một nghiên cứu gần đây cho rằng: ―Thời điểm là nhất thời và được tách ra từ các điểm

bất kỳ trong thời đoạn‖ Tác giả cũng nhấn mạnh thêm : ―Mọi vật trong tự nhiên

đều vận động có quá trình Sự phát triển, điều kiện tồn tại của vật chất là kết quả của một quá trình vận động có chiều hướng trong một khoảng thời gian và không gian nhất định ‖[dẫn theo 17, tr 28]

Các tác giả cuốn ―Từ điển Tiếng Việt‖ cũng định nghĩa về thời điểm như sau:

―Thời điểm là khoảng thời gian rất ngắn, coi là một điểm trên đường thẳng, cụ thể

hóa thời gian ‖[dẫn theo 28, tr 761]

Trong ―Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam‖ [5, tr23] Trương Văn Chình,

Trang 23

Nguyễn Hiến Lê cũng đưa ra một định nghĩa tương tự về tính thời điểm, định nghĩa

đó được phát biểu như sau: ―Thời điểm là một khoảng thời gian dài hay ngắn lấy

làm một điểm đánh dấu chuỗi thời gian có hạn‖

Từ các ý kiến trên đây, có thể thấy rằng phần lớn các tác giả nhận diện thời

điểm trong sự phân biệt với thời đoạn Trong ngôn ngữ học, khái niệm thời điểm

thường được hiểu như là bối cảnh thời gian mà một sự việc (hành động, quá trình,

trạng thái) nảy sinh, tồn tại hoặc kết thúc Bối cảnh thời gian này được định vị dựa

theo sự phân cắt các đơn vị thời gian trên trục thời gian tuyến tính từ quá khứ đến

hiện tại và tương lai, với điểm mốc là thời điểm phát ngôn Ví dụ:

(1) Hôm qua con thấy mẹ nhắc đến, chỉ sợ mẹ nhớ nhầm

(3) Ngày mai anh về trình với ông nhà, tôi thì trình với bà tôi, như thế lẽ nào

việc không chóng xong

你明日回家就禀明令尊,我回去再禀明祖母,再无不速成之理。

(Hồng Lâu Mộng, Hồi thứ 7, tr 104)

Trong ba ví dụ nêu trên thì ý nghĩa thời điểm được biểu hiện bằng ba biểu thị

thời gian đối lập với nhau về thời Câu (1) có thời điểm quá khứ, câu (2) có thời

điểm hiện tại, câu (3) có thời điểm tương lai Từ những ví dụ trên có thể nhận thấy

một điều rằng: Tính thời điểm được xác định dựa vào những hành động và sự việc

trên trục thời gian, bối cảnh và điểm mốc mà người nói định vị

1.4 Tiêu chí nhận diện biểu thị thời gian và thời điểm

1.4.1 Tiêu chí về nội dung

Về mặt nội dung các biểu thị thời gian có thể được phân chia thành các biểu

thị thời điểm và các biểu thị thời đoạn

Trang 24

Các biểu thị thời điểm biểu hiện mốc thời gian xảy ra sự kiện và được định vị

trên trục thời gian bằng những từ ngữ có nét nghĩa thời gian như: ngày mai, hôm

nay và trả lời cho câu hỏi khi nào? bao giờ ?

Trong câu ý nghĩa của các biểu thị thời điểm thường gắn liền với ý nghĩa đối lập về thời Theo đó có thể phân biệt các biểu thị thời điểm theo sự đối lập về thời như sau:

*Thời điểm các sự kiện có ý nghĩa hiện tại Ví dụ:

Đêm nay tiết Trung thu, tục thường gọi tiết Đoàn viên

今夜中秋,俗谓‗团圆之节‘。

(Hồng lâu mộng Hồi thứ nhất, tr11)

*Thời điểm các sự kiện có ý nghĩa quá khứ Ví dụ:

Vì thế, hôm đó Tiết phu nhân đến thu dọn ngay những đồ chơi và rèm màn ở

thư phòng Tiết Bàn đem về, rồi gọi cả vợ của hai người hầu trai đi theo Tiết Bàn cũng vào trong nhà ngủ

命那两个跟去的男子之妻一并也进来睡觉

(Hồng Lâu Mộng, Hồi thứ 48, tr654)

*Thời điểm các sự kiện có ý nghĩa tương lai:

Ngày mai anh về trình với ông nhà, tôi thì trình với bà tôi, như thế lẽ nào việc

không chóng xong

Hồng Lâu Mộng, Hồi thứ 7, tr104)Trong những vị dụ đã dẫn ở trên, ý nghĩa thời điểm được biểu hiện gắn với sự đối lập giữa các thời hiện tại, quá khứ, tương lai Ở đây sự biểu hiện ý nghĩa của các thời không phụ thuộc hoàn toàn vào ý nghĩa của các đơn vị từ có nét nghĩa thời

gian như năm, tháng, ngày mà phụ thuộc vào yếu tố phụ từ sau nó như: ―này‖ trong

―ngày này‖ ( thời điểm hiện tại), ―ấy‖ trong ―tháng ấy‖ (thời điểm quá khứ) Tuy

nhiên, cũng có một số ít đơn vị từ vựng biểu hiện ý nghĩa về thời ngay trong bản

thân nghĩa của từ mà không cần sự xuất hiện của phụ từ như: ―mai‖ trong ―ngày

Trang 25

mai” (thời điểm tương lai) Xét đặc điểm biểu hiện của biểu thức thời điểm chúng

ta thấy rằng, bản thân các đơn vị từ vựng như: ngày, hôm, năm là những danh từ

chỉ thời gian và chỉ biểu thị cái ý nghĩa đơn thuần về thời gian chứ tuyệt nhiên không hề biểu hiện ý nghĩa thời điểm nếu nó không được đặt trong khung cảnh của một sự tình Xét ví dụ sau dây:

a Năm 2000 cô ấy lập gia đình với một thương gia người nước ngoài (Biểu thị thời điểm)

b Nó dùng bút tô đậm dòng chữ năm 2000 trong cuốn nhật ký của mình (Không có ý nghĩa của biểu thị thời điểm)

Ở ví dụ (a), chúng ta thấy năm 2000 được coi là một biểu thị thời điểm khi nó được đặt trong khung cảnh của sự tình đòi hỏi sự xuất hiện của yếu tố thời gian và

trả lời cho câu hỏi khi nào? bao giờ? Và như vậy ý nghĩa về thời điểm sẽ chỉ được

biểu hiện khi nó được đặt trong khung sự tình diễn ta hành động và sự kiện Tuy nhiên, ở ví dụ (b) năm 2000 không phải là một biểu thị thời điểm bởi trong mối quan hệ sự tình được nhắc tới nó không hàm nghĩa thời gian, không có tính chất là thời điểm của sự kiện xảy ra

Ví dụ: a- Bao giờ chị đi Nam Ninh?

b- Chủ nhật tới, tôi đi Nam Ninh

Xét ví dụ trên chúng ta sẽ thấy sự tình diễn ra được bắt đầu bởi câu hỏi có đại

từ phiếm chỉ chỉ thời gian ―bao giờ?‖ và câu trả lời được ấn định trong một thời điểm là chủ nhật tới Trong trường hợp này sự tình được đặt trong bối cảnh người hỏi chỉ muốn biết thời điểm mà nhân vật ―chị‖ đi Nam Ninh là ―lúc nào?‖ Và vì vậy nên câu hỏi sẽ là ―bao giờ‖ (Biểu thị thời gian)

1.4.2 Tiêu chí về hình thức

Xét về mặt hình thức, các biểu thị thời gian được biểu diễn dưới nhiều hình thức đa dạng: Biểu thức đó có thể là từ (danh từ, đại từ), là ngữ (danh ngữ, giới ngữ) hoặc liên hợp, mệnh đề

-Biểu thị thời gian là đại từ: đại từ xác chỉ chỉ thời gian có ý nghĩa thời điểm

Ví dụ:

Trang 26

Bấy giờ tuy có quân dân đến chữa, nhưng lửa đã cháy to, không sao cứu

được ?

彼时..虽有军民来救,那火已成了势,如何救得下?

(Hồng Lâu Mộng, Hồi thứ nhất ,tr18)

Những từ như: bây giờ, bấy giờ, bấy nay, này, giờ chính là những đại từ xác

chỉ chỉ thời gian xảy ra sự kiện và hành động trên trục thời gian

-Biểu thị thời gian là danh từ, ví dụ:

Hôm qua con thấy mẹ nhắc đến, chỉ sợ mẹ nhớ nhầm

+Danh ngữ biểu thị thời điểm, ví dụ:

Chiều hôm ấy, Giả Chính về nhà, ngồi trong xe nghe người đi đường nói với

nhau: “ người ta muốn phát tài cũng rất dễ dàng.”

(Hồng Lâu Mộng, Hồi 95, tr521)

-Biểu thị thời gian là giới ngữ Ví dụ:

+Giới ngữ biểu thị thời điểm

Qua một trăm ngày mới rước linh cữu về nguyên quán

(Hồng Lâu Mộng, Hồi thứ 64, tr65)

-Biểu thị thời gian liên hợp Ví dụ:

Năm ấy là năm Giáp Dần, tiết Lập xuân vào ngày mười tám tháng mười hai,

mà ngày Nguyên phi mất là ngày mười chín tháng mười hai, theo thời tiết thì đã

qua năm Mão tháng Dần, thọ mười ba tuổi

Trang 27

是年甲寅年十二月十八日......立春,元妃薨日是十二月十九日......,已交卯年寅月,存年四十三岁。

(Hồng lâu mộng, Hồi thứ 95, tr 521) -Biểu thị thời gian là mệnh đề

+ Mệnh đề biểu thị thời điểm Ví dụ:

Này chùa Lũng Thúy hồi chuông, Đạo Hương gà đã gáy dồn xóm kia.

+Biểu thức thời điểm là trạng ngữ Ví dụ:

Hôm trước chú Hai viết thư về, nói Thám Xuân ngày nọ đến nơi, chọn ngày

giờ tốt đưa em mày tới miền biểu, dọc đường giớ yên sóng lặng, cả nhà không cần

+Bổ ngữ chỉ thời điểm Ví dụ:

Trang 28

Đến ngày hôm sau, Giả Trân qua thu xếp mọi việc

(Hồng lâu mộng, Hồi thứ 88, tr429)

*Chức năng làm chủ ngữ

+Biểu thị thời điểm là chủ ngữ Ví dụ:

Hôm nay là thứ hai

1.5 Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học

1.5.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật

Theo ―Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học‖ thì "Thời gian nghệ thuật phản

ánh sự cảm thụ thế giới của con người trong từng thời kỳ lịch sử, từng giai đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm nhận độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới Trong thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật xuất hiện như một hệ quy chiếu có tính chất tiền đề được giấu kín, miêu tả đời sống trong tác phẩm, cho thấy đặc điểm tư duy của tác giả gắn với phương thức, phương diện thể hiện Mỗi thể loại văn học có kiểu thời gian nghệ thuật riêng" [dẫn theo

11,tr 323]

Từ định nghĩa trên có thể thấy, trước hết thời gian nghệ thuật là một phương diện của thi pháp học hình tượng Nó vừa là phương diện của đề tài vừa là một trong những nguyên tắc cơ bản tổ chức tác phẩm Về điểm này nhà nghiên cứu Trần

Đình Sử viết: "Là phương thức tồn tại của thế giới vật chất, thời gian cũng như

không gian đi vào nghệ thuật cùng với cuộc sống được phản ánh như là một yếu tố của nó Nếu như mọi hiện tượng của thế giới khách quan khi đi vào nghệ thuật được soi sáng bằng tư tưởng và tình cảm, được nhà văn nhào nặn và sáng tạo để trở thành một hiện tượng nghệ thuật, phù hợp với một thế giới quan, phương pháp sáng tác, phong cách, truyền thống và thể loại nghệ thuật nhất định, thì thời gian nghệ thuật cũng thế Nó có thể được gọi là thời gian nghệ thuật như ta đã quen gọi tính cách nghệ thuật, xung đột nghệ thuật [dẫn theo 20,tr157] Để cụ thể hoá hơn,

thời gian nghệ thuật là một tập hợp của nhiều thời gian cá biệt Các thời gian này tác động vào nhau, liên hệ nhau tạo thành cái nhịp độ chung của sự vận động đời

Trang 29

sống" [dẫn theo 20,tr157] "Thời gian nghệ thuật có thể nhanh hay chậm, dài hay

ngắn, liên tục hay ngắt quãng theo một lôgic riêng không hoàn toàn trùng khớp với thời gian khách quan," Như các nhà nghiên cứu văn học đã nói: "Thời gian trong tác phẩm văn học được chuyển hoá thành thời gian nghệ thuật, thành một ký mã nghệ thuật không đồng nhất với thời gian hiện thực"

Đồng thời, thời gian nghệ thuật trong một tác phẩm là sản phẩm của cách nhìn nhận, của cảm xúc và tư tưởng nhà văn Nếu thời gian khách quan vận động theo trật tự trước sau không thể đảo ngược thì thời gian nghệ thuật trong văn học được soi sáng bởi tư tưởng, tình cảm nhà văn Là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật, thời gian nghệ thuật phản ánh thế giới khách quan, nó có độ dài, có nhịp độ,

có ba chiều: quá khứ - hiện tại -tương lai và có sự vận động theo chiều trước sau

liên tục Trong đó tác phẩm văn học "Sự cảm thụ thời gian gắn liền với ý thức về ý

nghĩa của cuộc đời đối với quan niệm về thế giới, cuộc sống ước mơ, lý tưởng và năng lực hoạt động của con người"

Trong thực tế không phải mọi thứ liên quan đến thời gian trong tác phẩm văn học đều là thời gian nghệ thuật Trong tác phẩm thi ca, thời gian chỉ chuyển hoá thành thời gian nghệ thuật khi nó cùng các yếu tố khác như kết cấu câu văn thể hiện cái nhìn của tác giả về con người và cuộc đời Vì lẽ đó nhà nghiên cứu Nga

Đ.Li kha chốp cho rằng: "Thời gian nghệ thuật là nhân tố nằm trong mạng lưới

nghệ thụât nó buộc thời gian cú pháp và quan niệm triết học về thế giới phải phục

vụ cho những nhiệm vụ nghệ thuật của nó" [dẫn theo 7, tr 61 ] Trong cuốn Thi

pháp thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử cũng khẳng định: "Thế giới nghệ thuật trong văn

học không phải giản đơn chỉ là quan điểm của tác giả về thời gian mà là một hình tượng và hành động, gợi cảm, là sự cảm thụ, ý thức về thời gian được dùng làm hình thức nghệ thuật để phản ánh hiện thực, tổ chức tác phẩm" [dẫn theo 20,

tr190] Thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược về quá khứ hoặc vượt qua hiện tại đến tương lai, có thể dồn lại hoặc kéo dài vô tận Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào

cũng viết: " Thời gian thật sự có tính chất nghệ thuật đó là thời gian của hành động

kể chuyện và thời gian của văn bản‖ [ dẫn theo 3, tr72]

Trang 30

Tóm lại, điểm qua một số ý kiến trên, có thể hiểu thời gian nghệ thuật là một phạm trù của thi pháp học, thể hiện cái nhìn mang màu sắc tâm lý chủ quan của nghệ sĩ Vì vậy nó mang tính chất đa dạng, phong phú, biểu hiện chất sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ, cách cảm nhận ứng xử đối với cuộc sống theo quan điểm ý

đồ riêng của tác giả Trong thế giới nghệ thuật của nhà văn thì "Thời gian là một

trong những phương tiện hữu hiệu để tổ chức nội dung của nghệ thuật‖ Thời gian

nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật, nó là thuộc tính tất yếu của hình tượng nghệ thuật Vận động trên cả ba chiều: Quá khứ - hiện tại - tương lai, nhưng thời gian nghệ thuật không nhất thiết phải theo trật tự vốn có của nó mà có thể đảo ngược trình tự thời gian, thay đổi nhịp độ, thậm chí có thể bỏ qua một hoặc hai chiều vận động của nó Có nhiều cách chiếm lĩnh thời gian khác nhau

Như vậy, là một phạm trù của thi pháp học, thời gian nghệ thuật là yếu tố quan trọng góp phần thể hiện tư tưởng, tư duy, tính cách, cái nhìn của nhà thơ về cuộc đời

1.5 2.Các cấp độ của thời gian nghệ thuật

Thời gian trong tác phẩm nghệ thuật có nhiều cấp độ khác nhau ở đây chỉ đề cập đến một số tương quan thời gian chủ yếu

- Thời gian nhân vật: Là thời gian gắn liền với sự tồn tại nhân vật, nó làm người đọc ý thực được sự tồn tại của nhân vật

- Thời gian nội tâm nhân vật (Cũng gọi là thời gian tâm lý)

- Thời gian tập thể: Là thời gian của từng nhóm người

- Thời gian lịch sử: Là thời gian gắn liền với tầng giai đoạn lịch sử của đất nước

- Thời gian sự kiện: Là thời gian năng động nhất trong tác phẩm nghệ thuật, loại thời gian này vận động theo quy luật nhân quả

1.5.3 Các điều kiện của thời gian nghệ thuật

Được nhận biết qua các dấu hiệu sau:

a Chiều hướng thời gian: so với trong thực tế thì thời gian nghệ thuật có những điều khác biệt Nó còn được gọi là trình tự thời gian Trong văn học khi tái

Trang 31

tạo lại nhà văn đã làm biến cải đi rất nhiều, thay đổi trật tự chiều hướng

b Nhịp độ và sự vận động thời gian nghệ thuật: xác định bằng các đại lượng,

độ dài khoảng cách, các sự kiện, bằng độ dài thời gian cảm nhận các sự kiện, cách sắp xếp bố trí mật độ các sự kiện có tác dụng tạo ấn tượng, tiết tấu các tác phẩm

1 5.4 Các chiều của thời gian nghệ thuật

Thời gian thực tế chỉ vận động theo một chiều duy nhất, nhưng trong tác phẩm nghệ thuật, quan niệm về thời gian phức tạp, phong phú hơn Nó gồm nhiều chiều hướng thời gian khác nhau

a Quá khứ

Có nhiều cách để thể hiện quá khứ, nhưng phổ biến nhất là hồi tưởng Hồi tưởng được trình bày qua nhiều hình thức Thời gian hồi tưởng chỉ xuất hiện khi mà

ý thức bên trong xuất hiện Trong Hồng Lâu Mộng, thời gian quá khứ chủ yếu là

thời gian sát gần với hiện tại, không xa lắm và thường được biểu hiện bằng các từ :

hôm qua, bữa trước

b Tương lai

Tương lai gắn bó với viễn cảnh phương hướng phát triển của đời sống của nhân vật Tương lai cũng được thể hiện bằng nhiều cách, có khi nó được thể hiện bằng ước mơ, bằng viễn tưởng, bằng dự cảm về tương lai Trong Hồng Lâu Mộng, những ước mơ về cuộc sống về tình yêu cũng được thể hiện rất phong phú

c Hiện tại

Hiện tại là khái niệm thời gian có nhiều cách biểu hiện nhất Nó thể hiện rõ dưới hình thức miêu tả, đối thoại, chuyển đổi quan hệ thời gian

Như vậy khi nghiên cứu tiếp cận với thế giới nghệ thuật cần phải tìm từng yếu

tố thời gian và mối tương quan thời gian đó để phát hiện ra từng tầng ý nghĩa hàm

ẩn trong tác phẩm Tác phẩm nghệ thuật là một chỉnh thể xác định cùng với yếu tố khác góp phần làm nên hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Bởi thế nghiên cứu thời gian nghệ thuật có ý nghĩa rất quan trọng

1 6 Nhận diện từ ngữ biểu thị thời điểm

1.6.1 Nhân diện từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Việt

Trang 32

Trong các mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, quan hệ giữa con người và thời gian có ý nghĩa đặc biệt Có thể nói, quá trình phát triển của nhân loại gắn liền với thời gian lịch sử Con người nhận thức thời gian và sự nhận thức này được phản ánh theo những hình thức riêng biệt của từng ngôn ngữ Trong tiếng Việt, vấn đề thời gian, định vị thời gian trong phát ngôn đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm và nghiên cứu từ lâu Xuất phát từ cách nhìn mang tính tổng quát sau khi đã khảo sát một số quan điểm nghiên cứu của các tác giả nổi bật, người viết cho rằng

khái niệm thời điểm được hiểu như một ―mốc‖ thời gian nào đấy mà một sự việc

(hành động, quá trình, trạng thái) nảy sinh, tồn tại hoặc kết thúc Thời điểm không

có tính kéo dài và nó được xác định dựa vào những hành động và sự việc trên trục thời gian, bối cảnh và điểm mốc mà người nói định vị

Nhìn một cách khái quát, cũng giống như một số ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt, việc biểu thị thời gian có thể gồm nhiều loại khác nhau Các danh từ có ý

nghĩa thời gian trong tiếng Việt thường là: ngày, hôm, tuần, tháng , năm, thời (đời),

thuở, sáng, trưa, chiều, tối, đêm, ban, khi, lúc, chừng, dạo, lần, phút, giây, chốc, lát, trước, sau, v v… Các từ ngữ chỉ thời điểm, tức là những từ ngữ dùng để định vị

thời gian bao gồm: nay, mai, trước, sau, sáng, trưa,chiều, tối, chiều chiều, đêm đêm,

v v Các từ ngữ chỉ thời đoạn, tức là những từ ngữ dùng để định lượng thời gian,

gồm: ngày, đêm, buổi, bữa, tuần, tháng, năm, mùa, giây phút, trước sau, ngày đêm,

sớm khuya, sớm tối, sáng tối, v v Điều đáng lưu ý là các từ có ý nghĩa thời gian

tuy có một số lượng đơn vị rất lớn nhưng các yếu tố đi kèm thường bao gồm các từ ngữ chỉ xuất và một số định ngữ hữu hạn, do vậy tuy không có điều kiện miêu tả kỹ toàn bộ nhưng có thể suy về một số cách dùng tương tự

1.6.2 Nhân diện từ ngữ biểu thị thời điểm trong tiếng Hán

Một số học giả đã tiến sâu hơn một bước khi chỉ ra rằng sự khu biệt giữa thời điểm và thời đoạn không chỉ ở sự dài ngắn của thời gian mà còn là ở ―cơ chuẩn‖ của thời gian Ví dụ, trong cuốn sách ―Nơi chốn, thời gian và phương vị‖ của Văn Luyện cũng chỉ ra rằng: ―Về vị trí của thời gian có người gọi là ‗thời điểm‘, cái gọi

là ‗điểm‘ ở đây không nhất định là thời gian rất ngắn mà cũng có thể là một thời

Trang 33

gian tương đối dài Thời điểm là cách nói tương đối đối với thời đoạn, thời điểm là

vị trí thời gian biểu đạt trên một cơ chuẩn nhất định, còn thời đoạn lại không có tính

cơ chuẩn, mà chỉ nói đến độ dài ngắn của thời gian‘

Về phương diện Hán ngữ hiện đại, nghiên cứu mang tính hệ thống nhất về thời điểm và thời đoạn là cuốn ―Nghiên cứu thời điểm, thời đoạn trong Hán ngữ hiện đại‖ của Lý Hướng Nông Cuốn sách này đã tiến hành phân tích toàn diện về ngữ nghĩa và chức năng ngữ pháp của thời điểm và thời đoạn, và tiến hành nghiên cứu bàn luận sâu về các phương diện nội hàm từ thời điểm và thời đoạn, hình thức cấu thành, chức năng biểu ý, đặc trưng có thứ tự điểm đoạn và liên dụng kết hợp của thời điểm và thời đoạn Từ phương diện Hán ngữ cổ đại, cuốn sách ―Nghiên cứu biểu đạt thời điểm thời đoạn Hán ngữ trung cổ‖ của Hà Lượng cũng đã nghiên cứu

về hệ thống thời điểm thời đoạn trong Hán ngữ trung cổ, sách này đã tiến hành phân tích kỹ càng hình thức biểu đạt, chức năng cú pháp và ý nghĩa ngữ pháp của thời điểm và thời đoạn

Trang 34

Tiểu kết:

Qua quá trình phân tích, chúng tôi rút ra một số quan điểm giống nhau và khác nhau với cách biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Hán và trong tiếng Việt như sau:

Giống nhau

1.Ý nghĩa thời gian là một phạm trù phổ quát của ngôn ngữ Tiếng Hán và tiếng Việt đều có các phương tiện biểu hiện ý nghĩa thời gian Các sự tình biểu hiện trong câu bao giờ cũng diễn ra trong một hoàn cảnh không gian, thời gian nhất định

Vì thế các đơn vị biểu hiện ý nghĩa thời gian hầu như thường xuyên có mặt trong câu

2 Tiếng Hán và tiếng Việt đều có sử dụng phương tiện từ vựng - ngữ pháp để biểu thị ý nghĩa thời gian

Khác nhau

Tiếng Việt biểu hiện ý nghĩa thời gian chủ yếu bằng phó từ như đã, đang, sẽ, sắp hoặc thành phần câu như: trạng ngữ, khung đề Còn tiếng Hán biểu hiện ý nghĩa thời gian theo ngữ pháp trật tự từ vị ngữ (động từ hoặc tính từ + biểu hiện thời gian (thì quá khứ và thì hiện tại) + vĩ tố kết thúc câu), chủ yếu bằng phương tiện hình thái học

Trên đây chúng tôi đã trình bày một số khái niệm và các vấn đề có liên quan đến vấn đề thời gian nói chung và biểu thị thời điểm trong tiếng Hán và tiếng Việt nói riêng Dựa vào cơ sở lý thuyết và một số đặc điểm nêu trên, chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu đặc điểm từ ngữ biểu thị thời điểm ở hai chương tiếp theo

Trang 35

CHƯƠNG 2

TỪ NGỮ BIỂU THỊ THỜI ĐIỂM TRONG NGUYÊN BẢN TIẾNG

HÁN TÁC PHẨM HỒNG LÂU MỘNG

Trong văn học Trung Quốc, Hồng Lâu Mộng có một vị trí đặc biệt Người Trung Hoa say mê đọc nó, bình luận về nó, sáng tác về nó, đến nỗi nói: ―Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng Độc tận thi thư diệc uổng nhiên!‖ (Mở miệng nói chuyện mà không nói đến Hồng Lâu Mộng thì có đọc hết cả thi thư cũng là vô ích.)

Có một ngành học chuyên nghiên cứu về Hồng Lâu Mộng, gọi là Hồng học Gần đây nhất vẫn thấy Trung Quốc có tờ chuyên san tên là ―Hồng Lâu Mộng nghiên cứu.‖ Có lẽ trên thế giới chỉ có Shakespeare là có vinh dự lớn như thế, vì có một môn ―Shakespeare học.‖

Cái gì làm người Trung Quốc say mê Hồng Lâu Mộng đến như vậy? Trước hết, đó là do tác phẩm đáp ứng những nhu cầu sâu xa của thời đại

Trung Quốc dưới thời nhà Thanh trong những năm các hoàng đế Ung Chính, Càn Long tại vị (1723-1795) là thời kinh tế phồn vinh, chẳng những nông nghiệp, thủ công nghiệp, mà cả thương nghiệp, ngành khai thác mỏ… cũng phát triển mạnh Những thành phố lớn như Nam Kinh, Dương Châu, Võ Xương, Nhạc Châu trở thành những trung tâm buôn bán sầm uất Thị trấn Thanh Giang bên bờ sông Vận Hà thời đó đã có hơn nửa triệu dân cư Nền kinh tế phát triển sinh ra một lớp người thành thị có những nhu cầu thẩm mỹ mới Một số tác phẩm tiểu thuyết ngôn tình ra đời: Tây Sương Ký, Mẫu Đơn Đình, Liêu Trai… vv Đó là những văn phẩm

tả tình yêu nam nữ, những số phận thường dân, những vui buồn riêng tư [dẫn theo

2 2 Khái quát về việc nghiên cứu ngôn ngữ tác phẩm “Hồng Lâu Mộng”

ở Trung Quốc

―Hồng Lâu Mộng‖ là một tác phẩm có tính quan trọng trong giai đoạn từ tiếng Hán cận đại quá độ sang tiếng Hán hiện đại, sự thay thế giữa cái cũ và cái mới đã sản sinh nhiều hiện tượng ngôn ngữ quan trọng Ngôn ngữ trong ―Hồng Lâu Mộng‖

Trang 36

từ lâu đã được một số chuyên gia ngôn ngữ học chú ý tới Từ cuốn ―Ngữ pháp hiện đại Trung Hoa‖ của Vương Lực tới cuốn ―Văn pháp lịch sử tiếng Hán ‖ đều đã trích dẫn nhiều thí dụ để luận chứng làm sáng tỏ lí luận ngôn ngữ của mình

Năm 1996, ngôn ngữ của Hồng Lâu Mộng được đi sâu nghiên cứu một cách

có hệ thống Nhà xuất bản Đại học Ngôn ngữ Văn hóa Bắc Kinh xuất bản cuốn

―Ngôn ngữ của Hồng Lâu Mộng‖ do ông Ngô Cạnh Tồn khoa Trung văn trường Đại học Bắc Kinh chủ biên Cuốn ―Ngôn ngữ của Hồng Lâu Mộng‖ không rập khuôn theo truyền thống nghiên cứu ―ngôn ngữ nghệ thuật Hồng Ngọc‖, không theo lối nghiên cứu thông qua góc nhìn của mỹ học, văn học, lịch sử, văn hóa, tâm

lý, xã hội, … mà thảo luận hiện tượng ngôn ngữ, chuyển đổi phương pháp phân tích Hồng Lâu Mộng theo góc nhìn nhận của ngôn ngữ học hiện đại Trong phần lời tựa của cuốn sách, ông Ngô Cạnh Tồn nói: ―…chúng tôi lấy tiếng Bắc Kinh ở thế

kỷ XVIII làm điểm dựa, lấy ngôn ngữ học hiện đại làm kim chỉ hướng, đoạn đại phẫu tính lịch sử ―điểm chốt‖ nào đó trong ngôn ngữ Hồng Lâu Mộng, để phác họa

rõ một mặt cắt lịch sử của tiếng Bắc Kinh – một phương ngôn quyền uy của tiếng Hán hiện đại Việc nghiên cứu ngôn ngữ Hồng Lâu Mộng có khả năng sẽ cung cấp được một vài kết luận ngôn ngữ học nào đó về kinh nghiệm nghệ thuật trong việc tìm tòi tổng kết các danh tác văn học‖ Trong cuốn sách đã hội tụ nhiều giải thích

về ngôn từ Hồng Lâu Mộng, như bài ―Hạt ngọc sáng trên đỉnh tháp nghệ thuật ngôn ngữ - Sơ lược và hối thích về tục ngữ trong Hồng Lâu Mộng‖ của Lâm Hưng Nhân (1986), bài ―Nghiên cứu về Biện và Tựu trong Hồng Lâu Mộng‖ của Lý Chiến (1997), bài ― Tục ngữ Hồng Lâu Mộng‖ của Mao Văn (1996), bài ― Wen-du-li-na xuất xứ từ phiên âm Phàn văn‖ của Hoàng Long (1986), bài ―Khảo sát nghĩa từ

―nhất khởi‖ trong Hồng Lâu Mộng kiêm bàn về sự khác biệt giữa ngôn ngữ 80 hồi

đầu và 40 hồi sau‖ của Tưởng Dã (1983), bài ―Một câu đố nan giải: ―túc đich‖,

kiêm bàn về vấn đề thực giả của Bản Canh Thìn‖ của Thi Kỷ Mặc (1995)

Những năm gần đây, việc nghiên cứu ngôn ngữ Hồng Lâu Mộng đã trở thành một điểm nóng của luận văn nghiên cứu sinh và học viên cao học của Trung Quốc,

Trang 37

như luận văn thạc sĩ ―Nghiên cứu câu tồn tại trong Hồng Lâu Mộng‖ của Hứa Mai Lợi trường Đại học Phục Đán (2003), luận án tiến sĩ ―Nghiên cứu xưng hô ngữ trong Hồng Lâu Mộng‖ của Trần Nghị Bình trường Đại học Vũ Hán (2004), luận

án thạc sĩ ―Nghiên cứu từ xưng hô trong tác phẩm Hồng Lâu Mộng‖ của Đỗ Hiểu Mai trường Đại học Sơn Đông (2004), luận văn thạc sĩ ―Hồng Lâu Mộng thi sơ cú‖ của Vương Lý Hà trường Đại học Phục Đán (2004), luận văn thạc sĩ ―Nghiên cứu lượng từ trong tác phẩm Hồng Lâu Mộng‖ của Quá Quốc Kiều - ĐHSP Thượng Hải (2005)

Có thể nói, việc giải thích từ ngữ Hồng Lâu Mộng đã được triển khai tới một mức độ khá tỉ mỉ, song khảo sát về tính hệ thống vẫn còn phần khiếm khuyết, tầm nhìn vẫn chưa đủ rộng Trọng điểm nghiên cứu trước mắt và sau này sẽ tập trung vào việc mở rộng tầm nhìn, xác lập đối tượng nghiên cứu mới vàtriển khai công việc giải thích một cách tỉ mỉ, sâu rộng hơn

Trong luận văn này, chúng tôi chọn từ chỉ thời gian làm đối tượng nghiên cứu giải thích từ ngữ Hồng Lâu Mộng, qua sự nghiên cứu ngữ nghĩa, ngữ pháp của từ chỉ thời gian trong 80 hồi đầu của Hồng Lâu Mộng, áp dụng các phương pháp định lượng và định tính nghiên cứu phân tích, tả thuật và giải thích để minh họa, luận thuật nội hàm và phạm vi của đối tượng, để tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ chỉ thời gian ở thời kỳ đó Mục đích của luận văn này không phải để đưa ra và luận thuật một vấn đề lí luận nào đó, mà chỉ nhằm nỗ lực thể hiện diện mạo sử dụng từ chỉ thời gian, nói cụ thể hơn là từ chỉ thời điểm trong tác phẩm Hồng Lâu Mộng và từ

đó có một cái nhìn đối chiếu sang từ chỉ thời điểm trong tiếng Việt khi Hồng Lâu Mộng được dịch sang ngôn ngữ này

2.3 Những tiêu chuẩn và phạm vi phân ranh giới của từ chỉ thời gian trong Hồng Lâu Mộng

Căn cứ vào tính chất cơ bản của thời gian, chúng tôi chia từ chỉ thời gian trong Hồng Lâu Mộng ra thành từ chỉ thời điểm và từ chỉ thời đoạn

Thời gian mang tính liên tục và tính trình tự trong quá trình vận động của vật chất từ chỉ thời gian có tác dụng xác định diễn tả vị trí và độ dài tương đối của thời

Trang 38

gian Lã Thúc Tương (1944) đã nêu ra hai thuật ngữ ―thời điểm‖ và ―thời đoạn‖ ở mục ―Thời gian‖ bài ―Trung Quốc văn pháp yếu lược‖ Ông đem "Từ chỉ thời gian

mang tính thực chỉ‖ (thường là thời hạn thực chỉ, như ― Tấn Thái Nguyên trung‖),

―từ chỉ thời gian mang tính xưng đại‖ chỉ ―nhìn chung thời hạn‖, tức ―từ chỉ thời

gian tạm thời và xác định chỉ xưng‖, tức ― lúc này, lúc đó, lúc ấy…‖, ―từ chỉ thời gian mang tính vô định chỉ xưng‖ (như ―có một hôm‖, ― khi/lúc‖, ―ngày ngày/ hàng

ngày‖, ―năm năm/hàng năm‖, ―luôn luôn”…) đều được coi là ―thời điểm‖ Ngoài

ra còn có ―thời đoạn‖, tức biểu thị sự dài hay ngắn của thời gian hoặc ứng dụng các đơn vị ―ngày, tháng năm‖ thêm định lượng từ hoặc bất định lượng từ ở trước, như

―ba năm‖, ―mấy ngày/ vài ngày‖, hoặc là phiếm chỉ lâu hay chốc lát, như ―một lúc

sau/chốc lát‖, ―khá lâu‖, ―giây lát/phút chốc‖, ―chợt/ bỗng/thoắt cái‖…

Trong cuốn ―Ngữ pháp tiếng Hán hiện đại giảng thoại‖, ông Đinh Thanh Thụ

đã nêu ra: Có hai loại từ chỉ thời gian, một loại biểu thị lúc/khi nào, nói về vị trí

sớm hay muộn của thời gian, đó là ―thời điểm‖; loại khác thì biểu thị bao lâu, nói

về sự ngắn hay dài, lâu hay chóng của thời gian, đó là ―thời đoạn‖ Bài ―Kết cấu

thời gian trong động từ tiếng Hán ‖ của Đặng Thư Tín cho là, kết cấu thời gian chia

làm khởi điểm (inception) và điểm cùng (termination) Quá trình giữa hai điểm (duration) và bất cứ một điểm nào đó trong quá trình đều gọi là phân điểm (điểm nhánh – subintervol)

Ba loại còn lại là thời điểm (point), như ―lúc đó/khi ấy‖, ―vừa rồi/vừa nãy‖,

―năm phút trước/cách đây năm phút‖, ―hôm qua‖

thời đoạn (period), như ―một tiếng (đồng hồ)/một giờ‖, ―ba ngày‖, ―cả năm‖,

―một lát/một chốc‖, ―ngay lập tức‖, ―một cái/một lúc/chút xíu‖

Một số từ chỉ thời gian trong Hồng Lâu Mộng vừa biểu thị thời điểm vừa biểu

thị thời đoạn, như: bách nhật, sau đó, ngày kia, trước đó/ vừa nãy, hôm kia, hôm

Trang 39

này và cho rằng chức năng cú pháp của các loại từ ngữ chỉ thời điểm là không hoàn

toàn thống nhất, được thể hiện trong bảng sau:

句法功能 Chức năng cú pháp Chủ

ngữ

主语

Vị ngữ

谓语

Tân ngữ

宾语

Định ngữ

定语

Trạng ngữ

形容词+时间成分 异日 Ngày khác, 平日 ngày thường + _ + + + Giới từ+ thành phần thời gian

介词+时间成分 当世Đời này, 当夜 đêm này _ _ + + + Phó từ+ thành phần thời gian

副词+时间成分 即日 Hôm nay, 俱时 cả ngày _ _ _ _ + thành phần thời gian

+ thành phần thời gian 时间成分+时间成分

là biểu thị thời điểm đương đối và biểu thị thời điểm tuyệt đối (cụ thể) Từ hai cách

biểu thị thời điểm trên, chúng ta lại có thể tiếp tục có thể phân thành nhiều cách

biểu thị thời điểm cụ thể khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi chọn cách phân

tích đặc điểm chức năng để thể hiện phân loại biểu thị thời điểm trong tiếng Hán và

tiếng Việt

Trang 40

2.5 Từ ngữ biểu thị thời điểm trong nguyên bản tiếng Hán của tác phẩm Hồng Lậu Mộng

Trong phần này chúng tôi sẽ phân các từ ngữ biểu thị thời gian của Hồng Lâu Mộng thành từ đơn và từ phức chỉ thời gian để nghiên cứu

2 5 1 Từ đơn biểu thị thời điểm

Các từ đơn biểu thị thời điểm trong tác phẩm Hồng Lâu Mộng không nhiều lắm, tần suất sử dụng của các từ này cũng có giới hạn

2 5 1 1 Từ đơn chỉ thời điểm tuyệt đối:春(xuân), 夏(hè), 秋(thu), 冬(đông),

腊(lạp), 朔(trăng mồng một), 望(trăng tròn), 旦(ngày), 晓(sáng), 早(sớm), 晨

(sáng), 朝 (triều), 午 (ngọ, trưa), 昼 (ngày), 昏 (hôn), 暮 (chiều), 夕 (chiều), 晚 (tối), 夜(đêm), 时(khi), …

Các từ đơn loại này rất ít khi được sử dụng một cách độc lập, đa số là xuất hiện kèm cùng một từ khác, ví dụ:

(4) Chỗ ấy lại là nơi gió lùa, chung quanh trống hốc Trời tháng chạp đêm dài, gió bấc thổi hun hút, rét buốt đến xương, ai đứng đó một đêm có thể chết cứng được

一夜几乎不曾冻死。 (Hồng Lâu Mộng, hồi thứ 12, tr 26)

(5) Sáng hôm ấy, Giả Liễn ra khỏi thành, ngày đi đêm nghỉ, đói ăn khát uống

theo đường lên châu Bình An

(Hồng Lâu Mộng, hồi thứ 66, tr 95)

(6) Đến trưa, Giả mẫu dẫn Vương phu nhân, Phượng Thư và mời cả Tiết phu

nhân sang bên vườn

Ngày đăng: 30/03/2016, 07:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2001), Từ điển Hán Việt, NXb khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 2001
2. Diệp Quang Ban, 2001. Ngôn pháp tiếng Việt (tập 2), Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn pháp tiếng Việt (tập 2)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
3. Nguyễn Nhã Bản (2001), Cơ sở ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đaị học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nhà xuất bản Đaị học Vinh
Năm: 2001
4. Ðỗ Hữu Châu. Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt . Nxb. GD. HN. 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: Nxb. GD. HN. 1981
5. Trương Văn Chình – Nguyễn Hiến Lê. 1963. Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam. Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
7. Đ.X. Likhachốp: Thời gian nghệ thuật của tác phẩm văn học, Tạp chí Văn học, số 3-1989, tr. 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian nghệ thuật của tác phẩm văn học, Tạp chí Văn học
8. F. de Saussure (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: F. de Saussure
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1973
10. Nguyễn Thiện Giáp. Từ vựng học tiếng Việt . Nxb. ÐH&THCN, HN, 1985 (1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Nhà XB: Nxb. ÐH&THCN
11. Lê Bá Hán – Trần Đnh Sử – Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán – Trần Đnh Sử – Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
12. Cao Xuân Hạo. Về ý nghĩa thì và thể trong tiếng Việt. Tạp chí Ngôn ngữ. Số 3/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về ý nghĩa thì và thể trong tiếng Việt
13. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng việt: sơ thảo Ngữ pháp chức năng , quyển 1, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng việt: sơ thảo Ngữ pháp chức năng , quyển 1
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1991
14. Jenanchevalier, Alairgheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới
Tác giả: Jenanchevalier, Alairgheerbrant
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002
15. Lưu Vân Lăng. Ngôn ngữ và tiếng Việt. Nxb. KHXH. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và tiếng Việt
Nhà XB: Nxb. KHXH. 1998
16. Hồ Lê . Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại . Nxb. KHXH, HN, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại
Nhà XB: Nxb. KHXH
18. Ðái Xuân Ninh . Hoạt động của từ tiếng Việt . Nxb. KHXH, HN, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của từ tiếng Việt
Nhà XB: Nxb. KHXH
19. Nguyễn Thị Quy. 1995, Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tổ của nó (so sánh với tiếng Nga và tiếng Anh), Nhà xuất bản KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tổ của nó (so sánh với tiếng Nga và tiếng Anh)
Nhà XB: Nhà xuất bản KHXH
20. Trần Đnh Sử (2000), Tuyển tập - Tập 1, 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập - Tập 1, 2
Tác giả: Trần Đnh Sử
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
21. Hoàng Tuệ-Lê Cận-Cù Định Tú. 1962, Giaó trình về Việt ngữ. ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giaó trình về Việt ngữ
22. Đào Thản, Về các nhóm từ có ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2/1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các nhóm từ có ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt
23. Nguyễn Kim Thản, Cơ sỏ ngữ pháp tiếng Việt, Nhà xuất bản Thành phố HCM, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sỏ ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố HCM

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w