Bản vẽ 16: Tháp Vườn Tháp Tổ 1 Vườn Tháp Tổ Bản vẽ 17: Tháp am Thiền Định Bản vẽ 18: Bảo tháp Viên Thông chùa Thanh Mai Bản vẽ 19: Tháp Phổ Quang chùa Thanh Mai Bản vẽ 20: Tháp Linh Quan
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
MAI THÙY LINH
THÁP THỜI LÊ Ở KHU DI TÍCH YÊN TỬ
(QUẢNG NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Khảo cổ học
Hà Nội-2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
MAI THÙY LINH
THÁP THỜI LÊ Ở KHU DI TÍCH YÊN TỬ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình tổng hợp và nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan, khoa học và được trích nguồn rõ ràng Nếu không đúng sự thật tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày ….tháng … năm 2015
Tác giả
Mai Thùy Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC BẢN ĐỒ, KHÔNG ẢNH, BẢN DẬP, SƠ ĐỒ, BẢN VẼ VÀ BẢN ẢNH 1
MỞ ĐẦU 4
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài 4
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3 Phương pháp nghiên cứu 6
4 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH YÊN TỬ 9
1.1 Vị trí địa lí tự nhiên khu di tích Yên Tử 9
1.2 Lịch sử hình thành khu di tích Yên Tử 11
1.3 Tổng quan về hệ thống tháp ở khu di tích Yên Tử 13
1.3.1 Khái quát giới thiệu về tháp 13
1.3.2 Lịch sử nghiên cứu 15
1.3.3 Các vườn tháp trong tổng thể khu di tích Yên Tử 20
Chương 2: HỆ THỐNG THÁP THỜI LÊ Ở KHU DI TÍCH YÊN TỬ 24
2.1 Tháp nhiều tầng 29
2.2 Tháp 2 - 3 tầng 34
2.2.1 Kiểu 1 36
2.2.2 Kiểu 2 38
2.2.3 Kiểu 3 41
2.3 Tháp 1 tầng 46
2.3.1 Kiểu 1 47
2.3.2 Kiểu 2 54
2.3.3 Kiểu 3 65
Chương 3: GIÁ TRỊ CỦA THÁP THỜI LÊ Ở KHU DI TÍCH YÊN TỬ VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA NÓ VỚI CÁC KHU THÁP CÙNG THỜI TRONG KHU VỰC YÊN TỬ 68
3.1 Giá trị kiến trúc, nghệ thuật, xã hội và tôn giáo 68
3.1.1 Giá trị kiến trúc 68
3.1.2 Giá trị nghệ thuật 71
3.1.3 Giá trị xã hội và tôn giáo 78
3.2 Mối quan hệ giữa tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử với các khu tháp cùng thời trong khu vực văn hóa Yên Tử 85
KẾT LUẬN 90
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 6DANH MỤC BẢN ĐỒ, KHÔNG ẢNH, BẢN DẬP, SƠ ĐỒ, BẢN VẼ VÀ
BẢN ẢNH
BẢN ĐỒ
Bản đồ 1: Vị trí khu di tích Yên Tử ở Việt Nam
KHÔNG ẢNH
Không ảnh 1: Khu di tích Yên Tử trong tổng thể các di tích thuộc khu vực
văn hóa Yên Tử
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Sơ đồ khu di tích Yên Tử, Uông Bí, Quảng Ninh
Sơ đồ 2: Mặt bằng tổng thể chùa Lân
Bản vẽ 5: Tháp Tịch Quang (chùa Lân)
Bản vẽ 6: Tháp Viên Dong (chùa Bảo Sái)
Bản vẽ 7: Tháp Trường Quang (Vườn Tháp Tổ)
Bản vẽ 8: Tháp Bảo Quang (Vườn Tháp Tổ)
Bản vẽ 9: Tháp Hoa Yên 7 (chùa Hoa Yên)
Bản vẽ 10: Tháp Độ Nhân và cây hương phía trước tháp (chùa Hoa Yên) Bản vẽ 11: Tháp Chân Bảo (Hòn Ngọc)
Bản vẽ 12: Tháp Tự Tuệ (Hòn Ngọc)
Bản vẽ 13: Tháp Tịnh Trụ (Hòn Ngọc)
Bản vẽ 14: Tháp Hoa Quang (Vườn Tháp Tổ)
Bản vẽ 15: Tháp Chân Thường (Vườn Tháp Tổ)
Trang 7Bản vẽ 16: Tháp Vườn Tháp Tổ 1 (Vườn Tháp Tổ)
Bản vẽ 17: Tháp am Thiền Định
Bản vẽ 18: Bảo tháp Viên Thông (chùa Thanh Mai)
Bản vẽ 19: Tháp Phổ Quang (chùa Thanh Mai)
Bản vẽ 20: Tháp Linh Quang (chùa Thanh Mai)
Bản vẽ 21: Bảo tháp Đăng Minh (chùa Côn Sơn)
Bản vẽ 22: Bệ tượng của bảo tháp Đăng Minh (chùa Côn Sơn)
Bản vẽ 23: Bệ tượng của bảo tháp Viên Thông (chùa Thanh Mai)
BẢN DẬP
Bản dập 1: Hoa văn trang trí trên tháp Huệ Quang và văn bia trên cây
hương đá (Vườn Tháp Tổ) Bản dập 2: Văn bia trên tháp Diệu Đăng (Vườn Tháp Tổ) và bảo tháp
Linh Quang (Am Dược) Bản dập 3: Văn bia tháp Chân Bảo (Hòn Ngọc)
Bản dập 4: Văn bia tháp Tự Tuệ (Hòn Ngọc)
Bản dập 5: Văn bia tháp Tôn Đức (Vườn Tháp Tổ)
Bản dập 6: Văn bia tháp Hoa Quang (Vườn Tháp Tổ)
Bản dập 7: Văn bia tháp Trường Quang (Vườn Tháp Tổ)
Bản dập 8: Văn bia tháp Chân Thường (Vườn Tháp Tổ)
Bản dập 9: Văn bia và câu đối tháp Viên Dong và tháp Hoa Yên 7
Bản dập 10: Văn bia tháp Độ Nhân (chùa Hoa Yên)
BẢN ẢNH
Bản ảnh 1: Tháp Huệ Quang (Vườn Tháp Tổ)
Bản ảnh 2: Tháp Huệ Quang (Vườn Tháp Tổ)
Bản ảnh 3: Các tháp phía Đông của Vườn Tháp Tổ
Bản ảnh 4: Tháp Tôn Đức (Vườn Tháp Tổ)
Bản ảnh 5: Tháp Diệu Đăng (Vườn Tháp Tổ)
Bản ảnh 6: Tháp Hiếu Từ (Vườn Tháp Tổ)
Bản ảnh 7: Tháp Tịch Quang (chùa Lân)
Bản ảnh 8: Tháp Viên Dong (chùa Bảo Sái)
Trang 8Bản ảnh 9: Tháp Bảo Quang và tháp Trường Quang (Vườn Tháp Tổ) Bản ảnh 10: Tháp Hoa Yên 7 (chùa Hoa Yên)
Bản ảnh 11: Tháp Độ Nhân (chùa Hoa Yên)
Bản ảnh 12: Tháp Hoa Yên 2 (chùa Hoa Yên)
Bản ảnh 13: Tháp Chân Bảo, Tịnh Trụ, Tự Tuệ (Hòn Ngọc)
Tháp Chân Thường, Hoa Quang (Vườn Tháp Tổ) Bản ảnh 14: Tháp Chân Bảo, Tịnh Trụ, Tự Tuệ (Hòn Ngọc)
Bản ảnh 15: Tháp Chân Thường và Hoa Quang (Vườn Tháp Tổ)
Bản ảnh 16: Tháp Vườn Tháp Tổ 1, tháp Hoa Yên 4 và bảo tháp Linh
Quang (am Dược) Bản ảnh 17: Tháp am Thiền Định
Bản ảnh 18: Tháp Tịch Quang (chùa Quỳnh Lâm)
Bản ảnh 19: Tháp Linh Quang (chùa Thanh Mai)
Bản ảnh 20: Tháp Phổ Quang (chùa Thanh Mai)
Bản ảnh 21: Bảo tháp Viên Thông (chùa Thanh Mai)
Bản ảnh 22: Bảo tháp Đăng Minh (chùa Côn Sơn)
Bản dịch 1: Văn bia tháp Tôn Đức (Vườn Tháp Tổ)
Bản dịch 2: Văn bia tháp Diệu Đăng (Vườn Tháp Tổ)
Bản dịch 3: Văn bia tháp Tự Tuệ (Hòn Ngọc)
Bản dịch 4: Văn bia tháp Tịch Quang (chùa Lân)
Bản dịch 5: Văn bia tháp Độ Nhân (chùa Hoa Yên)
Bản dịch 6: Văn bia tháp Viên Dong (chùa Bảo Sái)
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Lý do lựa chọn đề tài
Tháp là một loại hình kiến trúc đặc biệt phản ánh phong tục chôn cất và
là nơi tiến hành các nghi thức tế lễ, thờ cúng các bậc cao tăng trụ trì trong các chùa Đây là một trong những đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học Việc nghiên cứu loại hình di tích này không chỉ đóng góp vào việc tìm hiểu về kiến trúc mà còn cung cấp những thông tin quan trọng về lịch sử, văn hóa, tôn giáo
và tín ngưỡng
Sau quá trình tham gia điều tra, khảo sát và nghiên cứu các tháp thời Lê
ở khu di tích Yên Tử nói riêng và các khu di tích khác tại Quảng Ninh, Hải
Dương nói chung, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử (Quảng Ninh)” cho luận văn thạc sĩ của mình Luận văn chọn đề
tài này bởi các lý do chính sau:
- Khu di tích Yên Tử là một trong những di tích rất quan trọng trong hệ thống các di tích của thiền phái Trúc Lâm - thiền phái Phật giáo Việt Nam do vua Trần Nhân Tông sáng lập Các tháp thời Lê còn lại nơi đây không chỉ mang đặc trưng kiến trúc của thời Lê mà còn có văn bia chứng thực cho niên đại của chúng
- Thông qua nghiên cứu loại hình di tích này từ tài liệu khảo cổ học sẽ cung cấp những thông tin chính xác về vị trí, cấu trúc mặt bằng, vật liệu xây dựng và các vật dụng thờ cúng Từ đó góp phần nhận thức rõ hơn những đặc trưng cơ bản của kiến trúc tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử nói riêng cũng như các tháp Phật giáo nói chung trong dòng chảy lịch sử kiến trúc Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa tư liệu và các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay về tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử Trên cơ sở đó tìm hiểu đặc trưng di tích, di
Trang 10vật, cấu trúc mặt bằng, quá trình tồn tại, thay đổi của các tháp trong lịch sử Đồng thời, để xác định giá trị lịch sử, văn hóa của tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử, luận văn còn tiến hành so sánh với tháp thời Lê ở các khu di tích khác thuộc vùng văn hóa Yên Tử như: chùa Quỳnh Lâm, chùa Ngọa Vân, chùa Hồ Thiên (Quảng Ninh) và chùa Thanh Mai, chùa Côn Sơn (Hải Dương)
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn là công trình tổng hợp các kết quả nghiên cứu về tháp thời
Lê, đánh giá vị trí của nó trong khu di tích Yên Tử Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp những tư liệu chân xác về cấu trúc của tháp thời Lê, từ
đó có thể đóng góp vào những hiểu biết về các đặc trưng cơ bản tháp thời Lê nói riêng và hệ thống tháp các thời kỳ khác trong lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động trùng
tu, xây dựng lại tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử nói riêng và ở nước ta nói chung Bên cạnh đó, luận văn góp phần làm rõ thêm các đặc trưng kiến trúc
và nghệ thuật trang trí kiến trúc thời Lê, giúp xác định niên đại của di tích, di vật ở các địa điểm khác, nhất là các tháp không có văn bia hoặc bị đổ chỉ còn lại một phần
Những kết quả nghiên cứu của luận văn hi vọng có thể góp thêm cứ liệu khoa học phục vụ kịp thời cho việc quy hoạch bảo tồn, tôn tạo, phục hồi
và phát huy giá trị của tháp thời Lê trong tổng thể khu di tích Yên Tử
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Khái niệm khu vực văn hóa Yên Tử trước đây
được sử dụng để chỉ một khu vực rộng lớn bao gồm các di tích thuộc khu di tích Yên Tử (Uông Bí) và các di tích khác thuộc dãy Yên Tử và vùng phụ cận liên quan đến quá trình phát triển Phật giáo ở Quảng Ninh, Hải Dương và Bắc
Trang 11Giang (thuộc con đường hành hương lên Yên Tử cũ: theo đường sông từ Vĩnh Nghiêm đến Quỳnh Lâm, từ đó theo đường bộ lên núi Yên Tử) Khu vực văn hóa Yên Tử hiện nay được quy hoạch lại với tên gọi quần thể di tích và danh thắng Yên Tử Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử thuộc huyện Uông Bí (Quảng Ninh), qua đó
so sánh với các tháp thời Lê ở các di tích thuộc vùng văn hóa Yên Tử
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các
tài liệu khảo cổ học, bao gồm toàn bộ kiến trúc tháp còn lại trên mặt đất và các tài liệu về tháp do các nhà nghiên cứu trước đó để lại qua các cuộc điều tra, khai quật Đồng thời, để làm rõ vị trí, vai trò của các tháp ở Yên Tử trong
hệ thống tháp Phật giáo thời Lê, luận văn còn sử dụng các sử liệu thu được từ các khu di tích khác trong khu vực văn hóa Yên Tử
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khảo cổ học truyền thống có sự hỗ trợ của kỹ thuật hiện đại như: điều tra khảo sát, thám sát và lấy
tư liệu tại hiện trường… cũng như các kỹ thuật nghiên cứu khảo cổ học trong phòng Đồng thời triệt để sử dụng các phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp những đặc trưng về kỹ thuật, nghệ thuật trang trí trên các loại hình vật liệu, cấu trúc mặt bằng,…
Bên cạnh phương pháp nghiên cứu khảo cổ học thuần túy, luận văn còn kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành: Nghiên cứu “địa danh học”, kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc…
Phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng là nền tảng khoa học của luận văn trong việc nhìn nhận đánh giá các sự kiện, hiện tượng
và nhân vật lịch sử liên quan
Trang 12Ngoài ra, các kỹ thuật xử lý bản vẽ bằng chương trình AutoCAD, Coreldraw, xử lý ảnh bằng chương trình Photoshop và một số chương trình khác cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu
4 Cấu trúc của luận văn
- Mở đầu: 8 trang
- Phần chính văn: 81 trang, gồm 3 chương:
+ Chương 1: Tổng quan về khu di tích Yên Tử (15 trang)
+ Chương 2: Hệ thống tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử (44 trang) + Chương 3: Giá trị của tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử và mối quan
hệ của nó với các tháp cùng thời trong khu vực Yên Tử (22 trang)
- Kết luận: 04 trang
- Tài liệu tham khảo: 07 trang
- Phụ lục (bản đồ, không ảnh, sơ đồ, bản vẽ, bản dập, bản ảnh, bản dịch văn bia): 78 trang
Trong luận văn còn có các phần: Lời cam đoan; Mục lục; Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt trong luận văn; Danh mục bản đồ, không ảnh, sơ
đồ, bản vẽ, bản dập, bản ảnh, bản dịch văn bia
Trong quá trình hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô, các nhà nghiên cứu tiền bối, sự trao đổi, đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ nhiệt tình của các
cơ quan và cá nhân Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới sự dạy dỗ và chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong Khoa Lịch sử nói chung, Bộ môn Khảo cổ học nói riêng, sự giúp đỡ và tạo điều kiện nhiệt thành, có hiệu quả của lãnh đạo Viện Khảo cổ học, Ban Quản lý di tích và rừng Quốc gia Yên Tử, Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc và nhiều cơ quan, cá nhân khác!
Trang 13Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ sự trân trọng và lòng tri ân sâu sắc đến TS
Lê Thị Liên, người không chỉ cho tôi những chỉ dẫn về khoa học mà còn dạy bảo nhiều điều về cuộc sống và thường xuyên động viên khích lệ tinh thần mỗi khi tôi gặp khó khăn!
Sự động viên, khích lệ và giúp đỡ của gia đình là chỗ dựa tinh thần không thể thiếu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trang 14Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH YÊN TỬ
1.1 Vị trí địa lí tự nhiên khu di tích Yên Tử
Quần thể Di tích và danh thắng Yên Tử có tọa độ từ 21005’ đến 21009’
vĩ độ Bắc và 106043’ đến 106045’ kinh độ Đông, nằm trong vùng núi cao Yên
Tử, thuộc cánh cung Đông Triều với độ cao trung bình trên 600m Địa bàn phân bố thuộc 3 tỉnh: Quảng Ninh, Bắc Giang và Hải Dương [17]
Khu di tích Yên Tử thuộc địa phận hai xã Phương Đông và Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Yên Tử là tên gọi của ngọn núi cao nhất trong hệ thống cánh cung Đông Triều, nằm ở độ cao 1.068 m so với mực nước biển, quanh năm mây trắng lơ lửng nên Yên Tử còn được gọi là Bạch Vân Sơn (núi mây trắng)
Về địa lý, Yên Tử là dãy núi thấp, thuộc hệ thống cánh cung Đông Triều, một vùng địa chất được hình thành từ kỷ Đệ tứ, với các loại đá gốc như sa thạch, sỏi kết sạn và phù sa cổ… Địa hình, địa chất phức tạp của khu vực đã kiến tạo nên các điểm cảnh quan kỳ vĩ, như thác Ngự Dội, thác Vàng, thác Bạc, cổng Trời, đường Tùng, rừng trúc, đỉnh núi Yên Tử…, nơi có những kiến trúc cổ truyền như hòa mình vào thiên nhiên hùng vĩ
Khu vực Yên Tử có tổng diện tích tự nhiên khoảng 2.686 ha, trong đó
có 1.736 ha rừng tự nhiên, đặc trưng cho hệ sinh thái rừng Đông Bắc, còn bảo tồn được nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm Xen kẽ với thiên nhiên là hệ thống chùa, am, tháp… Ven lối dẫn lên các chùa, am, tháp thường trồng rất nhiều tùng Loài cây gắn bó với Phật Hoàng Trần Nhân Tông và thiền phái Trúc Lâm như tùng cổ còn lại 242 cây, thuộc 4 nhóm quý hiếm, được trồng cách đây hơn 700 năm, tập trung ở khu vực đường Tùng, am Dược, chùa Hoa Yên lên thác Vàng, thác Bạc, khu vực chùa Vân Tiêu, Bảo Sái, Hòn Ngọc, Vườn Tháp Tổ Ngoài đường tùng cổ thụ, rừng trúc ở đây cũng nổi tiếng từ ngàn xưa Trúc là sản phẩm độc đáo của Yên Tử, tượng trưng cho sức
Trang 15sống dẻo dai, vẻ đẹp thanh bạch và tao nhã của tạo hóa Có lẽ, đó cũng chính là
lý do mà Trần Nhân Tông đã chọn nơi đây để tu hành và lấy tên "rừng Trúc", tức Trúc Lâm, để đặt tên cho dòng Thiền do ông sáng lập [27] Bên cạnh đó còn có
13 cây đại cổ còn in dấu phong sương, trường tồn cùng Thiền phái Trúc Lâm đến ngày nay tại khu vực chùa Hoa Yên, Vườn Tháp Tổ Ngoài ra, nơi đây còn có những cây mai vàng Yên Tử nở rực rỡ vào mùa xuân Riêng giống hoa cúc của Yên Tử trước kia mọc ở một số nơi như khu vực chùa Hoa Yên, am Hoa nay không còn
Rừng Quốc gia Yên Tử có ranh giới phía Bắc giáp khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử thuộc huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang; phía Đông giáp khu vực Than Thùng xã Thượng Yên Công; phía Tây giáp xã Tràng Lương,
xã Hồng Thái Đông, huyện Đông Triều; phía Nam là phường Phương Đông, thành phố Uông Bí
Rừng Yên Tử phân làm 2 vùng khí hậu Từ độ cao 700m trở xuống khu vực Vân Tiêu, Bảo Sái là rừng nhiệt đới, rừng nhiều tầng đa dạng sinh học
Từ độ cao 700m trở lên là rừng á nhiệt đới, quanh năm mây phủ, ẩm ướt Có nhiều loài thảo dược quý như: Sa nhân, ba kích, trầu tiên, hoằng đằng, khôi tía
Rừng Yên Tử có điều kiện khí hậu, thuỷ văn nằm ở vùng khí hậu Đông Bắc Bộ nên mỗi năm có hai mùa rõ rệt Mùa đông lạnh và khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau và mùa nóng, ẩm, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 Nhiệt độ bình quân từ 23,4 độ C, cao nhất là 33,4 độ C, thấp nhất là dưới 5 độ
C Lượng mưa bình quân/năm 1.785 mm, cao nhất 2.700mm, thấp nhất 1.423mm Mưa tập trung vào tháng 6, 7, 8
Rừng có 4 hệ thống suối chính Trong đó có 3 hệ suối bắt nguồn từ núi Yên Tử: suối Cây Trâm, suối Giải Oan, suối Bãi Dâu Một hệ suối bắt nguồn
từ khu B
Trang 16Yên Tử là một khu bảo tồn thiên nhiên đa dạng sinh học hoà quyện với rừng già đại ngàn và di tích, đó là cơ sở xây dựng và phát triển loại hình du lịch sinh thái gắn với tâm linh Có thể nói trên đất Quảng Ninh và một số tỉnh thành Đông Bắc nước ta, hiếm có nơi nào còn giữ được rừng tự nhiên như Yên Tử Theo nghiên cứu và thống kê của các nhà khoa học, rừng Yên Tử có
830 loài thực vật, trong đó có 38 loài đã được ghi vào sách đỏ Việt Nam là ngành dương sỉ, ngành hạt trần và ngành hạt kín Các loại cây như gụ, lau, vàng kiêng, thông tra, thông tra lá ngắn, tùng la hán, giổi xanh, giổi đỏ, sến mật, đinh thối, vù hương
Rừng Yên Tử có hệ động vật phong phú và đa dạng Các nhà khoa học
đã tìm ra 35 loài thú, 77 loài chim, 34 loài bò sát, 15 loài lưỡng cư Có một số loài động vật quý hiếm còn được bảo vệ ở Yên Tử như: cu ly lớn, khỉ mặt đỏ, voọc mũi huyếch, rái cá, sơn dương, sóc bay lớn, rồng đất, trăn, các loài rắn, rùa vàng [17]
Với điều kiện tự nhiên nhiều lợi thế nêu trên, Yên Tử là môi trường nghiên cứu khoa học về địa chất, môi trường, bảo vệ nguồn gen, lịch sử văn hóa tâm linh, tiềm năng du lịch sinh thái Bên cạnh đó, núi rừng nơi đây còn bao bọc di tích trong lòng (yếu tố tâm linh), làm nền cho sự phát triển thiền phái Trúc Lâm Sự kết hợp giữa điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước
1.2 Lịch sử hình thành khu di tích Yên Tử
Từ xa xưa, Yên Tử đã được các nhà địa lý cổ phương Đông ghi nhận là một trong những “phúc địa của Giao Châu”, được coi là danh sơn đất Việt, nơi tích tụ khí thiêng sông núi và là nơi trời đất giao hòa, giúp con người dễ dàng thoát tục để đến với một không gian thanh tịnh, không vướng bụi trần
Trang 17Theo truyền thuyết dân gian, trước Công nguyên, một đạo sĩ người phương Bắc tên là An Kỳ Sinh (còn gọi là Yên Kỳ Sinh) đã đến đây tu tiên luyện đan, khi mất đã hóa thành pho tượng đá
Từ thời Lý, Phật giáo rất thịnh hành ở nước ta Yên Tử lúc đó đã có ngôi chùa tên là Phù Vân Khoảng cuối thời Lý, thiền sư Hiện Quang thuộc thế hệ thứ 14 của dòng thiền Vô Ngôn Thông đã từng tu hành tại đây Theo
ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 3 năm Bính Thân (1236), vua
Trần Thái Tông đã trốn khỏi Thăng Long, ruổi ngựa theo hướng núi lên Yên
Tử để gặp nhà sư Phù Vân, muốn xuất gia nhưng không thành
Tuy nhiên, Yên Tử chỉ trở thành trung tâm của Phật giáo khi vua Trần
Nhân Tông - một ông vua đang thời thịnh trị (cuối thế kỷ 13) đã từ bỏ ngai
vàng đến đây tu hành, nghiên cứu Phật pháp, thành lập một dòng Phật giáo đặc trưng của Việt Nam, đó là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử Ngài đã trở thành vị tổ thứ nhất với pháp danh Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) và đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên
Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh, giảng đạo Sau khi ngài qua đời, người
kế tục sự nghiệp là Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284-1330), vị tổ thứ hai của dòng Trúc Lâm Trong 19 năm tu hành, Pháp Loa đã soạn ra bộ
sách Thạch thất mị ngữ và cho xây dựng 800 ngôi chùa, am, tháp lớn nhỏ
trong nước với hàng nghìn pho tượng có giá trị Trong đó có những chùa nổi tiếng như chùa Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên ở Đông Triều, chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) Vị tổ thứ ba của phái Trúc Lâm là Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254-1334) Hành trạng và công đức của tam tổ Trúc Lâm đã được ghi rõ
trong Tam tổ thực lục, Thiền uyển tập anh và Thiền sư Việt Nam
Sang thời Lê sơ, Phật giáo bị nhà nước phong kiến ban hành nhiều điều
lệ nhằm hạn chế sự phát triển, đưa Phật giáo xuống hàng thứ yếu Tuy nhiên, Phật giáo đã phục hưng mạnh mẽ vào thời Lê trung hưng, hàng loạt các di
Trang 18tích thời Lý Trần được xây dựng lại với quy mô lớn Các di tích còn lại ở Yên
Tử hiện nay phần lớn thuộc thời kỳ này
Ngày nay, Yên Tử là khu di tích quốc gia đặc biệt quan trọng, là trung tâm Phật giáo lớn của Việt Nam Núi Yên Tử hiện còn lưu giữ một hệ thống các di tích lịch sử văn hóa gắn với sự ra đời, hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Vốn là một thắng cảnh thiên nhiên, ngọn Yên Tử còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử, được mệnh danh là "đất tổ Phật giáo Việt Nam" Tại vùng núi non thiêng Yên Tử từng có nhiều công trình kiến trúc chùa, tháp,
am thờ, hệ thống đường hành hương được xây dựng, tạo nên một phức hệ hay một quần thể di tích kiến trúc Phật giáo độc đáo và mang đậm dấu ấn của nhiều thời kỳ lịch sử, kéo dài từ thời Trần (thế kỷ 13 - 14) đến tận thời Nguyễn (thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20)
Xung quanh khu vực núi Yên Tử còn có các di tích và danh thắng quan trọng như: chùa Quỳnh Lâm, chùa Ngọa Vân, chùa Hồ Thiên (Đông Triều, Quảng Ninh), chùa Côn Sơn, chùa Thanh Mai (Chí Linh, Hải Dương) Đây là các di tích quan trọng trong hệ thống các chùa và thiền viện gắn chặt với sự hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Đồng thời cũng là những di tích đã được trùng tu mạnh mẽ vào thời Lê trung hưng - song song với quá trình phục hưng của Phật giáo ở Yên Tử
Trải qua các thời kỳ lịch sử với nhiều biến động của thiên nhiên và xã hội, phần lớn các di tích cổ ở Yên Tử đã bị mai một và biến mất khỏi mặt đất Một số di tích còn lại cũng đã và đang đứng trước nguy cơ bị huỷ hoại Thêm nữa, sự phát triển của kinh tế, sự phá hoại vô thức của con người cũng đang ngày càng phá huỷ nghiêm trọng môi trường, đe doạ sự tồn tại của di tích
1.3 Tổng quan về hệ thống tháp ở khu di tích Yên Tử
1.3.1 Khái quát giới thiệu về tháp
- Khái niệm về tháp
Trang 19Trong “Đại từ điển tiếng Việt”, tháp được định nghĩa như sau: “Tháp
là “1 công trình xây dựng rất cao, thường có hình chóp nhọn: tháp canh, tháp ngà, tháp nước, bảo tháp, hình tháp, kim tự tháp 2 Bộ phận có hình chóp nhọn: tháp bút.” [77, tr 1534]
Trong “Đại từ điển tiếng Việt”, bảo tháp được định nghĩa như sau: là
“tháp báu làm nơi cất giữ hài cốt, tro tàn của Phật hoặc các bậc thánh, cao tăng, đại đức” [77, tr 110]
Theo Inchang Kim, ở Việt Nam, từ Tháp được dùng cho ba loại kiến
trúc: 1) Kiến trúc nhiều tầng mái ở phía trước điện thờ chính, bao gồm phần
Đường và Điện; 2) Kiến trúc chứa di cốt các nhà sư; 3) Kiến trúc dạng tháp
(tower) như là kiến trúc để treo trống hoặc chuông [43, tr 100]
Chức năng đầu tiên và quan trọng nhất của stupa là để chứa xá lị của
đức Phật hay một số biểu tượng khác của Phật pháp Cấu trúc chính của tháp nhiều tầng mái rất có thể là một Tăng - già - lam, trong đó đặt tượng Phật để thờ phụng Cái tháp có nhiều tầng mái thời kỳ sớm vì thế có thể đã là một
điện thờ hơn là một stupa như các học giả trước đây đã gợi ý Tháp nhiều tầng
mái đặc trưng bởi không gian bên trong được mở ra bằng một cửa trong khi
stupa thì hoàn toàn đóng kín và không có không gian bên trong Ý nghĩa biểu
tượng của tháp nhiều tầng mái có thể liên quan tới một siêu kiến trúc của cả
điện thờ lẫn stupa đã được thần tượng hóa Kiến trúc stupa có nguồn gốc Ấn
Độ được đột ngột nâng lên trên đỉnh của tự và được thu nhỏ về kích thước
Ý nghĩa của một stupa như là nơi chứa xá lị Phật, được thay thế cho một biểu
tượng phi nhân hình Phật, trong khi điện thờ với một tượng Phật trong đó là
một dạng tiếu tượng nhân hình của đức Phật Sự kết hợp của điện thờ và stupa
có chức năng hai mặt: Điện thờ phụng sự sự dâng hiến tuyệt đối (Bhakti), tức
là ý tưởng cơ bản của Phật giáo Đại thừa, trong khi stupa thể hiện sự tối
Trang 20thượng của việc đức Phật nhập Niết - bàn (parinirvana), mục đích đạt tới cuối
cùng của Phật giáo Tiểu thừa (Hinayana) [43, tr 99]
Tháp nhiều tầng mái với một stupa trên đỉnh có thể được hiểu là quyền năng siêu nhiên của Phật Nó bảo vệ những tín đồ Phật giáo khỏi mọi sự xấu
xa, giống như tháp canh để bảo vệ dân chúng khỏi kẻ thù
Từ thế kỷ 9 trở đi, Tháp như là một nơi chứa xá lị của các vị sư ngày
càng trở nên phổ biến Hình dạng kiến trúc của loại tháp này khác với Tháp
có điện thờ chính ở phần trên cùng: Chiếc stupa nhỏ bé của motip chiếc tháp sớm trở thành một bình đựng nước (kundika) Tháp chứa xá lị của các nhà sư thường được đặt bên ngoài điện thờ [42, tr 101]
Mặc dù ở Việt Nam đã phát hiện một số tháp được cho là tháp chứa xá
lị Phật từ thời Tùy - Đường và thời Lý nhưng tháp chứa xá lị một nhân vật cụ thể hiện biết chính là Tháp Tổ, thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông ở Yên Tử Các dấu tích kiến trúc cho thấy tháp được xây dựng từ thời Trần Đến thời Lê, xuất hiện các tháp chứa xá lị các vị sư trụ trì trong chùa Tuy nhiên, theo những tư liệu hiện biết, ở Việt Nam, tháp chứa xá lị sư mới được biết đến vào thế kỷ 16 Các tháp trước đấy là các tháp thờ Phật (tháp chùa Phật Tích, tháp Chương Sơn, tháp Bình Sơn, tháp Tường Long ) hoặc đặt xá lị của người được tôn là Phật (tháp Phổ Minh và tháp Huệ Quang - nơi đặt xá lị của Trúc Lâm đệ nhất tổ Trần Nhân Tông)
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn này là các tháp chứa xá lị các vị sư trụ trì các chùa trong khu di tích Yên Tử có niên đại vào thời Lê Các tháp có cùng chức năng trong các di tích thuộc hệ thống Trúc Lâm… sẽ được nghiên cứu so sánh, nhằm làm rõ đặc trưng của các tháp ở Yên Tử (không ảnh 1)
1.3.2 Lịch sử nghiên cứu
Từ khá sớm, khu vực văn hóa Yên Tử nói chung (bao gồm các di tích nằm trong quần thể các di tích và danh thắng Yên Tử thuộc các tỉnh Quảng
Trang 21Ninh, Hải Dương và Bắc Giang) và khu di tích Yên Tử nói riêng (Uông Bí, Quảng Ninh) đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tản mạn trong các báo cáo, bài viết của mình các tác giả đã phần nào đề cập đến hệ thống tháp tại khu di tích Yên Tử, trong đó, tháp thời Lê chiếm một vị trí quan trọng
Năm 1974, Viện Khảo cổ học đã cử đoàn cán bộ khảo sát toàn bộ khu
di tích Yên Tử Hệ thống các di tích, di vật và tư liệu Hán Nôm đã được đoàn công tác thống kê và đề cập sơ lược Các ngôi tháp thời Lê là một trong những đối tượng quan trọng trong đợt khảo sát này Các tư liệu bản ảnh về hiện trạng di tích hiện còn lưu giữ tại kho tư liệu của Viện Khảo cổ học Cuộc khảo sát này đã cho thấy phần lớn các tháp thời Lê còn lại hiện nay ở khu di tích Yên Tử vẫn còn tương đối nguyên vẹn Nhiều cấu kiện của tháp bị xô lệch, sụt lún, bề mặt các tháp bị cây cỏ bám vào, đặc biệt là các khe giữa các cấu kiện khiến nguy cơ sụp lún của các tháp ngày càng cao Một phần kết quả
khảo sát đó được đăng trong bài viết “Bước đầu nghiên cứu khu di tích Yên
Tử (Quảng Ninh)” (Đỗ Văn Ninh, Phan Tiến Ba, NPHMVKCH 1975, tr 326) và “Khu di tích Yên Tử (Quảng Ninh)” (Đỗ Văn Ninh, 1976, KCH số
322-17, tr 98-100), trong đó có đề cập đến một số ngôi tháp thời Lê ở đây
Trong bài viết “Một kiểu tháp lạ dưới chân núi Yên Tử (Quảng Ninh)” (NPHMVKCH 1986), Phan Tiến Ba đã mô tả sơ qua về kiến trúc tháp 1 tầng ở
khu di tích Yên Tử
Trong cuốn sách “Tháp cổ Việt Nam” Nguyễn Duy Hinh (1992) đã có
những phân loại và miêu tả cụ thể về tháp ở Việt Nam, trong đó có nhắc đến một số ngôi tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử Đây là nghiên cứu chi tiết, đầy
đủ nhất về tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử cho đến nay
Năm 1997, để phục vụ công tác trùng tu khu di tích Yên Tử, Trung tâm thiết kế và tu bổ di tích (nay là Viện Bảo tồn di tích) đã tiến hành khảo sát, lập
Trang 22hồ sơ, đo vẽ lại hiện trạng những tháp cần tu bổ tại chùa Lân, Hòn Ngọc, Vườn Tháp Tổ, Hoa Yên, Vân Tiêu Viện cũng đã xây dựng các phương án tu
bổ cụ thể Đây đồng thời là nguồn tư liệu quan trọng trong việc xây dựng hồ
sơ di tích quốc gia đặc biệt của khu di tích Yên Tử
Bên cạnh đó còn có một số bài viết đăng trên NPHMVKCH về hiện
trạng khu di tích Yên Tử, những ảnh hưởng của phát triển kinh tế - xã hội tới các di tích nơi đây, trong đó có các khu vườn tháp Tiêu biểu như bài viết
“Núi Yên Tử với thời cuộc” của Nguyễn Duy Hinh năm 1995, bài viết “Môi trường khu di tích Yên Tử, Quảng Ninh SOS” của Vũ Thế Long năm 1996 và bài viết “Vụ vi phạm di tích Yên Tử Quảng Ninh câu hỏi với ngành than: kinh
tế hay di tích” của Nguyễn Văn Huyên năm 1998
Trong năm 2002, Trịnh Cao Tưởng và các cộng sự đã tiến hành khai quật tại chùa Lân Kết quả của cuộc khai quật này đã được công bố trong báo
cáo “Khai quật khu nền chùa Lân, Yên Tử (Quảng Ninh)” và “Báo cáo đào thám sát chùa Lân - Uông Bí - Quảng Ninh, tháng 4-2002” đăng trên NPHMVKCH 2002 Trong đó tác giả đã nhắc tới tháp của Thiền sư Chân
Nguyên, ngôi tháp tiêu biểu của Yên Tử có niên đại thế kỷ 18
Sau đó, vào giữa năm 2007, Viện Khảo cổ học đã kết hợp với Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Ninh tiến hành điều tra, thám sát khảo cổ học 11 địa điểm thuộc khu di tích Yên Tử gồm: Chùa Suối Tắm, chùa Cầm Thực, chùa Lân, chùa Giải Oan, Vườn Tháp Tổ, am Thiền Định, am Dược, am Hoa, chùa Vân Tiêu, An Kỳ Sinh và chùa Đồng Tổng diện tích đào thám sát là 519m2 do PGS TS Tống Trung Tín chủ trì Kết quả của cuộc khai quật này đã
được công bố trong “Báo cáo kết quả điều tra, thám sát khảo cổ học khu di tích YênTử (Quảng Ninh) năm 2007” Đoàn khai quật đã tiến hành khảo sát
các vườn tháp của khu di tích, ghi chép cụ thể về một số ngôi tháp và chủ nhân của chúng Trong đó, một số tháp thời Lê cũng được khảo tả, đặc biệt là
Trang 23các tháp ở Vườn Tháp Tổ Đây cũng là một nguồn tư liệu quan trọng trong việc nghiên cứu về loại hình di tích này ở Yên Tử
Dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, một số sách về di tích Yên Tử đã được xuất bản, trong đó có một số sách đã viết về tháp ở khu
di tích Yên Tử như: Di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng Yên Tử của BQLCDTTĐQN (2011) do Nxb Khoa học xã hội xuất bản; Chùa Yên Tử - lịch sử truyền thuyết, di tích danh thắng do Nxb Văn hóa - Thông tin xuất bản
và Danh nhân Yên Tử do Nxb Văn hóa dân tộc xuất bản của tác giả Trần
Trương Các ngôi tháp thời Lê và chủ nhân của chúng đã được giới thiệu rõ trong các ấn phẩm này
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu trong nước đã bắt đầu nghiên cứu,
so sánh các loại hình tháp ở khu di tích Yên Tử với những tháp cùng thời và khác thời ở các di tích khác trong cả nước Ngoài ra, các cuộc điều tra, khảo sát và khai quật tại các di tích thuộc vùng văn hóa Yên Tử cũng đã đề cập tới các vườn tháp, trong đó có tháp thời Lê Những kết quả nghiên cứu thu được
đã bổ sung những hiểu biết còn thiếu của chúng ta về loại hình di tích này, đặc biệt trong bối cảnh các nhà nghiên cứu không có điều kiện khai quật được các tháp tại Yên Tử Qua đó, chúng ta cũng thấy được mối quan hệ giữa các khu di tích trong quần thể di tích Yên Tử và sự giống và khác nhau của cùng một loại hình di tích - tháp thời Lê
Ngoài các nghiên cứu về tháp thời Lê tại khu di tích Yên Tử, các ngôi tháp cùng thời tại các di tích khác cũng được khảo sát và nghiên cứu Kết quả thu được đã góp phần nâng cao hiểu biết của chúng ta về loại hình di tích này
Năm 2007, Nguyễn Văn Anh và các cộng sự đã tiến hành điều tra, nghiên cứu di tích chùa Hồ Thiên - Ngọa Vân, kết quả nghiên cứu được công
bố trong “Báo cáo kết quả điều tra, nghiên cứu khảo cổ học di tích chùa Hồ Thiên - Ngọa Vân (huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh)” Năm 2009,
Nguyễn Văn Anh và các cộng sự đã tiến hành khai quật di tích Thông Đàn 1,
Trang 24kết quả nghiên cứu được công bố trong “Báo cáo kết quả nghiên cứu khảo cổ học di tích Thông Đàn 1, năm 2009 (khu di tích Ngọa Vân, Đông Triều, Quảng Ninh) Các vườn tháp đã được đoàn công tác khảo sát và mô tả kỹ cả
về hiện trạng, kiến trúc, chủ nhân và niên đại
Chùa Hồ Thiên - nơi được xây dựng lớn vào thời Lê trung hưng đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong thời gian dài, tiêu biểu như
bài viết “Thăm di tích chùa Hồ Thiên (Hải Hưng)” của Tăng Bá Hoành đăng trên NPHMVKCH năm 1983, “Chùa Hồ Thiên - di tích lịch sử bị lãng quên gần 2 thế kỷ” của Nguyễn Văn Phong đăng trên NPHMVKCH năm 1997 và bài viết “Di tích chùa Hồ Thiên (Quảng Ninh)” của Nguyễn Tiến Đông, Bùi Văn Liêm, Vũ Thị Khánh Duyên, Phạm Hải Yến đăng trên NPHMVKCH năm
2004 Các dấu tích tháp thời Lê còn lại nơi đây có đặc trưng kiến trúc hết sức tiêu biểu và mang giá trị thẩm mỹ cao
Trong bài viết “Di tích chùa Ngọa Vân (Quảng Ninh)” của Nguyễn
Tiến Đông, Bùi Văn Liêm, Vũ Thị Khánh Duyên, Phạm Hải Yến đăng trên
NPHMVKCH năm 2004 đã nhắc tới hai ngôi tháp Phật Hoàng và Đoan
Nghiêm ở trước chùa Ngọa Vân, dấu tích ngôi tháp đổ ở khu vực Đá Chồng
Bên cạnh đó còn có bài viết “Hình tượng bát quái trên tháp mộ chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh)” đăng trên NPHMVKCH năm 2008 và “Từ những hình tượng bát quái trên các công trình kiến trúc Phật giáo nghĩ về Phật giáo thời Lê trung hưng” đăng trên NPHMVKCH năm 2009 của Nguyễn Văn Anh
và Mai Thùy Linh Trong hai bài viết này, tác giả đã đưa ra thống kê và một
số nhận xét về hình tượng bát quái trên trần khám thờ của các ngôi tháp thời
Lê tại chùa Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên, chùa Phật Tích Tại Yên Tử, hình thức trang trí này cũng xuất hiện tại một số tháp: tháp Diệu Đăng, tháp Hiếu
Từ, tháp Hoa Quang, tháp Hoa Yên 7 Qua đó chúng ta có thêm những cứ liệu
để so sánh về hình thức trang trí này trên tháp thời Lê
Trang 25Ngoài ra, các xuất bản phẩm của BQLCDTTĐQN, UBND huyện Đông
Triều, Viện Khảo cổ học như “Đông Triều với lịch sử nhà Trần”, “Di tích lịch sử - văn hóa nhà Trần tại Đông Triều” và “Kỷ yếu hội thảo khoa học: giá trị khu di tích quốc gia đặc biệt khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều (Quảng Ninh) cũng ít nhiều đề cập tới vấn đề này
Đây cũng là một trong những tài liệu hỗ trợ cho việc nghiên cứu loại hình tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử Việc so sánh các kết quả nghiên cứu giúp bổ sung những nhận thức còn thiếu về loại hình di tích này
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Duy Hinh, Trịnh Cao Tưởng, Đỗ Văn Ninh đã có nhiều bài nghiên cứu viết về tháp thời Lê nói chung và tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử nói riêng… Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ nêu khái quát, chưa đi sâu vào nghiên cứu chi tiết từng đối tượng cụ thể, chưa đưa ra các tiêu chí rõ ràng đối với việc nghiên cứu tháp thời Lê và các mối quan hệ, giá trị của nó về mặt văn hóa tư tưởng, kiến trúc, nghệ thuật Phần lớn các nghiên cứu mới nhắc đến tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử như một ví dụ minh họa chứng minh cho những luận điểm của mình
1.3.3 Các vườn tháp trong tổng thể khu di tích Yên Tử
Hiện nay, hầu hết các di tích tại Yên Tử đều có các vườn tháp nằm bên cạnh chùa, hoặc được bố trí phía trước, phía sau và xung quanh Căn cứ vào các tư liệu văn khắc, trang trí kiến trúc, vật liệu xây dựng v.v., có thể xác định niên đại các tháp này kéo dài từ thời Lê cho đến nay Tháp có niên đại thuộc thời Nguyễn được làm bằng đá hoặc gạch Bên cạnh đó còn có các tháp mới được dựng lại, xây mới bằng đá, gạch và xi măng Nhiều ngôi tháp đã bị sụp
đổ hoàn toàn, chỉ còn dấu vết, đang được xây dựng lại dần dần Trải qua các biến thiên của lịch sử, nhiều vườn tháp đã bị phá hủy một phần hoặc hoàn toàn, nhiều cấu kiện tháp được tìm thấy xung quanh các tháp hiện nay hoặc được tái sử dụng như một loại vật liệu trong các công trình kiến trúc khác Số
Trang 26lượng tháp hiện tại chỉ là một phần rất nhỏ so với trước kia Tại Yên Tử, tháp
tổ Huệ Quang được đặt tại vị trí trung tâm, không phụ thuộc vào các di tích khác Các vườn tháp hoặc tháp nằm ở vị trí độc lập khác được bố trí dọc các đường hành hương dẫn về tháp tổ
Các tháp thời Lê có số lượng không nhiều, còn tồn tại tại các di tích: chùa Lân, Hòn Ngọc, Vườn Tháp Tổ, chùa Hoa Yên, nằm rải rác trên đường
đi từ chùa Một Mái lên chùa Bảo Sái, am Dược và gần am Thiền Định Vì các tháp nằm độc lập hoặc thành các cụm nên trong luận văn, các tháp, cụm tháp
sẽ được mô tả theo trình tự từ dưới lên trên dọc theo tuyến đường hành hương hiện tại (Sđ 1)
Chùa Lân có tên chữ là Long Động tự, được xây dựng từ thời Trần, trên triền núi phong quang tụ linh, tụ phúc Hiện nay, chùa Lân còn gần 20 tháp có niên đại từ thời Lê đến nay, được bố trí dọc theo đường thần đạo Trong đó, tháp Tịch Quang - tháp của tổ sư Chân Nguyên được đặt tại vị trí cao nhất, trang trọng nhất, dọc theo hai bên đường đi là các tháp của các đệ tử Vườn tháp của chùa Lân chỉ còn lại tháp Tịch Quang có niên đại thuộc thời Lê, các tháp khác có niên đại thuộc thời Nguyễn và hiện đại Ngoài ra, một số văn bia, bài vị còn lại từ thời Lê được gắn vào các tháp cho thấy sự tồn tại của các ngôi tháp thời Lê trước kia ở nơi đây (Sđ 2)
Vườn tháp Hòn Ngọc nằm trên đường đi từ chùa Giải Oan lên Vườn Tháp Tổ, nơi đây còn được gọi là dốc Voi Qùy Hiện tại, Hòn Ngọc có 3 tháp
đá thời Lê còn tương đối nguyên vẹn, xung quanh có một số mảnh cấu kiện tháp - dấu tích của các ngôi tháp khác đã bị phá hủy của vườn tháp này Ngoài
ra, nơi đây còn 1 tháp gạch xây thời kháng chiến chống Mỹ và 4 ngôi mộ được đánh dấu bằng cách xếp gạch và đá vụn xung quanh (Sđ 3)
Vườn Tháp Tổ nằm ở vị trí độc lập với chùa Hoa Yên, cách Hòn Ngọc gần 300m, tọa lạc trên một đỉnh đồi, nằm ở vị trí trung tâm của toàn bộ khu di tích Yên Tử, bao quanh là các dãy núi, phía trước là thung lũng Tổng số có gần 100 ngôi tháp ở đây, bao gồm 40 ngôi mới được trùng tu năm 2002 bằng
Trang 27xi măng nằm ở phía sau tháp Huệ Quang, 25 tháp gạch nằm rải rác trên sân vườn tháp, 15 tháp đá, trong đó có 2 ngôi bằng đá xanh, còn lại bằng đá cát kết, có một số ngôi tháp đã bị đổ, chỉ còn lại dấu tích Đây là khu vườn tháp quan trọng của khu di tích Yên Tử Do đó, các nấm mộ được xếp bằng gạch vụn để đánh dấu đang được xây lại bằng đá trắng, tạo thành các ngôi tháp mới
bổ sung cho số lượng tháp của Vườn Tháp Tổ Nơi đây hiện còn 9 ngôi tháp
có niên đại thuộc thời Lê, các ngôi tháp này trước khi trùng tu năm 1997 vẫn đứng vững, còn tương đối nguyên vẹn, bề mặt hiện tại đã được đánh sạch lại trong quá trình trùng tu (Sđ 4)
Đi qua Vườn Tháp Tổ là đến vườn tháp của chùa Hoa Yên Chùa Hoa Yên nằm trên sườn núi Đầu Voi Tương truyền đây là nơi rồng nằm, chùa được dựng ở vị trí trán rồng Chùa được xây dựng từ thời Lý với tên gọi là Vân Yên, đến thời Lê Thánh Tông được đổi là Hoa Yên Hiện tại, các tháp được đặt xung quanh chùa tạo thành 3 cụm Phía trước chùa, các tháp đặt hai bên lối đi dẫn từ Vườn Tháp Tổ lên Hoa Yên, vẫn đảm bảo tính đối xứng qua trục thần đạo như ở chùa Lân Phía Tây chùa chỉ có 3 ngôi tháp gạch thuộc thời Nguyễn Cụm tháp phía sau chùa có 4 tháp bằng đá Bên cạnh đó, phía trước chùa Hoa Yên có nhiều ngôi tháp đá đang được dựng mới giống như ở Vườn Tháp Tổ Các dấu tích còn lại cho thấy khu vực này có nhiều ngôi tháp
đã bị đổ Căn cứ vào các dấu tích còn lại, chúng tôi nhận định rằng mặt bằng tổng thể vườn tháp chùa Hoa Yên trước kia có sự khác biệt so với hiện nay Qua nghiên cứu, so sánh cho thấy phần lớn các tháp và dấu tích tháp có niên đại thuộc thời Nguyễn Các tháp thời Lê còn nguyên vẹn cấu trúc ban đầu hiện nay chỉ có 1 ngôi ở phía trước chùa, 2 ngôi phía sau chùa Ngoài ra còn 2 ngôi tháp được ghép lại từ các cấu kiện của các ngôi tháp khác nhau, trong đó
có các cấu kiện có niên đại thời Lê (Sđ 5)
Từ chùa Một Mái đi tiếp về phía Đông chừng 2 km sẽ đến am Dược, tại
đây còn lại dấu tích của 1 ngôi tháp đá và 1 ngôi tháp gạch Các tháp đều đã
bị đổ nát Bảo tháp Linh Quang được làm bằng đá cát kết, có niên đại thuộc
Trang 28thời Lê, nằm ở phía trước dấu tích ngôi nhà xây bằng đá Tháp bị đổ hoàn toàn, chỉ có một phần đế tháp và bệ tháp còn nguyên vẹn Lòng tháp bị đào trộm một rãnh sâu, các cấu kiệu tháp rải rác xung quanh Quy mô của tháp lớn, cạnh bệ tháp còn nguyên vẹn có chiều dài đo được là 180 cm, gần tương đương với bệ tháp Diệu Đăng ở Vườn Tháp Tổ (Ba 16.3, 5, 6)
Tháp Viên Dong nằm độc lập trên đường đi từ chùa Một Mái lên chùa Bảo Sái, gần cột ga T3 của tuyến đường cáp treo từ Hoa Yên lên An Kỳ Sinh, xung quanh chưa tìm thấy dấu vết của các ngôi tháp khác Vì tháp nằm cách biệt so với các di tích khác nên trong luận văn, tháp Viên Dong được tạm đặt nằm trong phạm vi vườn tháp của chùa Bảo Sái để tiện theo dõi Tháp đã bị
đổ hoàn toàn, mới được tìm thấy và dựng lại vào năm 2008 (Ba 16.3, 5, 6, Bd 2)
Tháp am Thiền Định nằm trên đường đi từ chùa Hoa Yên lên am Thiền Định Vì tháp không có tên nên Ban quản lý Di tích và Rừng quốc gia Yên Tử tạm gọi là tháp am Thiền Định Đây là ngôi tháp đất nung tráng men duy nhất còn lại ở Yên Tử hiện nay Tuy nhiên, tháp đã bị đổ nát, mới được dựng lại vào cuối thế kỷ 20, chỉ còn một số bộ phận của tháp có niên đại thuộc thời Lê:
đế, bệ và một phần mái tháp
Nhìn chung, số lượng tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử còn lại không nhiều, các cấu kiện tháp nằm rải rác ở một số vườn tháp đã cho thấy quy mô của các vườn tháp này vào thời Lê lớn hơn nhiều so với hiện tại Trải qua biến thiên của lịch sử, nhiều ngôi tháp đã bị đổ nát, không còn dấu tích Trong các vườn tháp này, chúng ta có thể thấy Vườn Tháp Tổ là khu vườn tháp trung tâm với mật độ tập trung dày đặc các tháp, trong đó quan trọng nhất là tháp Huệ Quang - tháp của đệ nhất tổ thiền phái Trúc Lâm, đây có thể coi là ngôi tháp chủ, linh hồn của toàn bộ các vườn tháp ở khu di tích YênTử
Trang 29Chương 2: HỆ THỐNG THÁP THỜI LÊ Ở KHU DI TÍCH YÊN TỬ
Theo những chứng tích còn lại ở Yên Tử hiện nay, phần lớn các tháp thời Lê còn lại được làm bằng chất liệu đá Trong đó có 17 tháp còn nguyên hình dáng ban đầu (Chùa Lân: 1 tháp, Hòn Ngọc: 3 tháp, Vườn Tháp Tổ: 9 tháp, Hoa Yên: 3 tháp, chùa Bảo Sái: 1 tháp), tại am Dược còn dấu tích ngôi bảo tháp Linh Quang đã bị đổ Ngoài ra, ở sau chùa Hoa Yên còn một số dấu tích của các ngôi tháp thời Lê khác, các cấu kiện của các tháp khác nhau được gom lại thành đống hoặc tận dụng dựng lại thành ngôi tháp mới
Các ngôi tháp gạch còn lại hiện nay đều có niên đại thuộc thời Nguyễn hoặc thời hiện đại, phần lớn chúng đã bị đổ nát, được người dân gom gạch lại chất thành đống, chỉ có một số ngôi tháp còn giữ được hình dáng ban đầu, được trát bằng vữa hoặc xi măng
Có thể vào thời Lê, ở Yên Tử trước kia đã có các ngôi tháp được làm bằng đất nung nhưng hiện nay đã bị phá hủy Trong quá trình khảo sát, nghiên cứu, chúng tôi chỉ phát hiện được dấu tích của một ngôi tháp Tuy nhiên tháp hầu như đã bị đổ nát, không còn cấu trúc ban đầu nên trong luận văn chỉ nhắc tới sự tồn tại của nó mà không đi sâu vào mô tả kiến trúc Tháp nằm trên đường đi từ chùa Hoa Yên lên am Thiền Định, do tháp không có tên nên tạm gọi là tháp am Thiền Định (theo cách gọi của Ban quản lý Di tích và Rừng quốc gia Yên Tử) Năm 1974, khi đoàn khảo sát của Viện Khảo cổ học tới nghiên cứu thì ngôi tháp này đã bị sụp đổ hoàn hoàn, mới được trùng tu lại gần đây Hiện tại, tháp chỉ còn phần đế tháp, bệ tháp và một phần mái tháp được làm bằng đất nung tráng men xanh, trang trí một số họa tiết hoa văn đặc sắc Qua thời gian, men của tháp đã bị bong tróc gần hết, bệ bị vỡ, hệ thống mái sụt Các bộ phận khác của tháp được trùng tu gần đây, chóp tháp không còn, thay vào đó là bông sen bằng gạch vốn nằm trên một tháp gạch khác của Vườn Tháp Tổ, thân tháp và một phần mái tháp được xây lại bằng gạch Bát Tràng
Trang 30Các bộ phận còn lại của thời Lê bao gồm đế, bệ và phần mái chính, cụ
thể như sau:
* Đế tháp: có 2 bậc hình vuông được ghép bằng các viên gạch hình hộp
chữ nhật Gạch bị bong men gần hết, dấu vết tráng men để lại rất mờ nhạt Cao 9 cm Bậc dưới có kích thước (cạnh dài/cao): 126/ 5 cm Bậc trên có kích thước (cạnh dài/cao): 120/ 4 cm
* Bệ tháp: Bệ tháp hơi choãi, bốn góc của bệ trang trí hình hổ phù,
được tạo tác dữ tợn, miệng ngậm lá đề lộ rộ hai nanh, mũi to, mắt lồi, mày nhíu lại, trán gồ cao, tai bành rộng sang hai bên, bờm chảy ngược về sau Phần đường diềm trên của đế trang trí hoa văn hình khánh lồng Lớp men phủ
bề mặt còn khá rõ, chỉ bị bong tróc một số chỗ Kích thước: bên dưới dài 124
cm, bên trên thu vào còn 92 cm, cao 28 cm (Ba 17 5, 6)
* Mái tháp: Cao 55 cm Phần mái chính giật cấp thót dần lên trên Bề
mặt được phủ men xanh nhưng đã bị bong tróc gần hết, lộ cốt bằng đất nung màu đỏ tươi Những phần giật cấp chia thành nhiều mảng trang trí các họa tiết hoa văn:
Mảng thứ nhất được tạo dáng cong khum mềm mại, phần dưới dài 80
cm, trên thu vào còn 65 cm, cao 20 cm Đường diềm được trang trí đường hồi văn hình chữ S, xen lẫn đường hồi văn là ô tròn thủng, có thể trước kia được gắn các lá đề, hiện tại một góc tháp vẫn còn dấu tích chuôi lá đề gắn vào Trên đường diềm là phần mái trang trí hoa văn hình khánh lồng hoa cúc (Ba 17 2)
Mảng thứ hai thu vào, bốn mặt của mái trang trí hình hai con cá hóa rồng đối xứng nhau Tuy nhiên, do tháp bị hư hỏng nhiều, một phần của tháp được dùng vữa xây lại nên che lấp một phần trang trí Kích thước (cạnh dài/cao):
64 / 8 cm
Mảng thứ ba giật cấp thót lại ở giữa, trang trí hoa văn hình khánh, bên trong hoa văn khánh là hoa văn thị (Ba 17 4) Kích thước (cạnh dài/cao): 50 / 10
cm
Trang 31Mảng thứ tư giật cấp hơi loe ra, phần diềm trang trí hình khánh, hoa văn phía trên bị mờ gần hết nên không xác định được loại hình hoa văn Kích thước (cạnh dài/cao): 61 / 17 cm
Theo những tư liệu hiện biết, các tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử có bình đồ hình vuông, chưa thấy loại hình đa giác như ở một số di tích khác Hiện nay, ở đây chỉ có tháp Huệ Quang có đế hình lục giác, tháp Tôn Đức có một phần đế hình bát giác, tháp Hiếu Từ có đế hình bát giác không đều Đây không phải là hiện tượng phổ biến tại Yên Tử Toàn bộ phần bệ và thân các tháp đều có bình đồ hình vuông Bệ tháp được tạo thành hình tu di tọa, trên và dưới được tạo cong khum liền khối, ở giữa bệ thót vào tạo dáng mềm mại, thanh thoát cho toàn bộ ngôi tháp Một số tháp có bệ được tạc cánh sen gồm 2 tầng cánh ngược chiều nhau, rõ từng cánh sen, bệ các tháp còn lại được để trơn Thân tháp thu dần đều về phía chóp tạo thành hình thang cân, độ thu lại lớn, nhiều tháp có mặt cắt dọc tạo thành một hình gần hình tam giác, dáng tháp vút cao Mái các tầng tháp tạo hình mui luyện, góc mái uốn cong hình đầu đao tạo dáng thanh thoát mềm mại cho toàn bộ ngôi tháp
Cấu trúc mỗi tháp bao gồm: móng tháp, đế tháp, bệ tháp, thân tháp (có một hoặc nhiều tầng), mái tháp và chóp tháp (Hình 1)
Móng tháp: Là phần nền đất được gia cố nhằm mục đích chịu lực của toàn bộ ngôi tháp bên trên Do không có điều kiện khai quật các tháp tại khu
di tích Yên Tử nên cấu trúc phần móng tháp không được đề cập cụ thể trong luận văn Trong cuộc khai quật tại Thông Đàn 1 (chùa Ngọa Vân), khi đào kiểm tra mặt cắt móng tháp Phụng Phật, kết quả cho thấy: Ngoài các khối đá được bó nền tạo thành đế tháp, ở góc Đông Bắc có một cụm sỏi trộn lẫn vôi vữa Nó là dấu vết còn lại của phần đầm móng Gần chính giữa lòng tháp có một khối đá lớn là đá nguyên gốc của núi, song hình dáng và những dấu vết còn lại trên bề mặt cho thấy nó có thể được người xưa cố tình gia công và đặt
nó vào vị trí này Khi đào trộm, kẻ gian đào khoét xung quanh khối đá, họ nghĩ rằng bên dưới khối đá này có thể cất giữ thứ gì đó quý giá, nhưng đó chỉ
Trang 32là khối đá gốc Điều đó cho thấy
móng ngôi tháp này không được gia
cố kỹ lưỡng như những ngôi tháp
thời Lý Trần (tháp chùa Phật Tích,
tháp Phổ Minh ), chủ yếu người
xưa dựa vào nền đất, đá gốc vốn
tương đối cứng, cải tạo, gia cố thêm
để có mặt bằng phù hợp cho việc
dựng tháp [6] Địa chất ở khu di tích
Yên Tử cũng tương đồng với nơi
đây, qua đó ta có thể đoán định
móng những ngôi tháp thời Lê ở
Yên Tử cũng có những kỹ thuật tạo
móng tương tự như kỹ thuật tạo
móng của ngôi tháp này
Đế tháp: Đây là bộ phận chịu lực chính của tháp, phần trang trí hầu như
không được chú trọng, được tạo thành các bậc giật cấp có hình vuông, lục giác hoặc bát giác
Bệ tháp: Được tạc thành hình tu di tọa, đây là bộ phận được chú trọng
đặc biệt trong phần tạo hình khối và trang trí Bệ tháp gồm ba phần: bệ dưới, bệ giữa và bệ trên Bệ trên và bệ dưới được tạo dáng cong khum mềm mại, loe rộng, ở giữa thót lại tạo cảm giác thanh thoát cho toàn bộ ngôi tháp Bệ tu di tọa được làm
để thể hiện hình ảnh núi Tu Di, nơi các chư phật ngự
Trong “Từ điển Phật học Việt Nam” [20, tr 728] đã định nghĩa “Tu di” (tiếng Sanscrit là Sumeru) như sau: Theo địa lý học của Ấn Độ giáo và Phật giáo, núi Tu Di là núi cao nhất nằm ở trung tâm của thế giới chúng ta Trái đất của chúng ta nằm ở phía Nam của núi Tu Di, vì vậy mà Trái Đất còn
có tên là Nam Diêm phù đề (cõi đất ở phía Nam, có nhiều cây Diêm phù mọc (Jambu)”
Trang 33Theo Trần Trọng Dương [28], Tu di đài (Tu di đàn, Tu Di tọa) là phần chân phía dưới để đỡ tôn tượng chư Phật và Bồ Tát Trong nhiều nền văn hóa Phật giáo, Tu Di tọa có những hình ảnh khác nhau tùy thuộc vào sự sáng tạo của các nhà điêu khắc Ở Việt Nam, Trung Hoa và một số nước khác, hình ảnh Tu Di tọa có khi còn giản hóa thành một tòa sen báu - nơi Phật ngự, điều này cũng dễ hiểu bởi lúc này núi Tu Di đã được thể hiện dưới một điệp thức
biểu tượng “hoa sen” (nhất hoa nhất thế giới)
Thân tháp: Bao gồm các tầng tháp Thân tầng tháp hình thang cân, thu
dần về phía trên
Mái tháp: Được tạo dáng mềm mại, đao mái được tạo rõ, uốn cong
giống với mái đình chùa, bên trên được tạc hình mui luyện Trong các ngôi tháp có từ 2 tầng trở lên, phần mái tháp chính là phần mái của tầng trên cùng
của tháp
Chóp tháp: Là bộ phận trên cùng của tháp, thường được tạc hình bình
nước cam lộ, hoa sen hoặc quả amalaka với nhiều biến thể khác nhau
Hiện nay có hai quan điểm về phân chia các tầng tháp.:
Ý kiến thứ nhất cho rằng phần khám thờ có cấu tạo gần giống các tầng tháp nên được tính thành tầng 1 của tháp
Ý kiến thứ hai cho rằng chức năng của khám thờ hoàn toàn khác với các tầng tháp, đây là nơi đặt tượng thờ hoặc bài vị của người được thờ trong tháp Theo quan điểm Phật giáo, các tầng tháp tượng trưng cho các tầng lọng che trên mộ Phật, đồng thời, tháp Phổ Minh và tháp Bình Sơn đều không tính phần khám thờ vào phần tầng tháp Do vậy, khám thờ được tách riêng ra khỏi các tầng tháp
Tuy nhiên, theo ý kiến chúng tôi, tháp khi vào Việt Nam đã không còn giữ nguyên ý nghĩa và cấu trúc như tháp ở Ấn Độ, đặc biệt là vào thời Lê đã
có ảnh hưởng mạnh mẽ của kiến trúc Trung Quốc Trong hệ thống các tháp tại Yên Tử nói riêng và các di tích khác nói chung, phần khám thờ nằm trong một chỉnh thể thống nhất với các tầng tháp khác Mặt khác, nhiều ngôi tháp
Trang 34chỉ có 1 tầng, trong lòng được biến thành khám thờ Như vậy, nếu tách riêng phần khám thờ thành một bộ phận khác thì ngôi tháp không có các tầng tháp
Do vậy, chúng tôi ủng hộ ý kiến thứ nhất, khám thờ chỉ là một bộ phận cấu thành nên tầng 1 của tháp
Dựa vào số lượng các tầng tháp, tháp thời Lê ở Yên Tử được chia thành các loại như sau:
Bảng 1.1: Phân loại tháp thời Lê ở khu di tích Yên Tử
(Nguồn: Mai Thùy Linh)
1 Tháp nhiều tầng 1 Huệ Quang
2 Tháp 2 - 3 tầng 5 Tôn Đức, Diệu Đăng, Hiếu Từ, Tịch Quang, Viên Dong
3 Tháp 1 tầng 11 Trường Quang, Bảo Quang, Độ Nhân, Hoa Yên 2, Hoa Yên 7, Chân Bảo, Tự Tuệ, Tịnh Trụ, Hoa
Quang, Chân Thường, Vườn Tháp Tổ 1
2.1 Tháp nhiều tầng
Tháp nhiều tầng chỉ có 1 ngôi tháp duy nhất là Huệ Quang kim tháp nằm ở trung tâm của Vườn Tháp Tổ, xung quanh là tháp của các đệ tử Do là tháp tổ nên vị trí, cấu trúc của tháp khác hoàn toàn với những ngôi tháp khác tại khu di tích Yên Tử
Tháp Huệ Quang (Huệ Quang kim tháp) thờ đệ nhất tổ Trúc Lâm Điều
Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông Tháp xây dựng vào năm Kỷ Dậu (1309), niên hiệu Hưng Long thứ 17 Tuy nhiên, ngôi tháp hiện chỉ còn phần đế tháp,
bệ và mái tầng 1 có niên đại thời Trần, toàn bộ phần còn lại được dựng lại vào thời Lê Chúng tôi sử dụng khái niệm tháp nhiều tầng cho loại hình tháp này
vì tuy tháp hiện có 5 tầng nhưng toàn bộ ngôi tháp không còn nguyên bản, được trùng tu qua nhiều thời kỳ khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy tháp đã
bị mất đi một số tầng qua sự không ăn khớp giữa tầng 2 và tầng 3 Do không
Trang 35thể biết chuẩn xác số tầng của tháp Huệ Quang nên chúng tôi chỉ sử dụng khái niệm tháp nhiều tầng thay vì đưa ra một con số cụ thể
Tháp vút cao, có mặt cắt hình tam giác nhọn Toàn bộ tháp cao 661 cm
Bảng 1.2: Kích thước tháp nhiều tầng (tháp Huệ Quang)
(Nguồn: Mai Thùy Linh)
5 Tầng 3
Mái 78 21 Thân 38 - 35 36 Cạnh dưới / cạnh trên
6 Tầng 4
Mái 55 25 Thân 31 36
* Đế tháp: Được làm bằng đá cát kết hạt mịn, hình lục giác không đều,
2 cạnh dài ở mặt trước và mặt sau của tháp, 4 cạnh ngắn nằm ở hai cạnh bên của tháp Đế tháp gồm hai bậc Phần lớn bậc dưới nằm chìm sâu dưới nền sân tháp nên không đo được chiều cao cụ thể Bậc trên nhỏ hơn, gồm 41 khối đá ghép với nhau bằng các cá hình đuôi én nhưng cá (có lẽ bằng đồng hay chì)
Trang 36đều đã mất hết Chính xung quanh bậc này có chạm nổi văn sóng nước tiêu biểu của thời Trần, gồm 2 lớp nối tiếp nhau thành 1 dải (Ba 1.5)
* Bệ tháp: Cấu tạo của bệ tháp Huệ Quang có nhiều điểm khác so với
các ngôi tháp ở khu di tích Yên Tử Bệ tháp không nằm ở trung tâm đế tháp
mà đặt lùi về phía sau nhằm tạo cho mặt trước tầng đế có một khoảng rộng hơn tiện cho việc đèn hương, cặp góc phía Bắc cách cặp góc tương ứng của bậc lục giác trên là 115 cm, trong khi cặp góc Nam cách góc tưng ứng của bậc lục giác là 225 cm Bệ sen do 24 thanh đá ghép đứng Đây là một cách cấu tạo tòa sen đá khác tháp Phổ Minh cũng như các tháp khác ở Yên Tử (tháp Tôn Đức, tháp Diệu Đăng, tháp Hiếu Từ ) Ở tháp Phổ Minh cũng như các tháp
đá khác, tòa sen gồm nhiều thanh đá dài ghép ngang nhiều lớp hình tu di tọa, lớp trên cùng tạc văn cánh sen Trái lại tháp Huệ Quang ghép đứng các thanh
đá thành tòa sen Ngoài ra, đế tháp trang trí văn sóng nước giống như việc thể hiện hình ảnh của một hồ nước Chính vì vậy tòa sen tháp Huệ Quang giống như một cuống sen mọc từ hồ nước lên chứ không có hình tu di tọa Hai lớp cánh sen ngửa lên đỡ lấy khám thờ cũng không như tòa sen các tháp khác một lớp cánh sen ngửa, một lớp cánh sen rủ xuống [35, tr 23] Bệ tháp gồm ba phần:
- Bệ dưới: Bên dưới hình chữ nhật, bên trên tạc dáng cong khum
- Bệ giữa: Thu nhỏ lại, nhiều chỗ được trát bằng xi măng
- Bệ trên: Tầng cánh sen trên được tạc hình cánh sen đơn theo lối nhìn chính diện, gồm hai lớp chính phụ đan xen nhau, cánh sen ở 2 mặt của góc tháp hợp thành 1 cánh sen hoàn chỉnh Trong lòng cánh sen chính chạm hoa cúc dây rất tinh xảo, trong lòng cánh phụ chạm hoa dây, hoa văn bị mờ gần hết Một cạnh có 12 cánh chính (Ba 1.4, Bd 1.2)
* Thân tháp: Thân tháp có 5 tầng Tầng 1 và tầng 2 có hình thang cân,
trổ cửa ở hướng Nam (mặt chính của tháp) Trong lòng tầng 1 được tạo thành khám thờ, có đặt pho tượng của Trúc Lâm đệ nhất tổ Trần Nhân Tông Ba tầng còn lại được tạc nguyên khối, kích thước nhỏ hơn hẳn so với hai tầng
Trang 37dưới, tầng 3 thu vào đột ngột so với tầng 2, có thể suy đoán tháp đã bị mất 1-2 tầng giữa tầng 2 và tầng 3 Các tầng tháp đều trang trí đơn giản, dáng khỏe chắc và mộc mạc Mái tháp được tạo dáng chắc khỏe, diềm mái tạc hơi cong dần nên độ cong của đao mái không rõ như các tháp khác
- Tầng 1:
Thân tầng 1: Hình thang cân, thu dần về phía trên, được ghép bằng các khối đá gần hình hộp chữ nhật Khám thờ được trổ 1 cửa ở hướng Nam, cửa rộng 62 cm, cao 110 cm, phía trong không được mài nhẵn tạo thành các mặt phẳng như các tháp khác mà để mấp mô, thu nhỏ dần lên trên giống như một chiếc hang Trong khám thờ đặt tượng Trần Nhân Tông trên bệ tượng trang trí rồng, cả tượng và bệ đều làm bằng chất liệu đá trắng (Ba 1.2)
Pho tượng đá Trần Nhân Tông đặt trong tầng thứ nhất của tháp là một tác phẩm điêu khắc có giá trị thời Lê sơ Tượng cao 62 cm; tạc theo thế liên hoa tọa (ngồi hình hoa sen), đầu trọc, mặt cân đối, mũi to, tai dài, cổ cao ba ngấn, tuy vẫn dựa theo mo típ tượng Phật thờ trong chùa song nhà điêu khắc
đã chú ý khái quát những nét chân dung của nhân vật thực Trần Nhân Tông theo sử sách chép lại Hai tay tượng để trên đùi trong tư thế đang niệm chú, mặc áo cà sa để hở ngực phải, các nếp áo chảy tràn ra mặt bệ cả trước và sau,
áo không trang trí, hoa văn trang trí chủ yếu tập trung ở cổ, nẹp áo là hoa văn cúc dây hay lan đằng hoa lá Bệ tượng cũng được trang trí hoa văn hình rồng, hình hoa cúc, hoa sen và mây lửa Chúng được bố cục theo nhiều kiểu dáng khác nhau với những đường nét mềm mại, tinh tế, mang đặc điểm phong cách nghệ thuật trang trí Lê sơ [15, tr 105-107]
Mái tầng 1: Diềm mái tạc uốn cong đều ở góc tạo thành đao mái Đầu đao mái tầng 1 trang trí hoa văn lá đề cân có rồng chầu mặt nguyệt mang đậm phong cách thời Trần, hiện tại chỉ có góc mái phía Đông ở mặt trước tháp còn họa tiết này, trên các góc mái còn lại đều bị bào mòn hết (Ba 1.3, Bd 1.1)
Trang 38- Tầng 2: Thân tầng 2 có hình dáng tương tự thân tầng 1 Mặt trước tầng 2 mở một cửa, rộng 52 cm, cao 43,5 cm Mái tầng 2 có hình dáng tương tự mái tầng 1
- Tầng 3: Thân tầng 3 gần hình chữ nhật, chân tường được nâng cao hơn bằng khối đá hình chữ nhật, kích thước 82 x 10 cm, loe rộng hơn rất nhiều so với kích thước của thân, đây là tầng duy nhất có cấu kiện này Mái tầng 3 có hình dáng tương tự mái tầng 1
- Tầng 4: Thân tầng 4 gần hình chữ nhật Mái tầng 4 khác hẳn mái tầng
1, phía dưới diềm mái tầng 4 được tạc cong khum gợi cho chúng ta liên tưởng tới hệ thống đấu củng của các tháp thời Trần, diềm mái uốn cong hơn so với diềm mái của 3 tầng dưới
- Tầng 5: Thân tầng 5 hình chữ nhật Mái tầng 5 có hình dáng tương tự mái tầng 4 nhưng có điểm khác biệt, phía dưới diềm mái tầng 5 không được tạc cong như mái tầng 4 mà tạc đơn giản thành 1 nấc hình chữ nhật
* Chóp tháp: Còn nguyên vẹn, tạc nguyên khối, được chia làm hai
phần Phía dưới được tạo thành hình trụ tròn, thắt ngẫng ở giữa Phía trên tạc hình quả amalaka, mặt cắt ngang hình tròn, thon dần lên phía trên, đỉnh hơi nhọn
Qủa amalaka là một quả thiêng của Ấn Độ thường thay chiếc lọng trên những tháp khoảng thế kỷ 10 như tháp lớn hiện còn ở Bồ Đề đạo tràng của Ấn
Độ Hoa sen và quả amakala có liên quan đến lý luận nhân quả trong một thời điểm nhất định
Tháp Huệ Quang nằm giữa một tường vây xây gạch hình vuông Tường cao 215 cm, dày 72 cm, dài 1331 cm Đầu tường lợp ngói cánh sen kép màu
đỏ thẫm mang phong cách Trần Ngói lợp trên tường bao gồm 5 lớp ở mỗi bên, ở giữa là một hàng ngói ống Tường vây chỉ có hai cửa nam (trước), bắc (sau), rộng 127 cm, cao 165 cm Sân tháp có hình vuông, được lát bằng những viên đá xanh có cạnh 40cm x 40cm [75], (Ba 2.2)
Trang 39Trước tháp tổ Trần Nhân Tông có một cây hương đá thời Lê, thân hình trụ, cao 1,55m, gồm 3 phần: đế, thân, chóp Phần đế thót ở giữa, xòe ra hai bên, tạc hình cánh sen theo lối nhìn chính diện, phần trên có hai lớp cánh sen đan xen nhau, phần dưới chỉ có một lớp cánh, trên cánh sen là đường giật cấp thót dần lên Phần thân là hình trụ chữ nhật, bốn mặt được tạo gờ hơi lõm vào trong, khắc chữ Hán, chữ đã bị mờ, rất khó đọc Phần chóp là một búp sen đặt trên đỉnh của cây hương đá [15, tr 105-107]
2.2 Tháp 2 - 3 tầng
Các tháp có 2 hoặc 3 tầng, niên đại thuộc thế kỷ 17 - 18 Tổng số có 5 tháp, gồm tháp Tôn Đức, tháp Diệu Đăng, tháp Hiếu Từ, tháp Tịch Quang và tháp Viên Dong Dựa vào sự khác biệt về mặt bằng đế tháp, các tháp được chia thành 3 kiểu:
Bảng 1.3: Phân loại tháp 2 - 3 tầng (Nguồn: Mai Thùy Linh)
1 Kiểu 1 1 Tôn Đức
Đế tháp được kết hợp cả hình vuông (bậc dưới) và hình bát giác (bậc trên)
2 Kiểu 2 1 Hiếu Từ Đế tháp hình bát giác
3 Kiểu 3 3 Diệu Đăng, Tịch Quang, Viên Dong Đế tháp hình vuông
Trong đó, tháp Tôn Đức, tháp Diệu Đăng, tháp Hiếu Từ là ba ngôi tháp
có niên đại sớm nhất trong số các ngôi tháp thời Lê ở Yên Tử (sau tháp Huệ Quang), đều nằm liền kề với tháp Huệ Quang trong Vườn Tháp Tổ Có lẽ vì vậy mà đế tháp Tôn Đức và tháp Hiếu Từ chịu ảnh hưởng của kiểu đế tháp Huệ Quang, được tạo hình đa giác Tuy nhiên, đế tháp không hoàn toàn rập khuôn theo hình mẫu có sẵn mà được biến thể thành hình bát giác không đều, các cạnh ở góc tháp ngắn hơn rất nhiều so với các cạnh ở mặt chính