1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP

72 438 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình đào tạo sinh viên có trách nhiệm huấn luyện của phía doanh nghiệp từ định hướng, phối hợp của nhà trường Nhà trường có thể yêu cầu hỗ trợ từ phía doanh nghiệp trong công tác đ

Trang 1

4

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT

LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP

Lê Hoàng Thanh Tùng

Giám đốc công ty Du Lịch Tuy Hòa

Quy hoạch phát triển Du Lịch Phú Yên đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, đã khẳng định mục tiêu tổng quát là: “Xây dựng Phú Yên trở thành trung tâm du lịch, dịch vụ lớn trong khu vực

và cả nước Phấn đấu đưa du lịch Phú Yên trở thành một điểm nhấn quan trọng trong liên kết phát triển du lịch giữa các tỉnh Tây nguyên và Duyên hải Miền trung, là ngành kinh tế mũi nhọn, công nghiệp sạch mang màu sắc riêng của tỉnh Phú Yên”

Để đạt được mục tiêu trên, du lịch tỉnh nhà còn nhiều vấn đề cần phải làm Một trong những vấn đề then chốt đóng vai trò quan trọng là nguồn lực lao động trong lĩnh vực du lịch

1 Thực trạng Nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch tỉnh Phú Yên:

Là một tỉnh có tiềm năng du lịch được đánh giá là khá lớn, tuy nhiên nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch của Phú Yên lại khá khiêm tốn, tính đến tháng 12/2013 chỉ có khoảng 3.600 người Trong đó: chưa qua đào tạo và đào tạo ngắn hạn chiếm: 47,49%, sơ cấp chiếm: 25,94%, trung cấp chuyên nghiệp: 17,1%, đại học cao đẳng chiếm 9,5%, sau đại học: 0,32% Trước đánh giá trên, chúng ta nhận thấy một vấn đề, đó là nguồn nhân lực phục vụ cho Du lịch tại Phú yên đang thiếu về số lượng và yếu về chất lượng Đây là đánh giá trên năng lực chuyên môn, chưa đánh giá đến các vấn đề hỗ trợ, như: Ngoại ngữ, khả năng giao tiếp,

Ở đây chúng ta không đi sâu vào chuyên phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp cho nguồn nhân lực du lịch của tỉnh nhà, mà chỉ tập trung vào việc đào tạo nguồn nhân lực Du lịch theo nhu cầu của xã hội

2 Nhìn nhận nhu cầu giữa hai bên – Doanh nghiệp và Nhà trường:

Theo đề án quy hoạch và phát triển du lịch Phú Yên đến năm 2020 và thực tế phát triển của các cơ sở lưu trú, nhà hàng, các đơn vị lữ hành: thì để đáp ứng các tiêu chí thì đến năm 2015 đảm bảo có khoảng 18.300 lao động (trong đó có 6.500 lao động trực tiếp), đến năm 2020 có 36.600 lao động (trong đó có 12.200 lao động trực tiếp)

Với nhu cầu về lực lượng lao động như trên, đây là một con số khó khăn cho đào tạo của tỉnh nhà Hiện nay, Phú Yên có hai trường đào tạo có tuyển sinh nghề du lịch, tuy vậy mỗi năm

số lượng sinh viên ra trường chưa đến 100 em và con số này chỉ khoảng hơn 1/3 các em theo nghề tại Phú Yên Lý do vì sao?

Theo tôi, đó là vì chưa có sự chủ động phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp Nhà trường đào tạo theo chương trình và nhu cầu của nhà trường, doanh nghiệp tuyển dụng theo yêu cầu của doanh nghiệp Dẫn đến việc tham gia của doanh nghiệp - đơn vị sử dụng lao động vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực “đủ tiêu chuẩn” còn rất hạn chế

Nhà trường là nơi đã và đang đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu phát triển của xã hội Tuy nhiên, thực tế khi sinh viên tại các trường, tiếp cận công việc thì hầu như không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, các kỹ năng mềm của sinh viên gần như không

có Thực tế, tại doanh nghiệp chúng tôi, khi sinh viên của nhà trường đến thực tập và thử việc, gần như các em như bắt đầu học lại từ đầu Chương trình đào tạo chưa gắn với thực tế công việc chuyên môn đang phát triển bên ngoài xã hội

Về phía nhà trường với tư cách là nơi cung cấp nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường đa dạng nói chung và cho các doanh nghiệp nói riêng, cần nắm bắt nhu cầu các doanh nghiệp cũng như thực tế phát triển của ngành hiện nay Các hoạt động của nhà trường luôn gắn kết và đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp

Trang 2

3 Định hướng cụ thể giữa hai bên: doanh nghiệp và nhà trường để có giải pháp phù hợp, hiệu quả

Theo đề cập ở trên thì doanh nghiệp và nhà trường cần thiết phải hỗ trợ lẫn nhau trong công tác đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Giữa nhà trường và doanh nghiệp cần có sự bắt tay, định hướng phát triển, nhà trường đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và sự phát triển du lịch của tỉnh nhà – các doanh nghiệp phải đáp ứng đầu vào của sinh viên khi ra trường

Ngoài ra, các doanh nghiệp phải cùng tham gia với nhà trường trong công tác đào tạo, tham gia đào tạo ở đây không đơn thuần là “bỏ tiền” cho các trường tự đào tạo mà nên cùng tham gia vào quá trình đào tạo và tái đào tạo lao động Doanh nghiệp không nên chỉ đơn giản sử dụng

“sản phẩm” mà cũng phải cùng với trường đóng góp ý kiến cho chương trình đào tạo được tốt hơn, mở các buổi hội thảo và tọa đàm chuyên sâu cho sinh viên

Bên cạnh đó, nhà trường cũng nên mời doanh nghiệp tham gia vào công tác giảng dạy và góp ý cho các chương trình đào tạo Thường xuyên lấy ý kiến của doanh nghiệp về chất lượng sinh viên ra trường và kỳ vọng của doanh nghiệp với các “sản phẩm” của nhà trường

Việc đào tạo ra những “sản phẩm” đáp ứng nhu cầu của xã hội, doanh nghiệp cũng chính

là đáp ứng nhu cầu của chính bản thân người đào tạo, người tham gia vào công tác đào tạo và người được đào tạo Vì thế, không chỉ doanh nghiệp hay sự nỗ lực của bản thân sinh viên là đủ Các thầy cô - chính là những người gánh trách nhiệm lớn trong quá trình đào tạo ra - cũng phải tự cập nhất kiến thức, công nghệ, kỹ thuật mới để có cơ sở giảng dạy cho sinh viên Với ý nghĩa đó, bản thân tôi xin đề xuất một số vấn đề sau:

3.1 Chương trình đào tạo

Nhà trường nên có khung đào tạo chung hướng đến nhu cầu thực tế của các Doanh nghiệp

và nhu cầu phát triển du lịch tại địa phương Thường xuyên điều chỉnh và đề nghị các doanh nghiệp góp ý cho chương trình đào tạo giúp sinh viên cập nhật được những kinh nghiệm và yêu cầu thực tế của nghề trong thời điểm hiện tại đáp ứng nhu cầu của các Doanh nghiệp và xã hội

Để làm điều này cần có các cuộc hội thảo giữa các Doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo

3.2 Duy trì phối hợp thường xuyên

Đẩy mạnh công tác Hợp tác doanh nghiệp hoặc Cơ hội việc làm cho sinh viên, giới thiệu ứng viên cho các doanh nghiệp Đây là một hoạt động tích cực cần được phát triển hơn nữa trong thời gian sắp tới Chúng tôi cũng mong muốn việc hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cần được tổ chức lâu dài và thường niên, tránh làm theo kiểu mùa vụ

3.3 Thực tập tại doanh nghiệp

Trong các kỳ thực tập, nhà trường và doanh nghiệp cần hợp tác làm tăng tính thực tế và phát huy được lợi ích của loại hình đào tạo này Doanh nghiệp sẽ phải trình bày rõ các nhiệm vụ

mà sinh viên cần làm, tiêu chí đánh giá, thông báo kết quả thực tập của sinh viên cho giáo viên phụ trách, phía nhà trường cũng hỗ trợ thông báo những yêu cầu, mục tiêu thực tập cho doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể điều chỉnh nội dung thực tập sao cho phù hợp cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên trong việc học cũng như việc tiếp nhận kiến thức thực tiễn của các bạn Thông thường các trường chỉ có qui định một kỳ thực tập dành cho sinh viên năm cuối Theo quan điểm riêng của chúng tôi thì nếu nhà trường bố trí được 02 kỳ thực tập, như vậy các bạn sinh viên sẽ cảm nhận được sự khác biệt rõ ràng hơn giữa môi trường học tập và làm việc,

Trang 3

6

tránh tình trạng bỡ ngỡ khi đi ứng tuyển và khi làm việc, đồng thời các bạn sẽ có thể phần nào nhận biết được thế mạnh của mình, doanh nghiệp cũng có cơ hội tiếp cận và lựa chọn nhân lực cho mình cẩn thận hơn

3.4 Quá trình đào tạo sinh viên có trách nhiệm huấn luyện của phía doanh nghiệp từ định hướng, phối hợp của nhà trường

Nhà trường có thể yêu cầu hỗ trợ từ phía doanh nghiệp trong công tác đào tạo của mình, chẳng hạn như việc yêu cầu doanh nghiệp chuẩn bị các bài nói chuyện với sinh viên về chuyên ngành mà các em đang theo học Ví dụ: công ty chúng tôi chuyên về lĩnh vực quản trị kinh doanh

lữ hành, điều hành tour và hướng dẫn Đối tượng lao động mà chúng tôi nhắm đến là các bạn sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Du lịch hoặc Kinh tế Chúng tôi có thể chuẩn bị những bài nói chuyện về nghề hướng dẫn, điều hành tour, những kinh nghiệm quảng bá sản phẩm, sales tour Qua buổi nói chuyện này các bạn sinh viên đam mê có tìm hiểu thêm hoặc phát triển những nghiên cứu sau này, doanh nghiệp cũng có cơ hội nói chuyện thân thiện cởi mở hơn với các bạn

và cũng có thể doanh nghiệp sẽ tuyển chọn được một số bạn ứng viên tiềm năng

Hoặc đơn giản 2 bên có thể kết hợp tổ chức buổi giới thiệu doanh nghiệp và nhà trường/khoa, các vị trí doanh nghiệp đang cần tuyển dụng, các bạn sinh viên sẽ cảm thấy có nhiều

cơ hội việc làm cho mình hơn sau khi ra trường

3.5 Vấn đề học ngoại ngữ

Trong lĩnh vực du lịch, thì Ngoại ngữ là một trong những yêu cầu tối thiểu khi tuyển dụng Có những ứng viên có chứng chỉ ngoại ngữ B Anh văn nhưng khi tuyển dụng nghe nhà tuyển dụng hỏi vài câu tiếng anh đơn giản thì gần như không trả lời được hoặc chỉ trả lời bập bẹ

Hy vọng sẽ được nhà trường quan tâm hơn trong việc này Theo tôi, việc có chứng chỉ không đúng khả năng của mình có thể làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ sở đào tạo ngoại ngữ mà sinh viên/ứng viên theo học Các bạn sinh viên vẫn có tư tưởng học ngoại ngữ một cách đối phó và không dành nhiều thời gian cho việc này Việc này gây khó khăn cho chính các bạn nếu sau này khi làm việc tại các doanh nghiệp nước ngoài, hoặc được doanh nghiệp cử đi đào tạo tại nước ngoài

Chúng tôi mong rằng những ý kiến trên có thể đóng góp một phần nào trong việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch của nhà trường đáp ứng cho ngành du lịch tỉnh nhà và hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhà trường Chúng tôi hy vọng tiếp tục được hợp tác với quý trường thật hiệu quả trong tương lai

RÚT NGẮN THỜI GIAN LẮNG CHẤT KẾT TỦA BẰNG PHƯƠNG PHÁP LY TÂM

TS Đặng Văn Lái; ThS Lương Công Quang; KS Nguyễn Văn Khánh

Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Tóm tắt

Phân tích định lượng xác định thành phần các cấu tử trong dung dịch hiện nay vẫn tiến hành một cách thủ công hoặc bán tự động Việc lắng chất kết tủa trong cốc thủy tinh theo phương pháp lắng tự nhiên thường kéo dài từ 2 3 giờ hoặc bằng phương pháp ly tâm kết hợp với chia tách từ cốc lớn sang ống nghiệm nhỏ để ly tâm gây mất an toàn cho học sinh sinh viên trong quá trình thao tác làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học Qua nghiên cứu cho thấy lắng chất kết tủa trong cốc thủy tinh loại trên 250 ml bằng phương pháp ly tâm thời gian có thể rút ngắn xuống chỉ còn từ 3 phút đến 5 phút

I Đặt vấn đề:

Trang 4

7

Việc thí nghiệm phân tích định lượng các thành phần cấu tử trong dung dịch đã được tiến hành trên máy ly tâm công suất nhỏ EBA20, ống nghiệm 10 x 200 Riêng học phần thực hành, thí nghiệm chứng minh phương pháp phân tích định lượng nhằm xác định thành phần các cấu tử trong dung dịch hiện nay vẫn tiến hành một cách thủ công hoặc bán tự động Nhược điểm của các phương pháp này là thời gian chờ chất kết tủa lắng và tách ra khỏi dung dịch rất lâu mất từ 2 …3 giờ tùy thuộc vào các ion cần phân tích Trong khi đó thời lượng 1 bài thí nghiệm chỉ 8h như vậy mất từ 25 …37,5% chờ chất kết tủa lắng hết Việc rút ngắn thời gian lắng và chất kết tủa sẽ để tạo điều kiện về mặt thời gian cho các em HSSV được trực tiếp thí nghiệm, lĩnh hội các kiến thức thực tế là một nhu cầu mang tính cấp thiết hiện nay ở các phòng thí nghiệm Hóa, trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Phương pháp lắng chất kết tủa bằng lực ly tâm đã được ứng dụng từ lâu trong các phòng thí nghiệm Hóa Tuy nhiên việc ứng dụng phương pháp để lắng chất kết tủa trong các cốc thủy tinh loại lớn thì chưa được nghiên cứu và chế tạo Do vậy, việc “Thiết kế và chế tạo máy ly tâm tách chất kết tủa” theo phương pháp ly tâm xuất phát từ thực tế nhằm đáp ứng nhu cầu dạy học cho học sinh, sinh viên ngành công nghệ hóa và công nghệ sinh học

II Nguyên tắc lắng chất kết tủa

Kết tủa là quá trình tách thành phần cần xác định ra khỏi hệ dưới dạng một hợp chất ít tan bằng một lượng thuốc thử dư thích hợp trong điều kiện xác định Điều kiện để chất kết tủa là theo qui tắc tích số tan, dung dịch đạt trạng thái quá bão hòa Mỗi một ion có thể đã kết tủa hoàn toàn với thuốc thử này nhưng lại chưa hoàn toàn với thuốc thử khác nên khái niệm về kết tủa hoàn toàn là tương đối Một quá trình kết tủa hoàn toàn khi lượng ion còn lại trong dung dịch là nhỏ nhất, trong giới hạn qui định nó không đủ ảnh hưởng đến các phép xác định tiếp theo trong phân tích định tính, hay định lượng (tức là khoảng 10-4-10-6 iong/l)

Chất kết tủa sau khi kết tủa còn lơ lửng trong dung dịch và việc lắng chất kết tủa theo nguyên tắc các phân tử nặng hơn di chuyển về phía cuối ống nghiệm Dựa trên nguyên tắc này, hiện nay các phòng thí nghiệm Hóa sử dụng rộng rãi 3 phương pháp lắng chất kết tủa sau:

+ Phương pháp lắng tự nhiên: Sau khi kết tủa, chất kết tủa được lắng tự nhiên trong cốc thủy tinh Thông thường phải mất khoảng 2-3 giờ chất kết tủa mới lắng hoàn toàn Sau đó ta thực hiện lọc kết tủa Ưu điểm của phương pháp này không cần thiết bị lắng chất kết tủa; an toàn và không sử dụng điện Tuy nhiên, phương pháp này mất rất nhiều thời gian lắng chất kết tủa; chất kết tủa sau khi lắng nhẹ, xốp làm ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm

+ Phương pháp bán tự động: Chất kết tủa được san từ cốc lớn trên 250 ml sang ống nghiệm nhỏ sau đó đưa vào máy ly tâm để lắng chất kết tủa Sử dụng phương pháp này làm giảm thời gian lắng chất kết tủa đáng kể nhưng việc thao tác sang chiết gây nguy cơ mất an toàn cho học sinh sinh viên trong quá trình thí nghiệm

+ Phương pháp ly tâm: Sau khi kết tủa trong cốc thủy tinh, cốc thủy tinh được đặt trực tiếp vào máy ly tâm để tách Với phương pháp này chất kết tủa trở nên rắn chắc và thời gian lắng chất kết tủa chỉ còn 3 đến 5 phút Tuy nhiên, để thực hiện phương pháp này điều cốt lõi là phải có máy

ly tâm dành cho cốc thủy tinh loại lớn nhưng hiện nay trên thị trường không sản xuất và bán thiết

bị đặc chuẩn này

III Một số yêu cầu khi thiết kế, chế tạo máy ly tâm lắng chất kết tủa

Máy ly tâm lắng chất kết tủa phục vụ trong phòng thí nghiệm hóa phải thỏa mãn 1 số yêu cầu sau:

- Khung máy ly tâm bằng Inox 316

- Hàn bằng công nghệ TIC, MAG, các mối hàn được làm sạch sau khi hàn

- Các vách và nắp làm bằng kính chịu lực 10 mm

Trang 5

8

- Chân giảm chấn có thể điều chỉnh được

- Các vị trí đặt cốc thủy tinh phải được bọc bằng cao su

- Mâm quay phải đồng trục

- Máy ly tâm phải khởi động mềm tốc độ tăng từ từ và khi dừng máy không dừng đột ngột

mà phải giảm dần dần vận tốc Vì khi tăng tốc hoặc dừng đột ngột có thể làm quăng cốc thủy tinh chứa hóa chất ra ngoài làm hỏng máy

- Máy ly tâm phải điều khiển tốc độ quay đa cấp để tách lắng chất kết tủa Sau khi khởi động 1 thời gian nhất định máy tự động ngừng

- Nắp máy ly tâm đóng không kín, máy không khởi động được hoặc đang chạy máy sẽ ngừng ngay lập tức nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng

- Quan sát được các thiết bị bên trong máy ly tâm

Với các yêu cầu trên, nhóm tác giả đã thiết kế và chế tạo máy ly tâm tách chất kết tủa loại 6 cốc, dung tích mỗi cốc 250 ml như hình 1:

IV Quy trình vận hành máy ly tâm

Sau khi chế tạo máy ly tâm, nhóm tác giả xây dựng quy trình vận hành máy như sau:

1 Chuẩn bị vận hành:

- Kiểm tra nguồn điện 1 pha điện áp 220V

- Kiểm tra và đảm bảo các bulông được siết chặt

- Kiểm tra và lấy tất cả các vật lạ trong máy ly tâm

- Đặt các cốc thủy tinh vào các ống

Lưu ý: 2 cốc thủy tinh phải được đặt vào máy ly tâm ở vị trí đối xứng, các cốc phải có trọng lượng gần bằng nhau để máy được cân bằng và thể tích dung dịch trong cốc không được quá 150 ml Nếu không, máy sẽ rung mạnh khi quay, nhanh hỏng và dung dịch dễ văn ra ngoài gây sai số khi phân tích

- Đậy nắp máy ly tâm lại

2 Khởi động và vận hành:

- Cắm nguồn xoay chiều 1 pha, 220V

- Cài đặt thời gian máy ly tâm làm việc

Trang 6

- Khi khởi động máy chạy và tăng tốc độ từ nếu thấy máy rung mạnh, ấn nút STOP dừng

quay ngay lập tức, kiểm tra lại hai cốc nằm trong hai ống đối xứng có khối lượng bằng nhau hay không

3 Dừng máy ly tâm:

Dừng sự cố:

- Ấn nút STOP để dừng máy ly tâm Máy ngưng quay từ từ Dừng gấp ống nghiệm có thể

văng ra ngoài

- Ngắt nguồn điện Sau khi máy dừng hẳn, mở nắp máy ly tâm và lấy các cốc thủy tinh ra

- Kiểm tra các thiết bị và sửa chữa

Dừng bình thường:

- Máy làm việc sau thời gian cài đặt, tự động dừng

- Sau khi máy dừng hẳn, ngắt nguồn điện mở nắp máy ly tâm và lấy các cốc thủy tinh ra

- Vệ sinh sạch sẽ và đóng nắp máy ly tâm

Với những kết quả nghiên cứu đạt được nhóm tác giả đã tổ chức tập huấn chuyển giao công nghệ và quy trình vận hành cho đội ngũ giáo viên và học sinh sinh viên khoa Công nghệ Hóa Hình 2 là một tiết thực hành thí nghiệm của sinh viên khóa 35 ngành Hóa phân tích Các

em sinh viên rất hào hứng và cho biết chiếc máy ly tâm này hỗ trợ các em rất nhiều trong học tập nhất là việc phân tích định lượng các cấu tử trong dung dịch vì nó cho kết quả rất chính xác

Hình 3 là kết quả của quá trình lắng tách chất kết tủa

VI Kết luận và kiến nghị

Hình 1 Một tiết học thí nghiệm lắng chất kết tủa bằng máy ly tâm

Trang 7

10

Máy ly tâm lắng chất kết tủa được gia công và chế tạo tại xưởng cơ khí, xưởng điện - điện

tử với các vật tư thiết bị dễ dàng tìm thấy ở Phú Yên Giá thành máy ly tâm tự chế tạo (21 triệu đồng) rẻ hơn rất nhiều so với các máy ly tâm loại nhỏ trên thị trường (trên 100 triệu)

Máy ly tâm tách chất kết tủa phục vụ công tác giảng dạy và thí nghiệm thực hành các học phần sau:

1 Định lượng Ba2+ trong BaCl2 theo phương pháp khối lượng

2 Định lượng Fe2+ trong muối Fe( II) theo phương pháp khối lượng

3 Định lượng Ni2+ trong muối Ni(NO3)2 theo phương pháp khối lượng

4 Định lượng P2O5 chung trong Super lân theo phương pháp khối lượng

5 Định lượng Ca2+ trong mẫu CaCO3 theo phương pháp thể tích Oxalat

6 Xác định Mg2+ trong muối MgCl2.6H2O theo phương pháp khối lượng

7 Xác định hàm lượng Al3+ trong phèn nhôm bằng phương pháp khối lượng

8 Xác định hàm lượng P trong phân bón N-P-K

9 Xác định CaO, trong mẫu xi măng

10 Xác định Ca2+, Fe3+ và Cl- trong mẫu quặng Apatit hỗn hợp

11 Xác định hàm lượng đường khử trong thực phẩm

12 Ly tâm để định lượng chất thải trong nước thải

13 Xác định thành phần R2O3 (Fe2O3, Al2O3) trong mẫu silcat (ximang)

14 Xác định thành phần P trong gang thép theo phương pháp khối lượng

15 Xác định Pb trong hợp kim đồng

16 Thủy phân tinh bột để thu dịch đường

17 Ly tâm dịch ép trái thơm để lấy enzim

18 Thu nhận kết tủa Protein sau khi kết tủa bằng cồn

a b

Hình 3 Kết quả lắng chất kết tủa PbCrO 4

a Chất kết tủa còn lơ lửng trong dung dịch ; b Chất kết tủa đã lặng xuống đáy cốc

Trang 8

Tài liệu tham khảo

1 Phan Quốc Dũng Tô Hữu Phước (2003) Truyền Động Điện Nhà xuất bản Đại học Quốc

gia TP.Hồ Chí Minh

2 Nguyễn Tinh Dung (2006) Hóa học phân tích - Phần III Các phương pháp định lượng hóa

học NXBGD, Hà Nội 2006

3 Rober Rosset, Denise Bauuer, Jean Debarres- Hồ Viết Quý, Đặng Trần Phách dịch

(2006): Hoá học phân tích các dung dịch, NXBĐHQG

Trang 9

12

ĐÀO TẠO ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA

Nguyễn Thị Mỹ Vương

Giám đốc nhân sự - Công ty Cổ Phần Thuận Thảo

Trong giai đoạn khủng hoảng hiện nay, việc kinh doanh ngày càng trở nên khó khăn, các doanh nghiệp tính đến việc tiết kiệm từng chi phí và cân nhắc cho từng khoản đầu tư thì việc lựa chọn nhân sự chất lượng là mối quan tâm hàng đầu, số lượng chỉ tăng thêm cho họ gánh nặng Vì vậy chất lượng nhân sự được đánh giá ngay từ hoạt động tuyển dụng đầu vào của doanh nghiệp

Yêu cầu của nhà tuyển dụng không thoát khỏi các yêu cầu: Kiến thức, Kỹ năng, Thái độ;

tuy nhiên nó hết sức thiết thực, cụ thể và rõ ràng Với kinh nghiệm gần 10 năm làm Giám đốc Nhân sự của một công ty kinh doanh đa lĩnh vực như Thuận Thảo, thông qua bài tham luận này tôi muốn đề cập đến các tiêu chí trên để chúng ta hiểu hơn mong muốn của doanh nghiệp:

1 Mục tiêu và Thái độ

Sinh viên phải biết rõ đầu ra ngành họ đang học là làm được việc gì? Ý nghĩa của công việc

đó trong tổ chức và diễn đạt nó một cách trôi chảy, đầy tự tin – Đó là mục tiêu nghề nghiệp trong tương lai của họ sau khi ra trường

Tôi đã từng phỏng vấn rất nhiều sinh viên mới ra trường, họ học các ngành nghề khác nhau với câu hỏi: Em đã tốt nghiệp vậy nếu doanh nghiệp bố trí em làm đúng ngành nghề được đào tạo thì em làm được việc gì? Ý nghĩa của Công việc đó là gì đối với doanh nghiệp của chị? Rất bất ngờ khi phần lớn câu trả lời mà tôi nhận được là không chính xác, thậm chí họ không trả lời được ngay cả với một sinh viên tốt nghiệp đại học Tôi chưa xác định họ không biết hay không diễn đạt được điều đó nhưng nếu một trong 2 lý do trên đều không thể chấp nhận được

Ví dụ: Một sinh viên kế toán ra trường khi xin vào doanh nghiệp thì theo đúng ngành nghề

họ được đào tạo là làm kế toán và nhiệm vụ của bộ phận kế toán là quản lý tiền cho doanh nghiệp Vì đối với doanh nghiệp TIỀN được ví như là MÁU trong cơ thể, nếu thất thoát máu ở đâu đó thì cơ thể sẽ rất nhanh suy kiệt

Hãy cho sinh viên biết rõ ràng như vậy, từ việc họ biết mục tiêu họ sẽ làm gì thì họ mới tạo được thái độ yêu mến nghề đó, mong muốn gắn bó với nghề tạo động lực để họ vượt qua những khó khăn khi đến với nghề, sống với nghề và hy sinh vì nghề nghiệp của họ Chúng ta sẽ không thể biết được cảm xúc của mình đối với một cái gì đó mà mình hiểu chưa rõ

2 Về kiến thức

Kiến thức chuyên môn là một phần rất quan trọng, dù họ học họ sẽ quên nhưng khi vào

nghề khi họ trải nghiệm thực tế họ sẽ biết tìm lại những kiến thức đã học để ứng dụng, sinh viên phải nắm vững kiến thức cơ bản được đào tạo Vì vậy hãy để sinh viên nắm một cách chắc chắn các kiến thức chuyên môn, trọng tâm của nghề

Nhưng bao nhiêu đó chưa đủ, Doanh nghiệp mong muốn sinh viên ra trường phải có được phương pháp tự học, tự nghiên cứu và có phương pháp tự tìm hiểu thấu đáo một vấn đề được đặt

ra Doanh nghiệp mong muốn nhân viên của mình ứng dụng kiến thức thực sự chứ không phải suy diễn để giải quyết vấn đề Khi họ đã làm việc, nếu phát sinh một vấn đề họ chưa hiểu, chưa biết họ phải biết cách tìm hiểu nó một cách thấu đáo để hiểu một cách tường tận về nó chứ không phải là phớt lờ nó đi Khi đã có thói quen ấy thì việc phát triển nghề nghiệp sẽ không còn là vấn

đề khó khăn

Đối với doanh nghiệp, họ trân trọng những nhân sự có khả năng tự học, tự nâng cao trình

độ chuyên môn của mình trong quá trình làm việc Ra trường mới chỉ bắt đầu cho việc học tập và phát triển chứ không phải kết thúc việc học

Trang 10

13

Để học sinh hiểu thì giáo viên phải nhớ nguyên tắc:

Tôi nghe – Tôi sẽ quên

Tôi nhìn – Tôi sẽ nhớ

Tôi làm – Tôi mới hiểu

Giáo viên phải tạo cho học sinh trải nghiệm với những kiến thức được học một cách ấn tượng, nó sẽ lắng đọng lại trong đầu học viên

3 Về kỹ năng, kinh nghiệm

Đa số sinh viên ra trường không có kinh nghiệm, trong khi kinh nghiệm là mối quan tâm hàng đầu đối với nhà tuyển dụng, để giải quyết mâu thuẫn này thì nhà trường phải chú trọng công tác rèn luyện kỹ năng bằng hình thức cho sinh viên tự trải nghiệm thông qua:

- Công tác thực hành trong giờ học, môn học

- Thực tập tại các đơn vị kinh doanh đúng với nghề

- Làm bán thời gian ngoài giờ học để có thêm kinh nghiệm, thậm chí các sinh viên có thể làm nhiều công việc bán thời gian mặc dù nó không liên quan đến nghề mình được đào tạo nhưng

nó sẽ cho các bạn được va chạm, được trưởng thành một cách tự tin

- Kỹ năng mềm: giao tiếp, tiếng Anh, vi tính, kỹ năng làm việc độc lập và làm việc nhóm…

đó là những kỹ năng cần thiết để phục vụ cho công việc, dù bạn làm bất cứ ngành nghề gì

Đặc biệt chúng tôi lưu ý đến kỹ năng giao tiếp, đối với doanh nghiệp hay bất kỳ đơn vị tuyển dụng nào, yêu cầu đầu tiên của việc giao tiếp là việc chào hỏi: với nhà tuyển dụng, đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới….; nói với người lớn phải dạ, thưa; phải biết cảm ơn, xin lỗi và luôn luôn giữ cho mình một trạng thái vui vẻ là yêu cầu cơ bản trước khi nói đến kỹ năng truyền đạt thông tin, thuyết phục người khác

Khi bạn không có kinh nghiệm theo yêu cầu nhà tuyển dụng bạn hãy chứng minh cho họ

thấy bạn đủ trải nghiệm để họ thấy rằng bạn có đủ va chạm với cuộc sống và kiến thức khoa học

để nắm bắt nhanh công việc mới

Tôi nhận được rất nhiều lời than vãn từ sinh viên: ở Phú Yên không có nhiều cơ hội “vừa học vừa làm” nhưng điều đó chưa hoàn toàn chính xác, ngay tại TP Tuy Hòa có rất nhiều đơn vị

tuyển bán thời gian với các công việc: phục vụ, gia sư, giúp việc nhà, công nhân thời vụ, thông dịch, nhập liệu, phục vụ lễ hội, hội chợ, cộng tác viên hướng dẫn du lịch, cộng tác viên các tờ Báo, bán hàng đa cấp, bán bảo hiểm… Đó là cơ hội tuyệt vời cho bạn

Và ngay cả khi bạn không có việc làm thay vì bạn than vãn thì hãy tham gia một khóa tiếng Anh, nâng cao kỹ năng vi tính, tham gia chiến dịch mùa hè xanh, phong trào Đoàn-Hội,… Khi

bạn còn là sinh viên, thứ mà bạn có nhiều nhất là thời gian và thứ mà bạn không có là kinh nghiệm vậy bạn hãy đổi thời gian để lấy kinh nghiệm, có thể bạn sẽ có được thêm một món tiền

Ngoài những tính cách yêu cầu riêng cho mỗi ngành nghề, doanh nghiệp có những yêu cầu chung về tính cách đối với một nhân sự khi làm việc với họ, một số tính cách tiêu biểu sau:

- Trung thực: bạn sẽ nhận được sự tín nhiệm từ người quản lý của bạn

- Trung thành: khi bạn đã tìm hiểu rõ về một công ty và bạn quyết định ký hợp đồng lao động thì bạn hãy thể hiện sự trung thành với nó, đừng nên có tư tưởng “Đứng núi này trông núi nọ”

Trang 11

14

- Chịu khó: ông bà ta nói “Vạn sự khởi đầu nan” nếu bạn không có tính chịu khó thì “Gian nan bắt đầu nản” như vậy bạn sẽ không hoàn tất mốc khởi đầu thì đừng nghĩ đến về đích trên con đường sự nghiệp của bạn

- Uy tín, tự chịu trách nhiệm: bạn phải biết tự chịu trách nhiệm về những gì mình làm và giữ đúng những gì mình hứa mặc dù điều đó không làm bạn dễ chịu tý nào

- Tôn trọng kỷ luật: tác phong công nghiệp, đúng giờ và tuân thủ nội quy mong muốn lớn nhất của doanh nghiệp

Bạn đừng nghĩ “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, tính cách con người có thể rèn luyện được

và hoàn toàn có thể thay đổi

Tôi đưa thêm ví dụ : Bạn là thủ quỹ, bạn giữ tiền nhưng nếu bạn không cẩn thận để tiền vào

két, khóa niêm phong trước khi về dẫn đến mất 05 triệu và bạn phải đền nó! Lần sau tôi dám chắc là bạn không bao giờ quên cất tiền vào két và niêm phong trước khi về

Đối với nhà trường tôi nghĩ rằng giáo viên nên nói về yêu cầu con người đối với nghề một cách rõ ràng và cho họ thấy nếu tính cách không phù hợp với nghề thì sẽ gây ra hậu quả gì? Như vậy sinh viên sẽ có ý thức rèn luyện bản thân đáp ứng yêu cầu của nghề

Một số doanh nghiệp họ còn có quan điểm rằng: chúng tôi thà nhận 1 nhân sự yếu chuyên môn vì chúng tôi có đủ tự tin để đào tạo cho một nhân sự phát triển kiến thức và kỹ năng nghề (đào tạo về chuyên môn) nhưng chúng tôi không thể chấp nhận một nhân sự có tính cách không phù hợp với nghề

Dưới góc độ Doanh nghiệp, chúng tôi đánh giá cao nỗ lực của nhà trường đã cố gắng để các

em được thuần thục nghề, và chúng ta không phủ nhận chất lượng đào đạo hiện nay được các Trường đào tạo rất chú trọng Tuy nhiên đa số sinh viên mới ra trường vẫn còn yếu kỹ năng thực hành, doanh nghiệp phải đào tạo lại, vì vậy để tránh lãng phí nhà trường nên tăng cường công tác đào tạo gắng với doanh nghiệp Theo tôi, hàng năm Nhà trường nên chủ động làm việc với các doanh nghiệp có sử dụng lao động do nhà trường đào tạo với các nội dung: doanh nghiệp tạo điều kiện thực tập, ưu tiên khi tuyển nhân sự bán thời gian, ưu tiên tuyển sinh viên ra trường, góp ý về nội dung giảng dạy, tham quan cơ sở kinh doanh, thực hành với thiết bị mới của doanh nghiệp, mời đánh giá tay nghề khi tốt nghiệp ra trường… nhà trường cam kết về việc quản lý lý lịch sinh viên tránh các trường hợp lấy cắp tài sản, các tệ nạn… nội dung làm việc này được ghi nhận bằng bảng ghi nhớ để hai bên thực hiện Các doanh nghiệp họ cũng sẽ rất sẵn lòng vì: nói cho cùng họ không mất gì, họ có cơ hội tuyển nhân sự ít tốn kinh phí và có nhiều cơ hội để lựa chọn lao động

có tay nghề tốt qua khóa thực tập hoặc các buổi thực hành… như vậy cả 2 cùng có lợi

Nếu nhà trường làm được như vậy sẽ nâng cao được chất lượng đầu ra cho sinh viên, nâng cao được uy tín của nhà trường Đối với doanh nghiệp sẽ có nhiều hơn có hội tuyển được nhân sự tay nghề cao và tiết kiệm được chi phí

Hãy cùng nhìn lại thực tế, doanh nghiệp tuyển một nhân viên không chất lượng sẽ lãng phí rất nhiều chi phí: chi phí tuyển dụng, thử việc, hướng dẫn, đào tạo phát triển, tiền lương, chi phí bảo hiểm, dụng cụ - bảo hộ lao động, máy móc thiết bị cần cho công việc, điện, nước, vị trí làm việc, tổ chức công đoàn, đồng phục, thăm hỏi (hiếu hỷ, ốm đau), nghỉ phép, quà dịp lễ tết, thưởng,

hỗ trợ xăng xe, điện thoại, nhà ở, tiền ăn giữa ca, chi phí đảm bảo an toàn lao động – vệ sinh lao động, khám sức khỏe … Để những chi phí đó không trở thành lãng phí thì chúng ta phải chọn đúng người Chất lượng tay nghề đầu ra tốt là món quà lớn nhất mà nhà trường đã trao tặng cho Doanh nghiệp

Trang 12

“lý luận phải gắn liền với thực tiễn trong đó lý luận đóng vai trò định hướng, dẫn đường cho các hoạt động của thực tiễn và thực tiễn là nơi kiểm nghiệm, đánh giá lý luận nói riêng, nhận thức nói chung đúng hay sai” [1] Vì vậy đòi hỏi Giáo dục và đào tạo ngày càng có vai trò và nhiệm

vụ quan trọng trong việc đề ra các chiến lược xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội hiện nay

Một câu hỏi đặt ra là thế nào để “Đào tạo gắn với nhu cầu xã hội”, đây là điều trăn trở đòi hỏi các Trường phải giải quyết, và Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa cũng không ngoại lệ

1 Đặt vấn đề

Nước ta có nhiều trường đại học, cao đẳng trong nước và ngoài nước nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh – sinh viên Vì vậy vấn đề đặt ra là chất lượng của các trường có đáp ứng được nhu cầu thực thế? Thực trạng chung của nền giáo dục Việt Nam hiện nay là bên cạnh những thành tựu đã đạt được còn khá nhiều điều bất cập, trong đó tồn tại lớn nhất tập trung vào chất lượng đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay

Đào tạo theo nhu cầu xã hội, gắn liền với nhà sử dụng lao động có thể được hiểu theo 2 cách: thứ nhất, các trường đại học – cao đẳng phải đào tạo các ngành nghề mà xã hội đang cần, đào tạo đủ số lượng, và không đào tạo thừa Thứ hai, có thể hiểu là đào tạo những kỹ năng cần thiết đáp ứng nhu cầu được mong đợi của các nhà tuyển dụng

Công nghệ thông tin là ngành đang khát nguồn nhân lực nhưng tỷ lệ sinh viên ngành này lại thất nghiệp khá nhiều Lý giải tình trạng này, ông Trần Anh Tuấn [2], Phó giám đốc Trung tâm

dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM, cho biết: "Khoảng cách giữa đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng so với thực tế nhu cầu sử dụng nhân lực ngành công nghệ thông tin tại doanh nghiệp là quá xa” Ông Tuấn dẫn chứng rằng theo đánh giá của các nhà tuyển dụng, nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp phần mềm hiện nay còn rất thiếu kinh nghiệm và yếu về kiến thức chuyên môn Số sinh viên ra trường làm việc được ngay chỉ chiếm khoảng 30%, còn lại phải đào tạo bổ sung Thống kê của Viện Chiến lược công nghệ thông tin cho thấy 72% sinh viên ngành này không có kinh nghiệm thực hành, 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm, 100% không biết lĩnh vực hành nghề Chỉ khoảng 15% sinh viên mới tốt nghiệp đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp Hơn 80% lập trình viên phải đào tạo lại

2 Khung chương trình đào tạo của chuyên ngành tin học ứng dụng

Ngành Công nghệ thông tin của Trường CĐCN Tuy Hòa đào tạo hệ cao đẳng với 2 chuyên ngành: Tin học ứng dụng, mạng máy tính và truyền thông Chuyên ngành tin học ứng dụng phải tích lũy đủ 100 tín chỉ (kể cả GDTC, GDQP: 5 tín chỉ), trong đó:

A Khối kiến thức giáo dục đại cương: 36 tín chỉ, chiếm 36%

A.1 Khối kiến thức giáo dục chung (Lý luận chính trị, Ngoại ngữ, Giáo dục Thể chất, Giáo dục Quốc phòng, v.v ): 23 tín chỉ, chiếm tỷ lệ 23 %

A.2 Khối kiến thức Toán, KHTN: 13 tín chỉ, chiếm tỷ lệ 13 %

B Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp: 56 tín chỉ, chiếm 56 %

B.1 Khối kiến thức cơ sở của khối ngành, nhóm ngành: 15 tín chỉ, chiếm tỷ lệ 15 %

Trang 13

16

B.2 Khối kiến thức ngành, chuyên ngành: 30 tín chỉ, chiếm tỷ lệ 30 %

B.3 Khối kiến thức bổ trợ, thực tập nghề nghiệp: 6 tín chỉ, chiếm tỷ lệ 6 %

C Khối kiến thức tự chọn: 8 tín chỉ, chiếm 8%

C.1 Khối kiến thức đại cương tự chọn: 2 tín chỉ, chiểm tỷ lệ 2 %

C.2 Khối kiến thức chuyên nghiệp tự chọn: 6 tín chỉ, chiếm tỷ lệ 6 %

Từ khung chương trình cho thấy khối kiến thức chuyên ngành được đào tạo tại Trường ta là khá ít

3 Những mặt tồn tại và hạn chế

- Đối với Sinh viên:

+ Ngoài một số sinh viên đã định hướng nghề nghiệp cho mình thì vẫn còn một số sinh viên chưa định hướng được nghề nghiệp hoặc chưa có ý thức học tập cao nên dẫn đến chán nản, bỏ tiết, bỏ học nửa chừng

+ Trình độ tiếng Anh của sinh viên còn khá thấp, trong khi đó đối với chuyên ngành Công nghệ thông tin thì đa số sử dụng các phần mềm và môi trường lập trình viết bằng tiếng Anh Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tiếp thu kiến thức

+ Sinh viên vẫn còn thờ ơ với việc tự học tập và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp

+ Thiếu khả năng nhạy bén và làm việc theo nhóm

- Đối với giáo viên:

Giáo viên thường dành nhiều thời gian cho việc giảng dạy tại trường, nghiên cứu và các công việc khác nên thiếu kỹ năng thực tế là một điều không thể tránh khỏi

4 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo gắn với nhu cầu xã hội

Chương trình cao đẳng có thời gian đào tạo là 3 năm, bên cạnh khối kiến thức chuyên ngành thì còn phải đào tạo kiến thức giáo dục đại cương Do đó trong thời lượng cho phép thì các môn học chuyên ngành chỉ đào tạo những kiến thức nền tảng và mang tính định hướng cho Sinh viên nghiên cứu và mở rộng Vì vậy việc học ở Nhà trường chỉ là giai đoạn đầu của quá trình học tập suốt đời trong một xã hội hiện đại Để phát triển nghề nghiệp thì người học phải có ý thức tự học để mở rộng kiến thức nghề nghiệp, nâng cao năng lực, tư duy khoa học, độc lập, lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, áp dụng công nghệ mới để không ngừng phát triển kỹ năng nghề nghiệp

Một thuận lợi của ngành công nghệ thông tin là tài liệu tham khảo, tài liệu hướng dẫn, tài liệu chia sẻ kinh nghiệm đa dạng và phong phú trên internet Ngoài tài liệu tiếng Việt thì có khá nhiều tài liệu tiếng Anh

Để đào tạo gắn liền với xã hội thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải tham gia hỗ trợ huấn luyện

về chuyên môn và kỹ năng nghề cho sinh viên Qua đó doanh nghiệp phát hiện được những nhân lực mà mình cần để tuyển dụng

Dựa trên những nhận định trên, tôi xin có những đề xuất nhằm góp phần vào thực hiện mục tiêu, chiến lược đào tạo theo nhu cầu xã hội của Khoa CNTT trong thời gian tới

- Đối với giảng viên/giáo viên:

+ Cập nhật những kiến thức mới, chuyên sâu để đào tạo và định hướng cho sinh viên + Cập nhật công nghệ mới đưa vào giảng dạy

+ Với vai trò là người điều hành, do đó đòi hỏi giáo viên phải vận dụng hợp lý, hài hòa các phương pháp giảng dạy và các mô hình giảng dạy cho phù hợp với thực tiễn của đất nước

+ Mỗi môn học chuyên ngành phải có bài tập lớn để sinh viên nghiên cứu, mở rộng kiến thức chuyên môn

- Đối với sinh viên: Với sự phát triển ngày càng nhanh chóng của công nghệ thông tin, ngoài thời

gian học tập trên lớp, các sinh viên phải:

+ Chủ động tự học ở nhà

Trang 14

17

+ Tham gia nghiên cứu khoa học

+ Tự rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, thực tập trong thực tế

+ Phải có kế hoạch học tập theo nhóm để bổ sung những nội dung còn thiếu của bản thân Đặc biệt, đối với các sinh viên của Khoa CNTT cần phát triển các kỹ năng, chuyên môn mà các doanh nghiệp CNTT cần như sau:

Cần lưu ý, trong số các kỹ năng trên thì kỹ năng ngoại ngữ, đối với các sinh viên Trường ta nói chung và các sinh viên Khoa CNTT nói chung là rất thiếu Đây là một kỹ năng rất khó khăn

và mất nhiều thời gian mới hoàn thiện được Do đó, sinh viên phải có kế hoạch học tập, nghiên cứu lâu dài và nghiêm túc

- Đối với Nhà trường:

Theo tôi, giải pháp quan trọng nhất là liên kết với doanh nghiệp để đào tạo Chẳng hạn như: + Phải có kế hoạch hợp tác với các doanh nghiệp để nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp mà đào tạo cho phù hợp

+ Thường xuyên tạo diễn đàn trao đổi giữa doanh nghiệp và sinh viên để sinh viên có thể nắm bắt nhu cầu xã hội, từ đó sinh viên có kế hoạch học tập và nghiên cứu để trau dồi kiến thức + Nhà trường hỗ trợ các Khoa kinh phí liên hệ các Doanh nghiệp/cơ sở sản xuất cho SV đến thực tập

- Đối với Khoa:

+ Phải hợp tác với các doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo Khoa khi xây dựng chương trình đào tạo gửi đến các doanh nghiệp đóng góp ý kiến Doanh nghiệp căn cứ vào nhu cầu thực tiễn của mình xây dựng lên một danh mục các kỹ năng, kiến thức cần đào tạo gửi Khoa để xây dựng chương trình

+ Liên hệ và kết hợp với các sinh viên khóa cũ đã ra trường để sinh viên khóa mới thực tập

và học tập kinh nghiệm thực tiễn

4 Kết luận

Từ thực tế trên cho thấy để nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo phải gắn liền với xã hội mang tính cấp thiết và cần tiến hành một cách đồng bộ Ngoài việc Khoa, Nhà trường đóng vai trò trung tâm thì đòi hỏi phải có sự hợp tác của các doanh nghiệp thì mới có thể thực hiện được Bên cạnh đó bản thân người học phải định hướng nghề nghiệp; có kế hoạch học tập, rèn luyện nghiêm túc từ khi ngồi trên ghế nhà trường

Trang 15

18

Tài liệu tham khảo

1 TS Vũ Tình, Bài giảng triết học sau đại học, Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn

Khoa Cơ Khí – Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Nhà giáo là một chủ thể có vai trò quan trọng hàng đầu trong quan hệ giữa người dạy và người học - mối quan hệ trọng tâm của giáo dục Mục đích của nền giáo dục nước ta là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện: có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân Nhà giáo là người tác động trực tiếp đến quá trình này

Xuất phát từ truyền thống “Tôn sư trọng đạo” tốt đẹp ngàn đời của dân tộc ta, nhà giáo có một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội Vì thế, trong bài viết này, tôi muốn đề cập đến một nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và sự nghiệp trồng người là vai trò của người thầy trong việc truyền thụ kiến thức

Người thầy giáo đứng lớp trước hết phải tận tụy với nghề, có tâm với người học Trong mối tương quan giữa chất lượng và các điều kiện bảo đảm thì vai trò của người thầy là quan trọng nhất, quyết định nhất Nói một cách dễ hiểu là có chương trình, giáo trình, giáo viên giỏi, thiết bị đầy đủ, thời lượng học tập hợp lý, nhưng người giáo viên năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức còn hạn chế thì không thể dạy tốt và sẽ không có chất lượng tốt Do đó, giải pháp hàng đầu

có tính chất đột phá là phải có đội ngũ giáo viên có chất lượng và có tâm với nghề

Mỗi thầy, cô giáo cần thấy được trách nhiệm vô cùng to lớn - “Trách nhiệm trồng người” của mình mà xã hội đã giao phó Mỗi giáo viên phải thật sự tâm huyết với nghề, cần đặt chữ

“Tâm” lên hàng đầu, phải có trách nhiệm, nhiệt thành với công việc, sống và làm việc nghiêm túc, phải thật sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo, xem trường học là nhà, đồng thời, phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ, tiến kịp với sự phát triển, đổi mới của giáo dục Đó chính là con đường tối ưu để nâng cao uy tín, danh dự của bản thân, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường

Muốn đạt được hiệu quả giáo dục tốt nhất mỗi thầy cô giáo phải biết lựa chọn những phương pháp dạy học và giáo dục thực sự linh hoạt, phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tế hiện nay của mỗi trường Mỗi giáo viên phải đặt mình vào vị trí là người chèo thuyền mà học sinh là khách trên thuyền Và những “Người chèo thuyền” chân chính phải luôn có chung nỗi trăn trở là làm sao để thuyền vượt qua được sóng to, gió lớn và cập bến thành công

Những hoạt động nghiên cứu, tu tâm dưỡng tính của người thầy được phản ảnh qua mối quan hệ giữa thầy và trò, của cá nhân với đồng nghiệp Một trong những hoạt động thể hiện sự tương tác đó là hoạt động dự giờ

Dự giờ là hoạt động cần thiết, quan trọng trong quá trình kiểm tra, đánh giá, giúp giáo viên học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, giúp cán bộ quản lý nắm bắt tình hình thực tiễn của hoạt động dạy - học Vì vậy, hoạt động dự giờ không chỉ là thước đo cho sự nghiên cứu chuẩn bị bài giảng

và dạy học của người giáo viên, mà còn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cho nhà trường

Trang 16

19

Thông qua hoạt động dự giờ chúng ta thấy rõ được sự chuẩn bị bài, phong thái giảng dạy của mỗi giáo viên Dự giờ sẽ giúp cho giáo viên chủ động, tích cực hơn trong bài giảng của mình Mỗi khi có tiết dạy được dự giờ, hầu hết mỗi giáo viên đều có tinh thần chuẩn bị kĩ hơn về giáo

án, bài giảng, trang phục, tác phong, trao đổi với đồng nghiệp về chuyên môn, lựa chọn phương pháp dạy học thật phù hợp, dễ hiểu, để lôi cuốn được học sinh vào tiết giảng của mình, nhằm tạo

ra ấn tượng tốt với học sinh và những đồng nghiệp tham gia dự giờ

Những người tham gia dự giờ, nhất là các giáo viên trẻ, sẽ có cơ hội được học tập, rút kinh nghiệm từ tiết dạy của đồng nghiệp, qua đó có thể nảy sinh những ý tưởng sáng tạo trong dạy học và xử lý các tình huống sư phạm

Dự giờ là hoạt động trong trường học có từ lâu nhằm tạo cho người dạy cơ hội thử nghiệm ý tưởng mới, cách dạy mới Không có một giáo án nào được coi là “hay nhất” cho mọi giáo viên Người dạy được quyền sáng tạo cách lên lớp truyền đạt kiến thức của riêng mình, sao cho người học thấy giờ học có hiệu quả và thú vị Những giáo án cứng nhắc không khéo lại là những sợi dây trói buộc kìm hãm tính sáng tạo và làm nghèo nàn phong cách lên lớp của người dạy Giáo án có thể là chiếc gậy cho người mới tập đi, nhưng khi đã biết đi mà cứ khư khư cầm cái gậy thì không thể đi bình thường được

Không có cách lên lớp nào là duy nhất tốt hay tốt nhất cho mọi giáo viên và mọi đối tượng học sinh

Tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa, dự giờ là hoạt động phong trào được duy trì thường xuyên tương đối tốt Theo từng học kỳ của năm học, các tổ chuyên môn thường xuyên triển khai dự giờ đồng nghiệp theo tiến độ Hầu hết các giáo viên đều được dự giờ và tham gia dự giờ để góp ý tiết giảng, trao đổi kinh nghiệm cả về chuyên môn và phương pháp sư phạm Tuy nhiên, những hoạt động này chỉ mới dừng lại ở chỗ góp ý chứ chưa có biện pháp nào nhằm chỉnh đốn các giáo viên xem nhẹ việc giảng dạy, thiếu chuẩn bị cùng chung sức nâng chất lượng đào tạo của nhà tường

- Tổ trưởng chuyên môn giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều kiện để giáo viên trong tổ chuyên môn

có thể thực hiện được tiết dạy thành công qua việc tư vấn của mình đối với giáo viên trước và sau tiết dạy Tư vấn là nêu được những nhận xét, gợi ý giúp cho giáo viên thực hiện nhiệm vụ ngày mỗi tốt hơn, thực hiện giờ dạy trên lớp ngày càng có hiệu quả hơn Các ý kiến tư vấn của tổ trưởng chuyên môn và người dự phải rõ ràng, cụ thể, khả thi, phù hợp với lớp học, với đối tượng học sinh, với bài dạy cụ thể giúp cho giáo viên có thể tiếp thu, tham khảo, nghiên cứu, qua đó, nâng cao được chất lượng giờ dạy trên lớp, nâng cao tay nghề của người thầy

- Phân công đội ngũ giáo viên nòng cốt (giáo viên có nhiều kinh nghiệm, giáo viên dạy giỏi) đi dự giờ giáo viên (giáo viên trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm) trong tổ chuyên môn một

Trang 17

20

cách thường xuyên và đều đặn hơn Việc phân công này phải được ghi rõ trong kế hoạch hoạt động chuyên môn của tổ Qua giờ được dự, giáo viên nòng cốt đưa ra những thông tin ghi nhận được trong quá trình dự giờ, đánh giá nhận xét khách quan về hiệu quả giờ dạy, tư vấn và giúp đỡ giáo viên trẻ, giáo viên ít kinh nghiệm xây dựng giờ dạy ngày càng hay hơn, hấp dẫn, lôi cuốn hơn, đạt được mục tiêu bài dạy

- Khi dự giờ lưu ý đến những hạn chế của lần dự trước xem đã được khắc phục chưa ở lần dạy này (nguyên nhân, biện pháp); ghi nhận những tiến bộ khác (để động viên) So sánh trình độ tay nghề lần này với lần dự giờ trước (có tiến bộ hơn không)

MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆC THAM GIA PHONG TRÀO ĐOÀN THANH NIÊN – HỘI SINH VIÊN VÀ VIỆC RÈN LUYỆN

KỸ NĂNG MỀM TRONG HỌC SINH – SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG CĐCN TUY HÒA

Bài viết này sẽ tập trung làm rõ mối quan hệ giữa việc tham gia phong trào Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên và việc rèn luyện kỹ năng mềm trong Học sinh, Sinh viên

2 Thực trạng Học sinh – Sinh viên tham gia vào các hoạt động của Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên tại trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

Trong những năm qua, Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên trường luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, Ban Giám hiệu, sự hỗ trợ và tạo điều kiện của các khoa, phòng, ban, các đơn vị trong trường, cùng với sự nhiệt tình giúp đỡ của quý Thầy, Cô giáo, các thế hệ cán bộ Đoàn, Hội, các anh chị cựu Học sinh, Sinh viên; phong trào Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên trường đã vượt qua bao khó khăn, thách thức và đã đạt được nhiều thành quả đáng tự hào

Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên trường đã tạo ra nhiều sân chơi bổ ích góp phần giáo dục đạo đức, lối sống và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh Các hoạt động “Tìm hiểu học tập tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh”, “Sinh viên 5 tốt”, “Sinh viên xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, lành mạnh”; tổ chức Hội trại truyền thống, giải bóng đá, bóng chuyền; công tác tình nguyện, từ thiện đã thu hút đông đảo Học sinh, Sinh viên trường tham gia

Nhưng trong những năm gần đây, qua khảo sát cho thấy chỉ có 20% - 30% trên tổng số Học sinh, Sinh viên của trường tham gia các hoạt động phong trào, các câu lạc bộ, đội, nhóm do Đoàn Thanh niên - Hội Sinh viên trường tổ chức, quản lý

Hiện nay, Học sinh, Sinh viên chưa tham gia nhiều các phong trào Đoàn – Hội là vì nhiều

lý do như: nhiều kênh giải trí khác hấp dẫn, bận học nhiều thứ, Đặc biệt phần nhiều Học sinh,

Trang 18

Như vậy, trong quá trình học tại trường, Học sinh, Sinh viên rèn luyện các kỹ năng mềm như thế nào? ở đâu? Và việc tham gia phong trào Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên ở trường có giúp các em rèn luyện được các kỹ năng mềm? Để hiểu và làm sáng tỏ vấn đề này, tôi sẽ đi vào phân tích mối quan hệ giữa việc tham gia các phong trào Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên và rèn luyện kỹ năng mền trong học sinh – sinh viên tại trường CĐCN Tuy Hòa

3 Mối quan hệ giữa việc tham gia các phong trào Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên và rèn luyện kỹ năng mền trong học sinh – sinh viên tại trường CĐCN Tuy Hòa

Xuất phát từ tình hình thực tiễn, nhu cầu, nguyện vọng của học sinh, sinh viên hiện nay, ban chấp hành Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên trường luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra các giải pháp, cách thức đổi mới hoạt động với mục tiêu là tạo ra sân chơi lành mạnh, bổ ích, đem lại ý nghĩa thiết thực, rèn luyện các kỹ năng mềm cho học sinh, sinh viên trường

Được sự chỉ đạo của Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường trong việc phối hợp phòng Đào tạo, rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh, sinh viên Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên trường đã xây dựng các kế hoạch, chương trình trong đó xác định mục tiêu rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho học sinh, sinh viên Bởi vì, khi tham gia các khóa học kỹ năng mềm thường được trang bị phần nhiều cơ sở lý luận, ít có cơ hội thực hành nhiều và thường xuyên do nhiều lý do khách quan Như vậy, môi trường Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên sẽ là cơ hội tốt nhất cho các em học sinh, sinh viên thực hành các kỹ năng mềm được học một cách thường xuyên, liên tục và sát với thực tiễn

Để đạt được điều đó, Ban chấp Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên trường khi tổ chức các chương trình đều đặt học sinh, sinh viên vào vị trí trung tâm hoạt động, tức là học sinh, sinh viên

tự lên kế hoạch chương trình, phân công nhiệm vụ, công tác tổ chức, điều hành chương trình…Thầy, Cô giáo là cán bộ Đoàn, Hội chỉ đóng vai trò là cố vấn, định hướng, giúp đỡ, hỗ trợ cho các em

Thông qua các chương trình văn nghệ, thể dục thể thao, hội thi, hoạt động tình nguyện, từ thiện, buổi dã ngoại, buổi sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt các câu lạc bộ, đội, nhóm… Giúp cho các em rèn luyện các kỹ năng như: thuyết trình, giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý thời gian, truyền đạt thông tin, xử lý xung đột… Ví dụ: khi tổ chức thi nấu ăn, thi cắm hoa, thiết kế thiệp, làm báo tường thì yêu cầu các em trong Chi đoàn phải họp triển khai (kỹ năng truyền đạt thông tin), phải có người điều hành buổi họp đó (kỹ năng lãnh đạo), phân công nhiệm vụ cho từng nhóm chuẩn bị hoặc làm một việc gì đó (kỹ năng làm việc nhóm), thuyết trình về sản phẩm của Chi đoàn (kỹ năng thuyết trình), phân bố thời gian thực hiện (kỹ năng quản lý thời gian)…

Trong khi đó nhà tuyển dụng ngày càng đòi hỏi yêu cầu cao hơn về chất lượng học sinh, sinh viên khi ra trường bao gồm cả chất lượng chuyên môn và những kỹ năng mềm phù hợp với yêu cầu tuyển dụng Tùy theo mỗi ngành nghề, lĩnh vực mà nhà tuyển dụng có yêu cầu khác nhau

về những kỹ năng mềm Ví dụ: Công ty Lữ hành A tuyển vị trí kế toán viên thì ngoài kiến thức chuyên môn, còn yêu cầu ứng viên cần có thêm kỹ năng giao tiếp để giao dịch với khách hàng, nhiều khi do tính chất công việc cần đi sales tour thì cần thêm kỹ năng thương lượng, kỹ năng thuyết trình Cho nên, học sinh, sinh viên cần trang bị cho bản thân những kỹ năng mềm phù hợp

để có thể được nhà tuyển dụng chấp nhận

4 Kết luận

Trang 19

22

Tóm lại, học sinh, sinh viên khi tham gia các phong trào của Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên sẽ được rèn luyện các kỹ năng mền một cách thường xuyên, thực tiễn và học sinh, sinh viên muốn được rèn luyện kỹ năng mềm thì cách tốt nhất, dễ dàng nhất, thuận tiện nhất đó là tham gia tích cực vào các hoạt động của Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên

Trang 20

23

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

DU LỊCH ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI

Trong khi đó, sản phẩm du lịch lại khó đánh giá, chỉ có thể đánh giá chính xác qua cảm nhận và mức độ thỏa mãn của du khách Do vậy, chất lượng nguồn nhân lực du lịch đáp ứng được nhu cầu của du khách, làm cho khách hài lòng là yếu tố đáng quan tâm nhất của các doanh nghiệp du lịch Hiện nay, nhiều chuyên gia tỏ ra lo ngại về nguồn nhân lực ngành du lịch ở thời điểm hiện tại của Việt Nam, không chỉ thiếu về số lượng mà còn cả chất lượng đào tạo, đặc biệt

về trình độ ngoại ngữ, kỹ năng xử lý tình huống và kiến thức về văn hóa, lịch sử, địa lý, v.v

Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực đủ số lượng theo nhu cầu thực tế là hết sức cần thiết trong hiện tại Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực mới là điều mà các doanh nghiệp quan tâm hơn hết, làm sao để có đội ngũ lao động đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng, đó là câu hỏi đặt ra cho các cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành du lịch

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH ĐÁP ỨNG NHU CẦU

XÃ HỘI

* Về đội ngũ giảng viên giảng dạy

Cần tăng cường hơn nữa năng lực của bộ máy giảng viên bằng cách:

Có ý thức cao trong việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu giảng dạy hiện tại và trong tương lai Chủ động tìm kiếm các cơ hội tham gia vào các khóa đào tạo kỹ năng nghề của dự án EU Không ngừng học hỏi để tiếp cận với những kiến thức mới

mẻ để trau dồi cho bản thân Trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng đạt được chia sẻ với đồng nghiệp, thường xuyên trao đổi chuyên môn lẫn nhau để cùng nhau tiến bộ, tạo nên một tập thể vững mạnh đồng bộ

Tham gia vào các chương trình du lịch cộng đồng, tiếp cận với môi trường hoạt động của các doanh nghiệp du lịch để học tập những kiến thức thực tế cũng như nắm bắt được các yêu cầu, tiêu chuẩn nghề nghiệp đang ngày càng thay đổi, giúp cho các bài giảng trên lớp không mang nặng tính lý thuyết, nhàm chán và thiếu cơ sở thực tế

Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên, giáo viên để tìm kiếm cũng như phát hiện những kiến thức, những lý luận mới mẻ nhằm phục vụ công tác phát triển nghề nghiệp và giảng dạy lâu dài

Tâm huyết với nghề nghiệp, đồng thời truyền cảm hứng cho học sinh- sinh viên (HS-SV) của mình giúp các em thêm yêu nghề hơn; từ đó các em tích cực hơn trong học tập, hưng phấn hơn với các buổi học và chủ động trau dồi các kiến thức, kỹ năng cho mình

* Về chương trình đào tạo

Trang 21

24

Chương trình đào tạo phải gắn với yêu cầu thực tế của ngành, đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực nhằm đạt các kết quả thiết thực hơn trong việc nâng cao chất lượng làm việc của HS-SV

ra trường, đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng

Thường xuyên rà soát chương trình, rà soát từng đề cương môn học để điều chỉnh cho phù hợp, từng bước chuẩn hóa chương trình đào tạo, sát với mục tiêu ngành học cũng như đòi hỏi của ngành

Giáo trình, bài giảng cần liên tục cập nhật những kiến thức mới, đầu tư có trọng tâm, loại

bỏ những nội dung không cần thiết

Ngoại ngữ và những kỹ năng mềm khác là một yêu cầu hết sức cần thiết đối với nhân lực ngành du lịch Do vậy, cần chú ý bồi dưỡng những kiến thức này để sau khi ra trường HS- SV làm việc hiệu quả nhất, làm hài lòng các doanh nghiệp

* Về cơ sở vật chất kỹ thuật dạy nghề

Nhà trường cần đảm bảo về cơ sở vật chất kỹ thuật, các phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác giảng dạy và học tập của ngành Các phòng thực hành nghề của các môn học thực hành như: lễ tân, buồng phòng, bàn, bar cần được chuẩn hóa dần dần để tạo điều kiện học tập, rèn luyện tốt nhất cho HSSV…

* Về hợp tác trong đào tạo giữa Nhà trường với doanh nghiệp

Cần có sự giao lưu, hợp tác giữa nhà trường với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn nhằm nắm bắt nhu cầu và định hướng đào tạo, trao đổi về chất lượng làm việc của HSSV sau khi

ra trường, lắng nghe ý kiến về những kết quả đạt được và chưa đạt được trong đào tạo của trường

để làm cơ sở điều chỉnh phù hợp Đây là yếu tố góp phần quan trọng tạo nên thành công trong đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội

Nhà trường phối hợp với doanh nghiệp tổ chức các buổi gặp gỡ, tạo cơ hội cho HS-SV tiếp xúc với doanh nghiệp, với những nhà tuyển dụng nhằm giúp cho các em định hướng nghề nghiệp, chủ động trau dồi các kỹ năng để đáp ứng nhu cầu nhân lực mà các doanh nghiệp mong muốn Hơn thế nữa, hoạt động giao lưu này còn giúp cho HS-SV càng hiểu rõ hơn về ngành nghề, thêm yêu mến và gắn bó hơn với ngành học và công việc trong tương lai Đó là động lực để giúp các em học tập tốt hơn, tự tin hơn khi đứng trước các cơ hội nghề nghiệp trước ngưỡng cửa ra trường

Kêu gọi doanh nghiệp du lịch hỗ trợ Nhà trường trong công tác đào tạo, cụ thể: tạo điều kiện để HS-SV có cơ hội tiếp cận với môi trường thực tế tại doanh nghiệp, giúp các em chuyển tiếp từ các bài học lý thuyết sang thực hành kỹ năng; học hỏi được kinh nghiệm từ các tình huống thực tế, từ đó các em có bản lĩnh hơn trong nghề nghiệp, làm tốt công việc, đạt yêu cầu nhà tuyển dụng

KẾT LUẬN

Ngành du lịch là một ngành dịch vụ đòi hỏi lượng lớn lao động trực tiếp trong ngành, hơn thế nữa chất lượng sản phẩm của ngành du lịch lại được đánh giá qua mức độ phục vụ và cảm nhận của người sử dụng Do đó, nhân lực du lịch được xác định là thành phần cốt yếu tạo nên giá trị của sản phẩm du lịch Chính vì vậy, nguồn nhân lực du lịch cần phải được đào tạo bài bản, phù hợp với yêu cầu thực tế công việc

Để đào tạo nguồn nhân lực du lịch “đáp ứng nhu cầu xã hội” trước hết Nhà trường và

những cá nhân tham gia công tác giảng dạy phải đảm bảo được vai trò của mình Nhà trường cần tạo môi trường học tập tốt nhất cho HS- SV, đội ngũ giảng dạy phải đủ khả năng giảng dạy để tạo nền tảng kiến thức vững chắc cho các em, giúp các em có đủ tự tin trong công việc

Các doanh nghiệp du lịch là đối tác quan trọng góp phần đào tạo một đội ngũ lao động du lịch có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thực tế của ngành Vì vậy, Nhà trường cần tích cực

Trang 22

25

thắt chặt mối quan hệ hợp tác với các đơn vị du lịch trên địa bàn để nâng cao thành công trong việc đào tạo

Tài liệu tham khảo

1 Trần Đình Sơn, Lâm Đồng đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội, Tạp chí Du lịch

Việt Nam, trang 34-35, số 11, năm 2013

2 Nguyễn Thị Hồng Tâm, Thắt chặt hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, Tạp chí Du

lịch Việt Nam, trang 29-30, số 6, năm 2013

3 Hoàng Văn Thái, Đào tạo du lịch theo hướng tiếp cận năng lực, Tạp chí Du lịch Việt Nam,

trang 17-18, số 9, năm 2013

4 Bài báo: Hội thảo khoa học “Đào tạo nhân lực du lịch: những vấn đề đặt ra”,

de-dat-ra.html

http://huc.edu.vn/chi-tiet/1542/Hoi-thao-khoa-hoc-Dao-tao-nhan-luc-du-lich nhung-van-MỐI NGUY HIỂM TỪ NHỮNG MÁY NÉN KHÍ TRÊN ĐƯỜNG PHỐ

ThS Huỳnh Huy Việt

Chi cục Bảo vệ Môi trường Phú Yên

1 Đặt vấn đề:

Máy nén khí được đề cập trong bài viết này là máy nén khí kiểu piston gồm: thiết bị máy nén

khí và bình chứa khí nén có áp suất cao (>0,7 bar), do có bình chịu áp suất cao (từ chuyên môn

gọi là bình chịu áp lực) nên đây là một dạng thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động Hiện nay, trong đời sống hằng ngày (như phun sơn, cấp hơi cho thiết bị vặn ốc của cơ sở gara…) máy nén khí kiểu piston được sử dụng rất phổ biến, đặc biệt là trong công việc bơm hơi (máy nén khí di động xuất hiện rất phổ biến trên đường phố để phục vụ cho bơm hơi) Máy này có kết cấu gọn, trọng lượng máy nhỏ, chiếm diện tích lắp đặt không lớn, tiện lợi khi tháo lắp các cụm chi tiết, tính cơ động cao, dễ sửa chữa, giá máy rẻ phù hợp với nhiều đối tượng, phù hợp cho việc

cung cấp khí nén không được liên tục Bên cạnh sự tiện dụng và lợi ích đem lại, khi xảy ra tai nạn

(nổ vật lý) do thiết bị này gây ra thường là chết người, thiệt hại về tài sản Do vậy, bài viết nhằm đưa ra những cảnh báo nguy hiểm và yêu cầu an toàn lao động trong quá trình sử dụng thiết bị

cơ điện kéo đầu nén khí; (3) Bình chứa

khí; (4) Đồng hồ đo áp, relay áp suất

và van an toàn; (5) Van xả nước bình

chứa (van xả đáy); (6) Van cấp khí

Hình 1: Cấu tạo cơ bản của máy nén khí piston

Trang 23

26

- Đầu nén khí: Gồm piston nén khí, bộ lọc khí vào, ống dẫn khí ra, ngõ châm dầu bôi trơn

và chỗ báo mức dầu trong đầu nén

Hình 2: Các bộ phận của đầu nén khí và cấu tạo bên trong của 1 đầu nén có 3 piston

- Động cơ điện (hoặc động cơ đốt trong) kéo đầu nén khí

Hình 3: Hình ảnh máy nén khí có động cơ nổ và động cơ điện

- Bình chứa khí, van xả nước: Có chức năng lưu trữ khí nén, điều hòa áp suất ở đầu ra làm

cho nguồn khí nén cung cấp được liên tục và ổn định Trong quá trình sử dụng sẽ có nước ngưng

tụ trong bình chứa, cần xả nước định kỳ Van xả nước thường được bố trí ở phía dưới bình chứa

khí

Trang 24

27

Hình 4: Hình ảnh bình chứa khí và van xả nước

- Đồng hồ đo áp, relay áp

suất và van an toàn: Đồng hồ đo

áp suất chỉ báo áp suất trong bình

chứa khí nén, đơn vị thường sử

dụng là kg/cm2, bar, psi, Mpa

Relay áp suất giúp tự động bật máy

nén và ngắt khi máy nén đã đạt đến

áp suất được cài đặt bởi Relay áp

suất Cạnh relay áp suất là van an

toàn có chức năng bảo vệ tránh các

trường hợp nổ bình do quá áp

Hình 5: Đồng hồ đo áp, relay áp suất, van an toàn

b Nguyên lý hoạt động: Động cơ hoạt động, thông qua bộ phận truyền đai, truyền động cho đầu

máy nén hoạt động để nén khí vào bình chứa khí Khí nén từ bình chứa được cấp cho nhu cầu sử

dụng thông qua van cấp khí

2.2 Hiện trạng quản lý và sử dụng từ thực tế:

Một cách hết sức tình cờ, người viết bài này đã chứng kiến tại một điểm bơm vá xe ở thành phố Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên), người bơm xe máy dùng bộ bơm xe bằng máy nén khí, nhưng lại được sử dụng hết sức mất an toàn:

- Bình không rõ nguồn gốc,

- Van an toàn thì đã bị tháo bỏ và thay vào đó là một nút thép Khi được hỏi, thì được người thợ này cho biết: do van hay xả nên anh ta đã tháo bỏ và chặn bằng nút chặn để tiết kiệm khí thoát

- Hơn nữa, khi nhìn vào đồng hồ áp suất (thuật ngữ chuyên môn gọi là áp kế) gắn ở thân bình thì thấy kim áp kế chỉ ở mức lớn nhất là 10 kG/cm², trong khi các bình chứa khí nén loại này chỉ được cho phép sử dụng ở áp suất tối đa là 7 - 8 kG/cm² (đối với các bình mới) Người bơm xe này cho biết: trên đồng hồ đo áp suất có ghi số 10 (số chỉ tối đa trên mặt đồng hồ) cho nên nghĩ rằng được phép sử dụng ở áp suất 10 kG/cm²

- Còn rơ le áp suất thì cũng bị ngắt vì anh ta cho rằng thấy máy cứ tắt, mở thường xuyên gây

"phiền phức” quá nên ngắt đi

2.3 Hậu quả của tai nạn nổ bình chứa khí từ tai nạn thực tế:

Năng lượng giải phóng sau vụ nổ làm phá hủy công trình, tài sản do sóng xung kích và các mảnh vỡ văng bắn Hầu như sau mỗi một vụ nổ đều có người chết, còn tài sản, thiết bị đều bị hư hại đến phá hủy hoàn toàn Khi áp suất làm việc và thể tích của thiết bị càng lớn thì mức nguy hiểm càng tăng cao

Một vụ nổ bình hơi xảy ra tại một tiệm sửa xe bên đường (thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, TP.HCM) vào ngày 4/6/2013 đã làm một bé trai khoảng 13 tuổi chết tại chỗ (nhiều mảnh thi thể vương vãi dưới đường) Nắp bình hơi bay xa hàng trăm mét; nhiều mảnh vỡ của bình hơi văng tung tóe, thậm chí bay qua nóc nhà tiệm sửa xe; hàng rào chắn bên đường cũng bị gãy thành nhiều khúc Nhiều người dân cho biết khi tiếng nổ phát ra thì nhiều đồ đạc trong nhà bị rung chuyển [7]

Trang 25

28

Hình 6: Hình ảnh hiện trường vụ nổ 2.4 Nguyên nhân gây nổ [4]:

a Thiết kế, chế tạo, sửa chữa:

- Tính toán bề dày kim loại không đúng, làm cho thành bình không chịu nổi tác động của áp suất làm việc

- Quá trình gia công chế tạo, sửa chữa không tốt, không đảm bảo độ bền… gây biến dạng làm giảm độ bền kim loại

b Vận hành:

- Để áp suất làm việc lớn hơn áp suất cho phép: (1) Bình bị phơi nắng, để gần các nguồn nhiệt

hoặc do bình bị hơ nóng; (2) Không quan tâm bảo dưỡng thiết bị đo lường, bảo vệ an toàn như áp

kế, van an toàn; (3) Sử dụng áp suất vượt quá áp suất cho phép

- Để cho độ bền kim loại làm bình bị giảm: (1) Nhiệt độ trong bình cao hoặc thấp hơn nhiệt độ

thiết kế; (2) Thành bình bị ăn mòn (không xả nước trong bình thường xuyên) làm cho độ bền giảm xuống; (3) Độ bền kim loại giảm do bị va đập; (4) Tự ý sửa chữa hay tác động lên bình chịu

áp lực khi còn áp suất

2.5 Quy định liên quan đến bình chịu áp lực:

- QCVN 01-2008/BLĐTBXH (Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động nồi hơi và bình chịu áp lực) quy định về an toàn lao động trong thiết kế, chế tạo, xuất nhập khẩu, mua bán, lắp đặt, sửa chữa, sử dụng đối với các nồi hơi, bình chịu áp lực: Máy nén khí có kèm bình chịu áp lực > 0,7 bar, do vậy đây là thiết bị phải chịu sự quản lý của Quy chuẩn này (ngoại trừ máy nén khí đi kèm bình chịu áp lực có dung tích không lớn hơn 25 lít, mà tích số giữa dung tích và áp suất không lớn hơn 200)

- Thông tư số 05/2014/TT-BLĐTBXH ngày 06/3/2014 về Ban hành danh mục máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động: Máy nén khí có bình chịu áp lực > 0,7 bar, do vậy đây là thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động (ngoại trừ bình có dung tích không lớn hơn 25 lít, mà tích số giữa dung tích và áp suất không lớn hơn 200)

- Quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn bình chịu áp lực (QTKĐ: 09-2014/BLĐTBXH được ban hành bởi Thông tư 07/2014/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động, thương binh và Xã hội ngày 06/3/2014 về Ban hành 27 quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn đối với máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội): Thời hạn kiểm định định kỳ bình chịu áp lực tối đa là 03 năm một lần, 02 năm một lần cho bình đã sử dụng trên 12 năm và 01 năm một lần cho bình đã sử dụng trên 24 năm

- Thông tư số 27/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động, thương binh và Xã hội ngày 18/10/2013 về Quy định về công tác huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động:

Mảnh bình hơi văng xa cả trăm mét

Hàng rào bên đường bị gãy thành từng khúc

Trang 26

29

+ Công việc vận hành máy nén khí thuộc nhóm 3 (Người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động) phải được huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động và được cấp Chứng chỉ huấn luyện (có thời hạn 5 năm)

+ Khi người lao động nghỉ làm việc từ 6 tháng trở lên thì trước khi trở lại làm việc, người lao động phải được huấn luyện lại tại Tổ chức hoạt động dịch vụ huấn luyện cấp Chứng chỉ huấn luyện

+ Định kỳ 2 năm một lần kể từ ngày Chứng chỉ huấn luyện có hiệu lực, người vận hành thiết

bị này phải tham dự khóa huấn luyện định kỳ tại Tổ chức hoạt động dịch vụ huấn luyện cấp Chứng chỉ huấn luyện

Tài liệu tham khảo:

1 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Thông tư số 05/2014/TT-BLĐTBXH ngày 06/3/2014

về Ban hành danh mục máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động

2 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Thông tư số 27/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2013 về Quy định về công tác huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động

3 Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Thông tư 07/2014/TT-BLĐTBXH ngày 06/3/2014

về Ban hành 27 quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn đối với máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

4 TCVN 8366:2010:Bình chịu áp lực Yêu cầu về thiết kế và chế tạo

5 QCVN 01-2008/BLĐTBXH: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động nồi hơi và bình chịu áp lực

6 http://dantri.com.vn/xa-hoi/no-binh-hoi-mot-be-trai-chet-tham-738820.htm

NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

HỆ CAO ĐẲNG CHO SINH VIÊN NGÀNH CƠ KHÍ ĐỂ ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI

HIỆN NAY TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA

Trường chúng ta lại đóng trên địa bàn tỉnh Phú Yên cách xa các thành phố lớn, các khu công nghiệp lớn, đây cũng là một hạn chế ảnh hưởng không nhỏ về việc đào tạo thực tế cho sinh viên để làm quen với tác phong công nghiệp và tìm hiểu về các trang thiết bị hiện đại

Trong khi đó chất lượng đào tạo phải được nâng lên để đảm bảo chuẩn đầu ra và đáp ứng nhu cầu của xã hội Do đó, việc tìm những giải pháp thích hợp để nâng cao chất lượng đào tạo hệ

Trang 27

30

cao đẳng sinh viên ngành cơ khí là vấn đề cấp thiết mà thực tế đặt ra là đào tạo phải đáp ứng nhu cầu cho xã hội hiện nay và các nước trong khu vực Nhằm tạo ra thương hiệu cho ngành cơ khí của trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hòa

2 Những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hệ cao đẳng sinh viên ngành cơ khí

Qua thực tế giảng dạy, giáo viên chủ nhiệm sinh viên hệ cao đẳng ngành cơ khí tại trường chúng ta Để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng đào sinh viên ngành cơ khí đáp ứng được nhu cầu xã hội thì bản thân tôi đưa ra các giải pháp sau:

- Tạo môi trường tích cực cho sinh viên yêu ngành, yêu nghề để yên tâm học tập và rèn luyện thì người thầy càng phải quan tâm, gần gũi giúp đỡ sinh viên Tuy nhiên, trong 2 học kỳ đầu các thầy cô chuyên ngành ít có cơ hội tiếp xúc với sinh viên Do đó cố vấn học tập, Đoàn khoa, thư ký khoa trong giai đoạn này phải hết sức năng động và nắm vững qui chế đào tạo theo tín chỉ để cố vấn và hướng nghiệp cho sinh viên

- Khoa và bộ môn nên tổ chức gặp mặt, giao lưu với sinh viên năm thứ nhất Thời gian thích hợp là sau khi nhập trường và chuẩn bị học văn hóa nhằm giới thiệu cho các em về ngành nghề, các thầy cô trong ban lãnh đạo Khoa, bộ môn, đại diện ban cán sự các lớp trên để sinh viên

dễ tiếp cận, hòa nhập với Khoa mình cũng như các thầy cô, anh chị năm trước chia sẻ, giải đáp được nhiều thông tin vướng mắc cần thiết cho sinh viên

- Chương trình đào tạo nên đi theo hướng ứng dụng, giảm lý thuyết hàn lâm Bởi vì sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường khi đi xin việc làm thường phỏng vấn về chuyên môn cơ bản và thử tay nghề, làm việc trực tiếp sản phẩm, chính vì vậy ta nên nhìn nhận rằng nên đi theo hướng ứng dụng đối với sinh viên cao đẳng

- Như trên đã đề cập đa số sinh viên vào trường chúng ta từ các gia đình có kinh tế khó khăn nên phải vừa làm,vừa học Nhưng cần khuyên sinh viên không nên đi làm thêm trong học

kỳ đầu Vì học kỳ đầu là rất quan trọng bởi các em mới chuyển cấp học từ phổ thông qua chuyên nghiệp, cách học khác nhau và nhận thức khác nhau nên các em dễ bị dồn kiến thức nên học không theo kịp và làm chán học dễ dẫn đến bỏ học và học không có chất lượng

- Khoa, Bộ môn cần tăng cường quan hệ đối ngoại với các Công ty, doanh nghiệp bên ngoài Đặc biệt là các cơ sở liên quan đến chuyên môn để xin tài trợ học bổng cho sinh viên, các mô hình thiết bị phục vụ cho đào tạo và nghiên cứu khoa học

- Đào tạo theo học chế tín chỉ lấy sinh viên làm trung tâm và tăng cường phương pháp giảng dạy tích cực nêu vấn đề, thảo luận seminar… Đặc biệt là tích cực giám sát chặt chẽ vấn đề

tự học của sinh viên Vì vậy giáo viên cần xây dựng chương trình học phần chi tiết, cụ thể hóa nội dung để sinh viên tìm tòi học tập, thảo luận có hiệu quả

- Bộ môn và giáo viên trong bộ môn cần tích cực chủ động nghiên cứu, định hướng các đề tài ứng dụng trong lĩnh vực chuyên môn để thu hút sinh viên vào tham gia để có tay nghề và kinh nghiệm trong lĩnh vực cơ khí

- Khoa, bộ môn phải thường xuyên liên hệ với các cựu sinh viên để biết thêm thông tin về chất lượng đào tạo cử nhân của ngành mình sau khi tốt nghiệp và những nhu cầu của xã hội để nhanh chóng điều chỉnh lại chương trình đào tạo, các nội dung của các học phần cho phù hợp với yêu cầu thực tế mà xã hội đặt ra

- Khoa cần tăng cường các buổi báo cáo học thuật để trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ và chia sẻ thông tin Triển khai thực hiện tốt phương hướng của Khoa và một năm phải tổ chức ít nhất 2 hội nghị khoa học cấp khoa

- Giới thiệu cho sinh viên nguồn tài liệu tham khảo qua sách, các trang web để tìm tài liệu chuyên môn, các tạp chí về cơ khí, các trang web giới thiệu về thiết bị cơ khí… Cung cấp các tài liệu chuyên môn quí hiếm cho sinh viên qua USB, đĩa CD hoặc trên trang web cá nhân Ngoài

Trang 28

3 Kết luận

Trên đây là một số kinh nghiệm chia sẻ của bản thân trong quá trình giảng dạy các lớp Cao đẳng cũng như đưa ra một số giải pháp trao đổi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho ngành công nghệ kỹ thuật cơ khí và công nghệ chế tạo máy của trường ta sau khi sinh viên tốt nghiệp đáp ứng được nhu cầu xã hội hiện nay Kính mong nhận được sự góp ý

Tài liệu tham khảo

1 Trần Khánh Đức (2012), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI Nhà xuất

bản giáo dục Việt Nam, Hà Nội

2 Nguyễn Văn Tuấn, Võ Thị Xuân (2008), Tài liệu bài giảng phát triển chương trình đào tạo

nghề Đại học sư phạm kỹ thuật TP HCM

PHỐI HỢP VỚI DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGÀNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT NHIỆT

xã hội để nhằm đạt được mục đích chung là “cung” gặp “cầu” nhằm đưa lại trạng thái cân bằng cung và cầu

II CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGÀNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT NHIỆT

1 Sơ lược về công tác đào tạo của ngành

- Ngành Công nghệ kỹ thuật nhiệt được đào tạo tại Khoa Điện – Điện tử với ba trình độ:

cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề Hàng năm có khoảng 50–70 sinh viên tốt nghiệp ra trường

- Sinh viên tốt nghiệp ngành Công nghệ kỹ thuật nhiệt có thể làm việc ở các lĩnh vực: + Hệ thống lạnh dân dụng: Công việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể làm như

lắp đặt, sửa chữa và bảo dưỡng tủ lạnh, tủ kem, tủ đông, máy điều hòa không khí v.v… Tính chất công việc ở lĩnh vực này tương đối đơn giản nên hầu hết sinh viên tốt nghiệp đều có thể làm tốt, đáp ứng được nhu cầu của xã hội

+ Hệ thống lạnh công nghiệp: Sinh viên có thể thi công lắp đặt kho lạnh, kho bảo quản

đông, kho cấp đông hay kho bảo quản rau, quả… Hoặc làm nhân viên vận hành, bảo dưỡng hệ thống lạnh Vì công việc yêu cầu kỹ năng tay nghề cao, có kiến thức chuyên môn tốt nên số lượng sinh viên làm việc ở lĩnh vực này ít chủ yếu là sinh viên tốt nghiệp Cao Đẳng và Đại học

+ Hệ thống điều hòa không khí trung tâm: Đi đôi cùng với sự phát triển của xã hội hệ

thống điều hòa trung tâm đang phát triển trên khắp mọi miền của đất nước Sinh viên có thể làm các công việc như lắp đặt hệ thống điều hòa VRV, hệ thống điều hòa trung tâm (Chiller) cho các

Trang 29

32

công trình lớn Tuy nhiên, do vốn đầu tư công trình rất cao, tính chất công việc phức tạp và rộng nên yêu cầu kỹ năng tay nghề của sinh viên phải tốt Sinh viên tốt nghiệp chỉ có thể làm chuyên sâu một trong các mảng nhỏ của hệ thống như lắp đặt máy, gia công ống gió, lắp đặt đường ống gió, bọc cách nhiệt, đường ống nước cho hệ thống Chiller… Các mô hình trong trường chưa giúp các em sinh viên có kỹ năng về lĩnh vực này do giá thành đầu tư chế tạo của mô hình lớn Các em chỉ được học chủ yếu là lý thuyết là nền tảng lý luận để tìm hiểu thực tế Vì vậy khi tốt nghiệp ra trường còn nhiều bỡ ngỡ Tuy nhiên với khả năng học hỏi và kiến thức đã có các em cũng nhanh chóng tiếp thu và làm quen với công việc

+ Hệ thống lò hơi và nhà máy nhiệt điện: Công việc chủ yếu là lắp đặt sửa chữa, vận

hành lò hơi trong các nhà máy sản xuất bánh kẹo, nước giải khát, nhà máy đường, nhà máy lọc dầu, nhà máy nhiệt điện… Hiện nay, Tổ bộ môn đã xây dựng xong chương trình và đang trang bị các mô hình về lò hơi, nhà máy nhiệt điện để phục vụ cho công tác đào

+ Hệ thống sấy: Công việc chính là lắp đặt, bảo trì, bảo dưỡng các hệ thống sấy Các hệ

thống sấy hầu hết có cấu tạo đơn giản, yêu cầu không cao Đa số các em có thể làm tốt các công việc

2 Thuận lợi và khó khăn trong công tác đào tạo

- Thuận lợi:

+ Nhu cầu xã hội đối với ngành công nghệ kỹ thuật nhiệt rất lớn, đa số sinh viên tốt

nghiệp ra trường đều có việc làm ổn định

+ Về lực lượng giảng viên, các giảng viên trong bộ môn có trình độ và kiến thức chuyên môn tốt, hiện tại tổ bộ môn có 1 tiến sĩ, 4 thạc sĩ và 2 kỹ sư, tất cả đều được đào tạo bài bản và có nhiều kinh nghiệm thực tế

+ Nhà trường, khoa có nhiều sự quan tâm đến hoạt động giảng dạy và thiết bị dạy học của

tổ bộ môn

+ Giáo viên trong tổ bộ môn rất tích cực trong công tác làm mô hình và nghiên cứu khoa học với các đề tài ở cấp Bộ (Mô hình máy lạnh một cấp có nhiệt độ sôi -60oC), cấp Tỉnh (mô hình điều hòa cho hộ gia đình sử dụng năng lượng gió), cấp Trường (Mô hình hệ thống lạnh công nghiệp) với sự góp sức của các em HSSV Điều này giúp các em có nhiều đam mê và hứng thú hơn trong học tập

+ Sinh viên trong tổ bộ môn có niềm đam mê nghề nghiệp, các em thường xuyên rèn luyện kỹ năng tay nghề tham gia các cuộc thi tay nghề cấp Khoa (Hội thi tay nghề cấp Khoa), cấp

Bộ Công Thương (hội thi tay nghề Bộ Công Thương) và cấp quốc gia (hội thi tay nghề Quốc gia) Kết quả năm 2010 có 2 sinh viên đạt giải khuyến khích cấp Bộ và Cấp quốc gia, năm 2013 có 1 học sinh đạt giải ba cấp Bộ Công Thương, 1 học sinh đạt giải nhì cấp Quốc gia Điều này tạo động lực để các em tiếp tục phấn đấu và rèn luyện trong học tập

- Khó khăn:

+ Chất lượng sinh viên đầu vào còn thấp

+ Số lượng đăng ký vào học ở ngành công nghệ kỹ thuật nhiệt còn ít so với nhu cầu xã hội đang cần

+ Trang thiết bị, mô hình dạy học: mặc dù đã đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng toàn bộ chương trình các môn học Mặt khác, một số mô hình đã quá cũ và lạc hậu so với thực tế, số lượng còn ít so với nhu cầu của sinh viên

III THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HỖ TRỢ HSSV CỦA NGÀNH

1- Thực trạng về công tác hỗ trợ sinh viên và liên hệ với Doanh nghiệp

Hàng năm, vào mùa thực tập tốt nghiệp, Tổ bộ môn tổ chức giới thiệu cho sinh viên về địa điểm thực tập tại các doanh nghiệp và nhà máy trong và ngoài Tỉnh tạo điều kiện cho sinh viên thực tập tìm hiểu thực tế và quen với công việc Tuy nhiên bộ môn và doanh nghiệp chưa

Trang 30

33

thỏa thuận được nội dung thực tập, nội dung thực tập thường chỉ là đề cương thực tập do giáo viên phát cho sinh viên Sinh viên thường thực tập không đúng chuyên môn, làm những công việc phổ thông do doanh nghiệp chỉ định Doanh nghiệp chưa đóng vai trò đào tạo trong quá trình thực tập chuyên môn của sinh viên

Sau khi tốt nghiệp ra trường, các em được giới thiệu đến các doanh nghiệp để làm việc thông qua sự giới thiệu của giáo viên hay các cựu sinh viên đã có công việc ổn định Hàng năm, nhiều doanh nghiệp cũng liên hệ về Trường để tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp vào làm ở các vị trí đúng với chuyên ngành mà các em đã được đào tạo Tuy nhiên, số lượng sinh viên có được việc làm đúng với chuyên môn còn chưa cao Theo số liệu khảo sát 20 sinh viên của lớp CNNL34 thì có khoảng 50% sinh viên của lớp là làm việc theo đúng chuyên ngành và lĩnh vực đào tạo Số còn lại làm ở các lĩnh vực khác

2 Nguyên nhân

- Thứ nhất: một số sinh viên vì hoàn cảnh gia đình nên chưa đi làm hoặc không muốn đi

làm xa nhà nên chưa tìm được công việc hợp lý

- Thứ hai: Doanh nghiệp chưa tin tưởng vào kỹ năng tay nghề của sinh viên nên chỉ bố trí

công việc cho sinh viên vừa tốt nghiệp chỉ dừng lại ở tính công việc phổ thông

- Thứ ba: Mức lương doanh nghiệp trả còn thấp không đáp ứng được đời sống của sinh

viên

- Thứ tư: Các em gặp được các công việc khác chuyên môn nhưng có chế độ lương bổng

tốt, công việc phù hợp với hoàn cảnh hay sở thích của mình hơn

- Nhà trường phối hợp với khoa định kỳ tổ chức hội thảo, gặp mặt với các doanh nghiệp,

nhà máy, đơn vị sản xuất thực tế theo từng nhóm ngành nhằm: trao đổi về thông tin lao động,

đặc điểm, yêu cầu,… Đó cũng là cầu nối thông tin giữa hai bên để khi cần có thể dễ dàng quan hệ, làm việc và cũng giúp cho việc đào tạo trong nhà trường có thể tiến gần hơn đến việc đáp ứng nhu cầu thực tế

- Để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu của xã hội thì phải thường xuyên đổi mới phương pháp giảng dạy và cập nhật công nghệ mới

- Cần trang bị thêm các mô hình theo hướng hiện đại để phục vụ tốt cho công tác giảng dạy

- Cần xây dựng một thước đo chính xác năng lực về kỹ năng tay nghề của sinh viên tốt nghiệp ra trường

IV- KẾT LUẬN

Trên đây là một số ý kiến của bản thân về Đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội ở Tổ bộ môn Hy vọng trong tương lai Tổ bộ môn Nhiệt - Điện lạnh sẽ ngày càng phát triển mạnh, đào tạo cho xã hội những nguồn lực lao động chất lượng cao đáp ứng được cho công cuộc công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước

Tài liệu tham khảo

1 Kỷ yếu Hội thảo “Sinh viên với đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp”, Bộ GD&ĐT, Hà Nội 8/2008

Trang 31

34

2 Trần Đình Mai và Phạm Văn Tường Báo cáo cho Bộ GD&ĐT “Sinh viên với đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp”, Đà Nẵng, 2008

3 Trần Đình Mai Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng - số 3(32).2009

PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TRONG VIỆC

XÂY DỰNG CÁC KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO Nguyễn Kim Nguyên

Phó trưởng phòng Tổ chức Nhân sự – Công ty CP An Hưng

I Đặt vấn đề

Ngày nay, mối liên hệ giữa đào tạo của các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề với thị trường lao động đang rất lỏng lẻo Điều đó đã dẫn đến những hệ quả đáng tiếc như lãng phí chất xám và nhân lực Về cơ bản, học sinh - sinh viên được trang bị khá tốt về kiến thức sách vở, có lý luận và có tư duy; tuy nhiên, điều các em đang thiếu đó là kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng thực hành, kỹ năng làm việc tập thể,… Các em mới tốt nghiệp ra trường hầu hết đều chưa có kinh nghiệm làm việc nhưng họ có lòng yêu nghề, tính nhiệt huyết, tính trẻ trẻ trung sáng tạo,… Tuy vây, một bộ phận không nhỏ các em ngày nay lại thiếu đi những đặc tính tốt đẹp đó mà đổi lấy tính cẩu thả, buông xuôi, thực dụng, đó là chưa kể đến một số em đã chọn nghề nghiệp không đúng sở thích hoặc gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận thông tin gắn với ngành học của họ Bên cạnh

đó việc chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với thông tin về việc làm, con đường đến với nghề của các

em trở nên xa hơn bởi chính họ cũng thiếu chủ động tìm hiểu về công việc Có thể nói rằng nguyên nhân đến từ nhiều phía nhưng thiếu đi một sự bắt tay thiện chí từ nhà trường và cộng đồng doanh nghiệp là nguyên nhân có tính căn bản nhất Vậy nên chăng cần xóa bỏ đi định kiến:

“dạy những gì mình có” để nhìn nhận lại thị trường đang cần gì ở sản phẩm đào tạo của mình thì chắc chắn chất lượng đào tạo sẽ tốt hơn rất nhiều Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp cần phải có nỗ lực từ cả hai phía, song nghiên cứu tốt thị trường lao động để cung cấp thông tin cần thiết trong kế hoạch đào tạo là vấn đề nhà trường nên làm để có được cơ sở vững chức và cung cấp thông tin hữu ích cho người học

2 Phân tích thị trường lao động

Thị trường lao động được nhiều học giả phân tích trên nhiều khía cạnh khác nhau Song trên bình diện tổng quát, thị trường lao động được hiểu là tập hợp những quan hệ kinh tế, pháp lý, xuất hiện giữa người sở hữu sức lao động (người lao động) và người sử dụng nó (người thuê lao động) về vấn đề chỗ làm việc cụ thể, nơi và hàng hóa và dịch vụ sẽ được làm ra Quá trình sử dụng sức lao động, lao động sẽ được hình thành trong sản xuất chứ không phải trên thị trường Đối với người nắm giữ sức lao động sẽ được tạo ra cơ hội để nhận chỗ làm việc, nơi mà anh ta có thể làm việc, thể hiện khả năng, và nhận thụ nhập để tái sản xuất sức lao động của mình Đối với người thuê lao động sẽ có cơ hội tăng lợi nhuận kinh tế Trên thị trường sẽ hình thành những quan hệ việc làm

Với cách hiểu như trên, khi phân tích về thị trường lao động ở nước ta hiện nay, nhiều học giả nghiên cứu đều nhận định chung về nghịch lý đang còn hiện hữu khá rõ ràng: Thứ nhất, nguồn nhân lực ở nước ta rất dồi dào nhưng lại thiếu lực lượng lao động tay nghề cao, đã qua đào tạo Thứ hai, nhiều người thất nghiệp hoặc mất việc làm đồng thời với nhiều nhà tuyển dụng lao động không tuyển được lao động, bởi lẽ đang diễn ra thực trạng vừa “thiếu hụt chỗ làm việc”, vừa “thiếu hụt người làm được việc” Như vậy có thể nhận định nguyên nhân thất nghiệp cốt lõi

là vấn đề đào tạo, kỹ năng nghề, dự báo nhu cầu, phân bổ nguồn nhân lực và các chính sách thu hút, sử dụng lao động còn mất cân đối, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế kinh tế – xã hội

Có thể thấy rằng một nguyên nhân lớn lý giải cho sự bất cập nói trên là hệ thống định hướng nghề nghiệp, đào tạo và đào tạo lại không theo kịp với những đòi hỏi mới của sự phát triển

Trang 32

35

kinh tế xã hội, không tương thích với quá trình cải tổ khối lượng và chất lượng chuyên gia đã đào tạo, đặc biệt đối với các ngành kinh tế như dịch vụ, du lịch, sản xuất công nghệ cao, sản xuất hàng hóa xuất khẩu Theo đó, thị trường lao động được hình thành trong bối cảnh bất lợi vì vẫn duy trì tính tự phát đào tạo công nhân lành nghề và chuyên gia cho nền kinh tế quốc dân, lỏng lẻo trong việc ràng buộc khối lượng và nghề nghiệp của người được đào tạo với cấu trúc cầu sức lao động, phối hợp không ăn khớp công việc đào tạo với dịch vụ mối giới việc làm ở khu vực Ngoài

ra, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất ổn và không phối hợp chặt chẽ ở nhiều khu vực lãnh thổ trong các cấu trúc trợ giúp việc làm cho khu vực ngoài quốc doanh, và đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính quyền địa phương;

Mất cân đối cung - cầu lao động là câu chuyện dài và không mới Để hạn chế tình trạng này cần có sự chung tay góp sức, sự liên kết của cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và toàn xã hội Có như vậy, cung - cầu lao động mới có tiếng nói chung, mới giảm được tỷ lệ thất nghiệp xuống mức thấp nhất và ổn định cuộc sống cho người lao động, tạo được việc làm cho học sinh – sinh viên

3 Những góp ý cùng với nhà trường

Thứ nhất: Trong nền kinh tế tri thức bất cứ ngành học nào cũng có thể giúp người học

chuẩn bị một số nghề nghiệp ổn định miễn là đã nhìn nhận kỹ lưỡng và quyết tâm theo đuổi nó Thời kỳ hội nhập sẽ mở ra nhiều cơ hội việc làm với nhiều yêu cầu cao hơn đối với người lao động, Sự cạnh tranh trên thị trường lao động xét trên một góc độ nhất định là công bằng Với cùng một ngành học có nhiều cơ sở đào tạo khác nhau tạo ra bức tranh về sự cạnh tranh trong đào tạo Bên cạnh đó, mỗi một sinh viên có tay nghề cũng có nhiều lựa chọn cho cơ hội làm việc của mình Điều đó dẫn đến: người học sẽ quan tâm hơn những cơ sở đào tạo nào giúp họ có được tay nghề vững vàng và phù hợp hơn với yêu cầu của thị trường lao động, đồng thời các doanh nghiệp cũng sẽ tìm đến với cơ sở đào tạo nào có nhiều sinh viên thích ứng được với đòi hỏi của họ Vì vậy, vấn đề cần thiết của nhà trường là phải tạo được sản phẩm đào tạo mang bản sắc riêng của trường, thích ứng nhanh với xu thế hội nhập

Thứ hai, Thị trường lao động đang cần nguồn nhân lực có trình độ cao song cũng rất cần

những lao động lành nghề đó là những kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ Cao đẳng, Trung cấp; Công nhân kỹ thuật giỏi Trong xã hội đã có nhiều người thành đạt lớn từ khởi nghiệp học nghề Với lợi thề về nguồn lực và cơ sở vật chất, nhà trường nên tăng cường đào tạo theo hướng những cán bộ, công nhân lành nghề Có thể họ không cần được trang bị quá nhiều những lý luận cao siêu mà chủ yếu là khả năng thích ứng công việc, làm việc độc lập với công việc được giao và tối quan trọng là tác phong cũng như kỷ luật công nghiệp Nguồn lực này có thể lấy từ học sinh khi tốt nghiệp THCS hoặc sau khi tốt nghiệp THPT nhưng không có khả năng theo con đường nghiên cứu Đây là vấn đề khó bởi những định kiến, tâm lý trọng bằng cấp còn tồn tại ở hầu hết các bậc phụ huynh Vậy muốn làm được điều này về phía nhà trường cần phải tăng cường công tác truyền thông tốt, mặt khác xây dựng tốt các kênh thông tin và cơ hội việc làm để tăng khả năng thuyết phục phụ huynh, học sinh và xã hội

Thứ ba, Theo nhiều cuộc khảo sát của các học giả cho thấy tỷ lệ học sinh chọn sai ngành

học chiếm khá lớn, có khi chiếm đến khoảng 60%, chỉ có 5% học sinh có hiểu biết về ngành chọn học, 20% có hiểu biết tương đối đầy đủ và 75% thiếu hiểu biết về nghề bản thân chọn học Thực trạng một bộ phận khá lớn sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm và có nhiều cử nhân, kỹ

sư các trường đại học ở Việt Nam chấp nhận những công việc trái ngành, hoặc phù hợp cho trình

độ thấp hơn (cao đẳng, trung cấp), trong khi nhu cầu về lao động có tay nghề lại thiếu Vậy để khắc phục được tình trạng này, mỗi giảng viên phải là một cán bộ tuyên truyền tốt nhất cho học sinh, sinh viên về cơ hội nghề nghiệp; về yêu cầu của thị trường lao động, về đòi hỏi của ngành nghề,… Từ đó giúp cho các em có những hiểu biết vững chắc về nghề nghiệp, những yêu cầu khắt khe của thị trường lao động cũng như tăng cường niềm tin và say mê hơn với công việc

Trang 33

36

Kết luận

Quản lý và phát triển đào tạo trong cơ chế hiện nay cần bắt đầu từ nghiên cứu thị trường để xây dựng mục tiêu, thiết kế chương trình đào tạo và quá trình đào tạo Tiếp cận thị trường giúp nhà trường đào tạo nhu cầu nguồn nhân lực về cả số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề và trình độ,… Đây là cơ sở dữ liệu quan trọng để nhà trường xác định quy mô đào tạo, xây dựng kế hoạch đào tạo sát với yêu cầu thực tiễn của nhà tuyển dụng, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP CỦA KHOA CÔNG NGHỆ HÓA

Trong những năm qua, việc đổi mới hình thức giảng dạy cho hệ đào tạo tín chỉ, đã được các phòng chức năng triển khai với nhiều nội dung về phương pháp giảng dạy, phương pháp học tập, xây dựng đề cương và hướng dẫn tự học… Các Hội nghị, Hội thảo xoay quanh chủ đề Đổi mới phương pháp dạy học và đẩy mạnh NCKH được Nhà trường tổ chức trong các năm 2012, 2013với mục tiêu nhanh chóng đưa ra phương pháp dạy học phù hợp, định hướng đổi mới đào tạo để đáp ứng được nhu cầu xã hội hiện nay

2 Vận dụng linh hoạt, kết hợp các phương pháp dạy học trong một tiết giảng

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu người học chỉ nghe giảng, khả năng nhớ được là 5% Đọc bài nhớ được 10% Nghe và nhìn cùng lúc nhớ được 20% Được xem làm thí nghiệm trước tại chỗ nhớ được 30% Thảo luận nhóm nhớ được 50% Thực hành bằng cách làm bài, ghi lại, viết lại nhớ được 75% Và nhớ được, nắm vững nhất là giảng lại cho người khác, ứng dụng những gì học được ngay sau khi học là 90% [4]

Do đó, trong mỗi giờ học, nếu giáo viên biết kết hợp vận dụng linh hoạt các phương pháp vừa thuyết trình, vừa trực quan, … hoặc tổ chức và điều khiển các hoạt động thảo luận theo nhóm, …Đồng thời, trong giảng dạy, phương pháp truyền thống không phải là không có chỗ đứng nhất định, vấn đề là người dạy biết sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trong một nội dung bài giảng phù hợp với đối tượng người học Mục tiêu đạt được là kích thích tư duy sáng tạo, chủ động tự học – tự đọc, chịu khó suy nghĩ, tích cực trả lời của người học Nội dung này quan trọng, bởi vì chúng ta không thể đảm bảo được rằng toàn bộ nội dung mà Nhà trường cung cấp cho học sinh sinh viên đều được áp dụng khi các em làm việc, mà cần thiết học sinh sinh viên phải vận dụng được kiến thức, kỹ năng khi học được ở trường vào công việc thực tế - nghĩa là dùng tri thức để sáng tạo theo từng trường hợp cụ thể

PPDH truyền thống hay hiện đại cũng đều có những đặc điểm, ưu thế và nhược điểm riêng

Đổi mới phương pháp giảng dạy không phải là thay đổi từ cách giảng dạy này bằng cách giảng

Trang 34

37

dạy khác mà là sử dụng những phương pháp dạy hiện đại như thế nào để tạo ra được những giờ học có hiệu quả [3]

3 Ý nghĩa của việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong Nhà trường

3.1 Đối với giáo viên

- Để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, buộc các giáo viên phải tìm kiếm tài liệu, phải đọc nhiều, cập nhật những thông tin mới, để tìm ra những tri thức mới Từ đó, có thể củng

cố kiến thức chuyên môn, giúp giáo viên mở rộng và tìm hiểu sâu các kiến thức chuyên môn

- Số lượng các giáo viên – giảng viên trẻ có trình độ học hàm, học vị cao khá nhiều, nếu không tham gia NCKH thường xuyên, các kiến thức chuyên môn sâu không được vận dụng, dẫn đến sự mai một, lãng phí

- Nếu giáo viên không tham gia nghiên cứu khoa học thì sẽ khó có thể cập nhật những kiến thức mới, bài giảng sẽ thiếu tính thực tiễn Đồng thời, không tiếp cận được với tốc độ phát triển của khoa học hiện nay

- Hoạt động nghiên cứu khoa học là một lĩnh vực rất tốt để giáo viên tự khẳng định mình Qua đó, các giáo viên thể hiện được năng lực nghiên cứu, tự tin tham gia báo cáo trong các Hội nghị, Hội thảo khoa học trong và ngoài nước, nâng cao hình ảnh của Trường

3.2 Đối với sinh viên

Với các đề tài khoa học mang tính thực tiễn cao sẽ tạo được hứng thú cho SV trong học tập

và đam mê nghiên cứu; tạo môi trường học tập, nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu Từ đó, tiếp cận được thực tiễn, tiếp thu được các kiến thức chuyên sâu Đồng thời, thông qua hoạt động NCKH,

SV cũng hoàn thiện kỹ năng làm việc độc lập, biết cách lập kế hoạch nghiên cứu,… giúp SV tự tin khi ra trường

4 Thực trạng vận dụng các PPDH và hoạt động NCKH ở khoa CN Hóa

Cũng như các giáo viên, giảng viên các khoa khác, ban đầu, khi chuyển đổi hình thức giảng dạy từ niên chế sang tín chỉ, chúng tôi – các giáo viên, giảng viên khoa CN Hóa cũng rất bỡ ngỡ, lúng túng Song được sự quan tâm, hỗ trợ của các phòng ban và ban lãnh đạo Khoa, chúng tôi đã từng bước xây dựng và hoàn thiện đề cương chi tiết các học phần, biên soạn các Bài giảng, Giáo trình phù hợp với định hướng đổi mới công tác giảng dạy đáp ứng nhu cầu xã hội

Trong hơn 5 năm qua, việc vận dụng linh hoạt hai phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại trong thời kỳ hội nhập, thời kỳ của ứng dụng CNTT vào trong các hoạt động giảng dạy, đã luôn được các giáo viên – giảng viên khoa CN Hóa quan tâm và cùng hỗ trợ nhau thực hiện Các tiết giảng mang tính chất lý thuyết, các giáo viên – giảng viên thiết kế tiết giảng theo phương pháp thảo luận nhóm: phân chia nhóm chuẩn bị bài, trên lớp tăng cường phát vấn, kiểm tra quá trình tự học của sinh viên Đối với các tiết giảng chứa đựng nhiều thông tin về công nghệ như mô hình các thiết bị, dây chuyền sản xuất… các giáo viên – giảng viên đã sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại như máy tính, projector để hỗ trợ cho phương pháp trực quan…

và cũng đã kết hợp việc hướng dẫn SV tìm kiếm tài liệu, tổ chức báo cáo, thảo luận nhóm, Ban lãnh đạo Khoa thường xuyên phối hợp với cán bộ phòng Thanh tra kiểm tra, đôn đốc hoạt động giảng dạy với mục tiêu nâng cao hiệu quả các tiết giảng

Ngoài ra, các giáo viên – giảng viên có thâm niên công tác đã tận tình truyền đạt kinh nghiệm sử dụng kết hợp các PTDH truyền thống và hiện đại cho đội ngũ giáo viên – giảng viên trẻ

Mỗi năm, Khoa đã tiến hành tổ chức Hội thảo nghiên cứu khoa học cấp Khoa 2 lần/ năm Qua đó, các giáo viên – giảng viên và SV có thể trao đổi kinh nghiệm, phương pháp luận nghiên cứu khoa học, định hướng những đề tài nghiên cứu theo hướng thiết thực, có tính ứng dụng cao;

đề xuất và tìm sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp sản xuất Đồng thời, tạo cơ hội cho các giáo viên –

Trang 35

4.1 Những thuận lợi

- Đội ngũ giáo viên trẻ của khoa không ngừng học tập nâng cao trình độ, hiện tại có 04 giáo viên đang theo học cao học và 01 giảng viên đang theo học chương trình đào tạo Tiến sĩ

- Khoa đã tạo điều kiện tốt cho các giáo viên đang học cao học và làm luận văn cao học

- Các học phần tín chỉ đều có bài giảng và cũng đã biên soạn được 04 giáo trình Trong thời gian sắp tới, Khoa chủ trương tiếp tục khuyến khích các giáo viên – giảng viên biên soạn các giáo trình cho các học phần còn lại Cụ thể, năm học 2014-2015, Khoa đăng ký biên soạn thêm 02 giáo trình

- Số lượng giáo viên trẻ, dưới 35 tuổi, chiếm xấp xỉ 80%, là độ tuổi dễ dàng tiếp cận CNTT,

áp dụng CNTT trong các hoạt động giảng dạy Đây cũng là một lực lượng khá hùng hậu để đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, mạnh dạn đưa ra phát kiến sáng tạo mới Trong năm học 2014-2015, Khoa đăng ký 02 đề tài nghiên cứu cấp trường và đã tổ chức các buổi sinh hoạt giao lưu cấp Bộ môn để động viên các em SV tham gia NCKH

4.2 Những khó khăn

- Một số giáo viên chưa có phương thức kết hợp PPDH truyền thống và hiện đại còn chưa tốt nên vẫn còn một số tiết giảng bị lệ thuộc hoàn toàn vào PTDH hiện đại, dẫn đến thực trạng một số giáo viên – giảng viên không dạy được khi không có máy tính và projector

- Phương pháp học của SV chưa phù với với đào tạo theo hệ thống tín chỉ SV vẫn thụ động trong việc tìm các nguồn tài liệu tham khảo trên internet hay ở Thư viện Một số SV chưa có ý thức tự giác trong học tập, nên giờ tự học chưa được vận dụng triệt để

- Số phòng học được trang bị các thiết bị giảng dạy hiện đại chưa nhiều Hoặc một số phòng học tuy được trang bị thiết bị giảng dạy tốt nhưng vẫn còn những hạn chế như cửa kính nhiều nên lượng ánh sáng chiếu vào phòng lớn, ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh của bài giảng điện tử

5 Giải pháp – Đề xuất

5.1 Về phía giáo viên – giảng viên

Đội ngũ giáo viên – giảng viên không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn

Đối với đội ngũ giáo viên – giảng viên trẻ cần bố trí thời gian dự giờ các giáo viên – giảng viên có nhiều năm kinh nghiệm nhiều hơn nữa để nâng cao nghiệp vụ sư phạm Hàng năm, các giáo viên – giảng viên nên đăng ký khối lượng đi khảo sát thực tế để nắm bắt nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, ít nhất 1 lần/ năm

Các giáo viên – giảng viên tích cực tham gia cố vấn cho các hoạt động của Câu lạc bộ Yêu Hóa học

Mỗi giáo viên – giảng viên là tấm gương cho các HS – SV: tích cực tham gia các phong trào cấp Khoa, cấp Trường, Công đoàn…, năng động, sáng tạo trong hoạt động NCKH, tham gia

hỗ trợ các cố vấn học tập động viên các HS-SV tham gia các lớp học Ngoại ngữ, Tin học, Kỹ năng … định hướng cho các em lựa chọn các học phần tự chọn phù hợp, phối hợp với CVHT – GVCN định hướng tư tưởng đạo đức cho các em HS -SV

Các giáo viên – giảng viên hướng dẫn SV cách tìm kiếm tài liệu học tập hiệu quả trên Internet Đối với các học phần chuyên ngành, người dạy cũng cần đan xen trong các tiết giảng bổ sung thêm vốn từ vựng về chuyên ngành cho SV

5.2 Về phía Ban lãnh đạo Khoa

Trang 36

39

- Tiếp tục duy trì công tác kiểm tra, đôn đốc công tác giảng dạy của các giáo viên – giảng viên trong khoa, luôn có những góp ý kịp thời về phương pháp giảng dạy của đội ngũ giáo viên – giảng viên trẻ

- Tổ chức báo cáo định kỳ các đề tài NCKH cấp Khoa, cấp Trường để kịp thời đôn đốc, định hướng nghiên cứu mới

- Tổ chức các buổi giới thiệu đến SV các hướng đề tài NCKH của các giáo viên-giảng viên trong khoa hoặc của các SV các khóa trước

- Tăng cường giao lưu, hợp tác với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất trong khu vực hoặc các khu vực khác Tổ chức các Hội thảo về hướng nghiệp và việc làm cho SV cấp Khoa

- Động viên các giảng viên tiếp tục biên soạn các Giáo trình chưa được biên soạn ở các học

Nhà trường cũng như Liên chi đoàn khoa cần phải có khen thưởng, khuyến khích đối với những Đoàn viên thanh niên có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học Đồng thời, cần có phòng trưng bày hoặc tổ chức trưng bày các sản phẩm khoa học của các SV khóa trước hoặc của các giáo viên – giảng viên các Khoa tại các hoạt động có quy mô cấp Trường của Đoàn Thanh niên – Hội SV

5.4 Về phía sinh viên

Các em SV cần nỗ lực học tập hơn nữa Với hình thức đào tạo tín chỉ, yêu cầu các em phải

tự giác đọc và nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp; tích cực phát vấn, đặt câu hỏi, nêu ý kiến, quan điểm để xây dựng tiết giảng Các em SV nên chủ động tìm kiếm nguồn tài liệu học tập ở Internet và Thư viện; biết vận dụng CNTT trong học tập để đạt hiệu quả cao Các nhóm trưởng phát huy khả năng phân công cho các thành viên trong nhóm chuẩn bị các phần nội dung trong bài học, tổ chức trao đổi trước giờ học để chủ động tiếp thu kiến thức mới

6 Kết luận

Việc nghiên cứu kỹ từng tiết giảng, nội dung bài dạy, căn cứ vào đặc điểm của từng học phần của từng chuyên ngành và đối tượng người học để có thể kết hợp các PPDH là nhiệm vụ đặt

ra cho mỗi giáo viên

Đổi mới PPDH là thể hiện sự sáng tạo của mỗi giáo viên, do đó, đổi mới PPDH là một hoạt động mang tính liên tục và sẽ không bao giờ có điểm cuối [3]

Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng GD-ĐT, đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước không chỉ là vấn đề trăn trở của các giáo viên mà còn là

sự cân nhắc kỹ lưỡng trong định hướng chỉ đạo của các cấp quản lý sao cho phù hợp với nước ta, với từng trường và khu vực cụ thể Đổi mới PPDH cần có sự đồng bộ và tương tác giữa người học với người dạy, giữa người dạy với các cấp quản lý

Đồng thời, việc đẩy mạnh NCKH ở cấp Khoa, cấp Trường cũng cần được quan tâm Vì NCKH thể hiện sự gắn kết giữa đào tạo với thực tiễn, tạo điều kiện cho SV được tiếp cận với Khoa học ứng dụng, làm hành trang cho các em tự tin trong quá trình tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp

Ngày đăng: 30/03/2016, 04:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Hình dáng bên ngoài máy ly tâm  lắng chất kết tủa - ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Hình 1. Hình dáng bên ngoài máy ly tâm lắng chất kết tủa (Trang 5)
Hình 3 là kết quả của quá trình lắng tách chất kết tủa. - ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Hình 3 là kết quả của quá trình lắng tách chất kết tủa (Trang 6)
Hình 3. Kết quả lắng chất kết tủa PbCrO 4 - ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Hình 3. Kết quả lắng chất kết tủa PbCrO 4 (Trang 7)
Hình 1: Cấu tạo cơ bản của máy nén khí piston - ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Hình 1 Cấu tạo cơ bản của máy nén khí piston (Trang 22)
Hình 2: Các bộ phận của đầu nén khí và cấu tạo bên trong của 1 đầu nén có 3 piston - ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Hình 2 Các bộ phận của đầu nén khí và cấu tạo bên trong của 1 đầu nén có 3 piston (Trang 23)
Hình 3: Hình ảnh máy nén khí có động cơ nổ và động cơ điện - ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Hình 3 Hình ảnh máy nén khí có động cơ nổ và động cơ điện (Trang 23)
Hình 4: Hình ảnh bình chứa khí và van xả nước - ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Hình 4 Hình ảnh bình chứa khí và van xả nước (Trang 24)
Hình 6: Hình ảnh hiện trường vụ nổ  2.4. Nguyên nhân gây nổ [4]: - ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Hình 6 Hình ảnh hiện trường vụ nổ 2.4. Nguyên nhân gây nổ [4]: (Trang 25)
Bảng 1 –Tổng hợp số lượng tuyển sinh bậc cao đẳng - ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Bảng 1 –Tổng hợp số lượng tuyển sinh bậc cao đẳng (Trang 59)
Bảng 4 –Thống kê thông tin khảo sát thị trường việc làm ngành địa chất - ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH THEO NHU CẦU XÃ HỘI – SỰ CẦN THIẾT LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP
Bảng 4 –Thống kê thông tin khảo sát thị trường việc làm ngành địa chất (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w