9 truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình từ đó làm rõ và bổ sung thêm khung lý thuyết của đề tài về công tác xã hội trong truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, đồng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Quỳnh Nam
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Mai Quỳnh Nam;
Các tài liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, mọi kết quả đều dựa trên quá trình khảo sát và thực địa trên thực tế Các tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Tác giả
Vương Thị Thắm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực không ngừng của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của thầy cô, gia đình, bạn bè cũng như chính quyền địa phương và các cơ quan đoàn thể tại địa bàn nghiên cứu
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Mai Quỳnh Nam đơn vị công tác: Viện Nghiên cứu con người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, định hướng chuyên môn và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể các thầy cô giáo đã giảng dạy trực tiếp, cũng như các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học– Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn đã truyền tải những kiến thức chuyên ngành trong suốt quá trình học tập để tôi có được nền tảng kiến thức vững chắc
Tôi xin cảm ơn chính quyền địa phương, cộng đồng/nhóm và các cá nhân tại thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã quan tâm giúp đỡ và động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành luận văn được tốt hơn
Hà Nội, ngày 2 tháng 12 năm 2015
Học viên
Vương Thị Thắm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 8
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 11
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 12
NỘI DUNG CHÍNH 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14
1.1 Các khái niệm 14
1.1.1 Khái niệm truyền thông 14
1.1.2 Các yếu tố của truyền thông 15
1.1.3 Phân loại truyền thông 17
1.1.4 Khái niệm bạo lực gia đình 20
1.1.5 Khái niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ của Liên Hợp Quốc 21
1.1.6 Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình 21
1.1.7 Công tác xã hội nhóm 22
1.2 Các lý thuyết 24
1.2.1 Lý thuyết truyền thông 24
1.2.2 Lý thuyết giới 26
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
CHƯƠNG 2 TRUYỀN THÔNG VỚI NHÓM PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA NHÓM VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG 30
2.1 Nhu cầu truyền thông của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình 31
2.1.1 Nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình 31
2.1.2 Nhu cầu của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình về thể chất qua hiệu ứng truyền thông nhóm 33
Trang 62.2 Các yếu tố trong truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình 35
2.2.1 Nguồn truyền thông 35
2.2.2 Thông điệp 37
2.2.3 Kênh truyền thông 40
2.2.4 Người nhận 41
2.2.5 Nhiễu 45
2.2.6 Sự phản hồi 46
2.3 Nguyễn nhân dẫn tới bạo lực gia đình đối với phụ nữ 48
2.4 Rào cản tiếp nhận truyền thông đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình 61
2.5 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình 64
2.5.1 Nâng cao năng lực và nhận thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình 64
2.5.2 Người truyền thông 65
2.5.3 Kết nối các nguồn lực trong cộng đồng 69
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG VỚI NHÓM PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI THỊ TRẤN VÂN ĐÌNH - HUYỆN ỨNG HÕA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 71
3.1 Kết hợp truyền thông về phụ nữ bị bạo lực gia đình và truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình 71
3.2 Xây dựng và truyền thông nhóm nâng cao hiệu quả truyền thông 72
3.2.1 Thành lập nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình 72
3.2.2 Nhân viên công tác xã hội thực hiện truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình 75
3.2.3 Nâng cao hiệu quả truyền thông của các phương thức truyền thông 79
3.3 Thành lập nhóm truyền thông trợ giúp đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình 84
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC
Trang 9và trẻ em vốn được coi là yếu thế hơn trong xã hội Bạo lực gia đình hiện đang trở thành vấn nạn không chỉ riêng Việt Nam mà trở thành vấn nạn trên toàn thế giới
Trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và Tuyên bố của Liên hợp
quốc về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ được thông qua ngày 20/12/1993 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã nhấn mạnh: Phụ nữ được quyền thụ hưởng bình đẳng và được bảo vệ tất cả các quyền con người, bao gồm quyền sống, bình đẳng, tự do, an toàn cá nhân, quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật và quyền không bị tra tấn hay đối xử, trừng phạt một cách độc ác, vô nhân đạo Các quốc gia có nghĩa vụ lên án bạo lực đối với phụ nữ và không được viện dẫn bất kỳ tập quán, truyền thống hay lý do tôn giáo nào nhằm từ chối trách nhiệm xóa bỏ bạo lực Các quốc gia phải thực hiện trách nhiệm đầy đủ để phòng ngừa, điều tra và trừng trị các hành vi bạo lực đối với phụ nữ theo pháp luật quốc gia Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc chống lại bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong đó chính chúng ta phải là hạt nhân tích cực đấu tranh đẩy lùi vấn nạn bạo lực gia đình
để bạo lực gia đình không thể xâm phạm đến nhân phẩm, đạo đức, sức khỏe của mỗi con người
Tại Thị trấn Vân Đình những năm qua bạo lực gia đình đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, tăng mạnh về số vụ và làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người dân nơi đây Theo đánh giá của Hội phụ nữ Thị trấn Vân Đình thì bạo lực gia đình gia tăng làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn và để lại hậu quả nghiêm trọng đặc biệt là những vụ bạo lực về thể chất khiến cho người bị bạo lực đa phần là phụ nữ chịu những tổn thương về thể chất, những
Trang 102
vụ việc nghiêm trọng còn đe dọa đến tính mạng và để lại thương tật suốt đời cho người phụ nữ phá vỡ đi những giá trị gia đình Theo thống kê cuối năm 2014 số vụ bạo lực gia đình tại Thị Trấn Vân Đình tăng thêm 9 vụ so với năm 2013 là 22 vụ và theo báo cáo đến tháng 6 năm 2015 thì số vụ bạo lực gia đình trên địa bàn là 25 vụ Điều này một lần nữa chứng minh rằng bạo lực gia đình đang ngày càng gia tăng về
số vụ, mức độ cũng như tính chất nguy hiểm hơn nữa còn làm ảnh hưởng sâu sắc đến nhân phẩm, đạo đức, lối sống và hạnh phúc gia đình, cản trở đến sự phát triển chung của toàn xã hội
Truyền thông là một trong những phương pháp của công tác xã hội Cho dù hình thức tổ chức là gì đi chăng nữa thì truyền thông vẫn là yếu tố then chốt Truyền thông đối với tổ chức như là huyết mạch đối với con người Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình là hoạt động nhằm hướng tới hỗ trợ người phụ nữ đến một cuộc sống tốt đẹp hơn Truyền thông là hoạt động cung cấp những thông tin quan trọng và cần thiết đối với phụ nữ, những dạng bạo lực mà họ sẽ gặp phải, trau dồi kỹ năng sống cần thiết, cách phòng tránh đối với những dạng bạo hành cụ thể, những hiểu biết về các văn bản pháp luật, các chương trình hỗ trợ đối với họ để tăng năng lực sống giúp họ có thể cân bằng tâm lý và có cái nhìn tích cực hơn với cuộc sống
Con đường để đưa thông tin đến với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình chính
là truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình đó Trên thực tế, truyền thông
về phụ nữ bị bạo lực gia đình được thực hiện rộng rãi và nhiều hơn so với truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực Có thể thấy hoạt động này diễn ra xuyên suốt nhưng không mang tính bền vững, những thông tin đưa đến với phụ nữ bị bạo lực gia đình còn hạn chế và bị gián đoạn trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạp chí, báo đài Do vậy, việc thực hiện song song truyền thông về phụ nữ bị bạo lực gia đình và truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình sẽ làm tăng hiệu quả quá trình giảm thiểu bạo lực cũng như xóa bỏ hay tăng năng lực và kiến thức nhất định cho phụ nữ bị bạo lực gia đình
Tuy nhiên, từ trước tới nay công tác truyền thông chủ yếu tiếp cận theo góc
độ Xã hội học và có rất ít những những tác phẩm truyền thông với bạo lực gia đình Trong đề tài của cá nhân Tôi hướng đề tài tiếp cận theo góc độ công tác xã hội đây
Trang 113
là đề tài mới và quan trọng khác với những nghiên cứu xã hội học trước đó Với
những lý do đưa trên, Tôi đã lựa chọn đề tài luận văn với tiêu đề: Truyền thông với
nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình (nghiên cứu trường hợp thị trấn Vân Đình, Huyện Ứng Hòa,Thành phố Hà Nội)
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu quốc tế đã cho thấy bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình
là hệ thống có tình toàn cầu, tác động trong khoảng 20-50% số phụ nữ trên thế giới (WHO,1998)
Bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình đã trở thành một nội dung quan trọng trong tuyên bố hành động của Hội phụ nữ thế giới lần thứ IV tại Bắc Kinh năm
1995 và trong các văn bản của tổ chức Liên Hợp Quốc
Từ ngày 4-6/12/2001, tại Phnôm Pênh-Campuchia đã diễn ra Hội nghị về luật pháp phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở vùng tiểu Mê Kông, Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam Hội nghị đã thống nhất trên một số quan điểm rằng: Bạo lực gia đình không phải là chuyện riêng của gia đình và phụ nữ đang bị coi là phụ thuộc vào nam giới trên phạm vi toàn cầu
Việc nghiên cứu truyền thông trên thế giới hiện nay được các nhà nghiên cứu
về báo chí và quan hệ công chúng đặc biệt quan tâm Có thể kể ra những nghiên cứu liên quan đến truyền thông như công trình nghiên cứu của:
David Croteau, William Hoyneys (2003), Media/ Society: industries, images, and audiences (truyền thông/ xã hội: công nghệ, hình ảnh và công chúng), Pine Forces Press: Cuốn sách đánh giá vai trò xã hội của các phương tiện truyền thông, quá trình phát triển công nghệ truyền thông, ảnh hưởng của kinh tế, chính trị và công chúng đối với các phương tiện thông tin đại chúng, tác động của toàn cầu hóa đến phương tiện truyền thông
Gail Dines and Jean M Humez (2003) Gender, race, and class in media, a text – reader (giới tính, chủng tộc và giai cấp trong truyền thông; cách tiếp cận tin tức theo logic xã hội, Saga Publications, Inc: Các tác giả của cuốn sách mối quan hệ giữa văn hóa, giới tính, chủng tộc, các khía cạnh xã hội, điều kiện xã hội và phương tiện truyền thông; các tầng lớp xã hội được thể hiện trên các phương tiện truyền
Trang 124
thông đại chúng Vấn đề giới tính, chủng tộc và giai cấp được thể hiện đan xen với các vấn đề kinh tế, văn hóa trên các bài báo như vấn đề thể chế bao gồm: Kinh tế, chính trị của các sản phẩm truyền thông, phân tích văn bản và mức độ sử dụng phương tiện truyền thông
Elena Yonah Rosen, Arli Paulin quesada, Sue Lockwood Summer (1998) Changing the word throuh media education (Thay đổi thế giới thông qua giáo dục truyền thông) Fulcrum Publishing Cuốn sách là những bài học chi tiết, phân tích vai trò của thông tin truyền thông trong việc đánh giá những vấn đề xã hội như: Bạo lực, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, sức khỏe và con người
Stanley J Bazan (2006), Introduction to mas communication media literacy and culture (giới thiệu về truyền thông đại chúng: giáo dục truyền thông và văn hóa truyền thông), Mcgraw_Hill Tác giả đề cập đến những kiến thức cơ bản về truyền thông đại chúng, sự hiểu biết về văn hóa truyền thông, các ngành công nghiệp truyền thông đại chúng và khán giả bao gồm: Các phương tiện truyền thông như: Sách, Báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, Internet: Tác giả đề cập văn hóa truyền thông trong kỉ nguyên công nghệ thông tin: Lý thuyết và ảnh hưởng của truyền thông, tôn giáo và đạo đức; truyền thông toàn cầu
Hiện nay, có nhiều nước, đặc biệt là ở Châu Á có những phong tục, văn hóa, tôn giáo tạo điều kiện cho vấn đề bất bình đẳng nam, nữ Cảnh sát chưa có hoạt động tích cực ngăn chặn bạo lực gia đình vì coi đó là chuyện riêng của mỗi gia đình
Trong những năm gần đây bạo lực gia đình đặc biệt là BLGĐ đối với phụ nữ ngày càng được quan tâm nghiên cứu, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và đề tài khoa học nghiên cứu về vấn đề này Ở Việt Nam từ năm 1994 Lê Thị Qúy một trong những chuyên gia nghiên cứu về Giới, Gia đình đã in bài viết đầu tiên về
“Bạo lực gia đình ở Việt Nam” trên Tạp chí khoa học và phụ nữ trong đó xác định 5 nguyên nhân chính của bạo lực gia đình là: Nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân nhận thức, nguyên nhân văn hóa-xã hội, nguyên nhân sức khỏe và nguyên nhân thuộc về phía phụ nữ (Lê Thị Qúy,1994) Tuy nhiên nguyên nhân lớn nhất, sâu sa nhất chính
là bất bình đẳng trong quan hệ giới (Lê Thị Qúy,2002)
Trang 135
Năm 1996, trong tác phẩm “Nỗi đau thời đại” tác giả đã đi sâu phân tích về bạo lực gia đình dưới 2 dạng: “bạo lực không nhìn thấy được” và “bạo lực nhìn thấy được” (hay còn gọi là bạo lực trực tiếp và bạo lực gián tiếp) Với tư cách là một sai lệch chuẩn mực trong xã hội trong gia đình hiện đại, hai dạng bạo lực này, ở nơi này thể hiện trong mối quan hệ khăng khít, ở nơi khác lại được thể hiện trong sự độc lập, tách biệt lẫn nhau Dạng bạo lực không nhìn thấy được xuất phát từ sự phân công lao đông bất hợp lý giữa nam và nữ trong gia đình núp dưới khái niệm “thiên chức”, “hy sinh” của phụ nữ (Lê Thị Qúy,1996)
Công trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” của Vũ Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh năm 1999 đã tiến hành ở 3 thành phố Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh Các tác giả đã đi sâu xem xét “Thái độ của cộng đồng và các thể chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới cũng như các phản ứng của cá nhân, luật pháp
và các thể chế với nạn bạo lực trong gia đình” (Vũ Mạnh Lợi và cộng sự,1999)
Ngoài ra chúng ta có thể kể đến công trình nghiên cứu của Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam tập trung nghiên cứu xoay quanh việc tìm hiểu về Thực trang-diễn tiến-nguyên nhân đối với bạo lực gia đình ở Việt Nam, nghiên cứu của Lê Thi trong việc thực thi công bằng Dân Chủ và bình đẳng nam nữ ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam nghiên cứu về bạo lực gia đình đối với phụ nữ muộn hơn so với các nước trên thế giới Vì vậy cần có các biện pháp can thiệp đặc biệt là kết hợp truyền thông nâng cao hiệu quả phòng tránh bạo lực đối với phụ nữ Một số công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề này như:
Tài liệu: Truyền thông có nhạy cảm giới của tác giả Trịnh Bích Liên do tổ chức OXFAM tài liệu và CSAGA phát hành tháng 6 năm 2011 đặt ra câu hỏi người làm truyền thông có thể làm gì trước vấn đề bạo lực gia đình từ đó trang bị kiến thức, kỹ năng truyền thông về nhạy cảm giới có liên quan đến bạo lực gia đình có thể tạo nên những khác biệt, quan trọng trong việc giúp đỡ cộng đồng nhận thức đúng đắn về bạo lực gia đình và khuyến khích công chúng tích cực chống lại vấn nạn này
Trang 146
Các nhà khoa học đã có nhiều nghiên cứu về truyền thông Mỗi hướng nghiên cứu về truyền thông sẽ có những nghiên cứu khác nhau về truyền thông Xét riêng trong ngành báo chí, xã hội học một số nghiên cứu có thể kể đến đó là:
Nhà nghiên cứu Tạ Ngọc Tấn cũng có những giới thiệu về các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại, các nguyên tắc, phương pháp nhằm quản lý, điều hành, phát huy vai trò sức mạnh của các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng qua quyển Truyền thông đại chúng, được xuất bản lần đầu vào năm 2001 và tái bản vào năm 2004 Bên cạnh đó, một số tác phẩm của các tác giả nước ngoài liên quan đến truyền thông đại chúng cũng đã được dịch và in sách tại Việt Nam như Sức mạnh của tin tức truyền thông của Michael Schudson 1995; Bùng nổ truyền thông, sự ra đời một
ý thức hệ mới của Philippe Breton, Serge Proulx, 1996…
Cuốn truyền thông-lý thuyết và kỹ năng cơ bản do tác giả Nguyễn Văn Dững chủ biên được NXB Chính trị quốc gia- sự thật xuất bản năm 2006 Cuốn sách cung cấp những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản nói chung, truyền thông- vận động xã hội và truyền thông đại chúng nói riêng; cũng như cung cấp một
số nội dung, khái niệm, kỹ năng, tình huống, cơ chế, chức năng… của một số loại hoạt động truyền thông; chu trình, việc lập kế hoạch truyền thông, giám sát, đánh giá, phương pháp sử dụng trong giám sát, đánh giá và các hoạt động được duy trì hoạt động truyền thông Qua cuốn sách, người đọc sẽ thấy hoạt động truyền thông bao gồm nhiều cấp độ, từ truyền thông nội cá nhân đến việc giao tiếp liên cá nhân Nhưng dù ở cấp độ nào thì truyền thông cũng góp phần quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách cá nhân cũng như hình thành diện mạo văn hóa của mỗi con người và của cộng đồng, của quốc gia vì những tác động, và sức lan tỏa, sức truyền dẫn của nó tới công chúng
Tác phẩm nghiên cứu có tính hệ thống về xã hội học truyền thông của nhà nghiên cứu Trần Hữu Quang: Chân dung công chúng truyền thông (qua khảo sát xã hội học tại TPHCM), 2001; Xã hội học báo chí, 2006…Để viết cuốn Chân dung công chúng truyền thông, tác giả đã tiến hành phỏng vấn, điều tra, khảo sát sự tiếp cận và tiếp nhận của công chúng đối với các phương tiện truyền hình, phát thanh và báo viết tại bốn quận, huyện điển hình ở TP HCM Nhờ có số liệu khảo sát này mà
Trang 157
cuốn sách đã làm nổi bật lên ý tưởng về truyền thông và phát triển Cuốn sách cũng lưu ý một cách thẳng thắn đến tính gay gắt và cấp bách của việc tiếp tục nâng cao dân trí, tạo điều kiện cho phong cách tiếp cận và tiếp nhận tích cực thông tin đại chúng có thể đến được nhiều hơn với các nhóm xã hội bị thua thiệt về học vấn, vị trí
xã hội
Những bài viết của Mai Quỳnh Nam đăng trên Tạp chí Xã hội học đã đưa ra
cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu truyền thông đại chúng và dư luận xã hội
Trên Tạp chí Xã hội học số 1-1996 trong bài “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội Tác giả cho rằng sự tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng với các nhóm công chúng rất khác nhau do những khác biệt về địa vị xã hội
về quyền lợi giai cấp, về các nhân tố tâm lý và về cường độ giao tiếp đối với phương tiện truyền thông Mối quan hệ giữa báo chí và công chúng trong quá trình hình thành và thể hiện dư luận xã hội có tính chất biện chứng Một mặt các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của công chúng mặt khác bản thân công chúng lại đặt ra các yêu cầu mới đối với hoạt động của hệ thống báo chí
Bài viết “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” trên Tạp chí Xã hội học
số 1-1996, Mai Quỳnh Nam cho rằng các phương tiện truyền thông đại chúng hướng đến việc hình thành dư luận xã hội, đồng thời hệ thống này cũng là kênh thể hiện dư luận xã hội “Tác động của truyền thông đại chúng với dư luận xã hội rất toàn diện, hệ thống ấy không chỉ tỏ rõ vai trò trong các đợt vận động chính trị…mà còn đi sâu vào những hiện tượng thường ngày nhất là các hiện tượng cấp bách có tính đột xuất”
Bài viết “ Về đặc điểm và tính chất giao tiếp đại chúng” trên Tạp chí Xã hội học số 2-2000, Mai Quỳnh Nam đã phân tích mối quan hệ giữa giao tiếp cá nhân, giao tiếp đại chúng và hệ thống truyền thông đại chúng Trên cơ sở phân tích mối quan hệ này, tác giả đã chỉ ra những tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động báo chí Thứ hai là sự tác động từ công chúng báo chí Thực tế cho thấy rằng, trong
Trang 16Những nghiên cứu về truyền thông cũng như truyền thông với bạo lực gia đình của các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước cho chúng ta thấy truyền thông không chỉ nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu mà còn nhận được
sự quan tâm rộng rãi của công chúng Hoạt động truyền thông như thế nào để đem lại hiệu quả và gắn truyền thông với nhóm đối tượng cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu truyền và tiếp nhận thông tin trong truyền thông Những nghiên cứu này không chỉ góp phần tạo cơ sở nền tảng kiến thức cho công trình nghiên cứu của tác giả nghiên cứu mà còn giúp tác giả xây dựng hoạt động truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình một cách phù hợp và đem lại hiệu quả, tính khả thi cao
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Bước đầu nhận định vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ truyền thông đối với nhóm phụ nữ bị bạo hành gia đình
Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận của CTXH khi ứng dụng vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể là truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình
Nghiên cứu vận dụng những kiến thức của CTXH của truyền thông như hệ thống các lý thuyết, các phương pháp, kỹ năng, mô hình để tìm hiểu, nghiên cứu một nhóm đối tượng cụ thể Từ đó, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của kỹ năng truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình trong công tác xã hội
Nghiên cứu sử dụng các lý thuyết liên quan đến truyền thông và truyền thông đại chúng để tìm hiểu và phân tích ảnh hưởng cá nhân của phụ nữ bị bạo lực gia đình trong việc tìm kiếm, tiếp cận thông tin; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
Trang 179
truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình từ đó làm rõ và bổ sung thêm khung lý thuyết của đề tài về công tác xã hội trong truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, đồng thời vận dụng các phương pháp và kỹ năng can thiệp trong công tác xã hội được ứng dụng trong quá trình nghiên cứu, củng cố sâu sắc hơn những hiểu biết về các lý thuyết và phương pháp và kỹ năng công tác xã hội đã được học và thực hành
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu đưa ra thực trạng và nguyên nhân của việc nhóm phụ nữ bị bạo hành gia đình tiếp cận chưa đầy đủ hoạt động truyền thông tại thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa,TP Hà Nội
Đưa ra những hiệu ứng, cách thức và hoạt động truyền thông tác động đến nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình
Truyền thông công tác xã hội nhằm thay đổi hành vi và nâng cao năng lực nhận thức cho nhóm phụ nữ bị bạo lực
Kết quả nghiên cứu nhằm xây dựng hoạt động trợ giúp của NVCTXH vì cộng đồng (hoạt động của nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp tại cộng đồng) và hoạt động dựa trên sự trợ giúp, hướng dẫn và tuyên truyền nhằm giải quyết triệt để cũng như đưa truyền thông đến gần hơn nhóm đối tượng là phụ nữ bị bạo lực gia đình
Kết quả góp phần giúp cho Hội phụ nữ Thị Trấn Vân Đình cũng như các cán
bộ phụ trách mảng thông tin-truyền thông và các nhà chuyên môn xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chương trình hoạt động có hiệu quả với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình Đối với bản thân tôi, thông qua nghiên cứu tôi nhận thức sâu hơn về tầm quan trọng của truyền thông đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình cần đi từ nhận thức cảm tính, xây dựng thông điệp gần gũi với những kiến thức bổ ích, tích cực hướng đến tác động bền vững, lâu dài và có hiệu quả
Hơn nữa thông qua nghiên cứu, tác giả mong muốn góp một phần sức nhỏ bé trong việc đưa nghiên cứu trở thành tài liệu tham khảo giúp ích cho việc học tập và nghiên cứu của sinh viên ngành công tác xã hội các khóa sau
Trang 184.2 Nhiệm vụ
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu khái quát các vấn đề lý luận liên quan đến
truyền thông Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong truyền thông đối với nhóm phụ nữ bị bạo lưc gia đình
- Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu chỉ ra những thực trạng truyền thông với phụ
nữ bị bạo lực gia đình tại thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội, từ đó đề xuất một giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình tại thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội
5 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Trang 1911
5.3 Phạm vi
Giới hạn về thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ tháng 11/2014 đến tháng
7/2015
Giới hạn về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trong phạm
vi thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội
Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu về truyền thông
với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình thông qua nghiên cứu truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực về thể chất tại thị trấn Vân Đình, Huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội
6 Câu hỏi nghiên cứu
Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình được thực hiện như thế nào? Truyền thông có đáp ứng được nhu cầu truyền cho nhóm phụ nữ bị bạo lực thông thông qua các hình thức truyền thông không?
Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình có vai trò như thế nào trong việc nâng cao năng lực cho phụ nữ bị bạo lực gia đình?
Nhân viên công tác xã hội đóng vai trò như thế nào trong truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình được thực hiện trên các phương tiện truyền thông
- Truyền thông đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin cho nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình
- Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình là một trong những phương pháp đem lại hiệu quả cao, tác động trực tiếp đến nhận thức của phụ nữ về vấn đề mà mình đang gặp phải đặc biệt là nhóm phụ nữ bị bạo lực về thể chất
- NVCTXH là cầu nối đưa truyền thông đến với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình cung cấp những chính sách, hệ thống pháp lý và trang bị kỹ năng cần thiết những kiến thức cho nhóm phụ nữ, truyền thông mang lại hiệu quả mong đợi đảm bảo hoạt động hướng đến một xã hội ổn định- văn minh
Trang 2012
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp phân tích tài liệu liên quan đến đề tài
Dựa trên những tài liệu thu thập được tiến hành thu thập thông tin, phân tích,
hệ thống hóa các căn cứ liên quan đến đề tài nghiên cứu
Thu thập những thông tin liên quan đến đối tượng là phụ nữ bị bạo lực gia đình qua các mối thu thập như dữ liệu, thông tin liên quan (người dân, họ hàng của đối tượng nghiên cứu), các văn bản, đơn thư lưu trữ cấp xã- huyện, thông tin từ cán
TP Hà Nội (số mẫu phát ra là 25 phiếu và chọn lọc 19 mẫu nhóm phụ nữ bị bạo lực thể chất)
19 phụ nữ bị bạo lực thân thể tham gia thảo luận nhóm được chia làm 2 nhóm gồm 1 nhóm 9 người và 1 nhóm 10 người, thảo luận chia làm 2 đợt cụ thể kèm (ngày-tháng)
Việc thực hiện chia nhóm thảo luận giúp cho người thực hiện thảo luận nhóm
có thể thu thập được thông tin chính xác không bị lộn xộn, chồng chéo hay loãng thông tin, quên thông tin do tiếp xúc và thảo luận nhóm quá đông hơn nữa còn có thể kết hợp thu thập thông tin, phỏng vấn sâu qua bảng hỏi cá nhân của từng đối tượng tham gia thảo luận
Những phụ nữ bị bạo lực gia đình tại đây cụ thể là bị bạo lực thân thể, họ là những người chịu những tổn thương về mặt thể chất, sức khỏe và bị đe dọa đến tính mạng và tổn thương nặng nề về tinh thần Qua thảo luận nhóm giúp cho truyền thông đến được với nhóm phụ nữ bị bạo lực, họ giúp tôi cần cân nhắc và làm như thế nào để truyền thông đem lại hiệu quả, cần thực hiện truyền thông như thế nào? ảnh hưởng của truyền thông tới nhóm đối tượng này ra sao?
Trang 2113
8.3 Phỏng vấn sâu cá nhân
Thực hiện 07 cuộc phỏng vấn sâu với cá nhân nhằm thu thập được thông tin
về hoạt động truyền thông tại địa bàn nghiên cứu và hiệu quả của hoạt động truyền thông tác động đến nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình như thế nào?
- 01 Đại diện UBND thị trấn Vân Đình (Phó chủ tịch UBND)
- 01 Đại diện Cán bộ phụ trách mảng thông tin-truyền thông
- 01 Đại diện hội phụ nữ thị trấn Vân Đình
- 01 Đại diện cán bộ Văn hóa- xã hội
- 01 Đại diện cán bộ công an phụ trách an ninh-trật tự
- 02 Đại diện phụ nữ bị bạo lực gia đình
Trang 2214
NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm truyền thông
Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên (máy móc, sinh vật hoặc các bộ phận của chúng)
Truyền thông đòi hỏi phải có một người gửi, một tin nhắn, một phương tiện truyển tải và người nhận, mặc dù người nhận không cần phải có mặt hoặc nhận thức
về ý định của người gửi để giao tiếp tại thời điểm việc truyền thông này diễn ra; do
đó thông tin liên lạc có thể xảy ra trên những khoảng cách lớn trong thời gian và không gian Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻ một khu vực dành riêng cho thông tin được truyền tải Quá trình giao tiếp được hoàn thành khi người nhận hiểu thông điệp của người gửi (Nguồn: Từ điển bách khoa toàn thư)
Khi đặt truyền thông vào trong quá trình truyền đạt thông tin giữa bên cho và bên nhận, khái niệm truyền thông đã được xem xét ở ý nghĩa rất rộng của nó Khái niệm
“truyền thông”, tương ứng với thuật ngữ “communication” trong tiếng Anh hoặc tiếng
Pháp, là một dạng hoạt động căn bản của bất cứ một xã hội nào mang tính xã hội (Trần Hữu Quang(chủ biên), 2001) Truyền thông thường được xem xét như một quá trình truyền đạt thông tin được thực hiện qua ngôn ngữ hoặc các cử chỉ, điệu bộ hoặc các hành
vi biểu lộ cảm xúc, vì thế mà một số nhà nghiên cứu đã phân biệt truyền thông với hai
loại hình là truyền thông bằng ngôn từ (verbal) và truyền thông không bằng ngôn từ (non-verbal)
Theo tác giả Mai Quỳnh Nam với cách hiểu chung nhất: Truyền thông là hoạt động được xác định là truyền tải và chia sẻ thông tin Qúa trình này diễn ra liên tục trong
đó có tri thức, tình cảm, kỹ năng liên kết với nhau, đây là quá trình phức tạp, qua nhiều mắt khâu Các mắt khâu ấy chuyển đổi tương đối linh hoạt để hướng tới sự thay đổi nhận
Trang 2315
thức và hành vi của các cá nhân và các nhóm Qúa trình đó dẫn đến việc hình thành một
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm….chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa 2 hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến đến điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội.[2,tr14-15]
Xem truyền thông gắn liền với sự ý thức của con người, Nguyễn Thị Oanh trong cuốn “Tâm lý truyền thông và giao tiếp” đã đề cập tới “Truyền thông không phải là một hành động đơn giản , riêng lẻ…Đây là một sự việc diễn ra liên tục trong cuộc sống của mỗi chúng ta Chúng ta luôn tiếp nhận những kích thích từ bên ngoài (âm thanh, sắc màu, mùi, cảm giác từ sự tiếp xúc với vật thể…) và luôn luôn tự lý giải những kích thích ấy” [15,tr32]
1.1.2 Các yếu tố của truyền thông
Có rất nhiều cách phân loại khác nhau nhưng tựu chung lại, các yếu tố trong truyền thông bao gồm: Nguồn/ người phát, người nhận, thông điệp, kênh truyền thông, nhiễu, sự phản hổi.(Nguồn: Mô hình truyền thông của Claude Shannon)
Nguồn cung cấp thông tin là một cá nhân nhưng cũng có thể là một sự kiện tác động Trong trao đổi giữa 2 người mỗi bên vừa là nguồn phát vừa là người nhận tin
Người nhận có sự quan tâm, hiểu được giá trị của thông điệp, vượt qua rào cản tâm lý, mong muốn giải quyết vấn đề, có thông tin phản hồi chính xác, thể hiện mong đợi tiếp nhận thông tin, có điều kiện tiếp nhận thông tin Tùy theo trình độ mà thông tin truyền tải được tiếp nhận theo những cách khác nhau, cấp độ khác nhau Người nhận là đối tượng chính, là người được cung cấp thông tin
Thông điệp (nội dung thông tin) là yếu tố quan trọng trong quá trình truyền thông Thông điệp gồm 2 loại là thông điệp muốn truyền đạt và thông điệp nhận được Thông điệp muốn truyền đạt chính là những ý tưởng, cảm xúc mà người phát muốn cho người nhận biết và hiểu chính xác Tùy hoàn cảnh, khả năng, trình độ, khả năng truyền đạt của từng người rất khác nhau Thông điệp nhận được là điều
mà người nhận nghe, thấy, sờ, ngửi hay nếm và giải mã Do sự khác biệt về nhân cách, khả năng, kinh nghiệm, trình độ của người phát và người nhận, sự khác biệt
Trang 2416
giữa thông điệp muốn phát ra và thông điệp nhận được mà thông điệp nhận được và thông điệp muốn truyền đạt có sự khác nhau Thông điệp được truyền di động qua ngôn từ, chữ viết, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười, đồ vật, cách sử dụng không gian và thời gian Thông điệp không thể không có thông tin
Thông điệp và thông tin trong truyền thông luôn đi kèm với nhau Nếu như thông điệp là cái bản chất thì thông tin là vỏ bao bọc bản chất đó Thông tin càng cụ thể, chi tiết thông điệp có được càng dễ hiểu Thông tin là kiến thức, kiến thức là quyền lực, trao đổi kiến thức, quá trình tạo quyền (nâng cao vị trí)
Kênh truyền thông là các phương tiện, con đường cách thức truyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Các kênh này hình thành bằng những phương tiện kỹ thuật Việc sử dụng các phương thức kỹ thuật để truyền bá thông tin
đã chuyển giao tiếp của con người thành giao tiếp đại chúng
Nhiễu là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật…) dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin bị sai lệch Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen vào nhau Về mặt thời gian, nguồn phát thực hiện hành vi khởi phát quá trình truyền thông trước
Sự phản hồi trong quá trình truyền thông, người nhận luôn có sự đáp ứng lại với nguồn phát Trong lĩnh vực thông tin, sự phân chia giữa người truyền tin và người nhận là rất tương đối và thường diễn ra đồng thời Phản hồi là dòng chảy của thông tin từ nguồn đến, nơi nhận và ngược lại Dòng phản hồi chỉ hình thành khi người nhận giải mã được thông tin và người cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu thông tin của người nhận Phản hồi là yếu tố quan trọng nhất của quá trình truyền thông đây là một chu trình khép kín và được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Quá trình truyền thông giữa con người bao giờ cũng diễn ra trong môi trường xã hội Do đó, liên kết xã hội là nhân tố quan trọng để thu hút các cá nhân
và các nhóm xã hội vào dòng thông tin Thông tin được chia thành 3 loại: Rất quan trọng- có thể cần thiết- không cần thiết Ba loại thông tin này quy định nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng trên ba cấp độ : Rất quan tâm- có quan tâm- không quan tâm
Trang 2517
Trong hoạt động truyền thông có thể xảy ra hiện tượng không có phản hồi Nghĩa là các thông tin phát ra không tạo nên sự quan tâm của công chúng Vì vậy thang đo của sự phản hồi là một chỉ báo cho thấy hiệu quả của hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội
1.1.3 Phân loại truyền thông
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại khách nhau cho truyền thông [2,tr16]
Căn cứ vào tính chủ đích trong truyền thông có thể phân chia thành truyền thông kinh nghiệm, truyền thông không chủ đích và truyền thông có chủ đích
Truyền thông kinh nghiệm là hoạt động truyền thông được thực hiện như là những kinh nghiệm, hoặc kết quả của những kinh nghiệm được hình thành trong quá trình sống của cá nhân, nhóm, cộng đồng Hoạt động giao tiếp thông thường nhằm thỏa mãn những yêu cầu tối thiểu trong cuộc sống của cá nhân trong gia đình, cộng đồng đòi hỏi rất nhiều các hình thức truyền thông kinh nghiệm Với loại truyền thông này, quá trình đào tạo nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng truyền thông chưa được đề cập tới
Truyền thông có chủ đích: là loại hoạt động truyền thông có mục đích, được xác định rõ ràng với các kế hoạch, quá trình truyền thông Truyền thông có chủ đích bao giờ cũng xuất phát từ mục đích của những người tham gia vào hoạt động truyền thông Các hoạt động truyền thông, được thực hiện bởi các nhà truyền thông chuyên nghiệp luôn là hoạt động truyền thông có chủ đích Tính chủ đích thực hiện cao ở các chương trình, dự án, chiến dịch truyền thông với những chiến lược và mục tiêu thống nhất cho nhiều hoạt động truyền thông có tổ chức trong các thời điểm khác nhau hoặc cùng thời điểm nhằm đạt được sự tác động mạnh mẽ hơn từ các nhà truyền thông
Truyền thông không chủ đích: là hoạt động truyền thông không có mục đích
cụ thể, hoặc tạo ra kết quả ngoài mục đích của những người tham gia truyền thông Loại truyền thông này chủ yếu là hoạt động giao tiếp hàng ngày ngẫu nhiên của con người hoặc các nhóm bạn bè Nhìn chung truyền thông không chủ đích là loại truyền thông không xảy ra đối với các nhà truyền thông chuyên nghiệp
Trang 2618
- Căn cứ các phương thức tiến hành truyền thông có truyền thông trực tiếp
1-1 và truyền thông gián tiếp
Truyền thông trực tiếp 1-1: là hoạt động truyền thông trong đó có sự tiếp xúc trực tiếp mặt đối mặt giữa những người tham gia truyền thông Truyền thông trực tiếp 1-1 có thể là truyền thông cá nhân (2 người truyền thông trong bối cảnh gặp gỡ trực tiếp), truyền thông 1-1 nhóm (ví dụ thầy giáo giảng bài trong một lớp học), truyền thông trong nhóm (ví dụ thảo luận nhóm nhỏ trong 1 hội thảo)…Một số loại hình truyền thông biểu diễn hay sân khấu với khán giả trực tiếp hoặc diễn thuyết trước đám đông cũng thuộc nhóm truyền thông trực tiếp 1-1
Truyền thông gián tiếp: là hoạt động truyền thông trong đó những người tham gia không tiếp xúc trực tiếp đối tượng tiếp nhận mà thực hiện quá trình truyền thông nhờ sự hỗ trợ của người khác (mang tính chất trung gian) hoặc các phương tiện truyền thông khác, tức là dùng phương tiện kỹ thuật (hoặc con người) làm lực lượng trung gian truyền dẫn Ví dụ truyền thông nhờ sự hỗ trợ của bưu điện (gửi thư hoặc nói chuyện qua điện thoại ) nhờ sự hỗ trợ của internet (chat, chat voice, webcam, email, forum…) truyền thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo đài, tạp chí, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, các website…
- Căn cứ vào phạm vi tham gia và chịu ảnh hưởng của truyền thông có thể phân chia thành truyền thông trực tiếp 1-1, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng
Truyền thông trực tiếp 1-1: là một loại hoạt động truyền thông trong đó các
cá nhân tham gia tổ chức, thực hiện việc trao đổi, thông tin, suy nghĩ, tình cảm tạo
ra sự hiểu biết về những ảnh hưởng lẫn nhau về nhận thức, thái độ, hành vi
Dấu hiệu để nhận biết truyền thông trực tiếp 1-1 với các loại truyền thông có tiếp xúc mặt đối mặt là tính chất cá nhân (thể hiện trong mục tiêu, phương thức thực hiện…) trong việc tham gia và chịu ảnh hưởng của truyền thông
Truyền thông trực tiếp bao gồm cả truyền thông 1-1 và truyền thông gián tiếp (ví dụ gửi thư, hoặc điện thoại cho 1 người ở xa là truyền thông trực tiếp 1-1 nhưng là truyền thông gián tiếp)
Truyền thông nhóm: là hoạt động truyền thông được thực hiện và tạo ảnh hưởng trong phạm vi từng nhóm hoặc các nhóm xã hội cụ thể Thông thường truyền
Trang 27“nhóm lớn”, “nhóm nhỏ” Nhìn chung phạm vi nhóm nhỏ được sử dụng nhiều hơn trong các kỹ năng truyền thông 1-1 nhóm
Truyền thông nhóm: là loại hoạt động truyền thông, trong đó sự chia sẻ thông tin, suy nghĩ, tình cảm được thực hiện bởi các cá nhân trong nhóm được xác định Môi trường và phạm vi của truyền thông nhóm thuộc vào phạm vi, tính chất, đăc biệt là quy tắc, mục tiêu và trình độ phát triển của nhóm trong mối quan hệ với các thông điệp của quá trình truyền thông
Truyền thông đại chúng: là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi được thực hiện thông qua các phương tiện kỹ thuật và công nghệ truyền thông Một số loại hình truyền thông đại chúng tiêu biểu là: Sách, báo in và các ấn phẩm in ấn, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, quảng cáo, internet, băng, đĩa hình và âm thanh
- Căn cứ vào tính phổ biến của loại hình truyền thông có thể chia thành 3 loại: Thông tin- giáo dục- truyền thông, tuyên truyền vận động, truyền thông thay đổi hành vi
Thông tin-giáo dục-truyền thông là loại hình truyền thông có chủ đích sử dụng phối hợp 3 dạng truyền thông ứng với 3 mục đích thông tin (cung cấp những thông tin cơ bản, bao gồm các kiến thức nền và các kỹ năng cần thiết nhất, những thông tin cập nhật…về vấn đề của truyền thông), giáo dục (không chỉ hướng vào các đối tượng đang cần những thông tin này mà cả những người cần đến trong tương lai, nhằm tạo lên sự thông hiểu) và truyền thông (chia sẻ, trao đổi thông tin, kiến thức nhằm thúc đẩy những thay đổi trong thái độ và hành vi)
Tuyên truyền vân động: là sự hỗ trợ tích cực một vấn đề, một sự nghiệp và
cố gắng làm cho những người khác cùng ủng hộ vấn đề, sự nghiệp đó Đó cũng là nhóm các hoạt động truyền thông mà người làm truyền thông lên tiếng, làm mọi người chú ý một vấn đề quan trọng và hướng những người có quyền ra quyết định
Trang 2820
vào 1 giải pháp hợp lý Chính vì vậy, người ta cũng có thể gọi loại hình truyền thông có chủ đích này với một tên gọi khác là vận động gây ảnh hưởng Trong loại hình này, tính chất thuyết phục được thể hiện rõ nhất và sử dụng hình thức chiến dịch nhiều hơn
Truyền thông thay đổi hành vi: là hoạt động có mục đích, có kế hoạch nhằm tác động vào tình cảm, lý trí của các nhóm đối tương, từ đó nâng cao nhận thức, kỹ năng, hình thức thái độ tích cực, làm cho đối tượng chấp nhận và duy trì hành vi mới có lợi cho các vấn đề truyền thông
1.1.4 Khái niệm bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình là thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi bạo lực giữa các thành viên trong cùng một gia đình Hành vi bạo lực thường thấy nhất là giữa vợ và chồng nhưng bạo lực giữa cha mẹ với con cái hay ông bà, anh em ruột với nhau hoặc giữa
mẹ chồng và con dâu cũng có xảy ra và được xếp vào nhóm các hành vi này Nạn nhân của bạo lực thân thể thường là phụ nữ- vợ hoặc mẹ của đối tượng, với nam giới họ là nạn nhân của bạo lực tinh thần nhiều hơn Bạo lực gia đình xảy ra ở mọi quốc gia, nền văn hóa, tôn giáo không ngoại lệ giàu nghèo và trình độ học vấn cao
hay thấp (Nguồn: Tài liệu tập huấn về giới-bạo lực gia đình và truyền thông phòng chống bạo lực gia đình,2007 và Luật phòng chống bạo lực gia đình, 2007)
Có thể nhìn nhận bạo lực gia đình ở các dạng bạo lực sau:
Bạo lực thân thể: Là những hành vi ngược đãi, đánh đập hoặc sỉ nhục của
một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khoẻ, tâm thần, tính mạng của một hay nhiều thành viên khác
Bạo lực lao động hoặc kinh tế: Là việc dùng sức mạnh để đe doạ, áp đặt hoặc
lừa mị nhằm bóc lột lao động, chiếm giữ và kiểm soát tài chính của một hoặc một nhóm người đối với một hoặc một nhóm người khác trong gia đình Dạng BL này đưa đến sự phân công lao động và hưởng thụ bất hợp lý giữa các thành viên trong gia đình
Bạo lực tâm lý (BL tinh thần) : Là những lời nói, thái độ, hành vi ngược đãi
hoặc sỉ nhục của một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khoẻ, tâm thần của một hay nhiều thành viên khác BL tâm lý cũng còn
Trang 2921
là sự áp đặt, chỉ đạo hoặc xâm phạm tới nguyện vọng, ý thích, thị hiếu riêng của mỗi người Ngăn không cho tiếp xúc với gia đình, bạn bè, kinh tế nhằm hạn chế các hoạt động mang tính cộng đồng
Bạo lực tình dục: Là những hành vi cưỡng ép hoặc dùng BL để thoả mãn
tình dục của một người hoặc một nhóm người khác Hành vi này có thể diễn ra một lần hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần và diễn ra cả trong quan hệ vợ chồng hoặc bạn tình,
BL tình dục còn bao hàm cả việc cưỡng ép vợ sinh nhiều con hoặc đẻ con trai…
1.1.5 Khái niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ của Liên Hợp Quốc
“Bất kỳ một hành động dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn thất về thân thể, về tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ , bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do (của phụ nữ) bất kể trong đời sống riêng tư hay
bên ngoài cộng đồng” (Nguồn: Khái niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ của đại hội
đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1993)
1.1.6 Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình
Hiện nay, thuật ngữ “Truyền thông về phụ nữ bị bạo lực gia đình” và “truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình” chưa có khái niệm hoàn chỉnh Tuy nhiên thuật ngữ truyền thông về phụ nữ bị bạo lực gia đình đang được đề cập và sử dụng trên rất nhiều diễn đàn, giấy báo, báo in, trang điện tử hơn là thuật ngữ
“Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình” Vì vậy trong nghiên cứu này tôi đưa ra cách tiếp cận và hiểu của bản thân về thuật ngữ “Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình”
Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình là quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…chia sẻ các kỹ năng và kinh nghiệm giữa nguồn truyền với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình thông qua các kênh truyền thông nhằm tăng cường
sự hiểu biết, thay đổi nhận thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, tiến tới điều chỉnh hành và tăng năng lực cũng như hoạt động tự bảo vệ cho đối tượng và cho cộng đồng
Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình ta ra sự khác biệt với truyền thông về phụ nữ bị bạo lực gia đình Bạo lực gia đình đối với phụ nữ có rất
Trang 3022
nhiều dạng khác nhau, việc truyền thông nhóm tạo ra sự khác biệt rõ dệt đó là tập trung vào nhóm đối tượng cụ thể hướng hoạt động trợ giúp không chỉ với cá nhân đối tượng mà còn cả gia đình, người thân và người hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình Nếu truyền thông về nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình thì sẽ đưa ra cách nhìn nhận và hướng truyền thông mang tính chung, trừu tượng chưa tập trung đi sâu vào đối tượng/nhóm cụ thể còn truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình thì hướng đến nhóm có vấn đề cụ thể cần nhận được hoạt động trợ giúp, truyền thông đặc thù, có những cách nhìn nhận và đánh giá bao quát và sâu xát hơn cả giúp cho nhóm phụ nữ nhận thức được giá trị của bản thân, kiến thức phù hợp cho cuộc sống hiện tại của đối tượng và đưa ra những giải pháp nhằm tăng năng lực, giảm thiểu hay xóa bỏ bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Thêm vào đó, truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình mang tới thông tin một cách chính xác về nhóm đối tượng tiếp nhận thông tin Nếu chúng ta đưa truyền thông đến với phụ nữ bị bạo lực gia đình mà không nắm bắt được họ bị bạo lực bằng cách thức nào? Truyền thông như thế nào và những nội dung gì là phù hợp và hiệu quả thì coi như hoạt động truyền thông đó thất bại với cá nhân tiếp nhận truyền thông
Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Nó nhấn mạnh tới cung cấp thông tin, đáp ứng thông tin theo nhu cầu của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình để từ đó hỗ trợ những mạng lưới uy tín, trang bị những kỹ năng cần thiết và nâng cao năng lực sống cho nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình
1.1.7 Công tác xã hội nhóm
Toseland và Rivas định nghĩa hoạt động nhóm như sau:
“Hoạt động định hướng mục tiêu với nhóm nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu về tình cảm xã hội và thực hiện nghĩa vụ xã hội Hoạt động này hướng tới từng cá nhân của nhóm và cả nhóm nội dung trong một hệ thống trao đổi các dịch vụ”
Theo định nghĩa này, hoạt động nhóm là một hoạt động định hướng mục tiêu, gắn với hoạt động được tiến hành có thứ tự, có kế hoạch của nhân viên trong khi làm việc với những người khác Ví dụ: thành viên trong nhóm có thể thu hút
Trang 3123
những thành viên tiềm năng đào tạo họ, giúp đỡ họ giao tiếp và phát triển khả năng của mình, các thành viên đó cũng có thể giúp đỡ các thành viên khác của nhóm phát triển kỹ năng lãnh đạo để họ có thể đảm nhận những trọng trách lớn lao vì sự phát triển chung của nhóm Đồng thời, các thành viên nên tạo điều kiện để nhóm của mình có thể hoạt động được ở những môi trường xã hội khác Nhằm mục đích giúp các thành viên có thể chủ động trong mọi hoàn cảnh và thích nghi với các tổ chức
có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ
Áp dụng công tác xã hội nhóm vào tiến trình truyền thông đối với nhóm phụ
nữ bị bạo lực gia đình là cách mà NVXH tác động trực tiếp với nhóm bằng những hình thức truyền thông nhằm đem lại hiệu quả cũng như hoạt động cho nhóm, giúp cho nhóm định hướng được hoạt động và việc làm tiếp theo, hơn thế truyền thông thông qua nhóm giúp cho nhóm phụ nữ bị bạo lực tiếp cận được gần hơn với các phương tiện hỗ trợ, chính sách, chương trình và nâng cao năng lực cho nhóm đối tượng này
NVXH sử dụng những kiến thức, hiểu biết về tổ chức và chức năng nhóm của mình nhằm tác động lên hoạt động và điều chỉnh các cá nhân Mỗi thành viên duy trì tập trung mối quan tâm của cả nhóm như một phương tiện phát triển Tăng cường chức năng xã hội bằng cách sử dụng hình thức nhóm công tác là mục tiêu cơ bản của làm việc nhóm
Xu hướng hoạt động xoay quanh việc dùng các nhóm làm việc với mục đích điều trị sẽ còn phát triển vì những tổn thất của mỗi cá nhân do sự thay đổi với tốc độ cao của xã hội sẽ còn gia tăng và liệu pháp điều trị theo nhóm này còn có hiệu quả hơn nữa
Sử dụng định nghĩa công tác xã hội nhóm giúp cho tác giả có thể vận dụng vào trong quá trình thành lập nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình và thành lập nhóm truyền thông trợ giúp cho nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình Định nghĩa này phục vụ cho hoạt động của nhân viên công tác xã hội trong quá trình làm việc với nhóm và
có những hướng tiếp cận tích cực nhằm duy trì và lãnh đạo nhóm
Trang 3224
1.2 Các lý thuyết
1.2.1 Lý thuyết truyền thông
Bản thân truyền thông đã là môt quá trình, diễn ra liên tục và trong một khoảng thời gian tương đối lớn Mục đích của truyền thông là làm cho người tiếp nhận hiểu được cặn kẽ thông điệp và có những hành động tương tự
Roman Jakobson đã phác thảo mô hình khép kín gồm 4 giai đoạn chính: Phát tin (emission), truyền tin (transmission), nhận tin (recception) và phản hồi (feedback)
Đặc điểm của mô hình này là trình bày quá trình truyền thông như một chu
kỳ vòng tròn, thay vì chu kỳ tuyến tình của Lasswell Trong đó, các giai đoạn được
Trang 3325
- Giai đoạn phát tin: Truyền thông là diễn tả một ý tưởng bằng một hệ thống
tín hiệu (Signs) dưới dạng ngôn ngữ hoặc cử chỉ, nghĩa là bằng một thứ mã hóa (Coding) Trong giai đoạn phát tín, có xảy ra hiện tượng nhiễu bởi đôi khi nội dung thông điệp sau khi được mã hóa không phản ánh hoàn toàn chính xác nội dung thông điệp vốn được hình dung trong đầu Hiện tượng này được gọi là “filtering” tạm dịch là hiện tượng “bị lọc” Sở dĩ có hiện tượng này là do người phát tin có thể chưa hoàn toàn làm chủ được ngôn ngữ mà mình sử dụng, hoặc có thể do chính bản thân ngôn ngữ thường không cho phép diễn đạt được hết tư tưởng, ý đồ mà người phát tin muốn trình bày
- Giai đoạn truyền tin: Giai đoạn này có thể diễn ra bằng hình thức tiếp xúc trực tiếp nhưng cũng có thể thông qua một phương tiện kỹ thuật trung gian nào đó thì có nhiều khả năng sẽ bị nhiễu bởi những loại tiếng động hay tiếng ồn (noise) khác nhau và do đó, nội dung thông điệp bị sai lạc hay bị mất đi một phần nào đó
- Giai đoạn nhận tin: Ở giai đoạn nhận tin, sẽ diễn ra quá trình giải mã (decoding) Sau khi giải mã thông điệp người nhận tin sẽ tiến hành giải thích nội dung thông điệp để hiểu được ý nghĩa của nó Việc giải thích được tiến hành dựa trên các khung quy chiếu về văn hóa của người nhận tin Khung văn hóa được quy định bởi nhiều yếu tố như :Nguồn gốc xã hội, tuổi tác, giới tính…Abraham Moles
đã liệt kê một số trường hợp mô tả mức độ tiếp nhận thông điệp, hiểu gần như trọn vẹn thông điệp, hoàn toàn không hiểu thông điêp
- Giai đoạn phản hồi: Cuối cùng thông điệp do người phát tin chuyển đi thường gây ra một hệ quả là làm cho người nhận tin có một phản ứng nào đó trở lại cho người phát tin Như vậy, lúc này người nhận tin cũng trở thành một người phát tin, tức là một nguồn thông tin mới Một cách trừu tượng, có thể định nghĩa sự phản hồi là sự trả về một phần của xuất lượng của một hệ thống nhằm làm thay đổi nhập lượng của hệ thống này Giai đoạn phản hồi đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền thông bởi có phản hồi, sự chia sẻ, trao đổi thông tin diễn ra tốt hơn, khiến cho quá trình truyền thông diễn ra hiệu quả hơn
Trang 3426
1.2.2 Lý thuyết giới
Giới tính là thuật ngữ khoa học bắt nguồn từ môn Sinh vật học dùng để chỉ sự
khác biệt về sinh học giữa nam và nữ Đó là sự khác biệt phổ thông và không thể thay đổi được (Mọi người đàn ông đều có đặc điểm chung về giới tính) Con người sinh ra
đã có những đặc điểm về giới tính và đặc điểm này tồn tại trong suốt cuộc đời (Tính bất
biến) (Nguồn: Lê Thị Qúy, giáo trình xã hội học giới)
Giới là một thuật ngữ XHH bắt nguồn từ môn nhân loại học nghiên cứu về vai
trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích Giới đề cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân Vai trò giới được xác định theo văn hóa không theo khía cạnh sinh vật học và có thể thay đổi theo thời gian, theo xã hội và các vùng địa lý khác nhau Khi mới sinh ra, chúng ta không có sẵn đặc tính giới Những đặc tính giới mà chúng ta có được là do chúng ta học từ gia đình, xã hội và nền văn hóa của chúng ta (Tính thay đổi).{2,tr34}
Vai trò giới được hệ thống qua những vai trò sau:
- Vai trò sản xuất: Bao gồm các công việc nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền và hiện vật để tiêu dùng hoặc trao đổi
- Vai trò tái sản xuất (Sinh sản, nuôi dưỡng): Bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi con và những công việc nhà cần thiết để duy trì và tái sản xuất sức lao động (Không chỉ bao gồm tái sản xuất sinh học mà còn có cả chăm lo, duy trì lực lượng lao động hiện tại
và lực lượng lao động trong tương lai)
- Vai trò cộng đồng: Bao gồm các công việc thực hiện ở ngoài cộng đồng, nhằm phục vụ chung cho cuộc sống của con người Ví dụ: tham gia Hội đồng nhân dân, tham gia các cuộc họp xóm, bầu cử, làm vệ sinh đường làng ngõ xóm…
Vậy, vai trò giới là các công việc mà phụ nữ và nam giới thực hiện với tư cách
là nam hay nữ Nam và nữ đều tham gia thực hiện cả 3 vai trò trên Tuy nhiên có sự khác biệt:
- Tính chất và mức độ tham gia của nam và nữ không như nhau trong mọi công việc Nếu như phụ nữ làm hầu hết các công việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng, nội trợ, tiếp phẩm (nhiều người coi là thiên chức của phụ nữ) thì nam giới không được trông đợi làm việc đó, họ cho rằng mình trợ giúp phụ nữ mà thôi
Trang 3527
- Công việc của nam giới thường được xem trọng hơn công việc của nữ giới Thật không công bằng nếu như cho rằng, việc sinh đẻ của phụ nữ tạo ra một sản phẩm cao quý, đó là con người là việc không quan trọng, nó là công việc mang tính bản năng bấy lâu của động vật
- Cơ hội và điều kiện thăng tiến của nam giới bao giờ cũng tốt hơn phụ nữ Vai trò giới hiện nay không bình đẳng do quá trình dạy và học trong xã hội bất bình đẳng giới mà có, nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, thể chế chính trị
Vai trò giới đã và đang có nhiều thay đổi, nhưng khi thay đổi người ta còn chịu ảnh hưởng các định kiến giới, điều này lý giải vì sao nhiều người không dám công khai thực hiện thay đổi vai trò giới mặc dù đây là những việc đáng khích lệ
Định kiến giới: Là nhận định của mọi người trong xã hội về những gì mà phụ nữ
và nam giới có khả năng và các loại hoạt động mà họ có thể làm với tư cách họ là nam hay nữ Có nhiều biểu hiện khác nhau của định kiến giới song phổ biến hơn cả là những quan niệm về đặc điểm, tính cách và khả năng của phụ nữ và nam giới.{2,tr44}
Định kiến giới có tác động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cá nhân và quan niệm của những người xung quanh Những đặc điểm liên quan đến nam giới và phụ nữ thường được dập khuôn và mang tính cố định lặp đi lặp lại qua các thế hệ, do đó nam giới và phụ nữ không có sự lựa chọn nào khác Định kiến giới làm cho nam giới luôn phải cương lên trong vị trí lãnh đạo của họ và làm cho phụ nữ thiếu tự tin và hạn chế sự lựa chọn vì vị trí thấp kém của họ Những định kiến có thể dẫn đến nhận thức thiên lệch, đánh giá và nhận xét thiếu khách quan đối với phụ nữ từ đó hạn chế cơ hội phát triển của phụ nữ
Định kiến giới còn rất phổ biến trong xã hội của chúng ta vì chúng đã ăn sâu, bắt rễ trong nhận thức của nhiều người trong xã hội và trở thành lực cản trong quá trình thực hiện các chế độ, chính sách, chương trình, kế hoạch trên mọi lĩnh vực Định kiến giới có tác động xấu về vị trí, thái độ và những hoạt động của nam và nữ, đặc biệt là hạn chế những mong muốn, dự định phát triển cá nhân và cả việc đón nhận những cơ hội và điều kiện phát triển đặc biệt là đối với phụ nữ
nhân loại tiến bộ phải thay đổi nhận thức và hành vi về giới Vai trò giới đòi hỏi cả nam
và nữ phải thực hiện trên hoạt động bình đẳng, tôn trọng nhưng không phải gò bó, ấn định và bắt buộc tuân thủ một cách cứng nhắc Vai trò giới cần vận dụng linh hoạt
Trang 3628
trong đời sống gia đình nhằm hướng tới xã hội tiến bộ, công bằng và văn minh giữa nam và nữ đều có quyền lao động, hưởng thụ và tham gia các hoạt động xã hội khác Xóa bỏ định kiến giới cần có sự tham gia của toàn xã hội hướng vào việc tạo cơ hội, điều kiện phát triển bình đẳng cho cả nam và nữ Trong chính sách và kế hoạch phát triển xã hội trên mọi lĩnh vực cần phải có sự bình đẳng giữa nam và nữ, xóa bỏ tác động của định kiến giới hướng phụ nữ nhận thức được vai trò của bản thân trong xã hội hiện đại Cam chịu và bạo lực gia đình là hành vi cần được thay đổi mạnh mẽ trong nếp sống, suy nghĩ, nhận thức của mỗi người
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Vân Đình là một thị trấn, huyện lỵ của huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội với diện tích tự nhiên 560,31 ha và 15.000 nhân khẩu Thị trấn hiện nay được xác lập năm 2003 trên cơ sở sáp nhập thị trấn Vân Đình (cũ), xã Tân Phương, các thôn Hoàng Xá, Đình Tràng thuộc xã Liên Bạt và một phần thôn Hậu Xá thuộc xã
Hiện nay Vân Đình khá phát triển nhà nằm trên trục đường 21B là nút giao thông quan trọng giữa nhiều tỉnh, như Hòa Bình, Hà Nội, Hà Nam Thị trấn Vân Đình thuộc địa bàn huyện Ứng Hòa, nằm ở phía Tây Nam đô thị trung tâm Thủ đô
Hà Nội Diện tích quy hoạch gần 560 ha Dự báo đến năm 2030, thị trấn sẽ có khoảng 17.500 người Vân Đình sẽ được quy hoạch thành đô thị loại V, trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa – xã hội, giáo dục đào tạo, khoa học kỹ thuật, kinh tế, thương mại, dịch vụ của huyện Ứng Hòa, là một trong chuỗi đô thị thị trấn của TP
Hà Nội
Thị trấn Vân Đình là trung tâm Kinh tế- Văn hóa- Chính trị của Huyện Ứng Hòa với tốc độ phát triển kinh tế nhanh- bền vững đi đầu trong toàn huyện Đời sống văn hóa, tinh thần, vật chất của người dân không ngừng được cải thiện
Trang 3729
Thị trấn đã và đang thực hiện đầu tư có quy mô các công trình dân sinh, cơ sở hạ tầng hiện đại phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân, 100% hộ dân sinh có các phương tiện, thiết bị thông tin đại chúng Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân có nhiều cố gắng, các chương trình y tế quốc gia thực hiện đạt kết quả tốt Mạng lưới y tế cơ
sở được duy trì 9/9 thôn, phố có nhân viên y tế Trạm được đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, y cụ khám chữa bệnh, tiếp tục duy trì và phát huy các tiêu chí chuẩn quốc gia về y
tế cơ sở Phong trào xây dựng gia đình văn hóa được quan tâm chỉ đạo trong 6 tháng đầu năm đã tổ chức cho 3.075/3.230 hộ đã đăng kí xây dựng gia đình văn hóa đạt 95,2% số
hộ đăng kí Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên: 14,29% giảm 1,31% ,Tỷ lệ hộ nghèo 3,5% tổng
số dân cư trên địa bàn giảm 0,4% so với cùng kỳ năm 2014 Các hoạt động sản xuất được đẩy mạnh trong đó phụ nữ giữ vai trò “chính” là lực lượng lao động đông đảo và
chiếm tỷ lệ cao trong hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phương (Nguồn:Báo cáo ước thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm Phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2015)
Song song với sự phát triển về kinh tế và cơ sử hạ tầng thì an sinh xã hội tại nơi đây còn rất nhiều vấn đề bất cập và chưa đem lại tính ổn định đặc biệt tệ nạn xã hội ngày một gia tăng kéo theo hệ lụy nặng nề cho một bộ phận người trong xã hội không những thế bạo lực gia đình ngày càng gia tăng đặc biệt là bạo lực gia đình đối với phụ nữ, nó ẩn nấp và tồn tại dưới rất nhiều dạng khác nhau mà phụ nữ là đối tượng chịu thiệt thòi và ảnh hưởng lớn nhất Bạo lực gia đình xảy ra với rất nhiều nguyên nhân khác nhau và mỗi nguyên nhân không được giải quyết dẫn đến hậu quả hết sức nặng nề cả về thể chất cũng như tinh thần của người phụ nữ kéo theo đó
là ảnh hưởng đến sự phát triển tâm, sinh lý, hành vi và sức khỏe của họ vì vậy lồng ghép và đưa truyền thông đến gần hơn với các nhóm đối tượng bị bạo lực gia đình tại nơi đây là vô cùng cần thiết, sự phát triển kinh tế cũng như cơ sở vật chất, trang thiết bị, dân trí cũng là nhân tố giúp cho truyền thông trở thành một phần không thể thiếu đối với mỗi người và bàn đạp cho truyền thông đến gần với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình
Trang 38ra người phụ nữ luôn bị ức chế, khủng hoảng đau đớn về thể chất, tổn thương tinh thần hay phỉ bám nhân cách, phẩm hạnh, trà đạp lên niềm tin, lạm dụng tình dục……Đặc biệt đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực về thể chất nhu cầu được giải cứu, nhu cầu được thoát khỏi những đau đớn về đòn roi và nhu cầu được chia sẻ, cảm thông, tiếp nhận những thông tin là vô cùng quan trọng
Truyền thông xuất phát bởi mong muốn tiếp nhận thông tin từ những đối tượng truyền thông và thông điệp truyền đến từng nhóm đối tượng trong xã hội Truyền thông đem đến cho mọi đối tượng những kiến thức cơ bản, những kỹ năng đáp ứng nhu cầu cụ thể và hướng con người đến những hoạt động và mục đích sống tốt hơn
Truyền thông với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình không chỉ đáp ứng nhu cầu bức thiết về việc được tiếp nhận thông tin mà còn là hoạt động giúp phụ nữ được chia sẻ và là cầu nối hướng nhóm phụ nữ đến gần hơn với hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước cũng như những hoạt động trợ giúp vì cộng đồng của các tổ chức
Đa phần phụ nữ bị bạo lực gia đình đều có mong muốn được chia sẻ và tiếp nhận những thông tin bổ ích từ cuộc sống hôn nhân, gia đình, cách phòng tránh những trận đòn hay cách khiến cho họ có được cuộc sống tốt đẹp hơn đó là yếu tố quan trọng giúp cho truyền thông trở thành hoạt động “giao tiếp” có ý nghĩa và quan trọng với phụ nữ bị bạo lực gia đình thông qua “nguồn truyền và người nhận” Truyền thông được đánh giá là hoạt động mang lại hiệu quả cao trong việc truyền
Trang 3931
thông điệp hay cung cấp thông tin, truyền thông đáp ứng nhu cầu nghe-nhìn và kết nối đảm bảo cho mọi đối tượng trong xã hội đều có cơ hội tiếp nhận như nhau đặc
biệt quan trọng với phụ nữ và nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình
2.1 Nhu cầu truyền thông của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình
2.1.1 Nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Phụ nữ bị bạo lực gia đình cũng giống như những người phụ nữ bình thường
họ luôn có những nhu cầu riêng để thỏa mãn ước muốn của bản thân, ở mỗi giai đoạn cụ thể thường gắn với những nhu cầu nhất định nhằm đáp ứng đòi hỏi về sự tồn tại và ổn định trong cuộc sống Căn cứ vào tháp nhu cầu của Maslow, phụ nữ cũng có đầy đủ những nhu cầu: sinh lý tự nhiên, nhu cầu về an toàn, nhu cầu về xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện
Những nhu cầu của phụ nữ nói chung và nhu cầu của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình nói riêng theo tháp nhu cầu của Maslow có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhân viên công tác xã hội, gia đình và người hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình bởi muốn hỗ trợ nhóm và hướng nhóm đến với một cuộc sống tốt đẹp hơn thì người trợ giúp nhóm phải hiểu nhóm đang gặp khó khăn ở bậc nhu cầu nào, từ
sự nhận biết đó cho phép người hỗ trợ tháo gỡ và đưa ra những giải pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu cho nhóm đồng thời đảm bảo đạt đến mục tiêu an sinh
xã hội với phụ nữ bị bạo lực gia đình
Cụ thể, nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình được khái quát như sau: Đối với nhu cầu sinh học hoặc “sinh tồn”: Ở giai đoạn này nhu cầu của con người được mô tả là những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống đó là: cơm ăn, áo mặc, chỗ ở, được sống trong môi trường lành mạnh và được chăm sóc sức khỏe, được trang bị kỹ năng, kiến thức cũng như cung cấp về chính sách, pháp luật và nguồn lực hỗ trợ
Nhu cầu về an toàn hoặc “an ninh” Theo Maslow, khi các nhu cầu ở cấp độ
1 được thỏa mãn: Con người có cơm ăn, áo mặc và chỗ ở thì sẽ hình thành các nhu cầu ở cấp độ 2, đó là: an toàn và an ninh cho bản thân Khi đó con người muốn được an toàn, muốn ổn định để phát triển Như vậy, phụ nữ cũng vậy muốn được
Trang 4032
đảm bảo an toàn tính mạng khi tham gia tất cả các hoạt động như: tham gia giao thông, lao động, sản xuất trong sinh hoạt tại gia đình và ngoài cộng đồng, được đảm bảo điều kiện được bảo vệ an toàn, được chăm sóc và yêu thương, được duy trì cuộc sống và chăm sóc sức khỏe thường xuyên
Nhu cầu xã hội: Khi nhu cầu ở cấp độ 2 được đáp ứng, các mong muốn của con người sẽ tiếp tục phát triển tạo thành các nhu cầu ở cấp độ 3, đó là nhu cầu khẳng định cái tôi của cá nhân trong xã hội Nhu cầu này được thể hiện trong mỗi
cá nhân con người và phụ nữ là cá thể đặc biệt đó: họ muốn được yêu, muốn được nhận ra và tôn trọng bởi cộng đồng, muốn được tham gia các hoạt động xã hội, muốn đóng góp bản thân cho cộng đồng Muốn được giao lưu với bên ngoài và thể hiện khả năng của bản thân không bị ép buộc hay gò bó làm những việc mà họ không mong muốn hay cản trở gây tổn thương
Nhu cầu tôn trọng: Nhu cầu này là mong muốn gần như cao nhất đối với phụ
nữ, họ luôn mong muốn được người khác tôn trọng đặc biệt trong gia đình đó là người chồng của mình, nhu cầu được tôn trọng là việc họ không bị sỉ nhục, lăng mạ hay đánh đập tàn bạo, có điều kiện phát huy khả năng cũng như thực hiện thiên chức làm vợ và làm mẹ của mình Nhu cầu được tôn trọng là việc phụ nữ mong muốn được bình đẳng về mọi mặt đối với nam giới họ cũng có cơ hội tiếp cận với thông tin và được trang bị, giải đáp kịp thời mọi thắc mắc cũng như cung cấp thông tin cần thiết, có những chính sách hỗ trợ hợp lý
Nhu cầu tự khẳng định: Nhà hoạch định chính sách, người hỗ trợ cần cung cấp những thông tin đáng tin cậy và nguồn lực, hỗ trợ cung cấp các cơ hội phát triển thế mạnh cá nhân, phụ nữ cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động chung tại cộng đồng tạo cơ hội giao lưu và hiểu biết, thu lại được những kinh nghiệm và phát huy hết khả năng của bản thân tại cộng đồng
Như vậy, căn cứ vào nhu cầu của phụ nữ nói chung và phụ nữ bị bạo lực gia đình nói riêng thì người hỗ trợ hoặc nhân viên công tác xã hội cần có những hoạt động thiết thực nhằm tìm hiểu cụ nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình có thể nâng cao năng lực và có cuộc sống tốt đẹp hơn