1.Tính cấp thiết của đề tàiXã hội ngày càng hiện đại, nhu cầu thông tin của con người cũng ngày càng tăng. Báo chí nước ta đang phát triển cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nhiều tờ báo đã hướng đến những đối tượng công chúng chiếm số đông nhưng cũng có những tờ chỉ phục vụ một nhóm đối tượng nào đó.Chiếm tỷ lệ 58% lao động trên địa bàn nông thôn và 51,9% cơ cấu lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, nông dân rất cần được bảo trợ 48, cung cấp thông tin để nâng cao hiểu biết, nắm bắt thị trường, phát triển sản xuất và tìm đầu ra cho sản phẩm. Thực tế nhiều năm qua cho thấy: Thị trường tiêu thụ nông sản khá bấp bênh, nhiều rủi ro và thua thiệt. Trong nhiều nguyên nhân đó có một phần do nông dân khó có điều kiện tiếp cận thông tin thị trường, những tiến bộ khoa học mới, những chủ trương, chính sách, chế độ ưu đãi của Nhà nước đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Trang 1Chuyên ngành : Báo chí học
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
Hà Nội - 2013
Trang 2Tôi xin cam đoan, những kết quả nghiên cứu của Đề tài: “Báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin thị trường tiêu thụ nông sản của nước ta thời hội nhập” (khảo sát năm 2009 các báo: Nông thôn Ngày nay, Nông nghiệp Việt
Nam, Nhân dân, Thời báo kinh tế) trong luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân, chưa được công bố trên bất cứ tài liệu, ấn phẩm và các phương tiên truyền thông đại chúng nào
Tác giả
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4KH-KT Khoa học kỹ thuật
NTNN Nông thôn Ngày nay
NNVN Nông nghiệp Việt NamTBKT Thời báo Kinh tế
TT-TT Thị trường tiêu thụ
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 5bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Nhu cầu thông tin trên báo của nông dân, doanh nghiệp
về các nội dung để đẩy mạnh tiêu thụ nông sản
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Trang 6Biểu đồ 2.3 Số lượng tác phẩm theo các nội dung trên Báo NTNN 48Biểu đồ 2.4 Số lượng tác phẩm theo đề tài tiêu thụ nông sản trên
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng hiện đại, nhu cầu thông tin của con người cũng ngày càng tăng Báo chí nước ta đang phát triển cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội Nhiều tờ báo đã hướng đến những đối tượng công chúng chiếm số đông nhưng cũng có những tờ chỉ phục vụ một nhóm đối tượng nào đó
Chiếm tỷ lệ 58% lao động trên địa bàn nông thôn và 51,9% cơ cấu lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, nông dân rất cần được bảo trợ [48], cung cấp thông tin để nâng cao hiểu biết, nắm bắt thị trường, phát triển sản xuất và tìm đầu ra cho sản phẩm Thực tế nhiều năm qua cho thấy: Thị trường tiêu thụ nông sản khá bấp bênh, nhiều rủi ro và thua thiệt Trong nhiều nguyên nhân đó có một phần do nông dân khó có điều kiện tiếp cận thông tin thị trường, những tiến bộ khoa học mới, những chủ trương, chính sách, chế độ ưu đãi của Nhà nước đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Với thế mạnh của truyền thông đại chúng, báo chí là công cụ truyền tải thông tin quan trọng đối với xã hội nói chung và nông dân nói riêng, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập WTO Việc các cơ quan báo chí tăng cường thông tin
về thị trường cho nông dân là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội; nâng cao năng xuất, chất lượng và tính cạnh tranh của nông sản trên thị trường trong và ngoài nước Đồng thời cũng góp phần giúp người nông dân tăng thu nhập, có cơ hội thoát nghèo và làm giàu chính đáng
Năm 2009, nông dân và ngành nông nghiệp nước nhà vui mừng vì trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, tổng kim ngạch xuất khẩu nông,
Trang 8lâm, thủy sản cả nước vẫn đạt 15,4 tỷ USD, vượt dự kiến hồi đầu năm 12 tỷ USD Nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam dẫn đầu thế giới về sản lượng như gạo, cà phê, tiêu, điều… Thế nhưng, năm qua, nước ta cũng tốn khoảng
150 triệu USD nhập khẩu rau quả từ Trung Quốc, 45 triệu USD nhập nông sản từ Thái Lan Nông dân trồng ngô, hoa màu với diện tích lớn, ngư dân đánh bắt cá với sản lượng hàng ngàn tấn/năm nhưng hằng năm vẫn phải nhập khẩu hầu hết nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi như ngô, sắn, cỏ khô, bột cá từ 25 nước trên thế giới
Sự thật này làm tăng thêm nỗi lo lắng, bức xúc của hàng chục triệu nông dân mỗi khi trúng mùa lại lo rớt giá, ế hàng Cả cánh đồng rau từng bị
bỏ đi do không có nơi tiêu thụ, những ruộng dưa, cà chua, dứa… để thối không buồn thu hoạch do không có đầu ra Vậy mà, ở thị trường trong nước, hàng nông sản của nước ngoài ào ạt tràn vào, thậm chí hoa quả Việt Nam được dán nhãn mác ngoại nhập hoặc hoa quả các nước khác “đội lốt” hoa quả Việt Nam bày bán khắp các chợ, siêu thị
Thực trạng đáng buồn này được bắt nguồn chủ yếu từ sự yếu kém của nền sản xuất, kinh doanh nông sản nước ta, chứ không hẳn do quá trình hội nhập
Khi hội nhập, chúng ta chấp nhận sân chơi chung, có cơ hội và cả những thách thức Các sản phẩm chất lượng cao với giá cả hợp lý của nước ngoài đương nhiên sẽ chiếm được lòng tin của khách hàng trong nước nhưng thật ngạc nhiên là có những nông sản Việt thua ngay trên sân nhà mà không
hề yếu thế về tiềm năng, chất lượng
Chúng ta đã sản xuất tốt, tạo ra sản lượng dồi dào nhưng khâu quản lý chất lượng yếu, khâu tiếp thị không hiệu quả, khâu phân phối chưa chu đáo đã tạo nên những khoảng trống cho nông sản nước ngoài chen chân ngay tại sân nhà
Trang 9Nếu nông dân được cập nhật đầy đủ và chịu sự tác động mạnh mẽ của các phương tiện thông tin, họ sẽ biết sản xuất cây, con gì và tìm mua giống ở đâu là chất lượng và sản xuất vào thời điểm nào để đáp ứng đúng nhu cầu thị trường Họ sẽ chọn giống để nuôi, trồng đúng lúc, đúng lượng, đúng cách và đúng nhu cầu Nông dân sẽ ý thức được hiệu quả mối liên kết sản xuất, tiêu thụ gắn với các doanh nghiệp, nhà nước, nhà khoa học là yếu tố tất yếu của quá trình hội nhập và sản xuất hiện đại.
Thông tin trang bị cho nông dân, người tiêu thụ nông sản đầy đủ sẽ là động lực phát triển nông nghiệp, cải thiện đời sống nông thôn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Nhiệm vụ này được xác định là có ý nghĩa, góp phần đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững
Trong nhiều trường hợp, chỉ cần có được một lượng thông tin phù hợp, kịp thời, được tư vấn tốt (nhất là các thông tin về kỹ thuật sản xuất, thị trường) cũng đủ để giúp nhiều nông dân đổi đời Để đủ sức đứng vững và không quá hụt hẫng khi hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, những người sản xuất, tiêu thụ nông sản đang rất cần những thông tin hữu ích, thiết thực nhằm nâng cao dân trí, tìm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp Nhu cầu chính đáng đó đòi hỏi các cơ quan báo chí cần có sự phối hợp, có chính sách hỗ trợ
để chuyển tải thông tin nhiều hơn nữa đến cho nông dân - nông thôn, doanh nghiệp bằng nhiều cách
Việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin của nông dân về thị trường tiêu thụ nông sản cần phải được tiến hành thường xuyên nhằm giúp các cơ quan báo chí định hướng được công tác tuyên truyền; giúp các doanh nghiệp thu mua tìm được đối tác và đặc biệt giúp được người nông dân trong cơ chế thị trường, tìm đầu ra cho sản phẩm
Trang 10Xuất phát từ đòi hỏi đó, tác giả luận văn lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin thị trường tiêu thụ nông sản của nước ta
thời hội nhập ”.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về khả năng đáp ứng và nhu cầu thông tin thị trường tiêu thụ nông sản của nước ta là một vấn đề có tính cấp bách, được Đảng, Chính phủ và các bộ, ban, ngành thường xuyên quan tâm Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề này để tìm ra giải pháp thích hợp vẫn còn là khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu
Hiện nay, tại Việt Nam có một số công trình của các tác giả đi trước, có
đề cập tới mối quan hệ giữa báo chí và nông dân, nông nghiệp, nông thôn Ở một vài nghiên cứu khác lại đề cập tới vấn đề thông tin truyền thông trong thời kỳ toàn cầu hoá… Thế nhưng, đó mới chỉ là những công trình nghiên cứu với mức độ khảo sát ở phạm vi nhỏ, không liên quan nhiều tới vai trò của báo chí trong việc đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ nông sản của nước ta Còn lại chủ yếu là những bài báo nói về việc tăng cường thông tin cho nông dân vùng sâu, vùng xa, hoặc vai trò quan trọng của thông tin trong việc tiêu thụ sản phẩm…
Trong đó, đáng chú ý có một số nghiên cứu sau đây:
- “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn- nguồn đề tài phong phú của
báo chí” trong cuốn “xử lý thông tin- việc của nhà báo” của Nguyễn Uyển,
NXB Văn hoá- Thông tin 2001, nói lên vai trò, trách nhiệm của báo chí trong việc phản ánh, cung cấp thông tin đặc biệt là những vấn đề về tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, ruộng đất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế…
- “Truyền thông Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá”- Ts Lưu Hồng
Minh (chủ biên) - Khoa xã hội học, Học viện Báo chí- Tuyên Truyền Đây là
Trang 11tuyển tập những bài nghiên cứu về vai trò của truyền thông đối với công chúng trong thời kỳ toàn cầu hoá, NXB Dân trí, 2009
- “Hướng dẫn đưa tin kinh doanh và kinh tế: Cách đưa tin công ty, thị
trường tài chính và kinh tế”- Anya Shiffrin, Margie Freeney, Jane M.Folpe,
NXB Lao động xã hội, 2005 Trong cuốn này tác giả chủ yếu nói về phương pháp viết tin kinh tế và các vấn đề liên quan giữa thông tin và lĩnh vực kinh doanh, thị trường
- “Tác động của hội nhập kinh tế đối với phát triển nông nghiệp Việt
Nam”- TS Nguyễn Từ (chủ biên) Cuốn sách này đề cập tới vấn đề hội nhập
WTO có những tác động tích cực và tiêu cực đối với nền nông nghiệp Việt Nam, trong đó liên quan nhiều tới sản xuất và tiêu thụ nông sản
- “ Vấn đề nông nghiệp, nông thôn trong các chương trình của Đài
THVN”- Luận văn thạc sỹ của Đinh Quang Hạnh, 2005 Đề tài này tác giả đi
sâu tìm hiểu thực trạng chất lượng, nguyên nhân thành công và hạn chế của các chương trình tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn trên sóng VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam
- “Nâng cao chất lượng chuyên đề nông nghiệp và xây dựng nông thôn
mới”, luận văn thạc sỹ của Lê Thị Phượng, 2007 Từ những thực trạng của
việc thông tin về nông nghiệp, nông thôn trên báo chí, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng chuyên đề dành cho nông nghiệp, nông thôn
- “Đề tài kinh tế trên báo in sau khi Việt Nam gia nhập WTO”, luận văn
truyền thông đại chúng, Học viện báo chí tuyên truyền, Hà Nội, 2008 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hải đã khái quát được tình hình đưa tin kinh tế trên báo in khi Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới Qua khảo sát, tác giả
đã đưa ra những kết luận trong việc đánh giá mức độ đáp ứng đòi hỏi thông tin của độc giả về nội dung kinh tế trên báo chí
Trang 12- “ Vai trò của doanh nghiệp xuất khẩu trong tiến trình Việt Nam hội
nhập kinh tế quốc tế” của Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế và Báo
thương mại đồng xuất bản năm 2007 đã có những bài viết chuyên sâu về những nguyên tắc, khó khăn, thuận lợi cho doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng hoá Việt Nam ra nước ngoài, trong đó có nông sản
- “Báo chí với vấn đề tuyên truyền hội nhập kinh tế” (2009), luận văn
thạc sỹ Nguyễn Trung Kiên
- “Nhu cầu tiếp nhận thông tin trên báo chí của công chúng Hà Nội”,
(Học viện báo chí và tuyên truyền, 2008), luận án tiến sỹ Trần Bá Dung Tác giả đã khảo sát nhu cầu, điều kiện tiếp nhận của công chúng Hà Nội đối với các loại hình báo chí
- “Truyền thông nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, (2009), của Viện
Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Nhóm tác giả đã khảo sát thực trạng các kênh truyền thông hiện nay có đến được với người nông dân, nhất là vùng sâu, vùng xa hay không Đồng thời nghiên cứu trên cũng đưa ra được các số liệu về nhu cầu thông tin của người dân
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu việc báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin thị trường tiêu thụ nông sản, đặc biệt
là nhu cầu thông tin về đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp Đảng, Nhà nước đang nỗ lực cùng các ngành, các cấp tìm ra giải pháp tối ưu để sản phẩm của nông dân làm ra có nơi tiêu thụ Vì vậy, qua luận văn này, tác giả muốn góp một phần nhỏ bé trong nghiên cứu của mình để hành trình hội nhập thị trường của nông dân bớt nhọc nhằn và bấp bênh
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin về thị trường tiêu thụ nông sản của nước ta thời hội nhập, từ đó tìm giải pháp nâng cao chất lượng báo chí, nhằm đáp ứng đúng, trúng và đầy đủ những nhu cầu đó
Trang 13Để thực hiện những mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Lý giải một số vấn đề lý luận liên quan đến nội dung đề tài: Thông
tin; nhu cầu thông tin; báo chí; đáp ứng; nông dân, tiêu thụ nông sản, thị trường …
- Khảo sát thực trạng việc báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng tham gia sản xuất, tiêu thụ nông sản Trên cơ sở đó, bước đầu đưa
ra những yếu tố cần thiết; phân tích những mặt được và chưa được của báo chí trong việc thông tin tới người dân
- Khảo sát công chúng: + Điều tra xã hội học đối tượng là nông dân
- Đánh giá thực trạng, những thành công, hạn chế của báo chí Từ đó đề xuất ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí trong thông tin về thị trường tiêu thụ nông sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin về thị
trường tiêu thụ nông sản ở nước ta.
Miền Bắc: Hà Nội, Hải Dương, Hà Tĩnh
Miền Đông Nam bộ: Bình Dương, Bà Rịa- Vũng Tàu, thành phố Hồ
Chí Minh
Miền Tây Nam bộ: An Giang, Tiền Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu.
Trang 145 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở quan điểm của Đảng và
Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; bối cảnh tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng tới sự cạnh tranh của nông sản Việt Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số lý thuyết về báo chí- truyền thông khác để làm cơ sở chung cho nghiên cứu
+ Phương pháp nghiên cứu chung: Khảo sát dựa trên cơ sở có tính
nguyên tắc của logic biện chứng, nghiên cứu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chung như: Phân tích- tổng hợp, thống kê, phỏng vấn, logic
+ Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp riêng, cụ thể được sử
dụng trong nghiên cứu chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp Cụ thể, người viết phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phân tích tài liệu: Để tìm ra các mâu thuẫn cần giải quyết
- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Nhằm tìm hiểu nhu cầu thông tin thị trường tiêu thụ nông sản của nước ta
6 Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Những nghiên cứu mới của Đề tài về vai trò của báo chí trong việc truyền tải thông tin, đặc biệt là thông tin về thị trường tiêu thụ nông sản sẽ góp tiếng nói để khẳng định mối liên hệ khăng khít giữa thông tin- sản xuất, kinh doanh nông sản trong thời kỳ nước ta hội nhập WTO
Kết quả khảo sát của Đề tài trong việc nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu thông tin của nông dân, doanh nghiệp đối với báo chí sẽ giúp các cơ quan truyền thông đại chúng lựa chọn, điều chỉnh lượng thông tin, hình thức chuyển tải thông tin và nội dung thông tin sao cho phù hợp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nông dân, giúp họ tiêu thụ nông sản thuận lợi hơn; góp phần thúc đẩy thị trường hàng hoá nông thôn phát triển, nâng cao đời sống nông dân và nền kinh tế nông thôn
Trang 15Thông qua khảo sát về nội dung, hình thức các báo trong lĩnh vực tiêu thụ nông sản; qua các bảng hỏi nông dân, doanh nghiệp, Đề tài đã đưa ra được những kết quả phân tích cụ thể, bước đầu giúp Đảng, Nhà nước có cái nhìn rõ nét hơn về vai trò, nhu cầu, những mâu thuẫn trong quá trình thông tin, tiếp nhận thông tin; sự tác động của thông tin đối với quá trình tiêu thụ nông sản để có những điều chỉnh, quản lý, chỉ đạo phù hợp, sát với tình hình thực tế, đáp ứng nhu cầu chính đáng của người nông dân
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 16- Quá trình nghiên cứu luận văn cũng giúp người thực hiện đề tài nâng cao năng lực nhận thức và khả năng hoạt động trong chuyên môn của mình.
- Luận văn dùng làm tài liệu tham khảo cho các học viên đang theo các khoá đào tạo về báo chí
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn được bố trí trong 3 chương gồm 93 trang
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ BÁO CHÍ ĐÁP ỨNG NHU CẦU THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ NÔNG SẢN
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Báo chí
Kể từ khi tờ báo đầu tiên xuất hiện ở thành phố Vơnizơ (Italia) vào cuối thế kỷ 16 đến nay, báo chí thế giới đã trải qua gần năm thế kỷ phát triển Trong thời gian đó đã xuất hiện những quan điểm khác nhau về báo chí Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu về báo chí và các khái niệm xung quanh Trong cuốn sách xuất bản năm
1956 về ‘Bốn luận thuyết về báo chí” (Four theories of the press), hai tác giả Siebert và Peterson đã cho rằng các phương tiện thông tin đại chúng (báo chí)
là của chính xã hội mà nó đang phản ánh với biểu hiện của ngôn ngữ và chính trị [58]
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) báo chí là báo và tạp chí; xuất bản phẩm định kỳ [33, tr.66]
Khái niệm báo chí còn được định nghĩa trên ba phương diện: “Báo chí
là một trong những hệ thống xã hội (định danh), “báo chí là một hoạt động chính trị- xã hội” (định tính) và “báo chí là thứ vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh chính trị… tác động vào xã hội để tạo ra sự can thiệp gián tiếp vào đời sống chính trị, tham gia vào việc tập hợp lực lượng, giáo dục hệ ý thức và góp phần tích cực vào việc hình thành các khuynh hướng, các phong trào chính trị- xã hội” (mục đích) [16, tr.34-38] Nhìn từ quan điểm hệ thống, khái niệm báo chí “được hiểu như một thiết chế, một chỉnh thể”, “luôn luôn thể hiện tính chất động và tính chất mở” [15,tr.23]
Trang 18Tác giả Claudia Mast trong cuốn Truyền thông đại chúng lại cho rằng
“báo chí là một phương tiện thông tin tĩnh” [56], bởi ông quan niệm rằng “độc giả có thể bất cứ lúc nào đọc lại hoặc lật lại trang báo”
Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi cho rằng, báo chí là một phương tiện truyền thông đại chúng, có tác động mạnh mẽ tới xã hội, báo chí là yếu tố trung gian giữa nguồn thông tin và xã hội Có mối quan hệ khăng khít 3 chiều giữa thông tin thực tế- báo chí- công chúng
1.1.2 Thông tin
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng thì thông tin là “Tin tức được truyền đi cho biết; truyền tin, đưa tin báo cho nhau biết” [52]
Theo cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” của Học viện báo chí tuyên truyền
do PGS.TS Tạ Ngọc Tấn (chủ biên) cho rằng, thông tin “là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo Hoạt động thông tin không chỉ có trong xã hội loài người mà trong thiên nhiên cũng có những hoạt động thông tin phức tạp” [45, tr.22]
Ngoài ra, thông tin còn được dùng để chỉ chất lượng nội dung của thông báo nói chung Trong trường hợp này, người ta xem xét chất lượng nội dung thông báo bằng “lượng thông tin” được chuyển đến đối tượng tiếp nhận
Là một thuật ngữ nền tảng của báo chí, “thông tin” liên quan trực tiếp đến tính hiệu quả của các phương tiện thông tin đại chúng, đến những đòi hỏi
về phương pháp, hình thức sáng tạo của nhà báo, đến nguyên tắc về sự tác động qua lại giữa báo chí và công chúng
Thông tin trong báo chí được chia thành thông tin khả năng – thông tin tiếp nhận- thông tin thực tế Việc công chúng có tiếp nhận được thông tin khả năng trong các tác phẩm báo chí hay không rồi sau đó chuyển thành thông tin thực tế là cả một quá trình, trong đó thông tin phải hội đủ các yếu tố như: Tính thời sự, hấp dẫn, phù hợp lợi ích…
Trang 19Quan niệm về vai trò quan trọng của thông tin báo chí, Dominique
Wolton cho rằng: “Điều người dân quan tâm không phải các sự kiện mà là
thông tin, tức những sự kiện ở dạng truyền thông đã thông qua lao động của nhà báo”[57,tr.25]
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, GS Bùi Quang Tịnh đưa ra định nghĩa: “Thông tin là truyền tin” Deborah Potter, Giám đốc điều hành Trung tâm dữ liệu trực tuyến dành cho các nhà báo tại Washington DC – Hoa Kỳ (Newslab), đồng thời là giảng viên báo chí Trường ĐH Hoa Kỳ cho rằng, thông tin báo chí thường được định nghĩa một cách ngắn gọn là “những cái mới, cái đang xảy ra”, nhưng thực tế thì hầu hết các sự việc trên thế giới xảy
ra mỗi ngày đều không tìm được chỗ đứng trên mặt báo Giới hạn trang báo chỉ cho phép xuất hiện những thông tin được nhiều người quan tâm Theo đó, Deborah Potter khẳng định, thông tin trên báo chí với những đặc trưng riêng biệt của nó bao gồm: “tính kịp thời”, “tính thời sự”, “tính bất thường hoặc liên quan đến người (sự vật) nổi tiếng”, “gần gũi với độc giả, có liên quan, ảnh hưởng ít nhiều đến bản thân họ” [57, tr.110]
Ngày nay, thông tin được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống
xã hội, là công cụ để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội
Trong hoạt động truyền thông đại chúng nói chung, hoạt động báo chí nói riêng, thông tin luôn được xem xét ở nhiều khía cạnh, chứ không chỉ dừng lại ở ý nghĩa đơn thuần của việc đáp ứng nhu cầu về cái mới, nóng, cái vừa xảy ra, cái công chúng quan tâm, mà thực sự mỗi thông tin đều mang theo nó giá trị lợi ích với những nhóm công chúng xác định được hướng tới hoặc cho
cả cộng đồng nói chung
Trang 20Như vậy, thông tin theo chúng tôi là những tin tức nảy sinh trong tự nhiên, xã hội, được báo chí chuyển tải và đưa đến cho công chúng tiếp nhận Nội dung trong thông tin bao gồm các yếu tố thiết yếu như: Mới, hấp dẫn, phù hợp nhu cầu tiếp nhận của công chúng…
để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh
Theo nghĩa từ, “nhu” là cần thiết, “cầu” là đòi hỏi, mong muốn Sự đòi hỏi, mong muốn ấy xuất hiện do chủ thể cảm giác thấy cơ thể thiếu hụt một cái gì đó rất cần thiết cho sự sinh tồn Cảm giác ấy thôi thúc con người đến những hành vi nào đấy, để có thể thoả mãn nhu cầu, nhằm duy trì sự cân bằng, bảo đảm sự tồn tại và phát triển Ví dụ như cảm giác buồn ngủ thì hai mắt muốn nhắm lại; khát thì đi tìm nước uống…
Cho tới nay, chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt Trong nhận thức của xã hội hiện nay, có thể định nghĩa nhu cầu là “tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa”[53]
Trang 21Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó Nhưng “cái gì đó” chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thể làm thỏa mãn nhu cầu đó Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác nhau.
Boris M Genkin chia nhu cầu ra hai nhóm: nhu cầu tồn tại và nhu cầu đạt mục đích sống Nhu cầu tồn tại gồm nhu cầu sinh lí, nhu cầu an toàn và nhu cầu tham dự Trong nhu cầu đạt mục đích có bốn nhóm: 1) giàu có về vật chất; 2) quyền lực và danh vọng; 3) kiến thức và sáng tạo; 4) hoàn thiện tinh thần Tùy vào thiên hướng của từng cá nhân mà một trong số bốn nhu cầu trên thể hiện nổi trội Có thể trong một người hiện diện cả bốn dạng nhu cầu đó nhưng ở các giai đoạn khác nhau trong đời [53]
Theo Đại bách khoa toàn thư Liên Xô, “nhu cầu” theo nghĩa chung nhất, là “sự cần đến hay sự thiếu một cái gì đó cần thiết để duy trì hoạt động đời sống của cơ thể, của con người cá nhân, của một tập đoàn xã hội, của toàn
bộ xã hội” [11; tr.3] Trong Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý (chủ biên) cho rằng “nhu cầu” là “Điều đòi hỏi, cần dùng” [51, tr.1259]
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin phân biệt hai loại nhu cầu: Những nhu cầu tự nhiên và những nhu cầu do xã hội tạo ra C.Mác thường xuyên nhấn mạnh “tính chất xã hội chung của tất cả các dạng nhu cầu
cá nhân và xã hội”
Theo chúng tôi, nhu cầu là sự đòi hỏi, mong muốn của cá thể sống đối với những thiếu hụt của bản thân về một vấn đề nào đó; nó có nhu cầu cần được thoả mãn và vươn tới sự tìm kiếm để lấp đầy sự thiếu hụt đó
Từ những cơ sở trên đây, khái niệm nhu cầu sử dụng trong luận văn
mà chúng tôi đi sâu nghiên cứu thuộc loại nhu cầu xã hội
Trang 221.1.4 Tiêu thụ
Theo Ts Bùi Anh Thi, Trường Đại học Kinh tế quốc dân “Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị sản phẩm Qúa trình này là khâu cuối cùng của quá trình kinh doanh, nhằm thực hiện những lợi ích kinh tế giữa những người sản xuất và người tiêu dùng trong nền kinh tế hàng hoá” [40;tr.1]
Đặc trưng của tiêu thụ sản phẩm đó là khâu trung gian, nối liền giữa quá trình sản xuất và quá trình tiêu dùng Nếu không có tiêu thụ sản phẩm thì cũng không có hoạt động sản xuất Thu hồi vốn nhanh hay chậm, lợi nhuận cao hay thấp đều do khâu tiêu thụ quyết định, nó thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng phát triển
Trong cuốn “Kỹ xảo tiêu thụ sản phẩm” của Trữ Thành Trung, Lý Cương, Lưu Đĩnh Quân cho rằng “Tiêu thụ sản phẩm là nắm được quan điểm của khách hàng, tiến tới làm cho khách hàng hiểu rõ quan điểm của người bán hàng, khiến khách hàng phải suy nghĩ và hành động” [47, tr.16]
Theo nghĩa hẹp, tiêu thụ sản phẩm gắn liền với sự thanh toán giữa người mua và người bán và sự chuyển quyền sở hữu hàng hoá Theo nghĩa rộng thì tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu tìm hiểu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng
và tổ chức sản xuất, thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất
Ngày nay, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc tiêu thụ sản phẩm
có ý nghĩa sống còn đối với người sản xuất Trước đây, sản xuất của người nông dân chủ yếu là tự cung, tự cấp, còn thừa thì có thể đem ra chợ bán Nhưng hiện nay, tiêu thụ nông sản đang là vấn đề bức xúc của nền nông nghiệp Việt Nam
Theo chúng tôi, tiêu thụ là mục đích cơ bản của sản xuất hàng hoá Tiêu thụ sản phẩm gắn người sản xuất với người tiêu dùng, nó giúp cho người
Trang 23sản xuất nắm bắt kịp thời những thông tin phản hồi để tổ chức sản xuất với số lượng, chất lượng và thời gian hợp lý, đồng thời khách hàng được tìm hiểu kỹ
về hàng hoá, tăng khả năng thoả mãn nhu cầu
Trong các khái niệm về tiêu thụ sản phẩm thì khái niệm của Bùi Anh Thi là phù hợp với thực trạng của nền kinh tế thị trường hiện nay
1.1.5 Nông dân
Theo “Từ điển Tiếng Việt thông dụng” thì nông dân là “Người sống bằng nghề làm ruộng” [52;tr.16] Theo “Từ điển chính trị”, nông dân là “Một giai cấp trong xã hội Dưới chế độ phong kiến và tư bản, giai cấp nông dân là toàn thể những người sản xuất nhỏ trong nông nghiệp, kinh doanh cá thể bằng tư liệu sản xuất của riêng mình và bằng lực lượng của gia đình mình” [59;tr.658]
Trong thư gửi Đại hội Công đoàn toàn quốc, tháng 2 năm 1950, Hồ Chí Minh viết “Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân”
Trong cuốn “Một số vấn đề về công tác vận động nông dân ở nước ta hiện nay” thì “Nông dân là những người sống lâu đời ở thôn (làng, bản, ấp), lấy sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng) làm nguồn sống chính dưới hình thức hộ gia đình” [24;tr.8]
Quan điểm của Đảng về giai cấp nông dân được thể hiện tại Nghị quyết số 26 về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn như sau: “Trong mối quan
hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển” [29]
Theo quan điểm của chúng tôi, nông dân là một lực lượng to lớn của
xã hội cả về ý nghĩa chính trị và kinh tế; đó là những người sống trên địa bàn nông thôn, chuyên sản xuất, kinh doanh những sản phẩm nông, lâm, thuỷ hải sản và các dịch vụ khác
Trang 24Trong Luận văn này, tác giả lấy định nghĩa về nông dân trong cuốn
“Một số vấn đề về công tác vận động nông dân ở nước ta hiện nay” làm đối tượng nghiên cứu
- Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa,
động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…;
- Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt…;
- Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh
kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô…
Tất cả các sản phẩm còn lại trong Hệ thống thuế mã HS gọi là sản phẩm phi nông nghiệp (còn được gọi là sản phẩm công nghiệp) [14]
Theo sự phân chia có tính chất tương đối của Việt Nam, nông nghiệp thường được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp Các ngành công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản lại được gộp vào lĩnh vực công nghiệp
Trong thực tiễn thương mại thế giới, nông sản thường được chia thành
2 nhóm, gồm nhóm nông sản nhiệt đới và nhóm còn lại Cho đến nay, chưa có
Trang 25định nghĩa thống nhất thế nào là nông sản nhiệt đới nhưng những loại nguyên liệu đồ uống (như chè, cà phê, ca cao), bông và nhóm có sợi khác (như đay, lanh), những loại quả (như chuối, xoài, ổi và một số nông sản khác) được xếp vào nhóm nông sản nhiệt đới Trên thực tế, nhóm nông sản nhiệt đới được sản
xuất chủ yếu bởi các nước đang phát triển.
Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm “nông sản là toàn bộ những sản phẩm từ nông nghiệp”
1.1.7 Thị trường
Thị trường là lĩnh vực trao đổi hàng hóa, đồng thời là một trong những hình thức biểu hiện quan hệ sản xuất của những người sản xuất hàng hóa nên thị trường hoàn toàn có thể mang bản chất xã hội - kinh tế khác nhau, phụ thuộc vào tính chất của quan hệ sản xuất, trước hết vào chế độ sở hữu thống trị trong từng chế độ xã hội cụ thể
Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ Thực chất, thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó
Thị trường là một tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau, dẫn đến khả năng trao đổi Thị trường cũng là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất định nào đó Với nghĩa này, có thị trường gạo, thị trường cà phê, thị trường chứng khoán, thị trường vốn, v.v Có một nghĩa hẹp khác của thị trường là một nơi nhất định nào đó, tại
đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ Với nghĩa này, có thị trường Hà Nội, thị trường miền Trung [6]
Trang 26Còn trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, là nơi có các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào Thị trường trong kinh tế học được chia thành ba loại: thị trường hàng hóa - dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động, và thị trường tiền tệ [1; tr 35 ].
Như vậy, có thể hiểu “thị trường là nơi để trao đổi, giao dịch hàng hoá, dịch vụ giữa người mua và người bán Thị trường có thể diễn ra ở bất kỳ đâu (chợ, mạng internet, trung gian…) Thị trường có tác động thúc đẩy sản xuất phát triển và góp phần thoả mãn ngày càng cao nhu cầu của người tiêu dùng
1.1.8 Hội nhập
Hội nhập kinh tế, theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến trên thế giới, là việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau Theo cách hiểu này, hội nhập kinh tế đã diễn ra từ hàng ngàn năm nay và hội nhập kinh tế với quy mô toàn cầu đã diễn ra từ cách đây hai nghìn năm khi đế quốc La Mã xâm chiếm thế giới và mở mang mạng lưới giao thông, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong toàn bộ lãnh địa chiếm đóng rộng lớn của họ và áp đặt đồng tiền của họ cho toàn bộ các nơi [54]
Hội nhập kinh tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau Khái niệm này được Be la Balassa đề xuất từ thập niên 1960 [55] và được chấp nhận chủ yếu trong giới học thuật và lập chính sách Nói rõ hơn, hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện
mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu [44, tr 21-24]
Trang 27Theo quan điểm của chúng tôi thì hội nhập kinh tế là sự gắn kết của một nước và các tổ chức kinh tế toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các thành viên có sự ràng buộc theo quy định chung của khối.
1.2 Đặc điểm nông sản nước ta
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nhiều lợi thế và tiềm năng về đất đai, lao động, điều kiện sinh thái cho phép phát triển nhiều loại nông sản
có giá trị Trên quy mô cả nước có những vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá nông sản xuất khẩu như: Lúa gạo vùng ĐBSCL; cà phê vùng Tây Nguyên; cao su vùng Đông Nam bộ; chè vùng miền núi, trung du phía Bắc; cây có dầu vùng duyên hải miền Trung và một số cây ăn quả đặc sản, thuỷ sản vùng ven biển …Xin điểm qua một vài mặt hàng nông sản có giá trị xuất khẩu cao hiện nay của Việt Nam như gạo, cà phê, điều, chè, thuỷ sản
Sản xuất lương thực là ngành sản xuất chính của nước ta Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, nhất là sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4 năm 1988), nền nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất lương thực nói riêng đã đạt được những thành tựu đáng kể Sản xuất lúa đã đi vào thế ổn định và phát triển theo hướng thâm canh, áp dụng các tiến
bộ KHKT Nhờ thế đã nâng cao được năng suất, chất lượng và tỷ suất hàng hoá Việt Nam chưa có giống lúa chất lượng cao phù hợp với thị trường cao cấp Mức độ đầu tư thâm canh còn thấp so với các nước trong khu vực, do vậy năng suất tuy có tăng liên tục nhưng mới đạt mức năng suất bình quân châu Á, thấp hơn nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc, Indonexia, Hàn Quốc
Cà phê là mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam, tuy vậy, nó cũng
đã trải qua bao thăng trầm Những năm đầu của thập kỷ 80 cả nước mới có khoảng 20 ngàn ha, đến nay, diện tích cà phê nước ta đạt khoảng 500.000 hécta [19]
Trang 28Hiện nay có tới hơn 80% người trồng cà phê ở Việt Nam khi thu hái
cà phê đã hái cả quả non và quả chín, chỉ có 20% là ý thức được việc chỉ chọn quả chín để hái Đây là một trong những nguyên nhân chính khiến chất lượng
cà phê của Việt Nam kém và có tỷ lệ thải loại cao
Theo tài liệu của tổ chức FAO đánh giá, Việt Nam là nước đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất và xuất khẩu chè Vùng sản xuất tập trung chè lớn nhất của Việt Nam là vùng miền núi- Trung du phía Bắc và Tây Nguyên, chiếm tới 75% diện tích chè cả nước Diện tích chè từ chỗ chỉ có 10,5 ngàn ha (1995) đến nay đã có tới 131 ngàn ha (2009) Tuy sản xuất, xuất khẩu chè hiện nay chưa cao, nhưng do có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho trồng chè và phân bố trên diện tích lớn, hình thành các vùng nguyên liệu chế biến, ít có sự tranh chấp với các cây trồng khác nên tương đối ổn định Ngành chè hiện được đánh giá là có sức cạnh tranh trung bình
Điều là cây trồng thuộc vùng đất cát ven biển, có thể chịu hạn rất cao, trồng trên các vùng đất khó khăn như vùng Duyên hải Miền Trung, Đông Nam bộ… Trước đây điều chỉ là cây trồng làm bóng mát Ngày nay, điều đã trở thành cây công nghiệp có tiềm năng kinh tế và có giá trị xuất khẩu cao Với sự hỗ trợ của Chương trình 327, cộng với đầu tư của nhân dân, sản xuất điều đang phát triển nhanh, hình thành từng vùng sản xuất tập trung dọc theo tuyến kinh tế ven biển Duyên hải miền Trung và Đông Nam bộ Nếu như năm 2006, diện tích trồng điều cao nhất với 444.200 ha thì nay chỉ còn 393.000 ha, riêng năm 2009 giảm trên gần 51.000ha Lâu nay cây điều Việt Nam chủ yếu trồng ở các vùng đất xấu, trình độ thâm canh thấp nên năng suất chất lượng điều chưa cao, hạt chưa to, độ trắng chưa mịn, chưa đều so với thế giới
Thủy sản là một trong những thế mạnh của Việt Nam, có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhất thế giới đạt 18%/năm giai đoạn 1998-2008
Trang 29Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi do nguồn lợi tự nhiên mang lại, sản xuất thủy sản cũng là ngành chịu nhiều rủi ro do thời tiết và thiên tai gây nên Năm 2009, xuất khẩu thuỷ sản của cả nước đã vượt mức chỉ tiêu đặt ra với 4,25 tỷ USD nhưng so với năm 2008 vẫn giảm 1,6% về khối lượng và 5,7% về giá trị [13].
1.3 Những khó khăn của nông sản nước ta thời hội nhập
Cơ hội mở ra đối với người nông dân khi đất nước bước vào hội nhập
là rất lớn, nhưng thách thức cũng đặt ra không nhỏ Đó là khả năng cạnh tranh khốc liệt của các mặt hàng nông sản trong nước với hàng ngoại nhập có chất lượng cao, được sản xuất trên công nghệ hiện đại, có kiểu dáng, mẫu mã sang trọng Người nông dân cũng bắt đầu phải làm quen và thực thi triệt để quyền
sở hữu trí tuệ, phải đăng ký thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, phải mua giống, vật tư, tư liệu sản xuất nông nghiệp do đó làm tăng chi phí sản xuất Trong khi đó, tại các nước giàu, có nền khoa học hiện đại vẫn tiếp tục duy trì trợ cấp và đưa ra các rào cản đối với thị trường nông sản khiến ngành nông nghiệp khó có thể sử dụng các biện pháp tự vệ đặc biệt để đối phó
Sự chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn còn rất lớn Chính sách nông nghiệp của ta trước đây là lo đủ ăn và cố gắng có dư thừa để xuất khẩu Ngày nay tư duy đó phải thay đổi, phải hướng sang giai đoạn phát triển có hiệu quả cao và bền vững, hướng đến xuất khẩu Vì vậy, nông dân cần được tiếp cận các thông tin về thị trường, đàm phán thương mại, kiểm tra chất lượng và đăng ký thương hiệu nông sản
Chúng ta chưa sản xuất được sản phẩm nông nghiệp chuẩn mực như nhiều nước khác vì chưa có nền sản xuất lớn, chưa sản xuất tập trung, chưa có các quy trình kỹ thuật chuẩn, chưa kết nối được giữa sản xuất và tiêu thụ Cho đến nay, khoảng gần 90% sản phẩm nông nghiệp còn được bán ra ở dạng thô và khoảng 60% sản phẩm bị bán ép với giá thấp, tình trạng sản xuất rất
Trang 30manh mún, nhỏ bé, một hộ sản xuất nông nghiệp có đến hơn chục thửa ruộng vẫn còn diễn ra trên hầu khắp cả nước Bên cạnh đó, người nông dân được tiếp cận với thông tin thị trường, khoa học kỹ thuật hiện đại vẫn còn thấp
Theo điều tra của Bộ NN&PTNT thì chỉ có khoảng 25% nông dân tiếp cận được với các thông tin thị trường, trong khi 75% nông dân không nắm được gì Các nguồn thông tin từ internet đến với người nông dân chiếm tỷ lệ không đáng kể Hiện nay, cả nước đã có khoảng trên 8000 điểm bưu điện văn hóa xã nhưng chỉ có khoảng gần 4000 điểm có thể kết nối Internet; sách báo tại các điểm bưu điện này còn thiếu thốn
Nền nông nghiệp nước ta phát triển thấp, chất lượng nhiều loại nông sản, đặc biệt nông sản qua chế biến còn chưa cao, trong khi đó gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải hạ thấp thuế nhập khẩu và loại bỏ một số loại trợ cấp cho sản xuất như yêu cầu của Hiệp định Nông nghiệp, nên sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức Chăn nuôi bò, lợn, gia cầm, sữa, công nghiệp chế biến thực phẩm, mía đường là những ngành có sức cạnh tranh kém, sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn ngay tại thị trường trong nước Điều đó sẽ gây tác động bất lợi về kinh tế và xã hội cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta
1.4 Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với công tác tuyên truyền về tiêu thụ nông sản
1.4.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với tiêu thụ nông sản
Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm BCH TƯ Đảng (khoá VII) số 05 NQ/HNTW, ngày 10 tháng 6 năm 1993 về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh
tế xã hội nông thôn đã khẳng định vai trò của việc bắt đầu hình thành nền sản xuất hàng hoá
Đi đôi với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông – lâm- ngư nghiệp, phải tạo ra bước phân công lại lao động, tạo ra thế chuyển dịch cơ
Trang 31cấu kinh tế nông thôn…Dịch vụ nông thôn cần tập trung đáp ứng đầu vào- đầu ra cho sản xuất như: Dịch vụ kỹ thuật, phổ biến công nghệ mới, thông tin kinh tế, dịch vụ cung ứng vốn, vật tư và công
cụ sản xuất, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm [28]
Quan điểm của Đảng cũng chỉ rõ vai trò của Nhà nước trong việc hoạch định các chính sách để phát triển sản xuất và tiêu thụ nông sản Đó là việc xây dựng tổ chức và đầu tư thích đáng cho công tác dự báo thị trường, bao gồm thị trường trong nước, thị trường khu vực và thế giới, thị trường vật
tư phục vụ nông nghiệp, thị trường tiêu thụ nông sản Việc mở rộng và tăng cường thông tin kinh tế, thị trường, giá cả cho nông dân, các thành phần kinh
tế để tăng thêm khả năng tiếp thị, hoạch định kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm là một nhiệm vụ trọng tâm được Đảng quan tâm chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện
Nhà nước cung ứng đủ vốn, khai thông thị trường và tạo điều kiện cho nông dân tiêu thụ ổn định nông sản hàng hoá với giá hợp lý cho người sản xuất; bảo hộ sản xuất đối với nông sản trong nước Hướng dẫn nông dân sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập, tăng sức mua… khuyến khích hình thành các thị tứ ở thôn xã, phát triển chợ nông thôn, tạo điều kiện đưa hàng đến tay người tiêu dùng, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng xa [27; tr 1692-1693]
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm, Đảng ta cũng đặc biệt quan tâm tới việc mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản cho nông dân và đã có những chủ trương về phát triển sản xuất gắn với công tác xây dựng kế hoạch, cung phù hợp với cầu Mặc dù thời gian này, nông sản Việt Nam mới đang ở mức bắt đầu phát triển
Gắn sản xuất với thị trường; mở rộng sản xuất đi đôi với với mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản… Mở rộng các hình thức kinh tế thích hợp để
Trang 32tăng thêm khả năng tiếp thị của các hộ kinh doanh, các tổ chức kinh tế, điều chỉnh cho sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường[27; tr 1717]
Ngày 28 tháng 06 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 24/2005/CT-TTg Về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương
5 (Khoá IX) về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, trong đó Thủ tướng nhấn mạnh việc hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, khuyến khích tìm đầu ra cho nông sản:
Hình thành vùng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường và công nghiệp chế biến, bảo đảm có hiệu quả và bền vững Nghiên cứu sản xuất hoặc nhập ngoại, chuyển giao các loại giống tốt trong trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản, tập trung vào các loại cây trồng, vật nuôi có lợi thế, có thị trường… Coi trọng việc hình thành trung tâm tư vấn hỗ trợ nông nghiệp (thị trường, giá cả, thành lập doanh nghiệp nông nghiệp, xúc tiến thương mại [8]
Như vậy có thể thấy, ngay từ lúc đó, Đảng, Chính phủ đã có những chủ trương, chính sách rất ưu ái dành cho tiêu thụ nông sản Việc hình thành các Trung tâm tư vấn hỗ trợ nông nghiệp, đến nay được coi là một quyết sách đúng đắn vì những hoạt động mang tính lợi ích cộng đồng của nó
Nhận thấy những khó khăn và thách thức của nền kinh tế Việt Nam khi hội nhập WTO, đặc biệt là các mặt hàng nông sản, tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 5/2/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X) về một số chủ trương, chính
sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, Đảng ta nhấn mạnh:
Trên nguyên tắc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo ra sản phẩm nông nghiệp có giá trị và khả năng cạnh tranh cao hơn; hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung Ðẩy mạnh nghiên cứu và
Trang 33chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho nông dân Phát triển các loại giống cây, con, ứng dụng công nghệ nuôi trồng tiên tiến Phát triển quan hệ liên kết giữa các hộ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối với các cơ sở chế biến, doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, cơ sở nghiên cứu khoa học theo mô hình liên kết "4 nhà”…
Hỗ trợ phát triển chợ nông thôn, chợ đầu mối nông sản, tạo điều kiện đẩy mạnh lưu thông, điều tiết giá cả hàng nông sản
Trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, chủ trương hình thành những mặt hàng nông sản có giá trị và sức cạnh tranh cao đã được Đảng nhắc nhở Không lâu sau đó, tháng 11 năm 2007, nước ta chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO và nông nghiệp là lĩnh vực chịu rủi ro nhất khi Việt Nam gia nhập nền kinh tế thế giới, trong đó đặc biệt là việc tiêu thụ các mặt hàng nông sản
Mặc dù đã ra đời khá lâu, Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng vẫn thường xuyên được quan tâm Để đẩy mạnh việc thực hiện Quyết định này, ngày 25 tháng 08 năm 2008, Thủ tướng
Chính phủ đã ra Chỉ thị số 25 CT/TTg về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ
nông sản thông qua hợp đồng để khắc phục những hạn chế:
Nhiều địa phương chưa tập trung chỉ đạo quyết liệt việc triển khai thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ; doanh nghiệp, hộ nông dân chưa thực sự gắn bó và thực hiện đúng cam kết đã ký; tỷ
lệ nông sản hàng hóa được tiêu thụ thông qua hợp đồng còn rất thấp (lúa hàng hóa 6-9% sản lượng, thủy sản dưới 10% sản lượng, cà phê 2-5% diện tích); doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư vùng nguyên liệu, chưa điều chỉnh kịp thời hợp đồng bảo đảm hài hòa lợi ích của nông dân khi có biến động về giá cả; trong một số trường
Trang 34hợp, nông dân không bán hoặc giao nông sản cho doanh nghiệp theo hợp đồng đã ký; xử lý vi phạm hợp đồng không kịp thời và chưa triệt để; tình trạng tranh mua, tranh bán vẫn xảy ra khi đã có hợp đồng [34].
Nghị quyết số 26 NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn tại Hội nghị lần thứ Bảy BCH TƯ khoá X, ngày 5 tháng 8 năm 2008 được coi là bước đột phá sau Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm cho hộ nông nghiệp Đây được coi là Nghị quyết “tam nông” mà Đảng dành cho nông nghiệp- nông dân- nông thôn những chủ trương để thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển, trong đó có hỗ trợ nông dân tiêu thụ nông sản: “Phát triển sản xuất với quy
mô hợp lý các loại nông sản hàng hoá xuất khẩu có lợi thế, nông sản thay thế nhập khẩu… Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản” [29]
Sau khi có Nghị quyết Tam nông, việc tiêu thụ nông sản cho nông dân ngày càng được Chính phủ, các bộ, ngành quan tâm Điều đó được thể hiện qua Nghị quyết số 04 NQ/CP tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01 năm 2010
Thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ sản xuất nông, lâm, thủy sản, trước hết là tiêu thụ nông sản một số ngành có lượng hàng hóa lớn như lúa, gạo, thủy sản và một số nông sản khác nhằm phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân [30]
Mới đây nhất, ngày 6 tháng 1 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010 – 2015 và định hướng đến năm 2020” Theo đó, chợ nông thôn sẽ được đầu tư phát triển theo
mô hình nông thôn mới để tăng cường tiêu thụ hàng hoá, nông sản, mục tiêu vào năm 2015, 25-30% nông sản phải được tiêu thụ qua hợp đồng và con số này là 45-50% vào 2020
Trang 35Đến năm 2020, tất cả các xã đều có chợ đạt tiêu chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới; hoàn thành việc cải tạo, nâng cấp và xây mới các chợ đầu mối nông sản, chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu 80% số thị trấn có hình thức tổ chức phân phối quy mô nhỏ và vừa Tại Cần Thơ sẽ hình thành một sở giao dịch gạo và Đắk Lăk sẽ có một sở giao dịch cà phê Các địa phương khác sẽ hình thành một số trung tâm đấu giá hàng nông sản [35]
Bên cạnh những chủ trương đó, Nhà nước đã có những chính sách để
cụ thể hoá bằng cách hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp tiêu thụ, xuất khẩu nông sản thông qua các chương trình tín dụng, hỗ trợ tiêu thụ nông sản, mua vật tư máy móc nông nghiệp… Quyết định số 67/1999/QĐ/TTg là chính sách cụ thể hóa Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn, khơi thông nguồn vốn tín dụng vào khu vực nông nghiệp nông thôn, góp phần thực hiện xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân và từng bước thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Sau 10 năm thực hiện Quyết định 67, để phù hợp với tình hình mới, ngày 12/4/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn Các hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có thể được xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản tối đa đến 50 triệu đồng, trong đó có nội dung vay để phát triển sản xuất, tiêu thụ hàng hoá
Các chính sách tín dụng đối với khu vực nông nghiệp nông thôn đã thực sự làm thay đổi và dịch chuyển cơ cấu kinh tế các vùng, ngành, theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao Nguồn vốn tín dụng đã góp phần tạo sự phát triển vượt bậc trong sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, nhiều sản phẩm nông nghiệp trở thành
Trang 36những hàng hóa xuất khẩu chủ đạo, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế
Ngày 17/4/2009, Thủ tướng Chính phủ cũng ký quyết định TTg để hỗ trợ lãi suất vốn vay cho nông dân mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp nhằm đẩy nhanh tốc độ CNH-HĐH, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá theo hướng xuất khẩu Vụ lúa hè-thu năm
497/QĐ-2009, nông dân trồng lúa lao đao vì giá lúa quá thấp, thu hoạch về chất đống
mà không có người mua Thấy rõ những khó khăn ấy, ngày 22 tháng 9 năm
2009,Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1518/QĐ-TTg về mua tạm trữ
lúa, gạo hè thu năm 2009:
Giao Tổng công ty Lương thực miền Nam mua tạm trữ năm trăm nghìn tấn (500.000 tấn) quy gạo vụ Hè thu năm 2009 để duy trì giá lúa trên thị trường bảo đảm cho người trồng lúa có lãi theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 78/TB-VPCP ngày 09 tháng 3 năm 2009 Thời gian hoàn thành mua số lúa, gạo trên là hai tháng, được tính từ ngày 20 tháng 9 năm 2009 đến ngày 20 tháng
11 năm 2009; thời gian tạm trữ là bốn tháng, được tính từ ngày 20 tháng 9 năm 2009 đến ngày 20 tháng 01 năm 2010; ngân sách Nhà nước hỗ trợ 100% lãi suất tiền vay ngân hàng của doanh nghiệp để mua số lúa, gạo trên trong thời gian tạm trữ [36]
Ngay sau khi có quyết định này, giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long đã tăng trở lại, người trồng lúa đã bắt đầu có lãi Vụ hè thu 2010 cũng rơi vào tình trạng giống vụ hè thu 2009, do đó ngày 30/6/2010, Thủ tướng đã
ký quyết định số 993/QĐ-TTg về việc mua tạm trữ lúa, gạo Theo đó, Thủ tướng Chính phủ quyết định mua tạm trữ tối đa 1 triệu tấn quy gạo vụ hè thu năm 2010, thời hạn mua tạm trữ tính từ ngày 15/7/2010 đến ngày 15/9/2010
Trang 37Ngoài việc ra các quyết định thu mua, tạm trữ, Thủ tướng Chính phủ cũng quan tâm tới việc giúp người nông dân bán sản phẩm và có lãi Do đó, tháng 3-2010 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố giá mua lúa bảo đảm lãi ít nhất 30% so với giá thành sản xuất cho nông dân Mức giá nói trên phải được công bố ngay từ đầu vụ sản xuất để các tỉnh lấy làm căn cứ công bố giá mua lúa hàng hóa trên địa bàn
Như vậy, có thể thấy Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, tạo điều kiện trong việc hỗ trợ nông dân tiêu thụ nông sản, hàng hoá, tuy nhiên, trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều bất cập, trong đó có trách nhiệm của các cấp, các ngành
1.4.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vai trò của báo chí trong tuyên
truyền tiêu thụ nông sản
Ngay từ trước khi nước ta hội nhập WTO, trong nhận thức, Đảng đã thể hiện rõ sự quan tâm tới lợi ích của nhân dân, đặc biệt là giai cấp nông dân Nghị quyết số 13 NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( khoá V) ngày 24 tháng 06 năm 1983 về “Những vấn đề cấp bách về tư tưởng và tổ chức bảo đảm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ kinh tế và xã hội trước mắt”, Đảng đã chỉ đạo cải tiến công tác tuyên truyền để trang bị kịp thời cho nhân dân những hiểu biết đúng đắn về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về các mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, khẳng định vai trò và những đóng góp của báo chí trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống cho nông dân Nghị quyết Hội nghị cũng nêu rõ, đối với công tác báo chí, bên cạnh việc nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng; chính
Trang 38sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ những nhân tố mới thì báo chí cần:
Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ
vũ thành tựu của công cuộc đổi mới Coi trọng đúng mức việc phát hiện, biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; tích cực đấu tranh, góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã hội [31]
Ban Chấp hành TƯ Đảng cũng giao nhiệm vụ cho Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương hướng dẫn việc học tập, quán triệt Nghị quyết, chỉ đạo công tác tuyên truyền, trong đó có báo chí để tạo nhận thức đúng và đồng thuận cao trong toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân về Nghị quyết trên
Tại Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày 18/3/2002, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về nhiệm vụ chủ yếu của công tác
tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, Đảng đã nhấn mạnh vai trò của công tác quản lý báo chí
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác thông tin
cổ động Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 22 của Bộ Chính trị khóa VIII
về "Tiếp tục đổi mới, tăng cường lãnh đạo và quản lý báo chí, xuất bản" để báo chí thật sự là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, đồng thời là diễn đàn của nhân dân, để nhân dân thông qua báo chí thực hiện quyền làm chủ của mình; đa dạng hoá nội dung và hình thức thông tin, báo chí để các sản phẩm thông tin, báo chí đáp ứng sát hơn nhu cầu thông tin và đến được với đông đảo nhân dân thuộc các vùng, các dân tộc, các tầng lớp khác nhau; khắc phục những tiêu cực trong hoạt động báo chí, xuất bản [32]
Trang 39Ngày nay, chúng ta không chỉ sống trong thời đại bùng nổ thông tin
mà còn là thời đại quốc tế hoá thông tin Cùng với sự tác động của nhiều yếu
tố khác, những tác động của toàn cầu hoá đến lĩnh vực thông tin đã dẫn tới xu hướng toàn cầu hoá thông tin Đó là quá trình quy chuẩn hoá và mở rộng quy
mô toàn cầu về phạm vi ảnh hưởng, nguồn thông tin, công chúng, cách thức, phương pháp khai thác và tiếp nhận thông tin
Tuy nhiên, cũng giống như toàn cầu hoá về kinh tế, cũng cần thấy rõ những mặt tiêu cực của toàn cầu hoá thông tin: Sự áp đặt thông tin, áp đặt những giá trị văn hoá, sự khai thác thông tin của các doanh nghiệp tư bản một cách có lợi
Phát triển kinh tế là mục tiêu ưu tiên trong công cuộc đổi mới, bởi suy cho cùng kinh tế quyết định chính trị Do vậy, từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, đặc biệt là bước vào từng lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, báo chí được nhấn mạnh là một trong những lĩnh vực quan trọng, một trong những công cụ tuyên truyền sắc bén, góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu hơn, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp- nơi có nhiều yếu thế so với các lĩnh vực kinh tế khác
Trong hội nhập kinh tế, thông tin có một vai trò quan trọng, nó là nhu cầu không thể thiếu của người sản xuất, các doanh nghiệp Thông tin giúp cho các doanh nghiệp hoạch định phương án kinh doanh, người nông dân bố trí mùa vụ, giống cây… Vì thế, các nhà sản xuất, doanh nghiệp đều muốn có nhiều thông tin để tiêu thụ nông sản ngày một tốt hơn Báo chí vừa là người cung cấp thông tin, vừa là người giới thiệu, quảng bá hàng nông sản Việt Nam ra thế giới Qua báo chí, các liên doanh, liên kết hợp tác sản xuất, tiêu thụ nông sản sẽ có cơ hội được đẩy mạnh
Báo chí cũng là kênh để người nông dân, doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, xây dựng và phát triển thương hiệu Hiện báo chí đang được doanh
Trang 40nghiệp xem là kênh thông tin quan trọng, góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thương trường và trong xã hội Theo số liệu điều tra của Hiệp hội Công thương Hà Nội, có khoảng 75% doanh nghiệp đánh giá cao vai trò của báo chí, giúp họ hiểu biết thêm về thị trường, đối tác, quảng bá thương hiệu, nắm bắt nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của xã hội, các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Một khảo sát khác do VCCI thực hiện mới đây cũng cho thấy trong các nguồn thông tin về pháp lý, báo chí là nguồn lớn nhất, chiếm tới 70% lượng thông tin mà DN tiếp nhận được [37]
Thực tế cho thấy, thông tin đang trở thành một hằng số vật chất, có thể cân, đo, đong, đếm bằng các chỉ số kinh tế cụ thể và thông tin báo chí đang trở thành một trong những kênh thông tin quan trọng nhất, không chỉ cho những doanh nghiệp, nhà nông mà còn cả cho cả Đảng, Chính phủ trong việc lựa chọn và đưa ra những quyết sách phù hợp để phát triển kinh tế nông thôn
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận thực tế là báo chí ngày nay đang bị chi phối bởi nền kinh tế thị trường Rất nhiều tờ báo, cơ quan truyền thông chạy theo những thị hiếu nhất thời của công chúng mà bỏ quên những lãnh địa không sinh lời như nông thôn, vùng sâu, vùng xa… Điều này đã được nhận định trong Chỉ thị 22 CT/TW ngày 17/10/1997 của Bộ Chính trị (khoá VIII) về Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản: Một số sách báo, tạp chí, nhất là các số phụ, số chuyên đề xa rời tôn chỉ mục đích và đối tượng phục vụ, nhất là đối với công nhân, nông dân [7]
Báo chí có vai trò vô cùng quan trọng trong việc khắc hoạ diện mạo của nền nông nghiệp Việt Nam; tôn vinh những thành quả và phản ánh những bức xúc của nông đồng thời không ngừng thông tin, tuyên truyền, góp phần đưa những chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước đến với nông dân và doanh nghiệp nông thôn