Báo in phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số với tư cách là một trong những cơ quan báo chí chính thống, có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cho
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
ĐINH THỊ NHUNG
VẤN ĐỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRÊN BÁO IN HIỆN NAY
(Khảo sát trên báo Đại đoàn kết, báo Dân tộc và Phát triển,
Tạp chí Dân tộc, giai đoạn 2012 - 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
ĐINH THỊ NHUNG
VẤN ĐỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRÊN BÁO IN HIỆN NAY
(Khảo sát trên báo Đại đoàn kết, báo Dân tộc và Phát triển,
Tạp chí Dân tộc, giai đoạn 2012 - 2015)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Văn Quang
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ giáo trình nào khác
Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2015
Người thực hiện luận văn
Đinh Thị Nhung
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo đã trang bị kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn tới
TS Hoàng Văn Quang người đã khuyến khích, tận tình chỉ dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người am hiểu và quan tâm đến vấn
đề đại đoàn kết vùng đồng bào dân tộc thiểu số cùng đồng nghiệp, lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên báo Đại đoàn kết, báo Dân tộc và Phát triển, Tạp chí Dân tộc đã hợp tác chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu quan trọng phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Tôi xin gửi lời tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2015
Người thực hiện luận văn
Đinh Thị Nhung
Trang 5MỞ ĐẦU 2
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 12
1.1 Khái niệm về Dân tộc và Đại đoàn kết dân tộc 12
1.2 Vấn đề đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước 18 1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác tuyên truyền các vấn đề về đại đoàn kết dân tộc 33
1.4 Đặc điểm tiếp nhận thông tin của công chúng vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi 35
1.5 Công tác thông tin tuyên truyền về “Vấn đề Đại doàn kết dân tộc trên báo in” 36
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2: TUYÊN TRUYỀN VỀ VẤN ĐỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 42
2.1 Sự hình thành và phát triển Báo Đại đoàn kết 42
2.2 Sự hình thành và phát triển Báo Dân tộc và Phát triển 45
2.3 Sự hình thành và phát triển Tạp chí Dân tộc 47
2.4 Kết quả khảo sát 49
2.5 Nội dung tuyên truyền 52
2.5.1 Vấn đề Đại đoàn kết dân tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số 52
2.5.2 Tuyên truyền chủ trương, đường lối chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc 56
2.5.3 Phản ánh tình hình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số 68
2.5.4 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay 72
2.6 Hình thức tuyên truyền 77
2.6.1 Thể loại tác phẩm 77
Trang 62.6.3 Kết cấu (chuyên trang, chuyên mục) 81
Tiểu kết chương 2 83
Chương 3: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 86
3.1 Những thành công và hạn chế 86
3.1.1 Thành công 86
3.1.2 Hạn chế 91
3.2 Những thách thức trong việc tuyên truyền về đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay 92
3.2.1 Tình hình dân tộc thiểu số hiện nay 92
3.2.2 Tình hình quốc tế 93
3.3 Kiến nghị và giải pháp chung 94
3.3.1 Tăng cường sự lãnh đạo của cơ quan Quản lý báo chí và Lãnh đạo các cơ quan báo in 94
3.3.2 Phát huy vai trò quan hệ, giao lưu giữa báo in với các cấp, các ngành, các địa phương 97
3.3.3 Đào tạo đội ngũ Biên tập viên, Phóng viên 97
3.3.4 Tăng cường và phát huy vai trò của đội ngũ cộng tác viên 98
3.3.5 Cân đối thông tin giữa các dân tộc, vùng miền 99
3.3.6 Đổi mới về nội dung tuyên truyền 100
3.3.7 Đổi mới về hình thức tuyên truyền 102
3.3.8 Cần có chính sách hợp lý đối với phóng viên, biên tập viên 102
3.4 Cần có giải pháp cụ thể với từng tờ báo in 104
Tiểu kết chương 3 106
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 116
Trang 7BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
DTTS : Dân tộc thiểu số
DT & MN : Dân tộc và Miền núi
DT & PT : Dân tộc và Phát triển TTĐC : Truyền thông đại chúng CNH : Công nghiệp hóa
HĐH : Hiện đại hóa UBND : Ủy ban Nhân dân
UBDT : Uỷ ban Dân tộc
UBMT : Uỷ ban Mặt trận
UNESCO : Tổ chức khoa học, giáo dục và văn hóa liên hiệp quốc
KT - XH : Kinh tế xã hội
ĐĐK : Đại đoàn kết
Trang 8Bảng 33 Phóng viên có cần phải đi nâng cao kiến thức và tìm hiểu sâu về
vấn đề đại đoàn kết dân tộc trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số khổng? 101
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và lý do lựa chọn đề tài
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta, hiện có 53/63 tỉnh, thành có dân tộc thiểu số cư trú, với hơn
10 triệu người, sống rải rác ở 3/4 lãnh thổ, tập trung ở vào những vị trí chiến lược quan trọng trong quốc phòng và phát triển kinh tế Nơi tập trung đông
đồng bào dân tộc thiểu số nhất là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, miền Trung Đây là những vùng thiếu thông tin nhất so với các địa phương
khác
Thực tế cho thấy, trên mạng internet hiện có rất nhiều trang web của các thế lực thù địch ở nước ngoài lập ra nhằm mục đích bôi xấu lãnh tụ, xuyên tạc chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước, kích động quần chúng nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ly khai, chống lại Nhà nước Điển hình là vụ xúi giục hình thành nhà nước Đề Ga ở Tây Nguyên, sự kiện Mường Nhé - Điện Biên Mặc dù các nhà chuyên môn đã thiết lập tường
lửa để ngăn chặn, nhưng chiến dịch “chuyển lửa về quê hương” với tần xuất
ngày càng dày khiến không ít thanh thiếu niên, người dân bị lung lạc mất niềm tin vào chế độ Do phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số học vấn thấp, hiểu biết còn hạn hẹp nên họ đã trở thành đối tượng để các thế lực xúi giục,
kích động Trước tình hình phức tạp như vậy, vấn đề “Đại đoàn kết dân tộc
trên báo in hiện nay” rất được các cơ quan chủ quản chú trọng quan tâm Báo
in phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số với tư cách là một trong những cơ quan báo chí chính thống, có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cho đồng bào hiểu không tin theo kẻ xấu phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Vì vậy, nâng cao nhận thức chính trị của biên tập viên, phóng viên và sự cần thiết phải đổi mới, nâng cao chất lượng thông
Trang 10tin là yêu cầu cấp bách đối với báo chí phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác dân tộc trong tình hình mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
Thời gian qua, cùng với nhiều phương tiện thông tin đại chúng, Báo in đã tham gia tích cực vào công tác tuyên truyền, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trên địa bàn cả nước nói chung và đồng bào các dân tộc miền núi nói riêng trong thời kỳ mới, tạo tư tưởng xuyên suốt trong nhân dân về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời làm cho cán bộ đảng viên, nhân dân, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số thấy rõ được những cơ hội và
thách thức, âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội Báo in đã góp phần thúc đẩy thu hút đầu tư, quảng bá những tiềm năng, thế mạnh của vùng dân tộc và miền núi
“Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”
trên cơ sở những quan điểm cơ bản chỉ đạo việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc của nước ta, được cụ thể thể hóa bằng những nội dung bài viết trên
Báo in coi việc phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng đồng bào dân tộc là một
Trang 11bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển kinh tế quốc dân Cụ thể hóa bằng chủ trương, chính sách đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán của khu vực miền núi nói chung và của từng dân tộc nói riêng; Phải nắm vững quan điểm phát triển kinh tế nhiều thành phần Ngôn ngữ thực sự tôn trọng ý kiến của nhân dân; Kịp thời đưa những chủ trương chính sách mới ưu tiên kịp thời đến
với đồng bào
1.2 Lý do lựa chọn đề tài
Trước bối cảnh hội nhập và phát triển chung của đất nước, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền và bình đẳng trong thụ hưởng văn hóa và thông tin… là một trong những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta phấn đấu Tuy nhiên, việc thông tin tuyên truyền hiện nay chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn có những khó khăn về địa hình, về điều kiện kinh tế, về trình độ nhận thức… Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng những khó khăn, hạn chế của đồng bào, những yếu kém, sai sót của các cấp, các ngành trong nhận thức và tổ chức thực hiện công tác dân tộc ở vùng dân tộc, miền núi để kích động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội… Vì vậy, cùng với việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào, tuyên truyền phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống mới, tăng cường đại đoàn kết dân tộc… Báo in còn có nhiệm vụ rất quan trọng, đó là giúp đồng bào nâng cao ý thức cảnh giác với
kẻ xấu, không làm theo những điều trái pháp luật
Đổi mới thông tin nói chung và đổi mới, nâng cao chất lượng thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với hệ thống Báo in Trước hết cần đánh giá đúng thực trạng, tìm ra những ưu điểm, nhược điểm; đồng thời, đề ra những giải pháp khắc phục,
Trang 12nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của thông tin tuyên truyền phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Với lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Vấn đề Đại đoàn kết dân tộc
trên báo in hiện nay” khảo sát trên (Báo Đại đoàn kết, Báo Dân tộc và Phát triển, Tạp chí Dân tộc, giai đoạn 2012 - 2015) làm luận văn Thạc sĩ khoa học
báo chí
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Những năm qua “Vấn đề Đại đoàn kết dân tộc trên Báo in hiện nay” đã được nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu và tìm hiểu, nhưng ở nhiều góc độ, cách tiếp cận vấn đề khác nhau
2.1 Tham luận tại các hội thảo khoa học
Đối với Ủy ban Dân tộc thì vấn đề Đại đoàn kết dân tộc trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được chú trọng, quan tâm thực hiện trong các chủ trương, chính sách, trong đó có chính sách dành cho báo chí phục vụ đồng bào vấn đề này được đề cập trong một số cuộc Hội thảo
Năm 2010, Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số
Việt Nam phối hợp với Ủy ban Dân tộc tổ chức Hội thảo quốc gia về “Cộng
đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam và chính sách đại đoàn kết dân tộc”, Hội
thảo đã bàn đến nhiều lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng nhấn mạnh vai trò trách nhiệm trong lĩnh vực công tác dân tộc; Thực hiện chính sách dân tộc của mỗi Bộ, ngành, mỗi lĩnh vực trong việc cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa việc đổi mới, bổ sung các chính sách dân tộc cho phù hợp, hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp đỡ nhau giữa các dân tộc Hội thảo đã kịp thời khẳng định đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, đại đoàn kết dân tộc, về sự cần thiết phải quan tâm đầu tư nghiên cứu hơn
Trang 13nữa để điều chỉnh các chính sách cho phù hợp, phát huy được hiệu quả để chính sách đi vào cuộc sống
Năm 2014, Ủy ban Dân tộc đã tổ chức sơ kết đánh giá tiến độ thực hiện Quyết định 2472/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số báo, tạp chí cho đồng bào dân tộc thiểu số Nhưng hội nghị mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá mặt tốt, còn hạn chế về nội dung và hình thức tuyên truyền, công tác phát hành đến đồng bào các dân tộc thiểu số Trong diện cấp phát báo, tạp chí miễn phí phục vụ đồng bào: Báo Đại đoàn kết,Tạp chí Dân tộc, Báo Dân tộc
và Phát triển đã có những bước tiến đáng ghi nhận, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục…
Năm 2015 tại Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Ủy ban Dân tộc đã tổ
chức hội thảo “Hiệu quả từ các ấn phẩm báo, tạp chí đối với đồng bào dân
tộc thiểu số” Tại Hội thảo, các đại biểu tham dự đã khẳng định ảnh hưởng của
công tác tuyên truyền thông qua các ấn phẩm báo chí đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn; thực hiện các mô hình kinh
tế trang trại, chuyển đổi cơ cấu cây trồng để tăng năng suất và chất lượng, góp phần nâng cao đời sống; giúp đồng bào học hỏi và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; góp phần thúc đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, nâng cao cảnh giác và ngăn ngừa những luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch lợi dụng vấn
đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc
2.2 Các luận văn thạc sĩ
Năm 2005, Phạm Ngọc Bách đã hoàn thành luận văn thạc sĩ: “Chương
trình Dân tộc và Miền núi trên sóng VTV1- Đài Truyền hình Việt Nam” Tác
giả đã khảo sát các chương trình dân tộc và miền núi từ tháng 1/2004 đến tháng 6/2005; đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình Năm
Trang 142010, Lữ Thị Ngọc có đề tài nghiên cứu: “Nâng cao chất lượng báo in phục vụ
đồng bào dân tộc thiểu số” (khảo sát trường hợp người Thái ở Tương Dương,
Nghệ An) Năm 2001, Nguyễn Xuân An Việt có đề tài nghiên cứu luận án
thạc sĩ: "Thông tin về dân tộc miền núi trên VTV1- Đài Truyền hình Việt
Nam" Luận văn đã khảo sát chương trình về đề tài dân tộc miền núi của Đài
Truyền hình Việt Nam trong 3 năm 1999-2001 Ở công trình này, tác giả đưa
ra các giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng chương trình, tăng cường hiệu quả thông tin về vấn đề dân tộc miền núi của Đài Truyền hình Việt Nam
Nội dung các luận văn cho thấy báo chí đã kịp thời tuyên truyền chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào, những gương người tốt, việc tốt, những mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi đến đồng bào vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Để khắc phục những hạn chế các luận văn trên đã đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thông tin phục vụ đồng bào Trên cơ sở kết quả của các tác giả nghiên cứu đi
trước, luận văn này tập trung nghiên cứu “Vấn đề Đại đoàn kết dân tộc trên
báo in hiện nay” khảo sát trên hệ thống báo in (Báo Đại đoàn kết,Tạp chí Dân tộc, Báo Dân tộc và Phát triển từ năm 2012 đến nay)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng công tác tuyên truyền về đại đoàn kết các dân tộc trên báo in hiện nay, nhằm đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tuyên truyền đối
với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận đến thực tiễn liên quan đến đề tài
- Khảo sát Báo Đại đoàn kết,Tạp chí Dân tộc, Báo Dân tộc và Phát triển
Trang 15- Phân tích nội dung bài viết từ lý luận, đến thực tiễn - kinh nghiệm các vấn đề nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thông tin phục vụ đồng bào
- Đề xuất giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng nội dung thông tin trên Báo in…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này bao gồm: một số văn kiện của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành về đồng bào dân tộc thiểu số và thông tin tuyên truyền về về vấn đề đại đoàn kết dân tộc; Công tác chỉ đạo về vấn đề này của Ủy ban Dân tộc đối với báo Đại đoàn kết, báo Dân tộc và Phát triển, Tạp chí Dân tộc - đây là đối tượng chính mà tác giả khảo sát, nghiên cứu trong luận văn này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên báo in hiện nay có nhiều nội dung thông tin phong phú đề cập đễn nhiều vấn đề khác nhau Tuy nhiên vấn đề đại đoàn kết dân tộc tập trung chủ yếu ở hệ thống báo in phục vụ đồng bào Trong khuân khổ luận văn này,
chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi khảo sát vấn đề: “Đại đoàn kết dân tộc trên
báo in hiện nay” (khảo sát trên báo Đại đoàn kết, báo Dân tộc và Phát triển, Tạp chí Dân tộc, giai đoạn 2012 – 2015)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được viết trên cơ sở quan điểm triết học Mác - Lênin, mà nền tảng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phân tích đánh giá trong đề tài đứng trên quan điểm báo chí vô sản, tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối dân tộc; dựa vào đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề đại đoàn kết dân tộc; cũng như quan điểm của
Trang 16Đảng Nhà nước về vai trò của báo in trong đời sống văn hóa xã hội để làm căn cứ trong quá trình nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra xã hội học, thực hiện đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở 4 tỉnh là: Yên Bái, Sơn La, Cần Thơ và Gia Lai
Phương pháp tổng hợp, phân tích vấn đề một cách cụ thể, khách quan Qua đó, tìm ra những điểm nổi bật về nội dung, hình thức, thế mạnh của vấn
đề “Đại đoàn kết dân tộc trên báo in”
Phương pháp phỏng vấn sâu một số người am hiểu, quan tâm đến nội
dung vấn đề “Đại đoàn kết các dân tộc trên báo in”, cùng ý kiến của các
đồng nghiệp, của lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên Báo Đại đoàn kết,Tạp chí Dân tộc, Báo Dân tộc và Phát triển
Phương pháp đối chiếu, so sánh: để rút ra những ưu nhược điểm của
của vấn đề “Đại đoàn kết dân tộc” so với yêu cầu và nhiệm vụ trong giai
đoạn mới Từ đó, xác định rõ vai trò, đặc điểm của thông tin phục vụ đồng bào trong hệ thống báo chí
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn sẽ góp phần vào việc tổng kết thực tiễn và lý luận về vấn đề
“Đại đoàn kết dân tộc” cụ thể hóa bằng những thông tin phục vụ đồng bào
dân tộc thiểu số củng cố niềm tin của đồng bào với Đảng, Chính phủ Mục đích tăng cường nâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin phục vụ đồng bào Đồng thời, luận văn cũng có thể là tài liệu để cán bộ, phóng viên trực tiếp làm công tác thông tin về lĩnh vực này tham khảo, vận dụng Luận văn còn là tài liệu cho các cơ quan chức năng, các cơ sở giáo dục - đào tạo, những ai quan tâm tham khảo
7 Kết cấu của luận văn
Trang 17Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về Đại đoàn kết dân tộc
Chương 2: Tuyên truyền về vấn đề Đại đoàn kết dân tộc
Chương 3: Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền
về Đại đoàn kết dân tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 18Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
1.1 Khái niệm về Dân tộc và Đại đoàn kết dân tộc
1.1.1 Dân tộc thiểu số
Dân tộc và dân tộc thiểu số là những khái niệm có mối liên kết mật thiết với nhau, tuy thống nhất mà không đồng nhất Ở chúng vẫn có những điểm khác cần nhận rõ
Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa như sau:
Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị- xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính người (ethnie) của bộ phận tộc người Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác
nhau… ( Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam)
Từ điển Tiếng Việt nêu định nghĩa dân tộc như sau:
1 Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hóa và tính cách…
2 Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ,lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc…
3 Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức vềsự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung.Và định nghĩa dân tộc thiểu số như sau: “Dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số đông nhất trong một nước có nhiều dân tộc”
Trang 19Giáo trình triết học Mác - Lênin, do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn cho rằng:
Khái niệm dân tộc thông thường được dùng để chỉ hầu như tất cả các hình thức cộng đồng người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc) Cần phân biệt “dân tộc” theo nghĩa rộng trên đây với “dân tộc” theo nghĩa khoa học: đó là hình thức cộng đồng người cao hơn các hình thức cộng đồng trước đó, kể cả bộ tộc
“Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến
trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân
tộc có dân số ít Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân
tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự
chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia
Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương
quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng
dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa
vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những
điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc
Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 80 triệu người Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là “dân tộc đa số”, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là “dân tộc thiểu số” trong cộng đồng
các dân tộc Việt Nam Khái niệm “dân tộc thiểu số”, có lúc, có nơi, nhất là
Trang 20trong những năm trước đây còn được gọi là “dân tộc ít người” Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là “dân tộc thiểu số”, nhưng cách gọi “dân
tộc ít người” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung
Rút ra định nghĩa về dân tộc và dân tộc thiểu số như sau:
Dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, nhưng có hai nghĩa chính: hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người Sự liên kết cộng đồng dân tộc được tạo nên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu hiện thành ý thức tự giác tộc người Xét cho cùng, nền tảng của sự liên kết mà các yếu tố trên tạo nên là trình độ phát triển kinh tế Bởi vì, tính chất của dân tộc bao giờ cũng phụ thuộc vào phương thức sản xuất
Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác giới
1.1.2 Khái niệm về Đại đoàn kết dân tộc
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học và Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 1994 và sau đó là các Từ điển khác đều đưa ra
khái niệm đoàn kết như sau: “đoàn kết là kết thành một khối thống nhất, cùng
hoạt động vì một mục đích chung” và Đại đoàn kết là “đoàn kết rộng rãi”
Rõ ràng, đây là một cắt nghĩa phổ thông về Hán Việt và mới chỉ đưa ra cái vỏ thông tin của khái niệm chứ chưa có nội dung đầy đủ Đó là trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ
Khái niệm đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh:
Trang 21Trong bài nói chuyện tại Hội nghị Đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc
10.1 1955, Hồ Chí Minh đã nêu ra khái niệm đại đoàn kết “Đại đoàn kết là
trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền cuả nhà, cái gốc của cây Nhưng đã có nền
vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác.”
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải xây dựng và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Trong thời gian qua, nhìn chung, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, giữ vững ổn định chính trị- xã hội của đất nước Tuy nhiên, trong khi sự nghiệp đổi mới đang có yêu cầu cao về tập hợp sức mạnh của nhân dân thì việc tập hợp nhân dân vào Mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội còn nhiều hạn chế, nhất là ở khu vực kinh tế tư nhân, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo, đồng bào dân tộc thiểu số
Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn cách mạng hiện nay là: phải củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Trong tình hình hiện nay, để vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng, củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần chú ý những vấn đề sau đây:
Trang 22Một là, phải thấu suốt quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hai là, lấy mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai
Ba là, bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân - tập thể - toàn xã hội; thực hiện dân chủ gắn với giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tinh thần tự lực tự cường xây dựng đất nước; xem đó là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Bốn là, đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu Khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, nâng cao ý chí tự lực tự cường, giữ vững bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế Từ khi đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới, toàn diện đất nước, Đảng ta đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc phù hợp với tình hình mới Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc chuyển sức mạnh đoàn kết dân tộc trong thời kỳ giữ nước sang thời kỳ dựng nước không phải là việc dễ dàng, lịch sử đang đòi hỏi những nỗ lực lớn của Đảng
và Nhà nước ta trong lĩnh vực này Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xu thế hiện nay là hội nhập kinh tế quốc tế, một loạt vấn đề đặt ra mà chúng ta phải chú ý:
Trang 23Khơi dậy và phát huy cao độ sức mạnh nội lực, phải xuất phát từ lợi ích dân tộc, từ phát huy nội lực dân tộc mà mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi khả năng có thể tranh thủ được để xây dựng, phát triển đất nước
Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao ý chí tự cường dân tộc, trong chính sách đại đoàn kết, phải chú ý phát huy tính năng động của mỗi người, mỗi bộ phận để mọi việc từ lãnh đạo, quản lý, đến sản xuất kinh doanh, học tập và lao động đều có năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao Đồng thời, phải khắc phục được những tiêu cực của kinh tế thị trường, đặc biệt là tâm
lý chạy theo đồng tiền, cạnh tranh không lành mạnh làm phai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa tương thân, tương ái của dân tộc
Điều quan trọng để phát huy nội lực dân tộc, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay là phải xây dựng được hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh Phải chống các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn tham nhũng, quan liêu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, phải biết lắng nghe những ý nguyện chính đáng của nhân dân, phải kịp thời giải quyết những oan
ức của nhân dân, làm cho lòng dân được yên Phải tiếp tục đổi mới chính sách giai cấp, chính sách xã hội, đặc biệt coi trọng việc xây dựng Mặt trận, đổi mới, hoàn thiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách đối với công nhân, với nông dân, với trí thức, chính sách đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, chính sách đối với các thành phần kinh tế, tập hợp đến mức rộng rãi nhất mọi nhân tài, vật lực vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa kinh tế ngày càng phát triển, đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy tối đa nội lực dân tộc còn đòi hỏi phải
Trang 24củng cố sự đoàn kết với phong trào cách mạng các nước, đồng thời phải nắm vững phương châm ngoại giao mềm dẻo, có nguyên tắc nhằm thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại hiện nay của Đảng và Nhà nước ta là: Việt Nam muốn là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển Trong tình hình thế giới hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có những chủ trương đúng đắn, sáng tạo trong việc nắm bắt cơ hội, vượt qua thử thách, đẩy lùi nguy cơ, để vừa nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, vừa giữ vững bản sắc dân tộc, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Phát huy bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phải nhất quán coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới, tiếp tục đoàn kết, ủng hộ các phong trào cách mạng, các xu hướng và trào lưu tiến bộ của thời đại vì các mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, Đảng, Nhà nước ta chủ trương nêu cao nguyên tắc độc lập tự chủ, tự lực tự cường, chủ trương phát huy mạnh mẽ sức mạnh dân tộc- sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh của người làm chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở sức mạnh bên trong mà tranh thủ và tận dụng sự đồng tình,
ủng hộ rộng rãi của lực lượng bên ngoài (trích:[1] Hồ Chí Minh, Nxb CTQG,
HN 1995, tập 3, tr 217)
1.2 Vấn đề đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
1.2.1 Đặc điểm tình hình vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Cộng đồng văn hóa Việt Nam rất đa dạng, bao gồm 54 dân tộc và 7 hệ ngôn ngữ chính tìm thấy từ Tây Á tới khu vực Thái Bình Dương Nhiều nhóm dân tộc đã tồn tại rất lâu đời và thậm chí trước cả khi người Việt tới định cư;
Trang 25một số khác thì mới nhập cư gần đây Dân tộc thiểu số đông nhất là người Tày, với gần 1,5 triệu người Trong khi dân tộc thiểu số nhỏ nhất là người Ơ
Đu với con số 300 người Nhiều dân tộc cùng có chung ngôn ngữ và lịch sử với các dân tộc ở các quốc gia khác (ví dụ người Tày, được biết tới như người Choang ở Trung Quốc, là dân tộc thiểu số lớn nhất nước), trong khi một số dân tộc khác lại chỉ thấy tồn tại trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có khoảng trên 10 triệu người trong tổng số hơn 86 triệu dân cả nước Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại khoảng 170 huyện của 42 tỉnh trải dài trong cả nước Các dân tộc thiểu số và miền núi có một vài đặc điểm chung: 75% dân
số là người dân tộc thiểu số ở Việt Nam sống ở hai vùng: miền núi phía Bắc giáp với Trung Quốc và vùng Tây Nguyên giáp Lào và Cam-pu-chia Hầu hết các dân tộc thiểu số đều sống ở vùng nông thôn Các vùng khác cũng có người dân tộc thiểu số sinh sống, ví dụ như: người Khmer, người Hoa và người Chăm có thấy ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long Các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên nhìn chung là những tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển, đời sống vật chất, văn hóa, xã hội còn nhiều khó khăn Các tỉnh này cũng là nơi tập trung chủ yếu đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Theo thống
kê, số hộ nghèo ở vùng núi và trung du phía Bắc là 48,5% và ở Tây Nguyên hơn 48,4%
Có đến gần một nửa số tỉnh của Việt Nam, trải trên khắp đất nước, có người dân tộc thiểu số sinh sống Nhiều dân tộc thiểu số không sinh sống ở những khu vực địa lý tách biệt với người Kinh hoặc các dân tộc khác Có đến hơn một nửa số huyện ở khu vực miền núi phía Bắc có 10 dân tộc hoặc hơn đại diện và tất cả các dân tộc này sinh sống bên cạnh nhau hoặc thậm chí sống cùng nhau trong từng thôn bản Mỗi dân tộc cá thể có những thành viên nằm rải rác ở hàng trăm và thậm chí hàng nghìn xã khác nhau trên khắp đất nước
Trang 26Tính đa dạng sắc tộc này ở Việt Nam đã tồn tại lâu đời ở một số vùng miền (khu vực miền núi phía Bắc) trong khi lại chỉ mới xuất hiện gần đây ở một số nơi khác (khu vực Tây Nguyên)
Mặt khác, sự đa dạng cũng tồn tại nhiều trong nội bộ các cộng đồng dân tộc thiểu số: họ rất khác nhau về sự đồng hóa, khác cả cấp độ thành công về kinh tế Một số dân tộc như: Tày và Mường, có mức thu nhập hộ gia đình và hưởng thụ giáo dục tương đương với người Kinh, trong khi ở một nhóm dân tộc khác thậm chí không có thành viên nào theo học được tới bậc trung học phổ thông Tính đa dạng về văn hóa và địa lý này khiến cho việc xây dựng chương trình của Chính phủ và các chương trình khác đáp ứng được nhu cầu về ngôn ngữ và văn hóa của từng cá thể trở nên vô cùng khó khăn Điều này cho thấy sự cần thiết phải có những nghiên cứu nhân học đầy đủ trong tương lai về mối tương đồng và khác biệt dân tộc Mặc dù được sự quan tâm đầu tư thích đáng của Đảng và Nhà nước, song đến nay vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước
ta vẫn là khu vực chậm phát triển về mọi mặt Khoảng cách chênh lệch phát triển giữa miền núi và miền xuôi có xu hướng ngày càng tăng Tính bền vững của quá trình phát triển giữa các vùng miền chưa được bảo đảm còn nhiều hạn chế, yếu kém Hiện nay, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang phải đối mặt với nhiều cam go, thách thức, trước hết là đói nghèo: 3 vùng nghèo nhất là Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Đói nghèo, học vấn thấp, thiếu nước sinh hoạt, thiếu dịch vụ xã hội, dân số tăng nhanh, bướu cổ, suy dinh dưỡng với tỷ lệ cao là những vấn đề xã hội cấp bách cần phải được giải quyết trong quá trình phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi ngày nay
Trang 27Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo, lạc hậu ở
hầu hết các vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta là: sự khác biệt về năng
lực, và sự khác biệt về ngôn ngữ
* Sự khác biệt về năng lực:
Rào cản lớn nhất để đạt tới sự thành công chính là giáo dục Các dân tộc thiểu số và miền núi được tiếp cận ít hơn tới giáo dục có chất lượng Do vậy, kết quả học tập của họ cũng thấp hơn Tỷ lệ học sinh bỏ học vẫn còn cao trong cộng đồng các dân tộc thiểu số và miền núi Họ có xu hướng đi học muộn hơn ở bậc tiểu học và còn thiếu tiếp cận giáo dục bậc mầm non Kết quả
là tỷ lệ mù chữ và không thông thạo tiếng Việt ở người dân tộc thiểu số cao,
từ đó cản trở khả năng tương tác của họ Nhiều người dân tộc thiểu số, đặc biệt là người nghèo và phụ nữ, không biết đọc biết viết, thậm chí không biết nói tiếng Việt.Điều này hạn chế khả năng tiếp cận và chia sẻ thông tin; đồng thời là trở ngại nghiêm trọng tới năng lực của họ trong suốt cả cuộc đời
Rào cản khác ngăn cản khả năng mở rộng năng lực là việc thiếu tính di chuyển và ít kinh nghiệm hòa nhập về một thế giới rộng lớn Các dân tộc thiểu số và miền núi ít di chuyển hơn so với người Kinh Điều đó hạn chế tới khả năng quan sát, học hỏi các ý tưởng và công nghệ mới của họ
Khả năng hành động cũng có thể bị hạn chế bởi yếu tố văn hóa Nhiều người dân tộc thiểu số cho biết còn có khác biệt về văn hóa giữa người Kinh
và người dân tộc thiểu số thể hiện trong các hoạt động giao dịch mua bán ở chợ, ở trường học hay ở các hoạt động khác
* Sự khác biệt về ngôn ngữ:
Trong “các cuộc thảo luận nhóm tập trung trên khắp cả nước, các nhóm dân tộc thiểu số thường bày tỏ rằng họ “không tự tin” và “e ngại” khi lui tới các khu chợ, đòi giá cao hơn cho hàng hóa của mình, đòi hỏi các dịch vụ của Chính phủ mà họ được quyền hưởng lợi” Sự e ngại này được liên hệ lại với
Trang 28các yếu tố được đề cập trước đó: thiếu tiếp cận giáo dục ở người dân tộc thiểu
số đã làm họ cảm thấy bị hạn chế về khả năng ngôn ngữ Cùng với đó, việc thiếu tính di chuyển cũng khiến cho họ không kinh nghiệm và ít sẵn sàng tiếp cận với thế giới xung quanh hơn
Một rào cản nữa có tính khách quan định kiến ngăn cản việc tăng tiếng nói và quyền tự quyết của các dân tộc thiểu số là lối suy nghĩ rập khuôn phổ biến cho thấy sự kém cỏi của người dân tộc thiểu số trong con mắt của những người khác Lối suy nghĩ rập khuôn này có thể dẫn tới những hậu quả xấu, đặc biệt là ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tự trọng và sự tự tin của người dân tộc thiểu số trong việc sử dụng tiếng nói và quyền sống riêng của họ Thay đổi nhận thức của số đông về người dân tộc thiểu số đòi hỏi phải chú ý đến sự đại diện của các dân tộc thiểu số trong những công trình nhân học, đặc biệt trong các phương tiện truyền thông đại chúng
1.2.2 Vấn đề đại đoàn kết dân tộc
Vấn đề đoàn kết dân tộc đã được ghi trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khóa IX) nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc
là vấn đề chiến lược cơ bản lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của
cách mạng Việt Nam”
Khẳng định vai trò của báo chí trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, đồng thời cũng là nhiệm vụ của báo chí, Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nêu rõ:
Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng Báo chí, xuất bản… làm tốt chức năng tuyên truyền, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội; giới thiệu gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê phán các hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhân tố lệch lạc, đấu
Trang 29tranh với những quan điểm sai trái; coi trọng, nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và tính chiến đấu của thông tin
Có thể khẳng định, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng nước ta Nhiều văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã nhấn mạnh tầm quan trọng, vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc Đây là cơ sở để động viên nguồn lực con người, tài trí của tất cả các dân tộc; đảm bảo ổn định chính trị - xã hội cho sự phát triển; thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; vượt qua được những thách thức, tận dụng được thời cơ; quyết định đến thành bại sự nghiệp cách mạng trước đây, hiện nay cũng như tương lai
Mặt khác, trong bối cảnh chính trị-xã hội thế giới diễn biến rất phức tạp như hiện nay, các thế lực thù địch đang lợi dụng các đặc điểm trong quan hệ dân tộc-tộc người, nhất là lợi dụng tính nhạy cảm của tâm lý dân tộc, tâm lý tôn giáo, những khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm kích động chia rẽ đoàn kết các dân tộc, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” Vì vậy, việc nhận thức đầy đủ về các đặc điểm trong quan hệ dân tộc-tộc người có ý nghĩa rất lớn trong hoạch định và thực hiện đúng chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay
Nhận thức vấn đề dân tộc và giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã xây dựng chính sách dân tộc, coi đó là một bộ phận hữu cơ trong chính sách của Đảng
Vận dụng cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện
cụ thể của Việt Nam, Đảng đã nêu ra nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc nước ta là: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển Theo các nguyên tắc đó, trong quá trình giải quyết vấn đề dân tộc, cho đến nay, nước ta đã được những thành tựu cơ bản Đó là, tập trung
Trang 30phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi, thông qua nhiều chính sách đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng, xã hội
Tuy nhiên, thực tế hiện nay đang đòi hỏi đất nước ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh việc tập trung vào một số nhiệm vụ cấp bách, cụ thể để thực hiện tốt chính sách dân tộc và đoàn kết dân tộc Đó là, chính sách dân tộc phải dần được cụ thể hóa thành những nội dung chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh, quốc phòng
Thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi một cách phù hợp Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò nhân tố điển hình, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương
Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị Thực hiện chính sách dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc
và đoàn kết dân tộc Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển giữa các dân tộc - tộc người trong xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là tư tưởng chủ đạo, định hướng cho hoạch định và thực hiện những nội dung cụ thể của chính sách dân tộc Mọi tư tưởng kỳ thị, hẹp hòi, dân tộc cực đoan hay tự ti, mặc cảm dân tộc đều trái với quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải quyết các quan hệ dân tộc và đoàn kết dân tộc
Trang 311.2.3 Vai trò, vị trí, mục tiêu và nhiệm vụ của báo chí
Ngay tử khi thành lập, trên cơ sở nguyên lý của chủ nghĩa Mác -Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc, đại đoàn kết các dân tộc coi là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi công tác dân tộc thiểu số là một phần hữu cơ, có vai trò quan trọng của cách mạng Việt Nam
Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
IX (2003) đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về dân tộc miền núi.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng xác định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn
có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển”
Gần đây, Văn kiện Đảng khóa X (2006) đã khẳng định lại quan điểm
của Đảng ta về vấn đề dân tộc, miền núi trong thời kỳ mới: “Vấn đề dân tộc
và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh định cư và xây dựng vùng kinh tế mới Quy hoạch, phân bố, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh
tế với đảm bảo an ninh, quốc phòng Củng cố và nâng cao chất lượng hệ
Trang 32thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên những người tiêu biểu trong các dân tộc Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tri thức là người dân tộc thiểu số Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận Chống các biểu hiện kỳ thị hẹp hòi chia rẽ dân tộc.”
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã đề ra chính sách dân tộc
và công tác dân tộc phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào thắng lợi chung
Cùng với sự phát triển của cách mạng, báo chí nước ta ngày càng khẳng định được vai trò là cầu nối tin cậy giữa Đảng với dân, dân với Đảng Nước ta
có 54 dân tộc anh em, trong đó có 53 dân tộc thiểu số sống trải đều từ Bắc vào Nam Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi miền núi dân tộc thiểu số có tầm quan trọng chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Vì thế, dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng trong mọi thời điểm phát triển, Đảng và Nhà nước vẫn tập trung mọi nguồn lực để đầu tư phát triển miền núi và vùng đồng bào dân tộc
Cách mạng xã hội, đó là sự nghiệp của quần chúng Vì vậy, về cơ bản mọi chính sách của Đảng và Nhà nước đến với các vùng và đồng bào các dân tộc là nhằm hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc phát huy được nội lực, phấn đấu vượt qua đói nghèo, vươn lên từng bước hòa nhập vào
sự phát triển chung của cả nước
Để đạt được mục tiêu như đã đề ra, Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ
Chính trị ngày 27/11/1989 “Về chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế-
xã hội miền núi” đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ trong quá trình tổ chức
thực hiện chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước Để thể chế hóa Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
Trang 33đã có quyết định số 72/QĐ-HĐBT, ngày 13/3/1990 “Về một số chủ trương,
chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi” quy định rõ những nội
dung đổi mới cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất ở miền núi theo hướng chuyển sang kinh tế hàng hóa phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng tiểu vùng, từng dân tộc Gắn phát triển kinh tế với vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và củng cố an ninh, quốc phòng
Từ yêu cầu thực tế trên, ngày 28 tháng 12 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 2472/QĐ-TTg, về việc cấp một số báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn (giai đoạn 2012 - 2015) gồm 19 báo, tạp chívà 01 đơn vị phát hành Hiện các báo, tạp chí phục vụ riêng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc diện thụ hưởng của Quyết định
2472 đang phát huy hiệu quả tuyên truyền, được đồng bào đón nhận
Có thể nói, thông tin nói chung và thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cơ quan báo chí và sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân Từ khi đất nước còn đang trong thời kỳ chiến tranh và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay, thông tin về lĩnh vực này luôn được coi trọng và góp phần vào sự thành công chung của cả nước Thông tin đã góp phần rút ngắn khoảng cách giữa miền ngược và miền xuôi Thông tin giúp đồng bào nắm bắt được chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giúp đồng bào nhanh chóng xóa đói, giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu,…
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày
12 tháng 3 năm 2013, phê duyệt “Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020”
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược hướng đến phát triển kinh tế - xã hội toàn diện, nhanh, bền vững; đẩy mạnh giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc; giảm dần vùng đặc biệt khó khăn; từng bước hình thành các trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học vùng
Trang 34dân tộc thiểu số; phát triển nguồn nhân lực vùng dân thiểu số; tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số; củng cố
hệ thống chính trị cơ sở; giữ vững khối đại đoàn kết các dân tộc, đảm bảo ổn định an ninh, quốc phòng
Để thực hiện các mục tiêu cụ thể, Chiến lược đặt ra nhiệm vụ chủ yếu cần thực hiện gồm: Phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số; Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số: Làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là người dân tộc thiểu số; Sắp xếp lại mục tiêu đào tạo hệ thống các trường đại học, trường dạy nghề ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam
Bộ để tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số, nghiên cứu xây dựng Học viện Dân tộc; Ưu tiên giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp; Phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo đồng bào dân tộc thiểu số: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ; có chính sách chuyển đổi nghề, tạo việc làm để ổn định và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số; triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo nghề và xuất khẩu lao động ở vùng dân tộc; Phát huy lợi thế so sánh, hình thành vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa; Tạo cơ hội bình đẳng để đồng bào tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ dịch vụ, phúc lợi xã hội; tạo môi trường thuận lợi
để thu hút mọi nguồn lực vào phát triển nông nghiệp, nông thôn; giải quyết cơ bản tình trạng thiếu v`à tranh chấp đất sản xuất, đất ở cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; Tập trung nguồn lực thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số; Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số: hoàn thành việc xây dựng các tuyến đường giao thông kết nối liên vùng sản xuất hàng hóa, trung tâm
Trang 35các xã, thôn, bản; đảm bảo điện thắp sáng, các công trình nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, chợ; gắn với sắp xếp, ổn định dân cư thuận lợi cho phát triển; hạn chế tình trạng di cư tự do; Phát triển hạ tầng truyền dẫn phát sóng đồng bộ; Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số: nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe; xây dựng chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết, tập quán, tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số,…; tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, thông tin; nâng cao chất lượng tuyên truyền, vận động chống các biểu hiện mê tín, dị đoan, suy thoái đạo đức, lối sống; Nâng cao chất lượng hệ thống chính trị, củng cố an ninh nông thôn vùng dân tộc thiểu số: xây dựng, đẩy mạnh hiệu quả hoạt động của
tổ chức đảng, đoàn thể đến từng bản, làng, phum, sóc, khắc phục tình trạng trắng tổ chức Đảng và đảng viên ở cấp thôn, bản dân tộc thiểu số; tiếp tục kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, quan tâm phát hiện nguồn, quy hoạch và đào tạo bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách động viên, khuyến khích già làng, trưởng bản, người có uy tín tham gia công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án vùng dân tộc thiểu số; đẩy mạnh công tác vận động quần chúng nhân dân dân tộc thiểu số, ngăn chặn âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch; xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của thế lực thù địch; Tập trung đầu tư phát triển địa bàn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số; Đảm bảo nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường vùng dân tộc thiểu số Nâng cao nhận thức về công tác dân tộc, đảm bảo nguồn lực tài chính thực hiện Chiến lược, đổi mới việc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc đồng thời kiện toàn, nâng cao hiệu quả cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Trang 36Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nêu: “Phát
triển mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản và phát hành sách trên tất cả các vùng, chú ý nhiều hơn đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”
Những năm gần đây, việc nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần cho nhân dân, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được Đảng và Nhà nước, các cấp, các ngành quan tâm hơn, thể hiện trong việc ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách, xây dựng và phát triển bộ máy ngành văn hóa-thông tin, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và phát triển các loại hình văn hóa Chủ trương phủ sóng phát thanh, truyền hình được triển khai khắp các địa phương miền núi, kể cả các vùng xa xôi hẻo lánh Hiện nay, tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt hơn 90% lãnh thổ, truyền hình khoảng 85% Các xã miền núi được trang bị các thiết bị thông tin hiện đại như video, máy thu hình, thu thanh, điện thoại, internet… và có thêm nhiều loại hình văn hóa truyền thống phù hợp với nhân dân các dân tộc; mở rộng chương trình phát thanh, truyền hình bằng nhiều thứ tiếng phù hợp với nguyện vọng đông đảo của đồng bào các dân tộc
Bằng sự nỗ lực của các cơ quan báo chí dưới sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, công tác thông tin về đồng bào các dân tộc thiểu
số và miền núi đã góp phần thay đổi diện mạo nông thôn miền núi Mục tiêu của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi rất rõ,
đó là ngày càng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào
Từ yêu cầu thực hiện chính sách dân tộc, chăm lo cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số là trách nhiệm và nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Đây là yêu cầu tất yếu nhằm bồi dưỡng lực lượng cách mạng ở những địa bàn chiến lược của đất nước, vừa xuất phát từ truyền thống và đạo
lý của các dân tộc, vừa thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa
Trang 37Đề cập đến vấn đề dân tộc và miền núi, Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nhấn mạnh trong Đại hội đại biểu khóa VIII Hội Nhà báo Việt Nam: Nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta là tập trung sức phấn đấu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nhiệm vụ đó là rất nặng nề, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đoàn kết, nhất trí, tập trung cao độ sức người sức của, khai thác tích cực nhất tiềm năng, trí tuệ và sức sáng tạo để thực hiện thành công Báo chí với những khả năng to lớn của mình phải là một trong những lực lượng quan trọng nhất đi đầu trong việc giải quyết những yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng…Báo chí phải tác động tích cực và có hiệu quả vào việc hình thành bản lĩnh, trí tuệ, tâm hồn, khí phách con người Việt Nam trong thời kỳ mới, hình thành dư luận xã hội lành mạnh góp phần cổ vũ sức mạnh toàn dân tộc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng… Làm cho báo chí thực sự trở thành một diễn đàn rộng rãi, giữ vững và phát huy truyền thống đoàn kết, tự cường, những giá trị văn hóa tiến bộ, hiện đại, giàu bản sắc dân tộc, nâng cao trình độ dân trí, động viên, cổ vũ, tổ chức cho các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bàn về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa X, nêu rõ: Báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bám sát nhiệm vụ công tác tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công cuộc đổi mới Coi trọng đúng việc phát hiện, biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; tích cực đấu tranh góp phần ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng,
Trang 38lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã hội; phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa
tư tưởng của Đảng… Đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí.Cùng với việc tuyên truyền về phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, chúng ta thấy xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc luôn được Đảng và Bác Hồ quan tâm và coi trọng Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam năm 1946, Bác viết:
Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh
em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau…Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt
Vấn đề đoàn kết dân tộc đã được ghi trong Nghị quyết Hội nghị Trung
ương lần thứ 7 (khóa IX) nhấn mạnh: “Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân
tộc là vấn đề chiến lược cơ bản lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”
Khẳng định vai trò của báo chí trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, đồng thời cũng là nhiệm vụ của báo chí, Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nêu rõ:
Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng Báo chí, xuất bản… làm tốt chức năng tuyên truyền, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội; giới thiệu gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê phán các hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhân tố lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái; coi trọng, nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và tính chiến đấu của thông tin
Trang 391.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác tuyên truyền các vấn đề về đại đoàn kết dân tộc
Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (ngày 27/11/1989) “Về chủ trương
chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi” đánh dấu bước chuyển
biến mạnh mẽ trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước; đồng thời đưa ra các quan điểm, chủ trương, đường lối cho việc phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc và miền núi, đánh dấu một mốc quan trọng trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng
Thể chế hóa nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 525/CT-TTg “Về một số chủ trương, biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế-xã hội miền núi” nhằm thúc đẩy việc thực hiện Nghị quyết 22, Quyết định 72 và quán triệt tinh thần Nghị
quyết Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) về “Đổi mới và phát triển kinh tế - xã
hội nông thôn”
Khẳng định những nội dung cơ bản của chính sách dân tộc, miền núi trong sự nghiệp đổi mới, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX tiếp tục coi vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước…bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc Thực hiện cho được ba mục tiêu là xóa đói giảm nghèo, ổn định và cải thiện cuộc sống, sức khỏe đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy được bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, xây dựng cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh
Thực hiện các định hướng phát triển vùng của chiến lược 10 năm
2001-2010 và các Nghị quyết của Bộ Chính trị khóa IX về phát triển các vùng, Nghị quyết Đại hội X nêu rõ: Có chính sách trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực
Trang 40để phát triển các vùng khó khăn, nhất là các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Bổ sung chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư, kinh doanh ở vùng khó khăn Về chủ trương xóa đói giảm nghèo, tại Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách của Nhà nước với sự giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo, nhất là đối với những vùng đặc biệt khó khăn Ngăn chặn tình trạng tái nghèo
Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đặc biệt về trợ giúp đầu tư phát triển sản xuất, nhất là đất sản xuất; trợ giúp đất ở, nhà ở, nước sạch, đào tạo nghề và tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo Trên cơ sở đường lối của Đảng về miền núi và dân tộc, báo chí đã cố gắng tuyên truyền cho đồng bào các dân tộc hiểu được thế nào và cần phải làm gì để phát triển kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, phù hợp với đặc điểm, điều hiện từng vùng, đảm bảo cho đồng bào khai thác ngày càng hiệu quả thế mạnh của địa phương, làm giàu cho mình và đóng góp tích cực vào sự nghiệp của đất nước trong thời kỳ đổi mới báo chí đã thông tin đầy đủ về những chính sách ưu tiên cho miền núi, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển giáo dục và đào tạo, coi trọng đào tạo cán bộ và đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số.Đồng thời, tuyên truyền rộng rãi trong đồng bào, giúp họ thấy, họ hiểu và họ phát huy tốt hơn nữa những giá trị văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam và của từng dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa dân tộc của nhân loại; góp phần vào việc xây dựng giữ gìn nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập