1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử

74 1,8K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN LÝ THU TRANG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ HÌNH THỨC THANH TOÁN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ngành: Công nghệ thông tin Chuyên ngành: Quản lý hệ thốn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LÝ THU TRANG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ HÌNH THỨC THANH TOÁN

TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LÝ THU TRANG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ HÌNH THỨC THANH TOÁN

TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Ngành: Công nghệ thông tin Chuyên ngành: Quản lý hệ thống thông tin

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Đỗ Năng Toàn

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung Luận văn không sao chép từ các luận văn khác và sản phẩm của luận văn là của chính bản thân tôi nghiên cứu xây dựng Được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, khảo sát tình hình thực tiễn, dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo, cùng những đóng góp của các anh chị khóa trên

Tôi đã tham khảo một số tài liệu được nêu trong phần “Tài liệu tham khảo”, và một

số trang web thanh toán trực tuyến uy tín trên internet

Tôi xin cam đoan những lời trên là đúng, nếu có thông tin sai lệch tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng

Tác giả luận văn

Lý Thu Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt Luận văn với đề tài “Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử” ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân không thể thiếu

sự hỗ trợ của các thầy cô cùng với gia đình Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn đến:

Các thầy cô giáo trong, người đã cung cấp cho tôi rất nhiều kiến thức cũng như

kỹ năng cần thiết trong quá trình học vừa qua

Thầy giáo PGS.TS Đỗ Năng Toàn, người đã tận tình hướng dẫn và giúp tôi có

định hướng đúng trong việc lựa chọn cũng như thực hiện đề tài

Tôi cũng xin cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp

đỡ và tạo điều kiện cho tôi để tôi có điều kiện tốt nhất để hoàn thành bài Luận văn tốt nghiệp này

Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức nên đề tài còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để đề tài có thể ứng dụng vào thực tế hiệu quả nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lý Thu Trang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ VẤN ĐỀ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ 3

1.1 Thương mại điện tử 3

1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử 3

1.1.2 Đặc trưng thương mại điện tử 3

1.1.3 Các loại hình thương mại điện tử 4

1.2 Thanh toán trong thương mại điện tử 4

1.2.1 Khái niệm thanh toán điện tử 4

1.2.2 Đặc điểm của thanh toán điện tử 5

1.2.3 Các mô hình thanh toán điện tử 6

1.2.4 Một số hệ thống thanh toán điện tử 9

1.2.5 Thực trạng thanh toán điện tử ở Việt Nam 13

1.3 Một số kỹ thuật sử dụng trong thanh toán điện tử 16

1.3.1 Kỹ thuật mã hóa 16

1.3.2 Kỹ thuật chữ ký số 19

1.3.3 Các giao thức bảo mật 21

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ HÌNH THỨC THANH TOÁN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 24

2.1 Thanh toán qua thẻ 24

2.1.1 Giới thiệu thẻ thanh toán 24

2.1.2 Giao dịch với thẻ thanh toán 28

2.2 Thanh toán qua tiền điện tử 32

2.2.1 Khái niệm tiền điện tử 33

2.2.2 Phân loại tiền điện tử 34

Trang 6

2.2.3 Giao dịch với tiền điện tử 35

2.2.4 Một số hệ thống tiền điện tử 37

2.3 Ví điện tử 41

2.3.1 Khái niệm ví điện tử 41

2.3.2 Lợi ích của ví điện tử 42

2.3.3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán bằng ví điện tử 44

CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG THANH TOÁN CHO HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ HỌC TRỰC TUYẾN 48

3.1 Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông 48

3.1.1 Giới thiệu 48

3.1.2 Hệ thống đăng ký học trực tuyến tại nhà trường 48

3.1.3 Vấn đề thanh toán các khoản phí tại nhà trường 50

3.2 Bài toán thanh toán trực tuyến 51

3.2.1 Phân tích bài toán 51

3.2.2 Giải quyết bài toán 51

3.3 Phân tích thiết kế 52

3.3.1 Tác nhân của hệ thống 52

3.3.2 Biểu đồ phân rã chức năng 52

3.3.3 Biểu đồ luồng dữ liệu 53

3.3.4 Phân tích quy trình sử dụng ví điện tử ICT 54

3.4 Giao diện chức năng 58

3.4.2 Giao diện chức năng đăng ký học trực tuyến 59

3.4.3 Giao diện chức năng nạp tiền vào tài khoàn 59

3.4.4 Giao diện chức năng kiểm tra lịch sử giao dịch 60

3.4.5 Giao diện chức năng chuyển tiền trong ví 61

3.5 Đánh giá hệ thống 62

KẾT LUẬN 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

8 POS Point of Sale / Point of service

12 HTTPS Hyper Text Transport Protocol Secure

Trang 8

DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU

Hình 1.1 Mô hình trả sau 7

Hình 1.2 Mô hình trả trước 8

Hình 1.3 Quy trình thanh toán chuyển tiền điện tử [15] 11

Hình 1.4 Chuyển tiền điện tử tại điểm bán hàng [15] 12

Hình 1.5 Thống kê tỷ lệ sử dụng tiền mặt trong thanh toán 13

Hình 1.6 Thống kê số tài khoản ngân hàng 14

Hình 1.7 Tỷ lệ thanh toán sử dụng tiền mặt 15

Hình 1.8 Cơ cấu giao dịch qua các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt trong quý 3 năm 2012 15

Hình 1.9 Tỷ lệ website cung cấp dịch vụ TMĐT có chứng năng thanh toán trực tuyến 15

Hình 1.10 Giải pháp thanh toán trực tuyến được nhiều doanh nghiệp lựa chọn 16

Hình 1.11 Những hình thức thanh toán trực tuyến được sử dụng 16

Hình 1.12 Mô hình mã hóa khóa bí mật 17

Hình 1.13 Mô hình mật mã khóa công khai 19

Hình 2.1 Thẻ khắc chữ nổi 26

Hình 2.2 Thẻ băng từ 26

Hình 2.3 Thẻ thông minh 27

Hình 2.4 Mô hình quy trình giao dịch thanh toán tiền điện tử cùng ngân hàng 35

Hình 2.5 Mô hình quy trình giao dịch thanh toán tiền điện tử liên ngân hàng 36

Hình 3.1 Giao diện đăng nhập hệ thống đăng ký học trực tuyến 49

Hình 3.2 Giao diện đăng ký học trực tuyến 49

Hình 3.3 Sơ đồ phân rã chức năng hệ thống đăng ký học trực tuyến 52

Hình 3.4 Biểu đồ luồng dữ liệu mức khung cảnh 53

Hình 3.5 Biểu đồ luồng dữ liệu mức đỉnh 53

Hình 3.6 Quy trình nạp tiền vào ví từ tài khoản ngân hàng 54

Hình 3.7 Quy trình thanh toán học phí qua ví điện tử 56

Hình 3.8 Quy trình chuyển tiền giữa các tài khoản ví 57

Hình 3.9 Giao diện đăng nhập hệ thống 58

Hình 3.10 Giao diện chức năng đăng ký học trực tuyến 59

Trang 9

Hình 3.11 Giao diện chức năng nạp tiền ví điện tử 60

Hình 3.12 Giao diện kiểm tra lịch sử giao dịch ví 60

Hình 3.13 Giao diện chuyển tiền trong ví 61

Hình 3.14 Giao diện nhập thông tin chuyển tiền 61

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Cơ sở khoa học và tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin con người có thể mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua mạng máy tính toàn cầu một cách dễ dàng trong mọi lĩnh vực thương mại rộng lớn

Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử trên thế giới đã góp phần thay đổi cách thức kinh doanh, giao dịch truyền thống và đem lại những lợi ích to lớn cho

xã hội Sự ra đời của thương mại điện tử đã đánh dấu sự bắt đầu của một hệ thống tạo

ra của cải vật chất mới, là cơ hội thương mại tuyệt vời để phát triển kinh tế Như chúng

ta đã biết, một trong những điều kiện cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển thương mại điện tử là việc hoàn thiện các dịch vụ thanh toán điện tử Thực tế đã chứng minh thanh toán điện tử là một trong những điều kiện cốt lõi để phát triển thương mại điện tử, với vai trò là một khâu không thể tách rời của quy trình giao dịch

và trong nhiều trường hợp còn là biện pháp xác thực việc ký kết hợp đồng giữa người bán và người mua trong một giao dịch thương mại điện tử trên môi trường Internet, Việc hoàn thiện hệ thống thanh toán điện tử có ý nghĩa to lớn và có tác động tới nhiều đối tượng: góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, tiết kiệm thời gian, chi phí cho khách hàng… từ đó hoàn thiện thương mại điện tử

Để tiếp cận và góp phần đẩy mạnh sự phổ biến của thương mại điện tử ở Việt

Nam tác giả đề xuất luận văn “Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử” nhằm nghiên cứu và ứng dụng một số hình thức thanh toán trong

thương mại điện tử hiện nay, và tác giả ứng dụng vào thanh toán học phí cho sinh viên trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông - Thái Nguyên

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Đề tài nghiên cứu một số hình thức và kỹ thuật thanh toán trong thương mại

điện tử phổ biến hiện nay

- Áp dụng kết quả nghiên cứu để triển khai hệ thống thanh toán qua ví điện tử cho hệ thống đăng ký học trực tuyến của trường đại học

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử, giúp các doanh nghiệp có tài liệu có định hướng khi muốn xây dựng một hệ thống thanh toán trực tuyến nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh trực tuyến của doanh nghiệp

Áp dụng các kết quả đã nghiên cứu để xây dựng, cài đặt thử nghiệm hệ thống thanh toán qua ví điện tử gồm những chức năng: Chuyển tiền, thanh toán, và nạp tiền

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Thu thập, phân tích các tài liệu và những thông tin liên quan đến đề tài

Tìm hiểu các mô hình thanh toán trong thương mại điện tử của một số Website

trong và ngoài nước

Kết hợp nghiên cứu đã có trước đây của các tác giả trong nước cùng với sự chỉ

bảo, góp ý của thầy hướng dẫn để hoàn thành nội dung nghiên cứu

5 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu một số hình thức thanh toán điện tử ở Việt Nam

Do có những hạn chế nhất định về cơ sở vật chất và điều kiện tiếp cận thực tế với lĩnh vực an toàn và bảo mật trong thanh toán điện tử nên việc cài đặt các ứng dụng

chủ yếu mang tính thử nghiệm

6 Các kết quả nghiên cứu dự kiến cần đạt được

Nghiên cứu một số hình thức thanh toán điện tử, quy trình thanh toán trong

thương mại điện tử

Cài đặt thử nghiệm chức năng thanh toán trực tuyến thông qua môi trường web

7 Bố cục của luận văn

Phần nội dung chính của luận văn sẽ được bố cục thành 3 chương chính như sau: Chương 1: Tổng quan về thương mại điện tử và vấn đề thanh toán điện tử

Chương đầu của luận văn sẽ nghiên cứu, tìm hiểu lý thuyết tổng quan về thương mại điện tử, và vấn đề thanh toán điện tử, tìm hiểu lợi ích cũng như tầm quan trọng của thanh toán điện tử Bên cạnh đó tác giả cũng nghiên cứu một số hệ thống thanh toán trực tuyến phổ biến nhất hiện nay

Chương 2 Một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử

Trong chương 2 của luận văn, tác giả đi nghiên cứu một số hình thức thanh toán

cụ thể: Thẻ thanh toán, tiền điện tử, ví điện tử

Chương 3: Ứng dụng thanh toán cho hệ thống đăng ký học trực tuyến

Chương 3 của luận văn xây dựng hệ thống thanh toán trực tuyến, cụ thể với hình thức thanh toán qua ví điện tử cho hệ thống đăng ký học trực tuyến của trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông – Thái Nguyên

Trang 12

CHƯƠNG 1

TÔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ VẤN ĐỀ

THANH TOÁN ĐIỆN TỬ

1.1 Thương mại điện tử

1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử

Thương mại điện tử không chỉ bắt đầu từ khi có Web, ngay từ những năm 70 thương mại điện tử đã có thể coi như đã tồn tại khi có nhiều mua bán giữa các doanh nghiệp được thực hiện bằng giao thức EDI (Electronic Data Interchange) thông qua các mạng VAN (Value-Added Networks) Tuy nhiên thương mại điện tử thực sự phát triển kể từ khi có mạng Internet Rất nhiều hình thức thương mại điện tử sử dụng internet như chuyển tiền điện tử (electronic funds transfer), quản lý dây chuyền cung ứng, Maketing qua mạng internet, xử lý giao dịch trực tuyến trao đổi dữ liệu số, mua bán qua mạng.[10]

Thương mại điện tử (Electronic commerce – EC) là một khái niệm được dùng

để mô tả quá trình mua và bán hoặc trao đổi sản phẩm, dịch vụ và thông tin thông qua mạng máy tính, kẻ cả internet Thuật ngữ “Thương mại” được nhiều người hiểu là một

số giao dịch được thực hiện giữa các đối tác kinh doanh Vì vậy, thương mại điện tử cũng thường được hiểu theo nghĩa hẹp là mua và bán trên mạng, hay mua bán thông qua các phương tiện điện tử [14]

1.1.2 Đặc trưng thương mại điện tử

So với thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một số đặc trưng như sau:

- Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước Các bên chỉ cần có máy tính điện tử

là có thể dễ dàng trao đổi thông tin giao dịch thông qua mạng truyền thông, mà không cần phải gặp mặt trực tiếp như trong thương mại truyền thống

- Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biến giới quốc gia, còn Thương mại điện tử được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu) Thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu

- Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của ít nhất

ba chủ thể Trong đó có một bên không thể thiếu được đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực

Trang 13

- Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện

để trao đổi dữ liệu, còn với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị trường giúp các bên kinh doanh, mua bán hàng hóa, dịch vụ

1.1.3 Các loại hình thương mại điện tử

Trong thương mại điện tử các giao dịch diễn ra bên trong và giữa ba nhóm tổ chức chủ yếu là: doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước (Chính phủ) và người tiêu dùng [5] Dựa vào các chủ thể tham gia giao dịch thương mại điện tử người ta phân thành các loại mô hình giao dịch thương mại điện tử, bao gồm:

 Doanh nghiệp với doanh nghiệp (business to business - B2B)

 Doanh nghiệp với cơ quan nhà nước (business to government -B2G)

 Doanh nghiệp với người tiêu dùng (business to consumer - B2C)

 Cơ quan nhà nước với cơ quan nhà nước (Government to Government G2G)

 Cơ quan nhà nước với người tiêu dùng ( Government to consumer G2C)

 Người tiêu dùng với người tiêu dùng (consumer to comsumer - C2C)

1.2 Thanh toán trong thương mại điện tử

Thanh toán là một trong những vấn đề phức tạp của hoạt động thương mại điện

tử Thương mại điện tử chỉ phát huy được ưu điểm khi áp dụng được những hình thức thanh toán điện tử

1.2.1 Khái niệm thanh toán điện tử

Thanh toán điện tử (Electronic Payment) là việc thanh toán dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, trong đó sử dụng máy tính nối mạng để truyền các thông điệp điện tử, chứng

từ điện tử giúp cho quá trình thanh toán nhanh chóng, an toàn và hiệu quả Thanh toán điện

tử là việc thanh toán qua thông điệp điện tử thay vì thanh toán tiền mặt [14][19]

Quá trình thanh toán điện tử có sử dụng các phương tiện điện tử và công nghệ thanh toán tài chính (ví dụ như mã hóa số thẻ tín dụng, sec điện tử hoặc ví điện tử) giữa ngân hàng, trung gian và các bên tham gia hợp pháp

Việc thanh toán được thực hiện qua mạng máy tính kết nối với các đơn vị thành viên tham gia thanh toán Việc sử dụng mạng để chuyền những chứng từ điện tử, dữ liệu tài chính điện tử giúp cho việc thực hiện thanh toán nhanh chóng, mở rộng khoảng cách và phạm vi thanh toán giữa các ngân hàng, doanh nghiệp và người tiêu dùng trên

phạm vi quốc gia và toàn thể giới

Về mặt mô hình, một phương thức thanh toán nói chung là một mô tả hoạt động của một hệ thống xử lý phân tán có nhiều bên tham gia, trong đó có hai bên cơ bản là

Trang 14

bên mua và bên bán Các bên được đại diện bởi các máy tính của mình nối với nhau

qua mạng máy tính, sử dụng chúng để thực hiện các giao thức thanh toán

Hệ thống thanh toán có thể có các tổ chức tài chính (ví dụ như ngân hàng) đại diện cho mỗi bên Trong một số hệ thống thanh toán lại sử dụng một thực thể khác đóng vai trò là người môi giới, đảm nhiệm việc phát hành những hình thức của tiền hoặc một vật thể nào đó mang giá trị trao đổi thanh toán thường được gọi là tiền điện

tử hoặc séc điện tử và có thể được đổi lại thành tiền mặt

- Những bên tham gia trong thanh toán điện tử

Người bán: Là người cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và là cơ sở chấp

nhận thẻ thanh toán, chấp nhận các hình thức thanh toán điện tử

Người mua: Là người sở hữu thẻ thanh toán hay các tiện ích trong thanh toán điện tử Người mua sử dụng tiện ích thanh toán điện tử để trả tiền cho các giao dịch

thương mại

Các ngân hàng: Gồm có ngân hàng của người bán và ngân hàng của người mua

Các tổ chức phát hành phương tiện thanh toán: Là các tổ chức cung cấp thẻ,

cung cấp các phương tiện thanh toán điện tử

1.2.2 Đặc điểm của thanh toán điện tử

Hệ thống thanh toán điện tử dựa trên cơ sở kỹ thuật số, chúng được xây dựng và phát triển để thực hiện các thanh toán trên internet Về bản chất, các hệ thống thanh toán điện tử là phiên bản điện tử của các hệ thống thanh toán truyền thống như tiền mặt, séc và các loại thẻ tín dụng

Tuy nhiên, so với thanh toán truyền thống, các hệ thống thanh toán điện tử có hai điểm khác biệt:

Thứ nhất, các hệ thống thanh toán điện tử được thiết kế để có thể thực thi các việc mua-bán điện tử trên mạng internet Việc sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện điện tử với khai thác cho phép quá trình giao dịch và công cụ giao dịch được số hóa và được ảo hóa bằng những chuỗi bit

Thứ hai, trong thanh toán truyền thống chỉ ngân hàng mới có quyền phát hành tiền và các giấy tờ có giá trị khác Trong thanh toán điện tử, các công ty và các tập đoàn tài chính cũng được phép phát triển các phần mềm đóng vai trò là các công cụ thanh toán Vì vậy, trong thanh toán điện tử, khách hàng có thể lựa chọn 1 trong nhiều cách thức thanh toán khác nhau trên cơ sở phần mềm của các công ty và các tập đoàn

Trang 15

tài chính Về hình thức, các cách thức thanh toán này cơ bản giống nhau, chúng chỉ khác về mặt logic, về quy trình thanh toán và một số dịch vụ đi cùng

Một hệ thống thanh toán điện tử phải đảm bảo được những yếu tố sau:

Tính an toàn: Hệ thống thanh toán điện tử cần đảm bảo được tính toàn vẹn cho

giao dịch Để đạt được điều này, hệ thống phải đảm bảo không có “bên thứ 3” nào có thể thay đổi được nội dung các thông điệp trong phiên giao dịch, hệ thống có thể chống mọi gian lận từ các bên tham gia dịch nhằm đảm bảo giao dịch an toàn và hợp lệ

Chi phí giao dịch thấp và tốc độ thanh toán nhanh: Chi phí giao dịch và thời

gian thanh toán là những yếu tố mà người mua luôn quan tâm Họ sẽ không cảm tháy

ưa thích hình thức toán này nếu phải chịu một chi phí giao dịch quá cao, chiếm tỷ lệ lớn trên giá trị hàng hóa và thủ tục thanh toán quá phức tạp, rắc rồi gây mất nhiều thời gian cho họ

Chấp nhận các giao dịch nhỏ: Hệ thống thanh toán cho phép người mua cho thể

thanh toán được những mặt hàng với số tiền nhỏ

Đảm bảo tính bí mật: Vấn đề đảm bảo tính bí mật cho khách hàng là một yếu tố

mà hệ thống thanh toán điện tử cần phải có, bởi vì giao dịch thanh toán được thực hiện trên Internet, nơi có rất nhiều nguy cơ xâm nhập trái phép

Đảm bảo công bằng cho các bên tham gia: Đảm bảo cho cả hai bên tham gia là

bên mua và bên bán không bị thiệt hại do lỗi của thống hay sự gian lận của các bên tham gia

Thân thiện với người sử dụng: Hệ thống phải có cơ chế thanh toán đơn giản và

dễ hiểu để phù hợp với nhiều đối tượng sử dụng

Dễ dàng tích hợp: Hệ thống thanh toán điện tử phải có khả năng tương thích

với các hệ thống khác để đảm bảo thực hiện thanh toán an toàn

1.2.3 Các mô hình thanh toán điện tử

Hệ thống thanh toán điện tử cung cấp khả năng thanh toán hàng hóa và dịch vụ qua thời gian, bằng cách cho phép người mua trả tiền ngay, trả tiền sau hoặc trả tiền trước khi nhận hàng hóa, dịch vụ từ người bán Nghĩa là khi khách hàng có nhu cầu mua hàn hóa từ người bán, khách hàng có thể gửi tiền sau khi nhận hàng hóa từ người bán, hoặc trả tiền trước khi nhận hàng hóa từ người bán [21]

- Mô hình trả sau

Trong mô hình trả sau, thời điểm mà tiền của người mua được rút khỏi tài khoản và chuyển sang tài khoản của người bán xảy ra ngay hoặc sau giao dịch mua

Trang 16

bán Ví dụ: Khách hàng đặt mua một chiếc áo, khách hàng đặt lệnh thành công, giao dịch thành công thì tiền từ tài khoản của khách hàng mới được chuyển đến tài khoản của người bán với số tiền tương ứng

Hoạt động của hệ thống theo mô hình trả sau dựa trên nguyên tắc tín dụng Mô hình như sau:

đã cung cấp, khi đó tiền từ tài khoản người mua sẽ được chuyển sang cho người bán

Kết thúc quá trình thanh toán, ngân hàng đại diện bên mua sẽ gửi thông báo tới cho người mua thông tin về giao dịch thành công

Chứng từ ở đây là do người mua tự tạo ra với những thông tin thanh toán, giống với việc chúng ta sử dụng Séc trong thanh toán truyền thống

Trang 17

- Mô hình trả trước

Khác với mô hình trả sau, trong mô hình trả trước này, tiền rút ra khỏi tài khoản của người mua xảy ra trước quá trình giao dịch Nghĩa là, người mua phải thanh toán một lượng tiền tương ứng trước để mua một chứng từ/ tiền điện tử và sau đó, sử dụng đồng tiền này để thực hiện giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ Cụ thể như sau:

Đầu tiên, người mua liên hệ với ngân hàng đại diện của mình để có được một chứng từ hoặc tiền điện tử do ngân hàng phát hành Chứng từ hay tiền điện tử này được ngân hàng đại diện đảm bảo, và có thể sử dụng để thanh toán các giao dịch với những người bán chấp nhận và có xác lập thanh toán với ngân hàng

Khi người mua yêu cầu ngân hàng phát hành chứng từ hay tiền điện tử, thì tài khoản của người mua sẽ bị trừ đi một lượng tiền tương ứng với giá trị thanh toán của chứng từ đó Như vậy, nghĩa là người mua phải trả tiền trước khi người mua sử dụng chứng từ đó để thực hiện giao dịch mua hàng hóa và dịch vụ

Chứng từ ở đây không phải là do khách hàng tạo ra mà do ngân hàng tạo ra, phục vụ cho mục đích thanh toán Và chứng từ này có thể sử dụng giống như tiền mặt,

do đó mô hình này còn được gọi là mô hình mô phỏng tiền điện tử

Tiếp theo, người mua thực hiện giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ với người bán, người mua sử dụng chứng từ đó để thanh toán Người bán sẽ tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của chứng từ hay tiền điện tử đó Nếu chứng từ không hợp lệ, người bán có thể dừng giao dịch Và ngược lại, người bán chấp nhận chứng từ và liên hệ với ngân hàng đại diện của mình để chuyển tiền vào tài khoản của mình số tiền tương ứng với chứng từ hay tiền điện tử

Mô hình mô phỏng trả trước như sau:

Hình 1.2 Mô hình trả trước

Trang 18

Tiền điện tử hay chứng từ ở mô hình trả trước không phải do người mua tạo ra,

mà do ngân hàng của người mua tạo ra Người mua phải thanh toán trước một khoản tiền tương ứng để có được chứng từ hay tiền điện tử đó

1.2.4 Một số hệ thống thanh toán điện tử

1.2.4.1 Hệ thống thanh toán thẻ

+ Thẻ tín dụng (Credit Card)

Giao dịch thanh toán bằng thẻ tín dụng trong thương mại điện tử cũng tương tự như hệ thống thanh toán thẻ tín dụng trong thương mại truyền thống Trong giao dịch thẻ tín dụng trên Internrt , khách hàng “xuất trình” thẻ tín dụng và người bán kiểm tra tính xác thực của thẻ thanh toán Người bán hàng thông qua ngân hàng phát hành thẻ kiểm tra số tiền trong tài khoản của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán và

thực hiện các thủ tục để nhận khoản tiền thanh toán của khách hàng

Toàn bộ quá trình giao dịch hoặc thanh toán thẻ tín dụng có thể được xử lý trực

tuyến theo 2 cách:

- Gửi số thẻ tín dụng chưa mã hóa trên internet: toàn bộ các thông tin liên quan đến giao dịch bao gồm các thông tin giới thiệu về hàng hóa mẫu đơn đặt hàng (từ phía người bán hàng) hợp đồng mua hàng (từ phía người mua) đều được chuyển phát trên internet dưới dạng ngôn ngữ liên kết siêu văn bản (http) không mã hóa, cách giao dịch

này không an toàn và độ bảo mật thông tin thẻ thấp

- Mã hóa các thông tin chi tiết về thẻ tín dụng trước khi thực hiện một giao dịch: Các thông tin liên quan đến giao dịch và các thông tin liên quan đến thẻ thanh toán được mã hóa trước khi truyền đi trên Internet Nếu toàn bộ thông tin truyền phát giữa người mua và người bán đều được mã hóa, người bán được phép giải mã các thông tin

chi tiết liên quan đến việc đặt hàng để hoàn tất quá trình đặt hàng

+ Thẻ ghi nợ (Debit Card)

Là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi Loại thẻ này khi được sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn đồng thời chuyển ngân lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách

sạn Thẻ ghi nợ còn được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động

Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên

tài khoản của chủ thẻ

Trang 19

+ Thẻ rút tiền mặt

Là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc ở ngân hàng Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi

mới sử dụng được

1.2.4.2 Hệ thống thanh toán bằng ví điện tử

Ví điện tử là một dịch vụ về thanh toán trực tuyến cho phép người dùng sử dụng

số tiền có trong ví để mua hàng hoặc trả phí tại các website thương mại điện tử đồng thời cho phép các giao dịch chuyển tiền, nạp tiền, rút tiền, theo dõi lịch sử giao dịch… Bên cạnh đó, Ví điện tử doanh nghiệp với các chức năng dành cho “người bán” sẽ hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động bán hàng trực tuyến và rút ngắn quy trình thanh toán, giao nhận hàng hóa như quản lý đơn hàng, tích hợp website bán hàng, quản trị

các phương thức vận chuyển…

Ví điện tử là một loại tài khoản dùng để thanh toán trong các giao dịch nhưng tiền trong ví chỉ là tiền ảo, khác với tài khoản trong ngân hàng là tiền thật Nó giống như một người giữ tiền trung gian đứng ra thay mặt ngân hàng thực hiện thanh toán cho người sử dụng trong các hoạt động thương mại điện tử Người dùng chỉ cần đăng

ký tài khoản ví điện tử qua website dịch vụ của nhà cung cấp, rồi tiến hành nạp tiền

vào ví từ tài khoản ngân hàng, tài khoản thẻ ATM, thẻ trả trước

Sau đó có thể dùng ví điện tử để thanh toán các giao dịch áp dụng hình thức thanh toán này Đơn vị cung cấp ví điện tử có trách nhiệm đảm bảo qu yền lợi cân bằng giữa các bên Chẳng hạn khi mua hàng, người dùng thanh toán bằng ví điện tử thì

tổ chức phát hành ví điện tử có trách nhiệm thông báo với bên bán hàng là đã nhận

được tiền và yêu cầu bên bán giao hàng cho người dùng

Người dùng nhận hàng nhưng nếu không vừa ý, không đúng như thỏa thuận khi mua có thể thông báo lại với “người giữ tiền trung gian” và “người” này có trách nhiệm không thanh toán lại cho nơi bán hàng hay đòi lại tiền nếu đã thanh toán Chính vì điều này làm ví điện tử trở nên an toàn hơn so với tài khoản ngân

hàng khi dùng để thanh toán

1.2.4.3 Hệ thống thanh toán bằng chuyển khoản điện tử

Hệ thống chuyển khoản điện tử được thiết kế để chuyển một khoản tiền cụ

thể từ tài khoản này tới tài khoản khác Phương thức thanh toán này đã có từ lâu trước khi thương mại điện tử ra đời Các thiết bị sử dụng là các máy giao dịch tự động máy tính cá nhân và các thiết bị điện thoại Các ngân hàng sử dụng mạng giá

Trang 20

trị gia tăng chuyên biệt để giao dịch với nhau qua trung tâm bù trừ tự động (ACH – Automated Clearing house)

Đặc điểm khác nhau giữa chuyển khoản điện tử trong thương mại truyền thống

và chuyển khoản điện tử trên Internet là ở chỗ trong chuyển khoản điện tử trên Internet

là thông tin phải qua các cổng thanh toán (GateWaypayment)

Cổng thanh toán nằm giữa mạng công cộng và mạng ngân hàng truyền thống Chức năng chủ yếu của nó là giải mã gói số liệu do mạng công cộng truyền đến đồng thời đóng gói lại số liệu theo giao thức thông tin trong nội bộ hệ thống ngân hàng Tiếp nhận thông tin phản hồi từ phía ngân hàng chuyển đổi số liệu thành format số liệu rồi chuyển đưa lên mạng truyền thống, đồng thời tiến hành bảo mật dữ liệu.Như vậy cổng thanh toán chủ yếu là để thông tin chuyển đổi giao thức và mã hóa, giải mã dữ liệu, bảo vệ nội bộ ngân hàng

- Chuyển tiền điện tử tại địa điểm bán hàng

EFTPOS (Electronic Funds Transfer at Point of Sale) là một dạng của EFT áp dụng khi khách hàng thực hiện các hoạt động mua hàng tại các địa điểm bán vật lý EFTPOS được thiết kế cho phép sử dụng các loại thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ trong thanh toán Đối với thẻ ghi nợ, giá trị của giao dịch mua bán ngay lập tức được ghi nợ vào một tài khoản của ngân hàng đang tồn tại, với các loại thẻ tín dụng, EFTPOS sẽ kiểm tra tính hợp lệ tại thời điểm hiện tại sau đó ghi vào bên có tài khoản thẻ tín dụng khoản tiền tương đương với giá trị của giao dịch mua bán

- Mua hàng tại cửa hàng

- Thanh toán thẻ

- Thông tin từ cửa hàng tới ngân hàng để kiểm tra

- Ngân hàng kiểm tra tài khoản và tính hợp lệ của giao dịch

- EFT từ ngân hàng của người mua tới ngân hàng của người bán

Quy trình thanh toán:

Hình 1.3 Quy trình thanh toán chuyển tiền điện tử [15]

Trang 21

1.2.4.4 Hệ thống thanh toán bằng Séc điện tử

Séc là một bức thư gửi tới ngân hàng đề nghị chuyển tiền tới một tài khoản nào

đó trong ngân hàng tới một tài khoản khác Bức thư này không gửi trực tiếp tới ngân hàng mà chuyển thẳng tới người nhận tiền và tự họ sẽ kí rồi xuất trình thẻ này tới ngân hàng để nhận tiền Sau khi được chuyển séc được chuyển trở lại bên gửi và được dùng làm biên nhận thanh toán về sau

Hệ thống séc điện tử được xây dựng trên nguyên tắc của hệ thống séc truyền thống nhưng các chức năng của chúng được mở rộng hơn để có thể sử dụng như một công cụ thanh toán thương mại điện tử

Quy trình thanh toán: Khi khách hàng muốn thanh toán bằng séc điện tử, khách hàng điền các thông tin như số tài khoản, số séc vào tờ séc điện tử Toàn bộ thông tin này sẽ được truyền đi tới mạng trung tâm thanh toán bù trừ tự động (ACH) Tại đây thông tin được xác nhận và người bán nhận được đảm bảo thanh toán còn người mua nhận được xác nhận hợp đồng đã được ký Quá trình thanh toán sẽ được thực hiện thông qua ACH và khoản tiền thanh toán chuyển tới ngân hàng của người bán trong vòng 2 đến 4 ngày

Hình 1.4 Chuyển tiền điện tử tại điểm bán hàng [15]

Quy trình thanh toán:

- Người mua ký phát séc và gửi cho người bán bằng thư điện tử hoặc trình duyệt web

- Các thông tin về séc được chuyển tới ngân hàng người bán

- Trung tâm bù trừ thanh toán tự động thực hiện việc thanh toán giữa các ngân hàng ghi có vào của người bán và ghi nợ vào tài khoản của người mua

- Ngân hàng người mua sẽ thông báo lại cho người mua

Trang 22

1.2.5 Thực trạng thanh toán điện tử ở Việt Nam

Trên thế giới, các website thương mại điện tử có khả năng thanh toán trực tuyến rất phổ biến Tuy nhiên tại Việt Nam, do thói quen sử dụng tiền mặt nên hoạt động thanh toán trực tuyến chưa thật sự phổ biến

Năm 2006 ở Việt Nam, đã có 4 triệu thẻ được phát hành trong đó, 36 triệu thẻ nội địa, 04 triệu thẻ quốc tế Các dịch vụ thanh toán điện nước, điện thoại bắt đầu được người tiêu dùng thanh toán qua hệ thống ATM, thẻ ngân hàng Tuy nhiên, số lượng giao dịch chưa được nhiều

Theo thống kê về tình hình sử dụng tiền mặt thì lượng tiền mặt sử dụng trong thanh toán có giảm, tuy nhiên vẫn còn rất lớn chiếm từ 20-30% tổng các phương tiện thanh toán Trong khi đó, việc thanh toán qua thẻ mới chỉ chiếm 2% Một số phương thức thanh toán qua điện thoại di động cũng bắt đầu xuất hiện

Hình 1.5 Thống kê tỷ lệ sử dụng tiền mặt trong thanh toán (Nguồn: Đề án Thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010)

Năm 2007 thủ tướng chỉnh phủ phê duyệt “Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010” Tình hình phát hành thẻ đã có sự tăng rõ rệt, 29 ngân hàng

đã phát hành gần 8.4 triệu thẻ thanh toán 15 ngân hàng đã đưa khoảng 4.300 máy ATM, 24.00 máy POS vào hoạt động cũng như số tài khoản cá nhân trong hệ thống ngân hàng đã có bước phát triển nhày vọt

Trang 23

Hình 1.6 Thống kê số tài khoản ngân hàng (Nguồn: Ban Thanh toán – Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2007)

Bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử ra đời: PayNet, VNPay, Mobivi, Payoo Các kênh thanh toán trực tuyến cũng đa dạng như: ATM/POS, Internet, SMS…

Năm 2008 Thanh toán điện tử phát triển nhanh chóng Ngày 8/11/2008 ngân hàng nhà nước Việt Nam đã chính thức đưa vào vận hành Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn II Đến hết năm 2008, các tổ chức ngân hàng đã phát triển khoảng 13,4 triệu thẻ thanh toán, tăng 46% so với năm 2007 Tỷ lệ tiền mặt trong thanh toán đã giảm xuống còn 14%

Năm 2009 Cổng thanh toán điện tử Ngân Lượng được đưa vào hoạt động Ngân lượng hoạt động theo mô hình ví điện tử

Năm 2010 Số lượng thẻ phát hành trong tăng trưởng mạnh, cổng thanh toán điện tử Bảo Kim ra đời

Năm 2012 Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt so với tổng phương tiện thanh toán đã giảm dần qua các năm (từ 31,6% năm 1991 xuống còn 11,8% vào tháng 9/2012) Đây là một tiền đề quan trọng cho việc phát triển các dịch vụ thanh toán điện tử tại Việt Nam

Trang 24

Hình 1.7 Tỷ lệ thanh toán sử dụng tiền mặt (Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử năm 2012)

Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng tăng, tuy nhiên tỷ lệ cũng như giá trị thanh toán bằng thẻ ngân hàng trong tương quan với các phương tiện khác vẫn còn rất thấp, chiếm khoảng 0,2% tổng giá trị thanh toán không dùng tiền mặt

Hình 1.8 Cơ cấu giao dịch qua các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt trong

quý 3 năm 2012 (Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử năm 2012)

Năm 2013 Tỷ lệ website tích hợp thanh toán trực tuyến rất cao và có xu hướng tiếp tục tăng nhanh

Hình 1.9 Tỷ lệ website cung cấp dịch vụ TMĐT có chứng năng thanh toán trực tuyến

(Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử năm 2013)

Trang 25

Hình 1.10 Giải pháp thanh toán trực tuyến được nhiều doanh nghiệp lựa chọn

(Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử năm 2013)

Năm 2014 hình thức thanh toán chủ yếu tại doanh nghiệp vẫn là hình thức chuyển khoản (chiếm tỷ lệ hơn 90% qua các năm) Mức độ phổ biến thứ hai là thẻ thanh toán (20% năm 2014), ví điện tử (6% năm 2014) và thẻ cào (3% năm 2014)

Hình 1.11 Những hình thức thanh toán trực tuyến được sử dụng

(Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử năm 2014)

1.3 Một số kỹ thuật sử dụng trong thanh toán điện tử

1.3.1 Kỹ thuật mã hóa

1.3.1.1 Khái niệm mã hóa

Thông tin truyền đi trên mạng rất dễ bị trộm cắp Vậy để đảm bảo việc truyền tin an toán, người ta thường mã hóa thông tin trước khi truyền đi Việc mã hóa cần theo quy tắc nhất định

Hệ mật mã được định nghĩa gồm:

- P (Plaint text): là một tập hữu hạn các thông điệp ban đầu

Trang 26

- C (Ciphertext): là một tập hữu hạn các thông điệp được mã hóa

- K (Key): là một tập hữu hạn các khóa

- E (Encrytion): là một tập các hàm tạo mã

- D (Decrytion): là một tập các hàm giải mã

Hệ thống mật mã gồm 2 quá trình:

- Mã hóa: Là quá trình chuyển đổi một thông điệp ban đầu thành một thông

điệp được mã hóa, sử dụng một thuật toán mã hóa và một khóa mật mã Được tiến hành bằng cách áp dụng các hàm toán học E lên thông tin ban đầu P trở thành thông tin mã hóa C.[11][12]

- Giải mã: Là quá trình ngược lại, bản mã được chuyển lại về bản thông điệp

ban đầu, sử dụng một thuật toán giải mã và một khóa giải mã Được tiến hành bằng cách áp dụng hàm D lên thông tin C để lấy được thông tin đã giải mã là P.[11][12]

Mục tiêu của hệ mật mã là từ thông điệp đã được mã hóa, khó có thể chuyển thành thông điệp ban đầu nếu không có khóa giải mã tương ứng

1.3.1.2 Hệ mã hóa đối xứng

Hệ mã hóa khóa đối xứng hay còn được gọi là hệ mã hóa bí mật, là hệ mã hóa

khi biết khóa mã hóa có thể dễ dàng tìm được khóa giải mã và ngược lại Hệ có khóa lập mã và khóa giải mã giống nhau vì vậy cần phải bí mật cả hai khóa [11][8]

Hệ mã hóa bí mật yêu cầu người gửi và người nhận phải thỏa thuận một khóa trước khi tin tức được gửi đi, khóa này phải được giữ bí mật

Mô hình mã hóa đối xứng như sau:

Hình 1.12 Mô hình mã hóa khóa bí mật

Mô hình mã hóa khóa bí mật gồm 5 yếu tố:

Bản rõ P, thuật toán mã hóa E, khóa bí mật K, bản mã C, thuật toán giải mã D Trong đó: C=E(P,K) và P=D(C,K) [11]

Trang 27

Thuật toán mã hóa và giải mã sử dụng chung một khóa, thuật toán giải mã là phép toán ngược lại của thuật toán mã hóa Vì vậy, mô hình trên được gọi là phương pháp mã hóa đối xứng

Ưu điểm:

- Tốc độ mã hóa và giải mã nhanh

- Dùng một khóa cho cả hai quá trình mã hóa và giải mã

Nhược điểm:

- Không an toàn vị độ phức tạp tính toán phụ thuộc vào khóa

- Vì bên nhận và bên gửi đều sử dụng một khóa nên cần phải được truyền trên kênh an toàn Điều này làm phức tạp cho hệ thống cài đặt mật mã khóa đối xứng

Một số thuật toán mã hóa đối xứng:

- Mã hóa DES: Là phương pháp mã hóa đối xứng được Tiêu chuẩn xử lý thông tin Liên bang Hoa Kỳ chọn làm mã hóa chuẩn chính thức năm 1976 Sau đó phương pháp mã hóa này được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới

DES là thuật toán mã hóa khối, thuật toán mã hóa một khối dữ liệu 64 bit bằng một khóa có độ dài 56 bit, sau đó cho ra một bản mã hóa có độ dài 64 bit Cả quá trình

mã hóa và giải mã đều sử dụng cùng một thuật toán và khóa [11,12] Thuật toán được xây dựng dựa trên sự kết hợp của kỹ thuật thay thế và kỹ thuật hoán vị bản thông điệp gốc với 46 vòng lặp

- Mã hóa IDEA: Là phương pháp mã khối sử dụng 128 bit khóa để mã khối dữ liệu 64 bit IDEA được xây dựng nhằm mục đích kết hợp với nhiều yếu tố khác để tăng độ an toàn và khả năng thực hiện Trong IDEA sử dụng ba thuật toán: phép XOR, phép công hai số nguyên lấy modula, phép nhân hai số nguyên lấy modulo

1.3.1.3 Hệ mã hóa công khai

Hệ mã hóa công khai sử dụng một khóa để mã hóa thường được gọi là khóa

công khai (public key), và một khóa để giải mã được gọi là khóa bí mật hay khóa riêng (private key) Hệ có khóa giải mã cần được phải giữ bí mật và khóa lập mã thì được công khai.[12]

Trong hệ mật mã khóa công khai, khóa mã hóa khác với khóa giải mã, vì vậy, khi biết được khóa công khai thì cũng khó có thể tìm được khóa bí mật

Mô hình mật mã khóa công khai như sau:

Trang 28

Hình 1.13 Mô hình mật mã khóa công khai

Mô hình mã hóa khóa bí mật gồm 6 yếu tố:

Bản rõ P, thuật toán mã hóa E, khóa công khai PLK, khóa bí mật PK, bản mã

C, thuật toán giải mã D

Trong đó: C=E(P,PLK) và P=D(C,PK) [11,12]

Ưu điểm:

- Kẻ tấn công biết được thuật toán mã hóa và khóa công khai thì cũng rất khó có thể giải mã được bản mã Chức năng này sử dụng nguyên hàm một chiều khi tính hàm y=f(x) thì dễ nhưng ngược lại, để tính giá trị của x khi biết y là khó

- Không đòi hỏi phải truyền trên kênh an toàn

Nhược điểm:

- Tốc độ mã hóa chậm hơn so với phương pháp mã hóa khóa đối xứng

Một số thuật toán mã hóa khóa công khai

- Thuật toán RSA: Là thuật toán mã hóa công khai đầu tiên vừa mã hóa vừa phù hợp với việc tạo ra chữ ký điện tử Thuật toán này đánh dấu sự phát triển vượt bậc của lĩnh vực mã hóa trong việc sử dụng khóa công cộng Thuật toán đang được sử dụng phổ biến trong thương mại đử, thuật toán đảm bảo an toàn và có độ dài khóa

đủ lớn

Thuật toán này do Rivest, Shamir và Adleman đề ra trước tiên và thường được gọi vắn tắt là hệ RSA Hệ này dựa trên sự kiện là theo những thuật toán phân tích thừa số được biết cho đến nay, gần như không thể tìm lại được hai số nguyên

tố lớn p và q từ tích của chúng n=p*q Mặt khác, lại có thể sinh ra rất nhanh số nguyên tố ngẫu nhiên lớn

1.3.2 Kỹ thuật chữ ký số

- Chữ ký điện tử: Chữ ký điện tử là chữ ký được tạo lập dưới dạng từ, số, ký hiệu,

âm thanh hoặc các hình thức khác bằng các phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp

một cách logic với thông điệp dữ liệu [11]

Trang 29

- Chữ ký số: Chữ ký số (digital signature), là một dạng của chữ ký điện tử, là đoạn dữ liệu ngắn đính kèm với văn bản gốc để chứng thực tác giả của văn bản và

giúp người nhận kiểm tra tính toàn vẹn của nội dung văn bản gốc [12,25]

Chữ kí điện tử cho phép ta xác định nguồn gốc(xuất xứ), thực thể tạo ra thông

điệp của một chuỗi dữ liệu

Lược đồ chữ kỹ số là phương pháp ký một thông điệp lưu dưới dạng điện tử Và thông điệp được này có thể truyền trên mạng

Với chữ ký truyền thống, khi ký lên một tài liệu thì chữ ký là bộ phận vật lý của tài liệu được ký Tuy nhiên, chữ ký số không được gắn lên một cách vật lý với thông điệp được ký

Để kiểm tra chữ ký đối với chữ ký truyền thống bằng cách so sánh nó với những chữ ký gốc đã đăng ký Tất nhiên, phương pháp này không an toàn lắm vì nó tương đối dễ đánh lừa bởi chữ ký của người khác Trong khi chữ ký số thì được kiểm tra bằng cách dụng thuật toán kiểm tra đã biết công khai Như vậy, người bất kỳ có thể kiểm tra chữ ký

số Việc sử dụng lược đồ ký an toàn sễ ngăn chặn khả năng đánh lừa (giả mạo chữ ký)

Chữ ký điện tử phải đáp ứng được những yêu cầu sau:

- Chứng thực: Chữ ký thuyết phục được người nhận rằng văn bản chứa nó là do

người ký gửi đến

- Chống giả mạo: Chữ ký là bằng chứng cho việc người ký đã ký lên, bởi không

ai có thể giả mạo chữ ký của người ký

- Chống tái sử dụng: Chữ ký không chỉ đặc trưng cho người ký mà còn cả vẳn

bản chứa nó, người ta không thể chuyển chữ ký vào một tài liệu khác với vai trò như chữ ký hợp pháp của văn bản ấy

- Chống thay đổi văn bản: Sau khi văn bản được ký, nó không thể bị sửa đổi vì

mọi sự sửa đổi đều dẫn đến chứ ký không hợp lệ

- Chống phủ nhận: Người ký không thể phủ nhận chữ ký của mình trên văn

bản

Chữ ký điện tử hoạt động dựa trên hệ thống mã hóa khóa công khai Hệ thống

mã hóa này gồm hai khóa, khóa bí mật và khóa công khai (khác với hệ thống mã hóa khóa đối xứng, chỉ gồm một khóa cho cả quá trình mã hóa và giải mã) Mỗi chủ thể có một cặp khóa như vậy, chủ thể đó sẽ giữ khóa bí mật, còn khóa công khai của chủ thể

sẽ được đưa ra công cộng để bất kỳ ai cũng có thể biết Nguyên tắc của hệ thống mã hóa khóa công khai đó là, nếu ta mã hóa bằng khóa bí mật thì chỉ khóa công khai mới giải mã thông tin được, và ngược lại, nếu ta mã hóa bằng khóa công khai, thì chỉ có khóa bí mật mới giải mã được

Trang 30

1.3.3 Các giao thức bảo mật

1.3.3.1 Giao thức SSL

SSL viết tắt của Secure Socket Layer là một giao thức (protocol) cho phép bạn

truyền đạt thông tin một cách bảo mật và an toàn qua mạng [8]

SSL được phát triển bởi Netscape, ngày nay giao thức SSL đã được sử dụng rộng rãi trên World Wide Web trong việc xác thực và mã hoá thông tin giữa client và server SSL được thiết kế như là một giao thức riêng cho vấn đề bảo mật có thể hỗ trợ cho rất nhiều ứng dụng Giao thức SSL hoạt động bên trên TCP/IP và bên dưới các giao thức ứng dụng tầng cao hơn như là HTTP, IMAP và FTP

SSL không phải là một giao thức đơn lẻ, mà là một tập các thủ tục đã được chuẩn hoá để thực hiện các nhiệm vụ bảo mật sau:

– Xác thực server: Cho phép người sử dụng xác thực được server muốn kết

nối Lúc này, phía browser sử dụng các kỹ thuật mã hoá công khai để chắc chắn rằng certificate và public ID của server là có giá trị và được cấp phát bởi một CA (certificate authority) trong danh sách các CA đáng tin cậy của client Điều này rất quan trọng đối với người dùng Ví dụ như khi gửi mã số credit card qua mạng thì người dùng thực sự muốn kiểm tra liệu server sẽ nhận thông tin này có đúng là server

mà họ định gửi đến không

– Xác thực Client: Cho phép phía server xác thực được người sử dụng muốn

kết nối Phía server cũng sử dụng các kỹ thuật mã hoá công khai để kiểm tra xem certificate và public ID của server có giá trị hay không và được cấp phát bởi một CA (certificate authority) trong danh sách các CA đáng tin cậy của server không Điều này rất quan trọng đối với các nhà cung cấp Ví dụ như khi một ngân hàng định gửi các thông tin tài chính mang tính bảo mật tới khách hàng thì họ rất muốn kiểm tra định danh của người nhận

– Mã hoá kết nối: Tất cả các thông tin trao đổi giữa client và server được mã

hoá trên đường truyền nhằm nâng cao khả năng bảo mật Điều này rất quan trọng đối với cả hai bên khi có các giao dịch mang tính riêng tư Ngoài ra, tất cả các dữ liệu được gửi đi trên một kết nối SSL đã được mã hoá còn được bảo vệ nhờ cơ chế tự động phát hiện các xáo trộn, thay đổi trong dữ liệu ( đó là các thuật toán băm – hash algorithm)

1.3.3.2 Giao thức SHTTP

S-HTTP là một mở rộng của HTTP, cung cấp một số đặc tính an toàn, trong đó

có xác thực máy khách và máy chủ, mã hoá và chống chối bỏ yêu cầu/đáp ứng Giao

Trang 31

thức này được CommerceNet Consortium phát triển, hoạt động ở tầng ứng dụng Nócung cấp mã hoá đối xứng để thiết lập xác thực máy khách/máy chủ và các tóm

lược thông báo nhằm đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu Máy khách và máy chủ có thể dùng các kỹ thuật S-HTTP một cách riêng lẻ [8]

S-HTTP thiết lập các chi tiết an toàn thông qua header (phần đầu trong gói tin) của gói đặc biệt Header định nghĩa kiểu kỹ thuật an toàn, cụ thể là mã khoá riêng, xác thực máy chủ, xác thực máy khách và đảm bảo tính toàn vẹn thông báo

Một khi máy khách và máy chủ thoả thuận được các thiết lập an toàn bắt buộc giữa chúng, tất cả các thông báo trong phiên giao dịch sau này được đóng gói an toàn trong một phong bì an toàn (secure envelope) Đây là một tiện ích an toàn đóng gói

thông báo và đảm bảo tính bí mật, toàn vẹn và xác thực máy khách/máy chủ Nhờ đó,mọi thông báo chuyển tiếp trên mạng hoặc Internet được mã hoá, không ai có thể

đọc trộm Mọi sửa đổi trên thông báo đều bị phát hiện, nhờ vào kỹ thuật toàn vẹn

SHTTP cung cấp một mã phát hiện thông báo bị sửa đổi Người ta dùng chứng chỉ số do một CA (Certificate authority - được công nhận) phát hành để xác thực các máy khách và máy chủ Phong bì an toàn bao gồm tất cả các đặc tính an toàn trên

1.3.3.3 Giao thức TCP/IP

Mã hóa và chữ ký số có thể bảo vệ các gói thông tin, tránh bị trộm cắp hoặc làm trễ Tuy nhiên, TCP có trách nhiệm kiểm soát các gói tại các nút cuối Phát hiện những thay đổi trên đường truyền Tại đích, khi lắp ráp các gói theo đúng trật tự ban đầu, nó phát hiện được ngay các gói bị mất, hay những gói không đúng cấu trúc Trách nhiệm lúc này của TCP là yêu cầu máy khách gửi lại dữ liệu Điều này có nghĩa là không có giao thức an toàn máy tính đặc biệt nào (ngoại trừ TCP/IP) được dùng như một

biệnpháp đối phó, chống tấn công từ chối

TCP/IP là một hệ thống giao thức - một tập hợp các giao thức hỗ trợ việc lưu truyền trên mạng Ra đời trước khi có mô hình OSI (International Standards Organization) Các tầng trong bộ giao thức TCP/IP không giống hệt các tầng trong OSI Bộ giao thức TCP/IP có 5 tầng: vật lý, liên kết dữ liệu, mạng, giao vận và ứng

dụng Bốn tầng đầu tiên cung cấp các chuẩn vật lý giao tiếp mạng, liên mạng và chức

năng giao vận tương ứng với 4 tầng đầu tiên trong mô hình OSI

1.3.3.4 Giao thức bảo mật SET

Hiện nay, trong việc thanh toán qua mạng, các tổ chức tín dụng và các nhà cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán thẻ tín dụng trên thế giới áp dụng công nghệ bảo mật cao cấp là SET (Secure Electronic Transaction)

Trang 32

- SET là một nghi thức tập hợp những kỹ thuật mã hoá và bảo mật nhằm mục đích đảm bảo an toàn cho các giao dịch mua bán trên mạng Đây là một kỹ thuật bảo mật, mã hóa được phát triển bởi VISA, MASTER CARD và các tổ chức khác trên thế giới Mục địch của SET là bảo vệ hệ thống thẻ tín dụng, tạo cho khách hàng, doanh nghiệp, ngân hàng, các tổ chức tài chính sự tin cậy khi giao dịch mua bán trên Internet

- Ngoài ra, SET thiết lập một phương thức hoạt động phối hợp tương hỗ

(method of interoperability) nhằm bảo mật các dịch vụ qua mạng trên các phần cứng

và phần mềm khác nhau

Một sự khác biệt điển hình giữa SET và SSL là SSL không bao gồm một chứng thực khách hàng yêu cầu phần mềm đặc biệt (được gọi là ví số - digital wallet) tại máy tính cá nhân của họ SSL được thiết lập trong trình duyệt, do đó không cần một phần mềm đặc biệt nào Trong khi đó, Visa và MasterCard chấp nhận các thông điệp chỉ khi chúng tuân thủ giao thức SET

Tuy nhiên, SET không phổ biến nhanh như nhiều người mong đợi do tính phức tạp, thời gian phản hồi chậm, và sự cần thiết phải cài đặt ví số ở máy tính của khách hàng Nhiều ngân hàng ảo và cửa hàng điện tử duy trì giao thức SSL, thậm chí một số cửa hàng điện tử, như Wal-Mart Online, đi theo cả hai giao thức SSL và SET Ngoài

ra, theo một cuộc khảo sát do Forrest Research thực hiện, chỉ có 1% kế hoạch

kinhdoanh điện tử di chuyển sang SET

Tóm lại SET được thiết lập để bảo mật những thông tin về cá nhân cũng như thông tin về tài chính trong quá trình mua bán và giao dịch trên mạng

Trang 33

CHƯƠNG 2

MỘT SỐ HÌNH THỨC THANH TOÁN TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

2.1 Thanh toán qua thẻ

2.1.1 Giới thiệu thẻ thanh toán

Hình thức sơ khai của thẻ thanh toán ra đời tại Mỹ vào những năm 1920 với tên gọi là “đĩa mua hàng” Chủ sở hữu loại đĩa này có thể sử dụng chúng để mua hàng ở những cửa hàng phát hành ra chúng, và cuối tháng họ phải thanh toán cho chủ cửa hàng số tiền đã mua hàng trước đó Có thể hiểu ở đây, người chủ cửa hàng đã bán chịu cho khách hàng và khách hàng sẽ trả tiền sau cho chủ cửa hàng, giống với việc chủ cửa hàng cấp tín dụng cho khách hàng trước

Đến năm 1940 thẻ ngân hàng ra đời đầu tiên tên là thẻ DINNER CLUB do ý tưởng của một doanh nhân người Mỹ là Frank Mc Namara, khi ông cùng vợ đi ăn đi

ăn tối tại nhà hàng, khi thanh toán ông phát hiện ra đã quên ví ở nhà và ông phải gọi

vợ mang tiền đến để trả tiền Từ đó, ông nảy ra ý tưởng thanh toán không dùng tiền mặt Cùng với đối tác, ông đã sáng lập ra công ty Diners Club và phát hành thẻ chuyên

sử dụng để thanh toán tại các nhà hàng

Năm 1950 chiếc thẻ nhựa đầu tiên được phát hành, những người có thẻ DINNERS CLUB này có thể ghi nợ khi ăn tại 27 nhà hàng tại thành phố New York và phải chịu một khoản lệ phí hàng năm là 5USD Những tiện ích của chiếc thẻ ngay lập tức gây được sự chú ý và đã chinh phục một lượng đông đảo khách hàng do họ có thể mua hàng trước mà không cần phải trả tiền ngay

Tiếp nối thành công của thẻ DINNERS CLUB, hàng loạt các công ty thẻ như Trip Change, Golden Key, Esquire Club ra đời Phần lớn các thẻ này trước hết được phát hành nhằm phục vụ giới doanh nhân, nhưng sau đó các ngân hàng nhận thấy rằng giới bình dân mới là đối tượng sử dụng thẻ trong tương lai

Năm 1960, Bank of America cho ra đời sản phẩm thẻ đầu tiên của mình là BANKAMERICARD Đến năm 1966, 14 ngân hàng hàng đầu của Mỹ thành lập Interbank, một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông tin về giao dịch thẻ Ngay sau đó, vào năm 1967, 4 ngân hàng bang California đổi tên từ Bank Card Association thành Western State Bank Card Association và tổ chức này đã liên kết với Interbank cho ra đời thẻ MASTER CHARGE, loại thẻ này đã nhanh chóng trở thành một đối thủ cạnh tranh lớn của BANKAMERICARD Đến năm 1977, tổ chức BANKAMERICARD đổi tên thành VISA USD và sau đó là tổ chức thẻ quốc tế VISA

Trang 34

Năm 1979, tổ chức thẻ MASTER CHARGE đổi tên thành MASTER CARD Hiện nay, 2 tổ chức này vẫn đang là 2 tổ chức thẻ lớn mạnh và phát triển nhất trên thế giới

Ngày nay, thẻ ngân hàng đã có mặt ở khắp nơi trên thế giới với những hình thức và chủng loại đa dạng, đáp ứng đầy đủ những nhu cầu riêng lẻ của người tiêu dùng Cùng với sự phát triển của 2 tổ chức thẻ quốc tế là VISA và MASTER, một loạt các tổ chức thẻ mang tính quốc tế khác nối tiếp xuất hiện như: JCB, American Epress, Airplus, Maestro, Eurocard, Sự phát triển mạnh mẽ này đã khẳng định xu thế phát triển tất yếu của thẻ Các ngân hàng và công ty tài chính luôn tìm cách cải thiện sao cho càng ngày thẻ càng dễ xử dụng và cung cấp những dịch vụ thanh toán tiện lợi nhất cho người tiêu dùng Hiện nay, người sử dụng thẻ có thể sử dụng thẻ trên hầu hết các nước trên thế giới, họ không còn lo việc chuyển đổi sang đồng tiền nội địa khi đi ra nước ngoài

- Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ

- Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant) Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán

Các cách diễn đạt trên đều phản ánh đây là một phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt

tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động

2.1.1.2 Phân loại thẻ thanh toán

- Phân loại theo công nghệ sản xuất:

Thẻ khắc chữ nổi: Thẻ thanh toán ra đời dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, là

loại thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này Trên bề mặt tấm thẻ thể hiện

Trang 35

những thông tin cần thiết được khắc nổi Hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo

Hình 2.1 Thẻ khắc chữ nổi Thẻ băng từ: Là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ

chứa thông tin đằng sau mặt thẻ Hiện nay thẻ từ chiếm phần lớn trong số lượng thẻ đang sử dụng trên thị trường Thẻ từ là một thẻ bằng nhựa, có một dải băng từ màu đen

ở mặt sau của thẻ Dải băng từ lưu trữ và có thể thanh đổi thông tin, nội dung trên thẻ Thông thường, dải băng từ lưu trữ thông tin của chủ thẻ Tuy nhiên, thẻ băng từ cũng

cố một số nhược điểm như thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin

Hình 2.2 Thẻ băng từ Thẻ chip (thẻ thông minh): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ có

cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính Thẻ được sản xuất đựa trên kỹ thuật vi xử lý, nhờ được gắn vào thẻ một chíp điện tử Thẻ thông minh có nhiều loại với dung lượng lưu trữ khác nhau Hiện nay thẻ thông minh được sử dụng rộng rãi trên thế giới vì có nhiều ưu điểm về mặt kỹ thuật, độ an toàn cao, khó có thể làm giả được

Trang 36

Hình 2.3 Thẻ thông minh Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ

Thẻ tín dụng (Credit Card): Là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay,

người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh chấp nhận loại thẻ này Được gọi là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định Cũng từ đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ vì người dùng được phép thanh toán trước và trả tiền sau:

Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài

khoản tiền gửi tại ngân hàng của chủ thẻ Loại thẻ này khi được sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động

Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ

Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:

- Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ

- Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đợc khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày

Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động

hoặc ở ngân hàng Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được

Trang 37

Thẻ rút tiền mặt có hai loại:

Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của Ngân hàng phát hành

Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành mà còn được

sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với Ngân hàng phát hành thẻ

Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:

- Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng

tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó

- Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các

ngoại tệ mạnh để thanh toán

Phân loại theo chủ thể phát hành

- Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát hành

giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín dụng

- Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn phát hành như Diner's Club, Amex

2.1.2 Giao dịch với thẻ thanh toán

2.1.2.1 Quy trình giao dịch thẻ thanh toán trên máy ATM

Máy ATM: Máy rút tiền tự động hay máy giao dịch tự động (còn được gọi là ATM, viết tắt của Automated Teller Machine hoặc Automatic Teller Machine) là một thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với khách hàng, thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ATM (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng) hay các thiết bị tương thích, và giúp khách hàng kiểm tra tài khoản, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ

Các bước thực hiện thanh toán qua thẻ tại máy ATM như sau:

- Khi chủ thẻ cho thẻ vào máy ATM, ATM sẽ dựa trên thông tin về số BIN ( Bank Identification Number - mã định dạng ngân hàng được in trên mặt trước của thẻ) của ngân hàng phát hành thẻ xác định xem ngân hàng phát hành có phải là thành viên trong mạng chuyển mạch chung thuộc Chuyển mạch quốc gia không

- Nếu ngân hàng phát hành thẻ không thuộc mạng chuyển mạch chung, máy ATM sẽ từ chối dịch vụ và trả lại thẻ cho chủ thẻ

Ngày đăng: 29/03/2016, 21:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Hoàng Phương Bắc, Một số công cụ công nghệ thông tin dùng trong thanh toán điện tử, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Công nghê, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số công cụ công nghệ thông tin dùng trong thanh toán điện tử
9. Nguyễn Thiên Bằng (2005), Giáo Trình Nhập Môn PHP & MySQL - Xây Dựng Ứng Dụng Web, Nhà Xuất Bản Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Trình Nhập Môn PHP & MySQL - Xây Dựng Ứng Dụng Web
Tác giả: Nguyễn Thiên Bằng
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Lao động - Xã hội
Năm: 2005
10. Nguyễn Thị Tuyết Mai (2004), Thương mại điện tử, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thương mại điện tử
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2004
11. Phan Đình Diệu (2006), Lý thuyết mật mã và an toàn thông tin, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết mật mã và an toàn thông tin
Tác giả: Phan Đình Diệu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2006
12. Nguyễn Văn Khanh, Trần Đức Khanh (2012), Mật mã và an toàn thông tin, Đại học Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mật mã và an toàn thông tin
Tác giả: Nguyễn Văn Khanh, Trần Đức Khanh
Năm: 2012
13. Phạm hữu khang (2007), Xây Dựng Ứng Dụng Web Bằng PHP Và MySQL, Nhà Xuất Bản Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây Dựng Ứng Dụng Web Bằng PHP Và MySQL
Tác giả: Phạm hữu khang
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Phương Đông
Năm: 2007
14. Trần Văn Hòe (2007), Giáo trình thương mại điện tử căn bản, Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thương mại điện tử căn bản
Tác giả: Trần Văn Hòe
Năm: 2007
15. TS. Nguyễn Văn Minh- Trần Hoài Nam (2002), Giao dịch thương mại điện tử - Một số văn đề cơ bản, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao dịch thương mại điện tử - Một số văn đề cơ bản
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Minh- Trần Hoài Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
16. Vũ Thị Hồng Minh (2012), Hoàn thiện quy trình thanh toán bằng các loại thẻ tín dụng quốc tế của cổng thanh toán trực tuyến Bảo Kim, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Thương mại điện tử, Trường Đại học Thương Mại.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy trình thanh toán bằng các loại thẻ tín dụng quốc tế của cổng thanh toán trực tuyến Bảo Kim
Tác giả: Vũ Thị Hồng Minh
Năm: 2012
17. Chaum, David, van Heijst, Eugene and Pgitzmann, Brigit (1992), “Cryptographically strong undeniable signatures, unconditionally secure for the signer”, in CRYPTO 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cryptographically strong undeniable signatures, unconditionally secure for the signer”
Tác giả: Chaum, David, van Heijst, Eugene and Pgitzmann, Brigit
Năm: 1992
18. Dennis Abrazhevich (2004), Electronic Payment Systems: a User-centered Perspective and Interaction Deign, Technische Universiteit Eindhoven Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electronic Payment Systems: a User-centered Perspective and Interaction Deign
Tác giả: Dennis Abrazhevich
Năm: 2004
19. D.O’Mahony, M. Peire, H. Tewari (2001), Electronic payments Systems, Artech House Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electronic payments Systems
Tác giả: D.O’Mahony, M. Peire, H. Tewari
Năm: 2001
20. Henry R. Cheeseman (2012), Legal Enuiroment of Business and Online commerce, University of Southern California Sách, tạp chí
Tiêu đề: Legal Enuiroment of Business and Online commerce
Tác giả: Henry R. Cheeseman
Năm: 2012
22. H.M. Deitel, P.J. Deitel, T.R Nieto (2001), E-Business & E-commerce, How to Program, Prentice Hall, New Jersey Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-Business & E-commerce
Tác giả: H.M. Deitel, P.J. Deitel, T.R Nieto
Năm: 2001
23. J. Orlin Grabbe (1997), “Cryptography and Number Theory for Digital Cash” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cryptography and Number Theory for Digital Cash
Tác giả: J. Orlin Grabbe
Năm: 1997
24. Phillip Rogawayn (2010), “An empirical study of customers’ perceptions of security and trust in e-payment systems”, Electronic Commerce Research and Applications, Volume 9, Issue 1, pp 84–95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An empirical study of customers’ perceptions of security and trust in e-payment systems”, "Electronic Commerce Research and Applications
Tác giả: Phillip Rogawayn
Năm: 2010
1. Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (2008), Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam Khác
2. Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (2009), Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam Khác
3. Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (2010), Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam Khác
4. Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (2011), Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô hình trả sau - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 1.1. Mô hình trả sau (Trang 16)
Hình 1.4. Chuyển tiền điện tử tại điểm bán hàng [15] - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 1.4. Chuyển tiền điện tử tại điểm bán hàng [15] (Trang 21)
Hình 1.6. Thống kê số tài khoản ngân hàng  (Nguồn: Ban Thanh toán – Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2007) - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 1.6. Thống kê số tài khoản ngân hàng (Nguồn: Ban Thanh toán – Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2007) (Trang 23)
Hình 1.7. Tỷ lệ thanh toán sử dụng tiền mặt  (Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử năm 2012) - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 1.7. Tỷ lệ thanh toán sử dụng tiền mặt (Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử năm 2012) (Trang 24)
Hình 2.4. Mô hình quy trình giao dịch thanh toán tiền điện tử cùng ngân hàng - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 2.4. Mô hình quy trình giao dịch thanh toán tiền điện tử cùng ngân hàng (Trang 44)
Hình 3.3. Sơ đồ phân rã chức năng hệ thống đăng ký học trực tuyến - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 3.3. Sơ đồ phân rã chức năng hệ thống đăng ký học trực tuyến (Trang 61)
Hình 3.4. Biểu đồ luồng dữ liệu mức khung cảnh  3.3.3.2. Biểu đồ luồng dữ liệu mức đỉnh - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 3.4. Biểu đồ luồng dữ liệu mức khung cảnh 3.3.3.2. Biểu đồ luồng dữ liệu mức đỉnh (Trang 62)
Hình 3.5. Biểu đồ luồng dữ liệu mức đỉnh - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 3.5. Biểu đồ luồng dữ liệu mức đỉnh (Trang 62)
Hình 3.6. Quy trình nạp tiền vào ví từ tài khoản ngân hàng - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 3.6. Quy trình nạp tiền vào ví từ tài khoản ngân hàng (Trang 63)
Hình 3.7. Quy trình thanh toán học phí qua ví điện tử - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 3.7. Quy trình thanh toán học phí qua ví điện tử (Trang 65)
Hình 3.8. Quy trình chuyển tiền giữa các tài khoản ví - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 3.8. Quy trình chuyển tiền giữa các tài khoản ví (Trang 66)
Hình 3.9. Giao diện đăng nhập hệ thống - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 3.9. Giao diện đăng nhập hệ thống (Trang 67)
Hình 3.10. Giao diện chức năng đăng ký học trực tuyến - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 3.10. Giao diện chức năng đăng ký học trực tuyến (Trang 68)
Hình 3.11. Giao diện chức năng nạp tiền ví điện tử - Nghiên cứu một số hình thức thanh toán trong thương mại điện tử
Hình 3.11. Giao diện chức năng nạp tiền ví điện tử (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w