Rèn lyện kĩ năng giải toán bất đẳng thức và bất phương trình cho học sinh thpt bằng phương pháp hàm số
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU HÀ MÔNG THÙY LINH
ĐỖ THỊ HUYỀN TRANG
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN BẤT ĐẲNG THỨC
VÀ BẤT PHƯƠNG TRÌNH CHO HỌC SINH THPT
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU HÀ MÔNG THÙY LINH
ĐỖ THỊ HUYỀN TRANG
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN BẤT ĐẲNG THỨC
VÀ BẤT PHƯƠNG TRÌNH CHO HỌC SINH THPT
Trang 3Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn bên chúng em, động viên và giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài.
Dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót cần được góp ý, sữa chữa.Chúng em rất mong nhận được những ý kiến, nhận xét của các thầy cô giáo và bạn đọc.
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Hà Mông Thùy Linh
Đỗ Thị Huyền Trang
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3
6. Giả thuyết khoa học 3
7. Dự kiến cấu trúc của đề tài 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Kỹ năng và kỹ năng giải toán cho HS THPT 6
1.1.1. Kỹ năng 6
1.1.2. Kỹ năng giải toán 9
1.2 Hàm số và quan điểm hàm số trong dạy học toán ở trường THPT 14
1.2.1. Khái niệm hàm số 14
1.2.2. Quan điểm hàm số trong dạy học toán ở trường phổ thông 15
1.3. Thực tiễn rèn luyện kỹ năng giải bài toán BĐT và BPT cho HS THPT theo quan điểm hàm số. 16
1.3.1. Thực trạng việc dạy học giải BPT và BĐT theo quan điểm hàm số ở trường phổ thông. 16
1.3.2. Những khó khăn sai lầm thường gặp của HS trong khi giải BPT và BĐT theo quan điểm hàm số 17
1.4. Kết luận chương 1 20
Trang 5Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI BÀI TOÁN BẤT ĐẲNG THỨC VÀ BẤT PHƯƠNG TRÌNH CHO HỌC SINH
THÔNG THEO QUAN ĐIỂM HÀM SỐ 21
2.1. Tổng quan về bất đẳng thức và bất phương trình trong chương trình Toán THPT 21
2.1.1. Định nghĩa bất đẳng thức và bất phương trình 21
2.1.2. Các phương pháp thông thường để giải bất phương trình và chứng minh bất đẳng thức 23
2.1.3. Các kỹ năng cần rèn luyện cho HS khi học nội dung này. 27
2.2. Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài toán bất đẳng thức theo quan điểm hàm số. 29
2.2.1. Rèn luyện kỹ năng vận dụng đạo hàm để chứng minh bất đẳng thức 29
2.2.2. Rèn luyện kỹ năng sử dụng hàm số đơn điệu để chứng minh bất đẳng thức. 44
2.2.3. Rèn luyện kỹ năng chứng minh bất đẳng thức và tìm GTLN-GTNN của biểu thức bằng phương pháp hàm số 48
2.3. Rèn luyện một số kỹ năng giải bất phương trình theo quan điểm hàm. 50
2.3.1. Rèn luyện kỹ năng giải bất phương trình bằng phương pháp vận dụng khái niệm TXĐ và tập giá trị. 50
2.3.2. Rèn kỹ năng giải bất phương trình thông qua sử dụng tính đơn điệu của hàm số 52
2.3.3. Rèn kỹ năng giải bất phương trình bằng phương pháp sử dụng đạo hàm và xét sự biến thiên 56
2.4. Kết luận chương 2. 59
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 6CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay, nước ta đang trên đà thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Trải qua hơn 20 năm đổi mới, nền giáo dục nước ta đã có những thay đổi đáng kể. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới giáo dục vẫn luôn là một nhiệm vụ cấp bách
và được đặt lên trên hết. Nghị quyết 29.NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục đã chỉ ra cần: “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất và năng lực người học” Chính vì vậy, giáo dục và đào tạo luôn được Đảng và Chính phủ ta coi là
quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.
Trong những năm gần đây, việc nâng cao chất lượng dạy học đang là một yêu cầu cấp bách đối với nghành giáo dục nước ta.Một trong những khâu then chốt
để thực hiện yêu cầu này là đổi mới nội dung và phương pháp dạy học. Điều 28
khoản 2 Luật Giáo Dục có nêu: ”phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực chủ động, sáng tạo của HS phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.”
Môn Toán là một môn học có vị trí đặc biệt quan trọng so với các môn học khác ở trường Phổ thông. Bởi một mặt Toán học có nguồn gốc từ thực tiễn. Mặt khác môn Toán được coi như môn học cơ sở, là công cụ cho nhiều môn học khác. Trong thực tế rất nhiều vấn đề của các nghành khoa học kĩ thuật được giải quyết nhờ sự giúp đỡ đắc lực của toán học.
Trong các nội dung dạy học môn Toán ở trường phổ thông, chủ đề BPT và BĐT là một nội dung quan trọng. Kiến thức và kĩ năng trong chủ đề này sẽ là chiếc chìa khóa tốt nhất để giải quyết nhiều vấn đề thuộc hầu hết các chủ đề kiến thức vể đại số, giải tích và hình học. Chính vì vậy, bên cạnh việc giảng dạy các kiến thức lí thuyết về chủ đề BPT và BĐT một cách đầy đủ theo quy định của chương trình dạy
Trang 8Bên cạnh đó, kiến thức hàm số cũng chiếm một vị trí rất quan trọng. Hàm số giữ vai trò trung tâm, việc bảo đảm vị trí trung tâm của hàm số sẽ tăng cường tính thống nhất của giáo trình Toán phổ thông, góp phần xóa bỏ ranh giới giả tạo giữa các phần khác nhau của chương trình.
Theo Nguyễn Bá Kim ([9]), quan điểm hàm được thể hiện trong chương trình Toán ở trường trung học phổ thông như sau:
- Nghiên cứu hàm số được coi là nhiệm vụ chủ yếu suốt chương trình bậc phổ thông ;
- Phần lớn chương trình Đại số và Giải tích giành cho việc trực tiếp nghiên cứu hàm số ;
- Cấp số cộng và cấp số nhân được nghiên cứu như những hàm số của đối
tư tưởng hàm số có tác dụng tốt cho việc phát triển tư duy hàm cho HS. Đồng thời
có thể rèn luyện nhiều kĩ năng giải toán và ứng dụng kiến thức toán cho HS trong sự kết hợp phát triển tư duy hàm.
Tuy nhiên, có thể nói rằng thực tế dạy học ở trường THPT hiện nay, chủ đề BPT và BĐT vẫn là một chủ đề khó đối với HS. Các em vẫn thường mắc phải một
số sai lầm trong quá trình giải BPT hay BĐT . Đa số các em chưa có kĩ năng thành thạo để giải BPT và BĐT theo quan điểm hàm. Đồng thời phương pháp hàm số được thể hiện thế nào cho hợp lí vẫn luôn gây khó khăn cho các em.
Trang 9Để góp phần tăng cường khả năng giải các bài toán liên quan đến BĐT và BPT, chúng em chọn đề tài:
“Rèn luyện kĩ năng giải bất phương trình và bất đẳng thức cho HS trung học phổ thông theo quan điểm hàm số”
Tổng kết kiến thức về tư duy hàm và quan điểm phát triển tư duy hàm cho
HS trong dạy học toán.
3.2 Đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm giúp HS phát triển năng lực
giải BĐT và BPT theo quan điểm hàm số thông qua việc phân loại bài tập và quá trình dạy học giải BPT và BĐT theo quan điểm hàm số.
3.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của
các nội dung đã đề xuất.
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tìm hiểu, nghiên cứu các đề tài về dạy
học theo quan điểm hàm, phương pháp dạy học môn toán và các tài liệu khác liên
quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, điều tra và khảo sát thực trạng
dạy học Toán chủ đề BPT và BĐT theo quan điểm hàm số ở THPT hiện nay
5 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Tình hình dạy học toán ở trường THPT hiện nay
Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học bất phương trình và bất đẳng
thức và phương pháp giải toán bất phương trình và bất đẳng thức bằng phương pháp
hàm số ở trường trung học phổ thông hiện nay
6 Giả thuyết khoa học
Trang 10Nếu xây dựng được các biện pháp sư phạm và sử dụng các biện pháp đó nhằm rèn luyện kỹ năng giải bài toán bất đẳng thức và bất phương trình theo quan điểm hàm số cho HS THPT trong quá trình dạy học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán và đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay.
7 Dự kiến cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Kỹ năng và kỹ năng giải toán cho HS THPT
2.1 Tổng quan về bất đẳng thức và bất phương trình trong chương trình Toán THPT
2.1.1. Định nghĩa bất đẳng thức và bất phương trình
2.1.2. Các phương pháp thông thường để giải bất phương trình và chứng minh bất đẳng thức
2.1.3. Các kỹ năng cần rèn luyện cho HS khi học nội dung này.
Trang 112.2 Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài toán bất đẳng thức theo quan điểm hàm số
2.2.1. Rèn luyện kỹ năng vận dụng đạo hàm để chứng minh bất đẳng thức
2.2.3. Rèn luyện kỹ năng sử dụng hàm số đơn điệu để chứng minh bất đẳng thức.
2.2.3. Rèn luyện kỹ năng chứng minh bất đẳng thức và tìm GTLN-GTNN của biểu thức bằng phương pháp hàm số
2.3 Rèn luyện một số kỹ năng giải bất phương trình theo quan điểm hàm
2.3.1. Rèn luyện kỹ năng giải bất phương trình bằng phương pháp vận dụng khái niệm TXĐ và tập giá trị.
2.3.1. Rèn kỹ năng giải bất phương trình thông qua sử dụng tính đơn điệu của hàm số
2.3.3. Rèn kỹ năng giải bất phương trình bằng phương pháp sử dụng đạo hàm và xét sự biến thiên
2.4 Kết luận chương 2
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Kỹ năng và kỹ năng giải toán cho HS THPT
1.1.1 Kỹ năng
1.1.1.1 Khái niệm kỹ năng
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ quan niệm chuyên môn và góc nhìn cá nhân của mỗi người viêt. Tuy nhiên tất cả chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng
ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng.
Theo Tâm lý học đại cương: ”Kỹ năng là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khả năng sẵn có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định” (xem [ 8 ]).
Theo Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm: ”Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới.
Từ điển Tiếng Việt khẳng định: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” (xem [6 ]).
Trong Toán học thì kỹ năng được hiểu là khả năng giải các bài toán, thực hiện các chứng minh cũng như phân tích, có phê phán các lời giải cũng như chứng minh nhận được.
Như vậy, dù phát triển dưới góc độ nào thì kỹ năng vẫn là khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi. Nói đến kỹ năng là nói đến cách thức, trình tự thực hiện các thao tác hành động để đạt được mục đích đã định. Kỹ năng chính là kiến thức trong hành động.
Trang 13Tuy nhiên, trong thực tế dạy học, HS thường gặp khó khăn trong việc vận dung kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết các bài tập cụ thể. HS thường khó tách ra những chi tiết thứ yếu, không bản chất ra khỏi đối tượng nhận thức, không phát hiện những thuộc tính, mối quan hệ vốn
có giữa kiến thức và đối tượng. Sở dĩ như vậy là do kiến thức không chắc chắn, khái niệm cũng trở nên khó hiểu, không gắn liền với cơ sở của kỹ năng.
1.1.1.2 Sự hình thành và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng
a) Sự hình thành kỹ năng
Bất cứ một kỹ năng nào cũng được hình thành trên cơ sở của các kiến thức đã biết. Chính vì vậy, để có kỹ năng, trước hết HS cần có các kiến thức cơ sở. Kỹ năng được hình thành nhanh hay chậm là do khả năng nhận thức và vốn kiến thức của người học. Kỹ năng chỉ được hình thành thông qua
quá trình tư duy để giải quyết nhiệm vụ đã đặt ra
Một kỹ năng sẽ được hình thành trong quá trình thực hiện nhiều lần,
lặp đi lặp lại một khái niệm, cách thức hay phương pháp nào đó Nên để hình thành kĩ năng cho HS cần cho HS luyện tập nhiều lần để hình thành kỹ năng.
b) Các đặc điểm cơ bản của kỹ năng:
Theo [7], kỹ năng có các đặc điểm cơ bản sau:
Bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết, đó là kiến thức, bởi
vì cấu trúc của kỹ năng bao gồm: hiểu mục đích, biết cách thức đi đến kết quả, hiểu những điều kiện để triển khai các cách thức đó.
Kiến thức là cơ sở của các kỹ năng khi các kiến thức đó phản ánh đầy đủ các thuộc tính bản chất của đối tượng, được thực nghiệm trong thực tiễn và tồn tại trong ý thức với tư cách của hành động.
Kỹ năng của con người không phải là yếu tố bất biến trong suốt cuộc đời mà phụ thuộc vào người học thông qua hoạt động của họ trong mối quan hệ của họ với cộng đồng.
Giải một bài toán cần tiến hành một hệ thống các hành động có mục đích. Do
đó chủ thể giải toán cần phải nắm vững tri thức về hành động thực hiện hành động
Trang 14Để hình thành được kỹ năng trước hết cần có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết, luyện tập từng thao tác riêng rẽ cho đến khi thực hiện được hành động theo đúng mục đích yêu cầu. Kỹ năng chỉ được hình thành thông qua quá trình tư duy để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra. Sự dễ dàng hay khó khăn khi vận dụng kiến thức (hình thành kỹ năng ) tùy thuộc vào khả năng nhận dạng kiểu toán, phát hiện nhìn thấy trong các dữ liệu đã cho của bài toán, có những thuộc tính những quan hệ là bản chất để thực hiện giải bài toán đã cho.
c) Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng
Trong DH Toán, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng là (xem [ 8 ]):
Trang 15 Nội dung bài toán: Nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hóa hay bị che phủ bởi những yếu tố phụ làm lệch hướng tư duy có ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng.
Tâm thế và thói quen cũng ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng. Việc tạo ra tâm thế thuận lợi cho HS sẽ giúp HS dễ dàng trong việc hình thành kỹ năng.
Khả năng khái quát nhìn đối tượng ở mức độ cao hay thấp.
1.1.2 Kỹ năng giải toán
1.1.2.1 Khái niệm kỹ năng giải toán
Giải một bài toán là tiến hành hành động có mục đích, vì thế chủ thể bài toán còn phải nắm vững tri thức về hành động, thực hiện hành động theo yêu cầu cụ thể của tri thức đó, biết hành động có hiệu quả trong những điều kiện khác nhau. Trong giải toán, theo tôi kỹ năng giải toán của HS đó là khả năng vận dụng có mục đích những tri thức và kinh nghiệm đã có vào những bài toán cụ thể, thực hiện có kết quả một hệ thống hành động giải toán để đi đến lời giải bài toán một cách khoa học.
Để thực hiện tốt môn Toán ở trường THPT, một trong những yêu cầu được đặt ra là: “Về tri thức, kĩ năng, cần chú ý những tri thức, phương pháp, đặc biệt là tri thức có tính chất thuật toán và những kĩ năng tương ứng. Chẳng hạn: tri thức và kĩ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình, tri thức, kĩ năng chứng minh toán học, kĩ năng hoạt động và tư duy hàm.” .
Kỹ năng giải toán là khả năng vận dụng các tri thức toán học để giải các bài tập toán bằng suy luận hay chứng minh.
Cần chú ý là tùy theo nội dung kiến thức toán học mà có những yêu cầu rèn luyện kĩ năng khác nhau.
1.1.2.2 Vấn đề rèn luyện kỹ năng giải toán cho HS THPT
Theo Nguyễn Bá Kim ([ 9 ]) một trong các mục tiêu quan trọng của việc DH Toán ở trường phổ thông là “Trang bị tri thức, rèn luyện kĩ năng, đặc
Trang 16biệt là kĩ năng tư duy cho HS”. Như vậy, việc truyền đạt kiến thức và rèn luyện kỹ năng giải toán cho HS THPT được coi là nhiệm vụ quan trọng. Rèn luyện kỹ năng nói chung và kỹ năng toán học nói riêng là một yêu cầu quan trọng, nó đảm bảo mối liên hệ giữa học và hành. Thực tiễn cho thấy, việc dạy học sẽ không đạt kết quả cao nếu HS chỉ biết học thuộc lòng các khái niệm,
định nghĩa, định lý mà không biết áp dung để giải các bài toán khác nhau
Tuy nhiên, để rèn luyện tốt kỹ năng giải toán cho HS THPT chúng ta cần trang bị cho HS một khối lượng kiến thức nhất định, gọi là kiến thức cơ
sở. Bởi lẽ, bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở của lý thuyết, đó là kiến thức tối thiểu mà người học cần có khi học các nội dung đó. Kiến thức là
cơ sở của kỹ năng là những kiến thức phản đúng và đầy đủ các thuộc tính bản chất, đồng thời được thử nghiệm và áp dụng thường xuyên, từ đó sẽ hình thành lên kỹ năng.
Dạy toán là dạy kiến thức, kỹ năng, tính cách cho HS. Việc hình thành và rèn luyện cho HS các kỹ năng giải toán nhằm đạt được những yêu cầu sau :
Giúp HS hình thành và nắm vững những mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình.
Giúp HS phát triển năng lực trí tuệ
Coi trọng việc rèn luyện khả năng tính toán trong giờ học. Đó là sự phát triển trí tuệ cho HS qua môn toán gắn liền với việc rèn luyện các kỹ năng thực hành.
Giúp HS rèn luyện các phẩm chất đạo đức và thẩm mỹ: tính kiên trì, cẩn thận, chính xác, và các thói quen tự kiểm tra đánh giá để có tự mình hạn chế các sai lầm.
Trong dạy học Toán cần rèn luyện cho HS các nhóm kiến thức cơ bản sau:
Nhóm kỹ năng chung
Trang 17 Nhóm kỹ năng thực hành
Nhóm kỹ năng tư duy
Kỹ năng suy luận, dự đoán
Kỹ năng tổng hợp: Liên hệ các dữ kiện trong bài toán, tóm tắt nội dung bài toán, đề xuất định hướng giải quyết bài toán.
(x-1) 6 4
1
x x
(x-1)
7x-3 6x -4
x -1 Đối chiếu với điều kiện có nghiệm của phương trình là:
x (-1; 1) (1; )
Thực tế HS đã mất cảnh giác khi nhân 2 vế của phương trình (1) với f(x) = x – 1 mà không quan tâm tới dấu của f(x) điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chiều của BPT dẫn tới kết quả bài toán sai.
Như vậy việc nắm vững các định lý về biến đổi BPT là quan trọng và cần thiết . Cần đưa ra những bài tập để HS có thể vận dụng các phép biến đổi tương đương này thành thạo.
Làm rõ sự giống nhau và khác nhau giữa phép biến đổi tương đương BPT bới phép biến đổi tương đương trong phương trình và tránh sai lầm khi
áp dụng.
Thật vô nghĩa nếu yêu cầu HS học thuộc lòng các định lý về các phép biến đổi tương đương hoặc cách áp dụng nó.
Trang 18 Có thể rèn luyện kỹ năng giải toán cho HS theo các con đường khác nhau
Con đường thứ nhất: Sau khi cung cấp và truyền thụ cho HS vốn
kiến thức cần thiết thì yêu cầu HS áp dụng để gải các bài toán khác nhau theo mức độ tăng dần.
Con đường thứ hai: Dạy những dấu hiệu đặc trưng, từ đó đưa ra các
Hướng 1 : Nhận thấy đây là phương trình vô tỉ có hai vế không âm nên
để khử dấu căn ta bình phương hai vế, hướng làm này có thể ra đáp số nhưng chắc chắn khá phức tạp và dễ nhầm lẫn trong tính toán.
Hướng 2 : Nhận xét các số hạng ở từng vế của BPT. Từ đó, đặt BPT dưới góc nhìn theo quan điểm hàm. Tức là, có thể sử dụng công cụ hàm số dể giải quyết BPT này không ?.
Trang 19Rèn luyện kỹ năng toán học cho HS cần quan tâm chú trọng đến những vấn đề sau:
Cần hướng cho HS biết cách tìm tòi để nhận xét ra những yếu tố đã cho và yếu tố phải tìm và các mối quan hệ giữa chúng. Nói cách khác, hướng cho HS biết
Trang 20+ Nhìn nhận bài toán dưới nhiều khía cạnh khác nhau, từ đó so sánh các cách giải với nhau để hiểu sâu sắc và vận dụng hợp lý kiến thức.
+ Quan sát tỉ mỉ và chú ý tìm ra đặc điểm bài toán.
+ Tích cực suy nghĩ, tìm tòi cách giải ngắn gọn trong khi giải toán. Thực tế, trong học tập HS không chỉ gặp những bài toán đơn giản, tuân theo phương pháp và các bước làm rõ ràng mà còn gặp khá nhiều bài toán phức tạp, không có phương pháp sẵn. Đòi hỏi HS phải suy nghĩ tìm ra cách giải ngắn gọn, chặt chẽ và độc đáo.
Vì vậy, song song với việc truyền thụ tri thức toán học thì việc rèn luyện các kỹ năng cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng, nó góp phàn bồi dưỡng tư duy Toán học cho HS.
1.2 Hàm số và quan điểm hàm số trong dạy học toán ở trường THPT
1.2.1 Khái niệm hàm số
Khái niệm hàm số đã được nhắc đến ở chương trình môn Toán cấp THCS, và đến chương trình cấp THPT thì vấn đề này vẫn tiếp tục được nghiên cứu. Ở lớp 10 HS vẫn tiếp tục được nghiên cứu về hàm số. Ở đây SGK giới thiệu lại khái niệm hàm số 1 cách chính xác hơn, có đề cập đến tập xác định của hàm số, đồng thời đưa ra các khái niệm hàm số đồng biến, nghịch biến, hàm số chẵn, lẻ, và giới thiệu thêm 1 phương pháp nghiên cứu hàm số là khảo sát sự biến thiên và vẽ đồ thị của chúng. SGK trình bày đầy
Định nghĩa trang 32- SGK Đại số 10 “Giả sử có 2 đại lượng biến thiên x và y, trong đó x nhận giá trị thuộc tập D. Nếu với mỗi giá trị của x
Trang 21ta có một hàm số. Ta gọi x là biến số, y là hàm số của x. Tập D được gọi là tập xác định của hàm số.
Định nghĩa trang 35- SGK Đại số 10 nâng cao : “Cho tập hợp khác rỗng là tập con của R. Hàm số f xác định trên D là một quy tắc tương ứng mỗi số
x thuộc D với 1 và chỉ 1 số, kí hiệu là f(x), số f(x) được gọi là giá trị của hàm số
f tại x. Tập hợp D gọi là tập xác định, x là biến số hay đối số của hàm số.
Sau khi trình bày định nghĩa, SGK đưa ra các ví dụ về hàm số trong thực tế đó là các hàm số cho bằng bảng. Về cách cho hàm số, SGK Đại số 10 trình bày 3 cách cho hàm số : hàm số cho bằng bảng, hàm số cho bằng biểu
đồ, hàm số cho bằng công thức.
Ví dụ 4 :Khi học về phần hàm số ở lớp 10, giáo viên có thể trình bày 1
trong số những cách cho hàm số là hàm số cho bằng công thức, ví dụ như cho hàm số s = 50t, trong đó vận tốc trung bình của xe máy là 50 km /h, t là thời gian xe đi được trong quãng đường s. Từ hàm số trên ta thấy được mối quan
hệ giữa các đại lượng s và t.
1.2.2 Quan điểm hàm số trong dạy học toán ở trường phổ thông
Do đặc tính biểu thị quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các đại lượng, một quan hệ phổ biến phản ánh bản chất của hầu như mọi hiện tượng trong khoa học cũng như trong cuộc sống, hàm số không chỉ xuất hiện trong toán học mà còn dung để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Trong các giáo trình, sách giáo khoa toán, hàm số xuất hiện trước hết với tư cách là đối tượng nghiên cứu, sau đó là công cụ để giải quyết nhiều bài toán thuộc những nội dung toán học khác như: BĐT và BPT… Cũng vì vai trò quan trọng của nó
mà hàm số là một chủ đề xuyên suốt các chương trình toán bậc trung học của nhiều thập kỉ qua. Chúng ta biết, trong môn Toán ở THPT, một hàm số có thể được biểu thị bằng những hệ thống biểu đạt khác nhau. Tuy nhiên sử dụng một biểu thức Toán học (hàm số cho bởi công thức) và đồ thị là hai trong những hệ thống biểu đạt phổ biến nhất. Khi đã biết biểu thức xác định hàm số,
ta có thể dùng công cụ của giải tích đại số để nghiên cứu các tính chất và phác
Trang 22thảo đồ thị của nó. Ngược lại, nhìn vào đồ thị ta có thể đọc được các tính chất của đồ thị như : chiều biến thiên trong từng khoảng, tính chẵn lẻ, tính tuần hoàn, tính bị chặn, giá trị cực đại, cực tiểu…
1.3 Thực tiễn rèn luyện kỹ năng giải bài toán BĐT và BPT cho HS THPT theo quan điểm hàm số.
1.3.1 Thực trạng việc dạy học giải BPT và BĐT theo quan điểm hàm số ở trường phổ thông
Do số tiết học chủ đề BĐT và BPT ở trên lớp còn ít nhưng khối lượng tri thức cần truyền đạt nhiều đồng thời phải đúng lịch phân phối chương trình theo quy định nên việc mở rộng, khai thác, ứng dụng sáng tạo các kiến thức đã học chưa được triệt để sâu sắc. Điều này ảnh hưởng đến việc huy động vốn kiến thức của HS, hạn chế việc rèn luyện tính tích cực, độc lập, sáng tạo, của HS trong học tập, cũng như giáo viên không có nhiều thời gian
để giúp đỡ HS.
Trong thực tế, cách dạy phổ biến hiện nay là giáo viên với tư cách là người ngồi điều khiển đưa ra kiến thức rồi giải thích chứng minh, sau đó đưa
ra một số bài tập ứng dụng, làm cho HS cố gắng tiếp thu vận dụng.
Chất lượng đại trà của HS còn yếu. Nhiều HS bị mất căn bản từ cấp THCS dẫn đến tình trạng các em nhận thấy chủ đề này là một chủ đề rất khó hiểu, trừu tượng nên không có hứng thú trong việc học và không có phương pháp học phù hợp cho bản thân. Các em hầu như không làm bài tập về nhà, lười suy nghĩ, lười tính toán, chưa tích cực tư duy hoạt động trí não tìm tòi phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề.
Trong giờ học, HS chưa chú ý nghe giảng, không tích cực phát biểu, xây dựng bài, chủ yếu nghe giảng, tiếp thu kiến thức một cách thụ động nên
dễ quên, không hiểu được bản chất vấn đề.
Trang 23 Tuy nhiên, trong dạy học toán ở trường phổ thông. Việc phát triển tư duy hàm cho HS không có nghĩa là thầy giáo lên lớp và giảng 1 bài giảng về
tư duy hàm. Nhiệm vụ tư duy hàm không tồn tại độc lập so với các nhiệm vụ truyền thụ kiến thức khác. Muốn phát triển khả năng tư duy hàm cho HS thầy giáo phải thông qua nội dung kiến thức đã quy định. Trên cơ sở đó tìm
ra giải pháp phát triển tư duy hàm cho HS. Có thể nói, phát triển tư duy hàm
là mục đích kép.
Thực tiễn giáo dục tư duy hàm cho HS phổ thông hiện nay còn gặp khá nhiều những khó khăn như : trình độ HS còn hạn chế và không đồng đều, khối lượng kiến thức nhiều trong khi số tiết học dành cho môn toán lại không nhiều. Hơn thế, những tri thức về hoạt động tư duy hàm không được quy định
rõ ràng trong chương trình nên không được giảng dạy một cách tường minh.
Mà trong toán học, việc xem xét các đối tượng toán học một cách cô lập trong trạng thái rời rạc sẽ không thấy hết được những mối liên hệ phụ thuộc hay mối quan hệ nhân quả làm cho HS còn lúng túng trong việc giải quyết các bài toán. Bên cạnh đó, các tài liệu viết về vấn đề này nói chung còn hạn chế, khó tiếp cận. Vì vậy còn gây ra không ít những khó khăn cho cả giáo viên và HS.
1.3.2 Những khó khăn sai lầm thường gặp của HS trong khi giải BPT và BĐT theo quan điểm hàm số
1.3.2.1 Khó khăn
Trong chương trình toán trung học phổ thông, các bài toán về phần BĐT và BPT là một chủ đề khó, nó gây ra nhiều trở ngại đối với các em HS trong việc chiếm lĩnh tri thức. Điều này cũng dẫn đến việc giải các bài tập của
HS rất khó khăn, các em còn tỏ ra lúng túng, chưa được rèn luyện về kỹ năng giải toán, chưa kích thích được sự ham mê tìm tòi khám phá của HS.
Từ đó HS tiếp thu kiến thức một cách hình thức và hời hợt quá trình bồi dưỡng kiến thức toán học theo hướng nâng cao của chủ đề BĐT và BPT
Trang 24dễ hụt hỏng về kiến thức, việc khai thác một bài toán còn gặp nhiều khó khăn, việc dạy học của giáo viên chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bản thân.
Một số khó khăn chủ yếu là :
HS không biết cách phân chia các trường hợp để giải quyết bài toán.
HS không biết phải xuất phát từ cơ sở nào để phân chia các trường hợp riêng thích hợp cho việc giải quyết bài toán.
HS không biết nhìn nhận các bài toán bất phương trình, bất đẳng thức trong mối liên hệ với các bài toán hàm số.
1.3.2.2 Một số sai lầm của học sinh trong giải toán BĐT và BPT theo quan điểm hàm
Nội dung BĐT và BPT là một nội dung quan trọng trong chương trình THPT. Tuy nhiên, cả GV và HS đều chưa thật sự chú trọng đến vấn đề này.
Vì vậy, đa số HS chỉ làm các bài tập một cách máy móc mà chưa hiểu được bản chất của vấn đề dẫn đến mắc phải một số sai lầm đáng tiếc trong khi giải các bài toán bất phương trình cũng như chứng minh BĐT.
Trang 26Tóm lại những sai lầm của học sinh cần được thầy cô chỉ ra hoặc hướng dẫn nhận ra từ đó sửa chữa sai lầm của mình. Thầy cô cần có biện pháp khi giảng dạy như nhấn mạnh kiến thức, ra nhiều bài tập ở nhiều dạng khác nhau. Cần có sự kết hợp nhiều phương pháp và nhiều ví dụ minh họa cho công thức một cách hợp lý. Sử dụng các công cụ dạy học có hiệu quả.
1.4 Kết luận chương 1
Trong chương 1, đề tài đã trình bày một số cách hiểu biết về khái niệm
kỹ năng, kỹ năng toán học, hàm số và quan điểm về hàm số. Việc rèn luyện
kỹ năng giải bài toán bất đẳng thức và bất phương trình cho HS là rất cần thiết bởi qua đó giúp HS học tập tích cực, kích thích tính sáng tạo của HS trong học tập và trong cuộc sống.
Trang 27Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIẢI BÀI TOÁN BẤT ĐẲNG THỨC VÀ BẤT PHƯƠNG TRÌNH CHO HỌC SINH
THÔNG THEO QUAN ĐIỂM HÀM SỐ
2.1 Tổng quan về bất đẳng thức và bất phương trình trong chương trình Toán THPT
2.1.1 Định nghĩa bất đẳng thức và bất phương trình
2.1.1.1 Bất đẳng thức
Một bất đẳng thức là một phát biểu về quan hệ thứ tự giữa hai đối tượng
Ký hiệu ab có nghĩa là a nhỏ hơn b và
Ký hiệuab có nghĩa là a lớn hơn b.
Những quan hệ nói trên được gọi là bất đẳng thức nghiêm ngặt; ngoài
ra ta còn cóab có nghĩa là a nhỏ hơn hoặc bằng b và abcó nghĩa
là a lớn hơn hoặc bằng b.
Người ta còn dùng một ký hiệu khác để chỉ ra rằng một đại lượng lớn hơn rất nhiều so với một đại lượng khác.
Ký hiệu a >> b có nghĩa là a lớn hơn b rất nhiều.
Các ký hiệu a, b ở hai vế của một BĐT có thể là các biểu thức của các biến. Sau đây ta chỉ xét các BĐT với các biến nhận giá trị trên tập số thực hoặc các tập con của nó.
Nếu một BĐT đúng với mọi giá trị của tất cả các biến có mặt trong
BĐT , thì bất đẳng thức này được gọi là BĐT tuyệt đối hay không điều kiện.
Nếu một bất đẳng thức chỉ đúng với một số giá trị nào đó của các biến, với các giá trị khác thì nó bị đổi chiều hay không còn đúng nữa thì nó được gọi là một BĐT có điều kiện. Một BĐT đúng vẫn còn đúng nếu cả hai vế của nó được thêm vào hoặc bớt đi cùng một giá trị, hay nếu cả hai vế của nó được nhân hay chia với cùng một số dương. Một BĐT sẽ bị đảo chiều nếu cả hai vế của nó được nhân hay chia bởi một số âm.
Trang 28 Bất phương trình nhiều ẩn: Định nghĩa bất phương trình nhiều ẩn có thể được suy ra từ mở rộng của bất phương trình một ẩn với n biến trên hoặc trên tập bất kì của biến x nhưng các hàm f(x) và g(x) phải nhận các giá trị trên tập sắp thứ tự toàn phần.
Việc giải BPT hay một hệ BPT là quá trình biến đổi các BPT đó thành những BPT ở dạng tương đương mà đơn giản hơn những BPT ban đầu. Tuy nhiên, quá trình này thường phức tạp hơn đối với các bất phương trình vô
tỉ hay bất phương trình chứa dấu giá trị tuyệt đối, BPT logarit, lượng giác, …
Để trách nhầm lẫn, khi giải các bất phương trình HS cần xác định một cách chính xác và đầy đủ các điều kiện xác định để bất phương trình
Trang 29nhận được luôn tương đương với bất phương trình đã cho. Khi gộp các điều kiện đó với bất phương trình mới ta nhận được một hệ bất phương trình mới tương đương với bất phương trình đã cho. Từ đó chúng ta có thể đưa ra kết luận đầy đủ nhất về tập nghiệm của bất phương trình.
2.1.2 Các phương pháp thông thường để giải bất phương trình và chứng minh bất đẳng thức
Việc xem xét, nghiên cứu các bài toán trong toán học sơ cấp bằng cách ghép thành từng lớp bài toán có thể giải được bằng cùng một phương pháp là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa. Trên cơ sở lý thuyết và bài tập trong sách giáo khoa cũng như một số sách tham khảo khác. Có thể liệt kê một số phương pháp giải bất phương trình như sau:
Trang 30Ví dụ 9:. Cho , ,x y z là ba số dương và x y z 1. Chứng minh
và 2 12
z z
Trang 31Như vậy biết nhìn bài toán dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau không những củng cố được kiến thức mà còn rèn luyện, bồi dưỡng thêm khả năng huy động kiến thức ở HS.
Trang 33Nhận xét: Qua lời giải trên cho thấy nếu biết nhìn nhận vấn đề theo
nhiều hướng, người giải toán biết liên tưởng, huy động kiến thức phù hợp sẽ mang lại một cách giải quyết vấn đề tốt đẹp nhất.
Như vậy biết nhìn bài toán dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau không những củng cố được kiến thức mà còn rèn luyện, bồi dưỡng thêm khả năng huy động kiến thức ở HS.
Khi đứng trước một bài toán giải bất phương trình hay chứng minh bất
đẳng thức bất kỳ nào đó thì việc định hướng phương pháp giải bài toán đó đóng vai trò quyết định để thực hiện lời giải bài toán đó. Tuy nhiên, việc định hướng phương pháp giải các dạng toán này rất đa dạng, có những bài toán có thể giải bằng nhiều phương pháp khác nhau. Vấn đề chỉ là lựa chọn phương pháp nào là tối ưu nhất để trình bày lời giải cho bài toán một cách ngắn gọn
Đối với việc chứng minh các bất đẳng thức, sai lầm thường bắt nguồn từ việc vận dụng các bất đẳng thức cổ điển mà không chú ý đến các điều kiện để bất đẳng thức đúng. Hoặc sử dụng sai sót các quy tắc suy luận khi từ bất đẳng thức này suy ra bất đẳng thức kia.
Trang 34 Có nhiều kiểu phân chia kỹ năng phù hợp với từng mảng kiến thức, từng nội dung môn học. Tuy nhiên, tựu trung lại HS cần được rèn luyện những kỹ năng cơ bản như kỹ năng nhận biết, kỹ năng nhắc lại, kỹ năng dự đoán, kỹ năng phân loại và kỹ năng thực hành vận dụng, …Đây là những kỹ năng vô cùng quan trọng, nó không chỉ cần thiết cho việc học tập tốt môn toán mà còn cần thiết trong suốt chương trình phổ thông, ở tất cả các nội dung
và tất cả các môn học.
Sự phân chia các kỹ năng như trên chỉ mang tính chất tương đối. Thực tế, trong dạy học, ta không chỉ dạy cho HS từng kỹ năng đơn lẻ ở trên
mà cần phải rèn luyện kỹ năng phức hợp. Tức là, ở từng nội dung, từng mảng kiến thức cụ thể ta không chỉ rèn luyện từng mảng kỹ năng cơ bản đơn lẻ vì một kỹ năng có thể là hỗn hợp của nhiều kỹ năng cơ bản. Chẳng hạn như, kỹ năng vẽ đồ thị bao gồm cả kỹ năng nhận thức, kỹ năng phân loại và kỹ năng thực hành. Vì để vẽ được một đồ thị hàm số hoàn chỉnh HS cần phải nhận biết được đó là loại hàm số nào ( kỹ năng phân loại ), Vẽ đồ thị hàm số đó như thế nào (kỹ năng nhận biết ), Và các bước để vẽ nên đồ thị ( Kỹ năng thực hành ). Ngoài ra, cũng rèn được cho HS tính cẩn thận, kiên trì để vẽ nên đồ thị hàm
số đẹp và chính xác.
Đối với đề tài bất phương trình và bất đẳng thức, cần chú trọng rèn luyện cho HS các kỹ năng thuộc nhóm kỹ năng nhận thức và kỹ năng vận dụng. Có thể kể ra một số kỹ năng như :