Nghiên cứu, tìm hiểu về honeyd để thiết lập hệ thống honeypots
Trang 1MỤC LỤC
Chương I: Tổng quan 2
1.1 Giới thiệu : 2
1.2 Honeypots : 3
Chương II : Honeypots 5
2.1 Các loại hình Honeypots : 5
2.1.1 BackOfficer Friendly (BOF) : 5
2.1.2 Specter : 5
2.1.3 Honeyd : 5
2.1.4 Honeynet : 6
2.2 Triển khai Honeypots : 8
2.2.1 Lôi kéo người tấn công : 9
2.2.2 Xác định mục tiêu : 9
2.3 Vị trí đặt hệ thống Honeypots : 10
2.3.1 Đặt ở vùng ngoài : 10
2.3.2 Đặt ở vùng trong : 10
2.3.3 Đặt ở vùng DMZ : 11
Chương III : Triển khai Honeypots 12
3.1 Các bước thiết lập Honeypots : 14
3.2 Thiết lập một Router trong mạng : 16
3.3 Thiết lập mạng 2 Router : 18
3.4 Thiết lập độ trễ , thất thoát và băng thông : 19
3.5 Tích hợp các máy vật lý vào topology mạng : 20
3.6 Thiết lập nhiều Router đầu vào : 21
3.7 Đường hầm GRE để thiết lập mạng phân tán : 23
Chương IV : Mô phỏng hệ thống Honeypots 26
4.1 Tổng hợp cấu hình Honeypots : 26
4.2 Cấu hình hệ thống Honeypots : 29
KẾT LUẬN 42
Trang 2Chương I: Tổng quan
1.1 Giới thiệu :
Trong những năm gần đây, các cuộc xâm nhập mạng gia tăng đáng kể, do sự phổ dụng của các công cụ tấn công được tự động hoặc được lập kịch bản Điều này đã thúc đẩy sự quan tâm đến các hệ thống Honeypots, hệ thống này có thể được dùng để
“bẫy” và giải mã các phương pháp tấn công
Các chuyên gia bảo mật cho biết: các kẻ tấn công hiện đều đang rất ngán ngẩm khi phải tấn công vào một hệ thống Linux dạng trung bình Chi phí cho một cuộc đột nhập thành công vào một hệ thống sử dụng Linux cao hơn nhiều so với chi phí bỏ ra để đột nhập vào hệ thống sử dụng Windows
Dự án mang tên Honeypots được tạo ra với mục đích giả lập các hệ thống mạng Linux bình thường để câu nhử các cuộc tấn công nhằm nghiên cứu độ an toàn của các hệ thống máy chủ Linux Các kết quả nghiên cứu do Honeypots đưa ra cho biết: khoảng thời gian tồn tại an toàn của các hệ thống máy chủ chạy Linux đã gia tăng đột ngột trong 2 năm gần đây
Honeypots đã chỉ ra rằng: Trong giai đoạn hiện nay, một hệ thống máy chủ Linux chưa được cài đầy đủ các bản sửa lỗi vẫn có thể “chịu đựng” an toàn trung bình là 3 tháng trước các cuộc tấn công, khi so sánh với giai đoạn 2001-2002 chỉ là 72 giờ Một số hệ thống máy chủ của dự án đã an toàn trong suốt 9 tháng trời trước mọi cuộc tấn công
Dự án Honeypots được thiết kế để nhằm mục đích nghiên cứu, dò tìm và thu hút mọi cuộc tấn công bất kỳ của Internet vào các hệ thống máy chủ Linux, Windows Từ xưa đến nay mọi cuộc tấn công trên Internet dường như chưa bao giờ giảm Các nhà nghiên cứu của dự án đã chỉ ra rằng: hầu hết mọi cuộc tấn công trên đời đều nhằm vào các hệ thống sử dụng Windows, đơn giản chỉ vì mức độ phổ biến quá mức của hệ điều hành này
và độ bảo mật “ngon ăn” đến mức mà mọi kẻ tấn công đều không thể cưỡng lại được
Lance Spitzner, chủ tịch của dự án Honeynet, cho biết: “Tấn công vào một người dùng bất kỳ tỏ ra dễ dàng hơn nhiều so với tấn công vào một hệ thống máy tính của ngân hàng Ngân hàng được bảo vệ rất tốt nhưng người dùng thì không Chừng nào không còn
đủ người dùng để tấn công thì hãy tấn công ngân hàng”
Dự án này không đưa ra các nghiên cứu so sánh với Windows, nhưng Spitzner đã chỉ ra rằng các cơ quan chuyên về bảo mật như Symantec hoặc Internet Storm Center (ISC)
đã công nhận rằng có rất nhiều cuộc tấn công vào các hệ thống Honeynet Windows Một dự
án khác của ISC đã đo lường thời gian tồn tại của các hệ thống Windows trước các cuộc tấn công và cho ra nhiều kết quả khá thú vị như sau:
Thời gian tồn tại trung bình trước các cuộc tấn công của một số hệ thống chạy
Trang 3Windows trong các thử nghiệm của ISC đã giảm nhanh từ 55 phút trong giai đoạn mùa thu 2003 xuống chỉ còn 20 phút vào dịp cuối năm 2004 Thảm hại nhất là vào giai đoạn mùa xuân 2004, một hệ thống Windows chỉ “kịp sống” có 15 phút trước khi bị hạ gục Microsoft vớt vát rằng thời gian tồn tại ngắn như thế - ở ngay cả trong Windows XP Service Pack 2 - là do có quá nhiều người sử dụng
Dự án Honeynet đã cân nhắc kỹ trước khi phân bố các hệ thống khắp mọi nơi trên thế giới để thu hút các cuộc tấn công Các máy tính chuyên câu nhử của Honeynet được phân bố đều trong các mạng gia đình đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Dự án đã triển khai 12 trạm honeynet ở 8 quốc gia là Mỹ, Ấn Độ, Anh, Pakistan, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Brazil và Đức Bao gồm 24 hệ thống Unix và giả lập Unix, 19 hệ thống Linux hầu hết là Red Hat bao gồm: 1 hệ thống Red Hat 7.2, 5 hệ thống Red Hat 7.3, 1
Red Hat 8.0, 8 Red Hat 9.0 và 1 hệ thống Fedora Core Các hệ thống khác nữa bao gồm: 1 chạy Suse 7.2, 1 Suse 6.3, 2 Solaris Sparc 8, 2 Solaris Sparc 9 và 1 hệ thống chạy Free- BSD 4.4
Dự án Honeynet là một cuộc nghiên cứu phi lợi nhuận do các công ty bảo mật thành lập nên, bao gồm các công ty tầm cỡ như: Foundstone, Counterpane, Security Focus và SourceFire
1.2 Honeypots :
Honeypots là một hệ thống tài nguyên thông tin được xây dựng với mục đích giả lập đánh lừa những kẻ sử dụng và xâm nhập không hợp pháp, thu hút sự chú ý của chúng, ngăn không cho chúng tiếp xúc với hệ thống thật
Trong lĩnh vực an toàn mạng, một Honeypots là một hệ thống máy tính được thiết kế đặc biệt để “bắt” tất cả hoạt động và các file được khởi tạo bởi một thủ phạm có
ý định giành quyền truy cập trái phép tới hệ thống
Honeypots như một mức bảo vệ firewall hơn là bảo vệ hệ thống mạng Ví
dụ, nếu một firewall bảo vệ một mạng, thì Honeypots thường được đặt bên ngoài firewall Điều này cho phép các thủ phạm trên Internet nhận được quyền truy cập đầy đủ tới bất kỳ dịch vụ vào của Honeypots Lưu ý rằng, ý tưởng là ghi lại những hoạt động của thủ phạm, chứ không phải ngăn chặn chúng khỏi việc giành quyền truy cập tới Honeypots
Một Honeypots là một hình nộm được thiết kế để quan sát những cuộc tấn công của hacker Một honeynet là một mạng được thiết lập xung quanh những hình nộm để lure (nhử) và ghi lại những bước tấn công của hacker Bằng việc nghiên cứu các cuộc tấn công thật, những người nghiên cứu hy vọng có thể có được những bước tiến mới trong việc phát triển kế hoạch phòng ngự Mỗi khi Honeypots có sự tấn công thì người nghiên cứu có thể học được những kỹ thuật tấn công mới và có thể dùng Honeypots để tìm ra những rootkit (ẩn nấp và tránh không bị phát hiện, được sử dụng hỗ trợ giấu các đoạn mã độc), lỗi và các backdoor (cổng sau, được hacker cài vào máy bị tấn công để sau này quay lại máy đó dễ dàng hơn) trước khi chúng đi vào hệ thống
Trang 4 Cần phải xây dựng hệ thống phòng ngự và phải có khả năng giấu và dodge (lẩn tránh) những cuộc tấn công mà hệ thống không thể đáp trả lại Đây là một vấn đề rất quan trọng để nghiên cứu một cách an toàn về những máy tính ở những khoảng cách xa Thay thế vào việc đi tìm chúng thì chúng sẽ tự tìm đến
Một hệ thống Honeypots bị tấn công khác chỉ ra rằng hành động đầu tiên của
kẻ tấn công đó là thay đổi password root, password admin của hệ thống (điều này làm cho người quản trị hệ thống hoặc chủ hệ thống không thể đăng nhập vào) Không một kẻ tấn công nào quan tâm đến việc kiểm tra sự hiện diện của Tripwire (một hệ thống kiểm tra tính toàn vẹn của hệ thống), đây là hệ thống được mặc định trong Red Hat Linux và được sử dụng như là một Honeypots
Honeypots có sự khác biệt, giữa Honeypots nghiên cứu và Honeypots sản phẩm Những Honeypots nghiên cứu dựa trên những thông tin tình báo đạt được về kẻ tấn công cũng như phương pháp, kỹ thuật của hacker Trong khi đó, những sản phẩm Honeypots có mục đích là làm giảm những nguy hiểm cho nguồn lực IT của công ty
và cung cấp những cảnh báo phát hiện cho các cuộc tấn công trên cơ sở hạ tầng mạng, đồng thời đoán được và làm chệch hướng các cuộc tấn công khỏi hệ thống sản phẩm trong môi trường giám sát của Honeypots
Chúng được miêu tả như những mạng các hệ thống sản phẩm được kết nối tới Internet (có thể không qua firewall) Hệ thống này là một hệ thống sản phẩm chuẩn với những ứng dụng thực tế được sử dụng bởi các công ty trên mạng Trong thực tế, nó hoàn toàn có khả năng là một bản sao (clone) của hệ thống sản phẩm và được triển khai thành Honeypots, những thông tin confidential (bí mật) được gỡ bỏ hoặc thay thế bởi những thông tin tương tự nhưng không mang giá trị thực Cũng có thể chạy một Honeypots hoặc một honeynet tại nhà hoặc tại những công ty nhỏ Trong thực tế, có thể triển khai một phần mềm đơn giản như là Linux honey, như Niels Provos, là những phần mềm có thể bắt chước những phản hồi của rất nhiều những dịch vụ đã biết Trong trường hợp này,
có thể thu thập dữ liệu từ những cuộc tấn công bằng những worm tự động và initial những bước tiếp theo của một cuộc tấn công bởi con người Tuy nhiên, illusion (ảo) là giới hạn
và không phải bao giờ cũng đạt được một mức độ cao sau khi những dữ liệu xuyên qua
Để có thể tiếp cận với những hành động xảy ra trong bóng tối, cần phải có một honeynet: một thiết bị trực tiếp kết nối tới mạng, cái mà có thể bị probe (dò tìm), bị tấn công Chỉ cần vài máy tính, một kết nối tới mạng (thậm chí với một IP động) và một số kiến thức về an toàn thông tin là sở hữu mạng để admit (nhận, nạp) những hacker từ tất cả mọi nơi trên thế giới
Trang 5Chương II : Honeypots
2.1 Các loại hình Honeypots :
Gồm hai loại chính: Tương tác thấp và tương tác cao
Tương tác thấp (Low Interaction): Mô phỏng giả lập các dịch vụ, ứng
dụng, và hệ điều hành Mức độ rủi ro thấp, dễ triển khai và bảo dưỡng nhưng bị giới hạn về dịch vụ
Tương tác cao (High Interaction): Là các dịch vụ, ứng dụng và hệ điều
hành thực Mức độ thông tin thu thập được cao Nhưng rủi ro cao và tốn thời gian để vận hành và bảo dưỡng
Hình 2.1: Loại hình Honeypots
2.1.1 BackOfficer Friendly (BOF) :
Một loại hình Honeypots tương tác thấp rất dễ vận hành và cấu hình và có thể hoạt động trên bất kỳ phiên bản nào của Windows và Unix nhưng chỉ tương tác được với một
số dịch vụ đơn giản như FTP, Telnet, SMTP…
2.1.2 Specter :
Cũng là loại hình Honeypots tương tác thấp nhưng khả năng tương tác tốt hơn BOF, giả lập trên 14 cổng, có thể cảnh báo và quản lý từ xa Tuy nhiên giống BOF thì specter bị giới hạn số dịch vụ và cũng không linh hoạt
2.1.3 Honeyd :
Honeyd lắng nghe trên tất cả các cổng TCP và UDP, những dịch vụ mô phỏng được thiết kế với mục đích ngăn chặn và ghi lại những cuộc tấn công, tương tác với kẻ tấn công với vai trò một hệ thống nạn nhân
Honeyd có thể giả lập cùng một lúc nhiều hệ điều hành khác nhau
Hiện nay, Honeyd có nhiều phiên bản và có thể mô phỏng được khoảng 473 hệ
Trang 6điều hành
Honeyd là loại hình Honeypots tương tác thấp có nhiều ưu điểm tuy nhiên Honeyd có nhược điểm là không thể cung cấp một hệ điều hành thật để tương tác với tin tặc và không có cơ chế cảnh báo khi phát hiện hệ thống bị xâm nhập hay gặp nguy hiểm
2.1.4 Honeynet :
Hình 2.2: Mô hình honeynet (GenII)
Honeynet là hình thức Honeypots tương tác cao Khác với các Honeypots, Honeynet là một hệ thống thật, hoàn toàn giống một mạng làm việc bình thường Honeynet cung cấp các hệ thống, ứng dụng, các dịch vụ thật
Quan trọng nhất khi xây dựng một honeynet chính là honeywall Honeywall
là gateway ở giữa Honeypots và mạng bên ngoài Nó hoạt động ở tầng 2 như là Bridged Các luồng dữ liệu khi vào và ra từ Honeypots đều phải đi qua honeywall
Các chức năng của Honeynet
Bất kỳ một hệ thống Honeynet nào cũng phải thực hiện được ba điều kiện: Kiểm soát dữ liệu, bắt dữ liệu và phân tích chúng
- Kiểm soát dữ liệu
Có thể hiểu là mở cánh cửa cho hacker đi vào, cho phép xâm nhập honeynet nhưng lại đóng cửa ra, ngăn không cho hacker phát tán những đoạn mã độc hại ra mạng làm việc
Trang 7bên ngoài và Internet
Hình 2.3: Kiểm soát dữ liệu
Honeynet GenIII sử dụng ba cách kiểm soát dữ liệu
Đếm số kết nối từ honeynet ra ngoài: nếu lớn hơn mức cho phép thì sẽ cấm kết nối
Sử dụng Snort-inline: đây là một phần mềm mã nguồn mở phát triển lên từ Snort làm việc như một hệ thống ngăn chặn xâm nhập (IPS) dựa trên cơ sở dữ liệu về các hình thức tấn công thu thập được từ trước để ra quyết định
Kiểm soát băng thông
- Bắt dữ liệu
Đây là mục đích chính của tất cả các loại hình Honeynet - thu thập nhiều nhất thông tin về kẻ tấn công theo nhiều mức: các hoạt động của mạng, các hoạt động ứng dụng, các hoạt động của hệ thống
Honeynet GenIII sử dụng Sebek để bắt dữ liệu Đây là một kernel ẩn đặt tại các máy
Honeypots và server là honeywall gateway
No Restrictions
Packet Scrubbed Connections Limited
Trang 8Hình 2.4: Hoạt động của Sebek
Khi mà kẻ tấn công xâm nhập vào hệ thống và tương tác với một Honeypots Tất
cả các hoạt động của hacker này đều được bí mật chuyển về sebek server thu thập và xử lý
- Phân tích dữ liệu
Phân tích dựa trên giao diện walleye của Honeywall hoặc bằng Ethereal
2.2 Triển khai Honeypots :
Để triển khai một Honeypots cần có một quá trình xử lý kỹ thuật tốt cùng với việc thực hiện đúng kế hoạch sẽ giúp triển khai thành công hệ thống
Danh sách dưới đây đưa ra các bước để thực hiện:
Xác nhận Honeypots là được cho phép tạo dựng trong môi trường hệ thống đó
Xác định mục tiêu Honeypots Tại sao lại muốn chạy một Honeypots
Dùng nó để nghiên cứu hay là bảo vệ hệ thống tổ chức máy tính
Xác định vai trò con người trong việc tạo ra và duy trì một Honeypots Có chuyên môn kỹ thuật để triển khai một cách chính xác và duy trì một Honeypots không?
Có phần mềm và phần cứng để triển khai chưa? thời gian hàng ngày sẽ mất để duy trì và phân tích dữ liệu như thế nào? Tiếp tục thảo luận, nghiên cứu để theo kịp những Honeypots mới và khai thác một cách hiệu quả
Các loại Honeypots sẽ triển khai là nghiên cứu hoặc sản phẩm, thực hay ảo
Xác định cài đặt cấu hình thiết bị mạng cần thiết để tạo ra Honeypots Kế hoạch
và cấu hình một số thành phần hỗ trợ Honeypots và tool (cảnh báo, đăng nhập, giám sát, quản lý…)
Thu thập các thiết lập của việc giám sát, đăng nhập và các tool phân tích hợp
Trang 9 Phân tích các kết quả và tìm ra những thiếu sót Tinh chỉnh các hệ thống Honeypots dựa trên các bài đã được học và nghiên cứu Lặp lại các bước cần thiết
2.2.1 Lôi kéo người tấn công :
Nếu để lộ ra Honeypots theo cách mà những địa chỉ IP và các port được truy xuất tới từ Internet, thì nó sẽ được truy cập một cách nhanh chóng Trung bình hàng ngày các địa chỉ IP công khai trên Internet được thăm dò hàng chục lần Theo số liệu thống kê từ nhiều dự án của Honeypots cho thấy rằng có nhiều hơn một trăm lần thăm dò một ngày,
và hầu hết các máy chủ lưu trữ đều xảy ra tấn công trong vòng một tuần Các worm từ Internet sẽ quét nhiều lần trong ngày Nhiều quản trị của Honeypots đã ghi lại thành công những tổn hại xảy ra chưa đến 20 phút
Chính vì những nguyên nhân đó một số quản trị viên của Honeypots đã nhanh chóng và tích cực đăng vùng Honeypots của họ tới danh sách mail và website của hacker Những quản trị viên đăng các vị trí Honeypots của họ để khám phá một số tội phạm nghiêm trọng Thu thập các thông tin chứng cứ về những hành vi xâm nhập trái phép Việc tạo ra Honeypots không bao giờ nên quảng bá sự hiện diện hay mời gọi các hacker
vì nó sẽ đánh bại các mục đích chính của Honeypots
2.2.2 Xác định mục tiêu :
Để thiết kế hệ thống Honeypots cần xác định các mục tiêu, muốn chọn nơi nào để đặt Honeypots Có rất nhiều câu hỏi cần được trả lời trước khi bắt đầu, bao gồm cả những điều sau đây:
Lý do chính muốn tạo ra hệ thống Honeypots?
Môi trường OS là gì để giả lập Honeypots?
Giả lập những lọai Server hoặc Service gì?
Muốn theo dõi các mối đe dọa từ bên trong, bên ngoài hay cả 2?
Để có câu trả lời cho những câu hỏi này về cơ bản cần xác định là sẽ nghiên cứu hay tạo ra các sản phẩm Honeypots, và làm như thế nào? cấu hình nó ra sao?
Sản phẩm Honeypotss nên mô phỏng theo các ứng dụng, dịch vụ, và máy chủ
đã tồn tại Nếu làm đúng với tương tác cao, nó sẽ gây khó khăn cho tin tặc trong việc nhận biết và tương tác với Honeypots
Trang 10Hình 2.5: Ví dụ về một sản phẩm Honeynet
Ví dụ, giả sử hệ thống mạng bao gồm máy chủ chạy HĐH Windows Server 2003 chạy IIS 6.0, Windows 2000 Server chạy Microsoft SQL Server 2000, Windows NT 4.0 Server, và một Windows 2000 Server chạy IIS 6.0 Sản phẩm honeypots sẽ cố gắng để
mô phỏng giống như những cái máy chủ và các dịch vụ ở trên
2.3 Vị trí đặt hệ thống Honeypots :
Có 3 vùng chính để đặt hệ thống Honeypots:
External Placement (đặt ở vùng ngoài)
Internal Placement (đặt ở vùng trong)
2.3.2 Đặt ở vùng trong :
Vị trí Honeypots nằm bên trong mạng và bức tường lửa ở giữa ngăn cách nó với thế giới Internet Vị trí này là cách tốt nhất để tạo ra một hệ thống cảnh báo sớm cho biết bất kỳ sự khai thác từ bên ngoài vào và bảo vệ mạng nội bộ, bắt các đe dọa xảy ra cùng một lúc Một ví dụ cho thấy khi mà worm Blaster tấn công, nhiều công ty đã
Trang 11triển khai firewall và cấu hình khóa port 135 ngăn chặn an toàn từ các worm nhưng worm
có thể lén đi qua firewall trên đường links và từ những máy tính laptop, thiết bị di động Sau khi đã qua bức tường lửa các worm có thể gây nhiễm các máy tính nội bộ chưa được
vá lỗi hệ điều hành và lỗi bảo mật
vị trí của Honeypots trong DMZ là một vị trí lý tưởng cho việc thiết lập, nhưng hầu hết các vị trí đặt mô hình đó là phức tạp Ngoài ra, vì nó nằm trên DMZ, không phải là tốt nhất cho việc cảnh báo sớm cho một cuộc tấn công làm hư hại mạng nội bộ
So sánh giữa các vị trí đặt Honeypots
Vùng ngoài
Dễ xây dựng, triển khai
Số lượng thiết bị cần thiết ít
Điều khiển dữ liệu kém Rủi ro cao nhất cho các sản phẩm mạng Honeypots
Vùng trong
Tốt cho việc giám sát nhân viên bên trong
Hệ thống cảnh báo sớm để bảo vệ backup
Cài đặt phức tạp hơn nhiều
Cần phải quyết định cho phép các port/ chuyển hướng trực tiếp
DMZ Có thể điều khiển dữ liệu tốt
Cài đặt phức tạp
Hệ thống cảnh báo không được mạnh Cần phải quyết định cho phép các port/ chuyển hướng trực tiếp
Trang 12Chương III : Triển khai Honeypots
Được phát triển và duy trì bởi Niels Provos, Honeyd là một chương trình nền nhỏ nhưng có rất nhiều tính năng nổi trội Honeyd giả lập các máy ảo trong một mạng máy tính Nó có thể giả lập một hệ điều hành bất kỳ, cho phép mô phỏng các dịch vụ TCP/IP khác nhau như HTTP, SMTP, SSH Honeyd được sử dụng trong việc xây dựng Honeynet, thiết lập các Honeypots để dụ hacker đột nhập vào hệ thống
Một tính năng hữu ích của Honeyd là có khả năng giả lập một topology mạng với đầy đủ các thông số như các bước mạng, tỉ lệ thất thoát, độ trễ khi truyền và băng thông chỉ với duy nhất một máy chủ nằm trong mạng Khả năng này cho phép giả lập các mạng máy tính phức tạp để thí nghiệm, nó cũng đóng giả một mạng máy tính đối với hacker bên ngoài mạng, bẫy hacker vào mạng Honeypots
Một số tính năng Honeyd cung cấp để thiết lập mạng Honeypots:
Giả lập các topology mạng phức tạp
Cấu hình các thông số của mạng như độ trễ, tỉ lệ thất thoát và băng thông
Hỗ trợ nhiều router đầu vào để phục vụ nhiều mạng
Tích hợp các máy vật lý vào topology mạng
Định tuyến bất đối xứng
Đường hầm GRE để thiết lập các mạng phân tán
Phần này sẽ hướng dẫn cách tạo các topology mạng, sử dụng Honeyd và các cấu hình mẫu Cung cấp cú pháp cấu hình lệnh và cách dùng các tập tin cấu hình Tập trung vào từng bước để xây dựng một mạng máy tính và xem xét kỹ các tập tin cấu hình
Khung chương trình Honeyd thiết lập Honeypots:
CREATE <template name>
#ANNOTATE "<personality name>"
SET <template name> ETHERNET "<Ethernet name>"
SET <template name> PERSONALITY “<personality name>”
SET DEFAULT <template name> TCP ACTION <action>
SET DEFAULT <template name> UDP ACTION <action>
SET DEFAULT <template name> ICMP ACTION <action>
ADD <template name> <protocol> PORT <number> <action>
ADD <template name> <protocol> PORT <number> "<script engine to call> <script file>" SET <template name> UPTIME <seconds>
SET <template name> DROPRATE IN <%>
SET <template name> UID <number> GID <number>
BIND <IP address(es)> <template name>
Trang 13Giải thích cho đoạn chương trình trên:
Create: Tạo ra template
#annotate: chú thích tên hệ điều hành
Chỉ ra Ethernet đặt cho template phục vụ việc kết nối ra bên ngoài
Gán hệ điều hành cho template đã tạo ở trên
Cài đặt các action cho protocol TCP, UDP, ICMP trong đó action có 3 loại:
o Open – Mở toàn bộ số cổng có trên một protocol
o Block – Tất cả các packets của protocol được chỉ định là dropped, khi được chỉ định honeypots sẽ không respond packet cho protocol, port
o Reset – Cho biết tất cả các port là đóng Nếu 1 TCP port là đóng thì honeypot
ảo respond với 1 TCP RST tới 1 packet SYN cho port này Nếu là UDP port đóng thì honeypot ảo replies với 1 một thông báo ICMP port-unreachable
Thêm port kèm theo protocol cùng với action
Thêm script chạy các dịch vụ trên các port
Thiết lập các biến system:
UPTIME thời gian hệ thống chạy bao lâu tính bằng giây
DROPRATE IN tỷ lệ (%) rớt được chỉ định của packets gửi từ Honeyd để mô phỏng một mạng bận rộn
UID and GID định danh duy nhất và định danh trên toàn cầu của các máy tính
ảo (number)
Sau đây sẽ xây dựng một mạng vật lý bao gồm 4 máy tính để bàn cộng với một hệ thống được dùng làm máy chủ Honeyd Mạng ảo mà giả lập sẽ được đặt trên máy chủ Honeyd Honeyd làm việc trên nền Unix, rồi được chuyển sang Windows bởi Michael Davis Trong ví dụ này, sẽ dùng một máy Windows Server 2003 để làm máy chủ Honeyd Mạng vật lý sử dụng dải địa chỉ 10.0.0.0/24, và máy chủ Honeyd được gán cho địa chỉ
IP 10.0.0.1 như hình 3.1
Hình 3.1 : Honeyd host
Trang 143.1 Các bước thiết lập Honeypots :
Đầu tiên xem qua cách thức thiết lập 2 mạng Honeypots trên máy chủ Honeyd Xây dựng 2 Honeypots sử dụng hệ điều hành Windows trên địa chỉ IP 10.0.0.51 và 10.0.0.52 Đường sọc màu xanh trong hình 2 chứa các Honeypots mà máy chủ Honeyd tạo ra
Trước khi cấu hình và chạy Honeyd, cần phải chắc rằng máy chủ Honeyd trả lời các gói tin yêu cầu ARP (Address resolution packet - gói tin phân giải địa chỉ) cho các IP của các Honeypots làm chủ
Trước khi khởi động Honeyd, cần cung cấp cho Honeyd một tập tin cấu hình (trong trường hợp này là tập tin lab1.config) chứa các thông tin giả lập 2 máy có hệ điều hành Windows Tập tin cấu hình sẽ có nội dung tương đối dễ hiểu như sau:
#Windows computers
#annotate "Microsoft Windows 2003 Server SP2"
create window
set window ethernet "vmware"
set window personality "Microsoft Windows 2003 Server SP2"
set window default icmp action reset
set window default tcp action block
set window default udp action reset
add window tcp port 80 "perl scripts\iisemulator-0.95\iisemul8.pl"
add window tcp port 139 open
add window udp port 138 open
add window udp port 137 open add window udp port 135 open
C:\winhoneyd\WinHoneyd_1.5c.exe -d -i 2 -f C:\winhoneyd\lab1.config 10.0.0.51 10.0.0.52
Tùy chọn –d là biến lựa chọn tốt nhất cho việc thực thi Honeyd tùy chọn này
Trang 15hoạt động kín đáo trong nền sau, -i <interface> là tùy chọn chỉ ra interface mà honeyd lắng nghe và kết nối với mạng, -f <filename> thực thi file cấu hình Để biết được tất cả network interfaces dùng tùy chọn –N
Từ thời điểm này, Honeyd bắt đầu lắng nghe và trả lời các gói tin đối với 2 hệ thống ảo mà nó tạo ra tại địa chỉ 10.0.0.51 và 10.0.0.52 Máy chủ Honeyd vẫn có thể được truy cập từ bên ngoài, nên cần phải bảo vệ địa chỉ IP của máy chủ Honeyd bằng tường lửa
cụ thể là phần mềm "Kerio WinRoute Firewall”
Trang 16Hình 3.2: Thiết lập 2 Honeypots
3.2 Thiết lập một Router trong mạng :
Hình 3.3 : Router trong mạng Honeypots
Trang 17Giả lập một mạng đơn giản với Honeyd sử dụng không gian địa chỉ 10.0.1.0/24 chứa 2 Honeypots được tách khỏi mạng LAN bởi một router Cisco (R1) như hình 3.3
Để giả lập mạng này, đầu tiên là tạo một router Cisco ở địa chỉ 10.0.0.100:
#Cisco router create router
set router ethernet "vmware"
set router personality "Cisco 7200 router running IOS 12.1(14)E6"
set router default icmp action reset
set router default tcp action reset
set router default udp action reset
add router tcp port 23 "perl scripts\router-telnet.pl"
Cú pháp "route entry" được dùng để chỉ định cổng vào mạng ảo từ mạng LAN, ở đây là
Router R1: route entry 10.0.0.100 network 10.0.0.0/24
Cấu hình trên thông báo cho Honeyd biết rằng 10.0.0.100 là cổng vào mạng
ảo 10.0.0.0/24 và cũng là địa chỉ của router Như vậy là có thể có nhiều router đầu vào, mỗi router phục vụ cho một phạm vi mạng khác nhau
Mạng 10.0.1.0/24 có thể được truy cập thông qua router R1 Để chỉ định mạng nào
có thể được kết nối trực tiếp và không cần các bước mạng từ xa, cách dùng lệnh "route
link" như sau: route 10.0.0.100 link 10.0.1.0/24
Địa chỉ IP đầu tiên được chỉ định ra ở trên là IP của router Địa chỉ mạng được chỉ định sau từ khoá "link" cho biết mạng nào có thể được truy cập trực tiếp Nhiều lệnh link có thể được dùng để gắn nhiều subnet trực tiếp đến một router Router sẽ sử dụng
mẫu route mà đã thiết lập bằng lệnh : bind 10.0.0.100 route
Hai Honeypots sử dụng mẫu winxp thiết lập ở trên sẽ được gắn với các địa chỉ IP 10.0.1.51 và 10.0.1.52 :
create winxp
set winxp ethernet "vmware"
set winxp personality "Microsoft Windows XP"
set winxp default icmp action reset
set winxp default tcp action block
set winxp default udp action open add winxp tcp port 23 open
add winxp tcp port 80 open bind 10.0.1.51 winxp
bind 10.0.1.52 winxp
Đến đây, việc cấu hình mạng đơn giản đã hoàn tất Chạy lệnh trên máy Honeyd
và cung cấp cho nó tập tin cấu hình để mạng giả lập hoạt động
Trang 183.3 Thiết lập mạng 2 Router :
Hình 3.4 : Honeypots với 2 Router Bây giờ hãy xem xét một trường hợp phức tạp hơn Trong hình 3.4, thêm vào một mạng khác ngăn cách với mạng ban đầu bởi router R2 với địa chỉ IP 10.0.1.100 Mạng mới có địa chỉ trong dải 10.1.0.0/24 và chứa 2 Honeypots ở địa chỉ 10.1.0.51 và 10.1.0.52 Đầu tiên thêm vào một cổng nối (R2) trong tập tin cấu hình Bằng cấu hình "route add net", có thể thêm vào mạng ảo một cổng nối Áp dụng trong trường hợp này có dạng sau:
route 10.0.0.100 add net 10.1.0.0/24 10.0.1.100
Cấu hình trên cho thấy Honeyd biết rằng 10.0.0.100 là IP của Router R1, được chỉ định để kết nối tới mạng 10.1.0.0/24 thông qua cổng nối 10.0.1.100 (router R2) Địa chỉ IP đầu tiên trên cấu hình lệnh là của R1, địa chỉ cuối là của cổng nối mới, và dải địa chỉ được chỉ định là của mạng được truy cập thông qua cổng nối mới
Sau khi thêm vào router R2, phải chỉ định địa chỉ IP nào có thể được kết nối trực tiếp từ R2 Một lần nữa lại dùng lệnh "route link" để làm việc này Trong mạng của mình, mạng con 10.1.0.0/24 được truy cập trực tiếp từ R2, nên câu lệnh có dạng sau:
route 10.0.1.100 link 10.1.0.0/24
Tiếp theo thêm vào 2 Honeypots bằng cách gắn địa chỉ IP của chúng với mẫu
Trang 19Bây giờ, sẽ mở rộng mạng thêm một mức nữa để nghiên cứu thêm các đặc tính nổi trội khác của Honeyd
3.4 Thiết lập độ trễ , thất thoát và băng thông :
Thêm vào một mạng thứ 3, bao gồm 2 Honeypots nằm các R2 một hop như hình:
Hình 3.5 : Thiết lập độ trễ, thất thoát và băng thông Thêm mạng này vào trong tập tin cấu hình:
route 10.0.1.100 add net 10.1.1.0/24 10.1.0.100 latency 50ms loss 0.1 bandwidth 1Mbps
Trang 2010.1.1.0/24, và triển khai 2 Honeypots ở địa chỉ 10.1.1.51 và 10.1.1.52 Cấu hình "route add net" cũng thiết lập các tham số về độ trễ khi truyền, tổn thất và băng thông của kết nối giữa router R2 và R3
Trong thực tế, mỗi bước mạng gói tin đi qua sẽ thêm một khoảng thời gian trễ truyền nhất định Điều này có thể được giả lập thông qua từ khóa latency - độ trễ trên mỗi bước mạng có thể được chỉ định ra bằng số mili giây truyền đi Mạng máy tính trong thực tế cũng không giống như trong trường hợp lý tưởng khi truyền gói tin - một số gói tin có thể bị thất thoát Từ khóa loss được dùng để minh họa hành vi của các liên kết trong mạng bằng cách chỉ ra tỉ lệ phần trăm (%) thất thoát Honeyd cũng đưa gói tin vào hàng đợi nếu một liên kết bị chiếm bởi một gói tin trước đó Tùy thuộc vào băng thông phục vụ cho liên kết, giá trị trễ có thể thay đổi Băng thông của một liên kết được chỉ định bằng Kpbs, Mbps hoặc Gbps với từ khoá bandwidth
3.5 Tích hợp các máy vật lý vào topology mạng :
Honeyd cũng hỗ trợ việc tích hợp các topology mạng ảo với các máy chủ vật lý trên mạng Giả sử muốn tích hợp vào mạng ảo một máy chủ nằm tại địa chỉ 10.1.1.53 Máy chủ này được đặt trong mạng LAN chứa máy chủ Honeyd và các máy bàn khác, nhưng muốn đặt một cách logic sau vài bước nhảy bên trong mạng ảo Hình 3.6 mô tả cấu trúc của mạng:
Dùng lệnh "bind" để gắn một máy chủ vật lý bên ngoài vào trong mạng Cấu hình sẽ
như sau: bind 10.1.1.53 to eth0
Cấu hình trên báo cho Honeyd biết rằng 10.1.1.53 có thể được kết nối thông qua giao diện eth0; vì 10.1.1.53 nằm trong phần mạng sau router R3 (một cách logic), một gói tin tới địa chỉ IP sẽ chạy qua R1, R2 và R3 trước khi đến 10.1.1.53 Để thấy điều này, hãy lần theo đường định tuyến đến 10.1.1.53 từ máy bàn trên mạng LAN:
C:\>tracert 10.1.1.53
Tracing route to 10.1.1.53 over a maximum of 30 hops
1 * * * Request timed out
2 <10 ms 10 ms 10 ms 10.0.1.100
3 10 ms 20 ms 20 ms 10.1.0.100
4 10 ms 20 ms 20 ms 10.1.1.53
Trace complete
Trang 21Hình 3.6 : Tích hợp các máy vật lý vào topology mạng Máy 10.1.1.53 được kết nối thông qua 3 trạm trung gian ảo, mặc dù nó nằm trên cùng mạng vật lý với các máy khác
3.6 Thiết lập nhiều Router đầu vào :
route entry 10.0.0.200 network 10.2.0.0/24