1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn

149 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn

Trang 1

ĐạI HọC THáI NGUYÊNTRƯờng đại học SƯ phạm

Khoa: lịch sử



bài thu hoạch thực tế

Chủ đ ề :

SỰ THÀNH LẬP VƯƠNG TRIỀU NHÀ NGUYỄN

Giảng viờn hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Quế Loan

Th.s Trương Văn Hiệp Th.s Âu Sơn Hưng

GV Nguyễn Văn Quyết

GV Nguyễn Thị Hũa

Nhúm thực hiện : Nhúm 4

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

I Lời mở đầu 1

II Các chúa nhà Nguyễn 2

1 Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên, 1558-1613) 2

2 Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi, 1613-1635) 4

3 Chúa Nguyễn Phúc Lan (chúa Thượng, 1635-1648) 6

4 Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền, 1648-1687) 8

5 Nguyễn Phúc Thái (chúa Nghĩa, 1687-1691) 9

6 Nguyễn Phúc Chu (chúa Quốc, 1691-1725) 9

7 Nguyễn Phúc Thụ (Ninh Vương, 1725-1738) 10

8 Nguyễn Phúc Khoát (Võ Vương, 1738-1765) 11

9 Nguyễn Phúc Thuần (Định Vương, 1765-1777) 11

III Các vua nhà Nguyễn 12

1 Thời kì độc lập 15

2 Các vua nhà Nguyễn 18

2.1 GIA LONG HOÀNG ĐẾ (1802-1819) 18

2.2 MINH MỆNH HOÀNG ĐẾ (1820-1840) 30

2.3 THIỆU TRỊ HOÀNG ĐẾ (1841-1847) 38

2.4 TỰ ĐỨC HOÀNG ĐẾ (1848-1883) 40

2.5 Vua Dục Đức 50

2.6 Vua Hiệp Hòa 51

2.7 Vua Kiến Phúc 56

2.8 Vua Hàm Nghi 58

2.9 Vua Đồng Khánh 68

2.10 Vua Thành Thái 69

2.11 Vua Duy Tân 77

2.12 Vua Khải Định 86

Trang 3

2.13 Vua Bảo Đại 89

IV Tình hình xã hội và các cuộc đấu tranh của nhân dân 100

1.Tình hình xã hội và đời sống của nhân dân 100

2 Phong trào đấu tranh của nhân dân 103

3 Tình hình văn hóa ở nửa sau thế kỉ XVIII- Nửa đầu thế kỉ XIX 119

3.1 Tôn giáo, tín ngưỡng 119

3.2 Giáo dục 120

3.3 Nghệ thuật 123

3.4 Khoa học kĩ thuật 124

V Một số đánh giá về vương triều Nguyễn 135

TÀI LIỆU THAM KHẢO 144

Trang 4

I Lời mở đầu

Nhà Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng cai trị Việt Nam trong lịch

sử Việt Nam từ năm 1802 đến 1945, được thành lập sau khi hoàng đế GiaLong lên ngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và sụp đổ hoàn toànkhi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 – tổng cộng là 143 năm Triềuđại Nhà Nguyễn là một triều đại đánh dầu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặcbiệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế kỷ 19

Triều nhà Nguyễn có thể được chia ra hai giai đoạn riêng biệt: Giaiđoạn Độc lập và Giai đoạn bị đế quốc Pháp xâm lăng và đô hộ Giai đoạn độclập (1802-1858) là giai đoạn mà các vua nhà Nguyễn đang nắm toàn quyềnquản lý đất nước, kéo dài 56 năm và trải qua 4 đời vua, Gia Long, MinhMạng, Thiệu Trị, Tự Đức Gia Long và con trai Minh Mạng (1820-1841) đã

cố gắng xây dựng Việt Nam theo khái niệm kiểu Nho giáo Từ thập niên

1830, giới trí thức Việt Nam (đại diện tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ) đã đặt

ra yêu cầu học hỏi phương Tây để phát triển công nghiệp - thương mại, nhưng

họ chỉ là thiểu số Đáp lại, vua Minh Mạng và những người kế tục Thiệu Trị(1841-1847) và Tự Đức (1847-1883) chọn chính sách đã lỗi thời là coi trọng

phát triển nông nghiệp (dĩ nông vi bản) và ngăn cảnThiên chúa giáo, tôn giáo

ba tỉnh miền Đông cho Pháp Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế

tiếp để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam kỳ) Sau khi củng

cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếmnốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở Bắc

Kỳ Giai đoạn này kết thúc khi Bảo Đại tuyên bố thoái vị năm 1945

Trang 5

II Các chúa nhà Nguyễn

1 Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên, 1558-1613)

Nguyễn Kim quê ở Gia Miêu, Tống Sơn, Hà Trung, Thanh Hóa, là concủa Trừng quốc công Nguyễn Hoàng Dụ đã từng giúp vua Lê Tương Dựckhởi binh ở Thanh Hóa lật đổ Lê Uy Mục, nhân đó được phong là Thái phóTrừng quốc công

Mạc Đǎng Dung cướp ngôi nhà Lê, Nguyễn Kim lánh sang Ai Lao, thunạp hào kiệt, phò giúp nhà Lê trung hưng, được vua Lê Trang Tông phong làThượng phụ Thái sư Hưng quốc công Nǎm Canh Tý - 1540 Nguyễn Kimđem quân về chiếm Nghệ An, nǎm 1542 chiếm được Tây Đô - Thanh Hóa.Nǎm ất Tị - 1545, Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhấtđầu độc chết, thọ 75 tuổi, quyền hành rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm

Khi Nguyễn Kim chạy sang Ai Lao thì Nguyễn Hoàng mới 2 tuổi, đượcThái phó Nguyễn Ư Dĩ là cậu ruột nuôi dạy nên người

Trịnh Kiểm là anh rể, muốn thâu tóm quyền hành nên đã ngấm ngầm ámhại các em vợ Nguyễn Uông, con trưởng của Nguyễn Kim đã bị hãm hại.Nguyễn Hoàng rất lo sợ, sai người đến yết kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêmxin mách cho kế an toàn, Trạng Trình đã ứng khẩu câu thơ: ''Hoành Sơn nhất đái,vạn đại dung thân!'' (một dãy núi Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời)

Nguyễn Hoàng nghĩ ra, đến nói với chị gái là Ngọc Bảo xin với anh rể

là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ Thuận Hoá là nơi hoang vu nhiều giặc dã.Trịnh Kiểm đồng ý cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá với ý đồmượn tay giặc giết em vợ

Nǎm Mậu Ngọ - 1558, Trịnh Kiểm tâu với vua Lê Anh Tông choNguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá

Được lệnh vào Nam, bất chấp mùa đông giá rét, Nguyễn Hoàng giongbuồm đi ngay, những người họ hàng ở huyện Tống Sơn cùng quân lính ở đấtThanh - Nghệ nhiều người đem cả vợ con đi theo có đến nghìn người Cácdanh thần cùng đi có Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phước Trị, Mạc Cảnh Huống

Trang 6

Vào Nam, đoàn người của Nguyễn Hoàng đổ bộ lên cảng Cửa Việt,dựng dinh thự ở ái Tử thuộc huyện Đǎng Xương, Quảng Trị

Nguyễn Hoàng là người khôn ngoan, nhân hậu, lưu tâm đến dân tình,hết lòng thu dung hào kiệt ông giảm sưu, hạ thuế khiến lòng người ai cũngmến phục Nhân dân xưng tụng ông là chúa Tiên

Để tránh sự nghi kỵ của chúa Trịnh, nǎm 1569, ông ra chầu vua Lê ở

An Trường, được vua Lê, chúa Trịnh khen ngợi Nǎm 1570, Nguyễn Hoàngđược giao trấn thủ luôn đất Quảng Nam với ấn Tổng trấn ông dời đô vào làngTrà Bát (tức Cát Dinh) cũng thuộc huyện Đǎng Xương

Nǎm 1572, tướng Lập Bạo của nhà Mạc theo đường biển đem quân vàođóng ở hai làng Hồ Xá và Lang Uyển (Quảng Trị) định phá sự nghiệp ởThuận - Quảng của Nguyễn Hoàng Nguyễn Hoàng đã dùng kế mỹ nhân pháđược âm mưu của Lập Bạo và đánh tan được quân nhà Mạc

Nǎm 1593, Nguyễn Hoàng đem quân ra Đông Đô giúp Trịnh Tùngđánh dẹp dư đảng họ Mạc Vì lập được nhiều chiến công, ông được vua Lêtấn phong làm Trung quân Đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự thái uý Đoanquốc công Để tránh Trịnh Tùng hãm hại, nǎm Canh Tý - 1600 NguyễnHoàng lấy cớ đem quân đi dẹp cuộc nổi loạn ở Nam Định, sau đó cùng cáctướng tâm phúc ra biển giong thẳng vào đất Thuận - Quảng để con trai thứ 5

là Hải và cháu là Hắc ở lại làm con tin Vua Lê sai sứ giả vào phủ dụ và vẫn

để Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận - Quảng Tháng 10 nǎm Canh Tý - 1600,Nguyễn Hoàng gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con cả Trịnh Tùng)

Có thể nói từ nǎm 1600, Nguyễn Hoàng bắt đầu xây dựng giang sơnriêng cho họ Nguyễn ở Đàng Trong

Thuận - Quảng vốn là đất cũ của người Chǎm chịu ảnh hưởng vǎn hóaChǎmpa, chúa Tiên dã dùng Phật giáo để thuần hoá nhân dân ông sửa sang

và xây dựng nhiều ngôi chùa

Trang 7

Đặc biệt, nǎm 1601 ông cho xây dựng chùa Thiên Mụ là công việc tolớn có giá trị nhất Ngôi chùa lịch sử này đã có quan hệ mật thiết với quá trìnhphát triển đất Thuận Hoá và triều Nguyễn ở Việt Nam

Nguyễn Hoàng sinh ngày 28/8/1525, mất ngày 21/5/1613 thọ 89 tuổi,trấn thủ Thuận - Quảng 55 nǎm (1558-1613) ông sinh 10 con trai và 2 congái Sau này, triều Nguyễn truy tôn ông là Thái tổ Gia dụ Hoàng đế

2 Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi, 1613-1635)

Nguyễn Hoàng sắp mất, gọi con thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên vào dặndò: Đất Thuận - Quảng này phía bắc thì có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang,phía nam thì có núi Hải Vân và núi Bi Sơn thật là nơi trời để cho người anhhùng dụng võ Vậy con phải thương yêu nhân dân, luyện tập binh sĩ mới gâydựng cơ nghiệp muôn đời

Nguyễn Phúc Nguyên khóc và bái tạ lãnh mạng Vua Lê sai sứ giả vàoviếng và truy tặng Nguyễn Hoàng là Cẩn nghi công, vẫn cho Nguyễn PhúcNguyên làm trấn thủ Thuận - Quảng với hàm Thái bảo, tước Thuỵ quận công.Nguyễn Phúc Nguyên xưng là Sãi vương và cho rời cung phủ về xã PhúcYên, huyện Quảng Điền, ngày đêm lo việc chính sự, thu dụng nhân tài Quankhám lý Trần Đức Hoà tiến cử Đào Duy Từ cho chúa Nguyễn, chúa mừnglắm phong cho Đào Duy Từ tước Lộc kê hầu, chức Nha uý nội tán Đào Duy

Từ giúp chúa Nguyễn đắp luỹ Trường Dục luỹ Thầy để phòng ngự, chốngnhau với quân Trịnh, Đào Duy Từ còn bày kế sách cho chúa Nguyễn trả lạisắc phong của vua Lê, không chịu nộp thuế cống cho chúa Trịnh

Chuyện kể rằng nǎm Đinh Mão - 1627, Trịnh Tráng sai sứ mang sắcvua Lê dụ chúa Sãi cho con vào chầu và nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền

để đưa cống nhà Minh Nhận được sắc vua, chúa Sãi họp triều thần hỏi mưu

kế Đào Duy Từ dâng kế, cho người làm một cái mâm hai đáy, trên sắp đầysản vật, giữa để sắc thư, rồi cử Lại Vǎn Khuông làm chánh sứ đem phẩm vật

ra tạ ơn chúa Trịnh Nhờ đã được chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến chúa

Trang 8

Trịnh, Lại Vǎn Khuông ứng đối khá trôi chảy Chúa hậu đãi, cho phépKhuông cùng phái đoàn đi thǎm kinh thành để chờ chúa dạy bảo Trên đường

đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước Sau khi đọccẩm nang, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam Thấy phái đoàn độtngột trốn về, chúa Trịnh nghi hoặc, bèn cho người đập vỡ mâm mới thấy tờsắc trước, và một bài thơ, mỗi câu bốn chữ như sau

Mâu nhi địch Mịch phi kiến tích

Ái lạc tâm trường Lực lai tương địch

Cả triều thần không ai hiểu ý nghĩa Trịnh Tráng phải mời Trạng BùngPhùng Khắc Hoan giải mã Đọc xong Phùng Khắc Khoan giải thích: Đấy làlối chơi chữ của Đào Duy Từ, chữ mâu không có dấu phẩy là chữ dư, chữmịch không thấy chữ kiến thì còn chữ bất, chữ ái rơi chữ tâm thành chữ thụ,chữ lực cùng đối địch với chữ lai thành chữ sắc Vậy ý nghĩa của bài thơ 4

câu trên là Dư bất thụ sắc tức là Ta không nhận sắc

Nghe xong, Trịnh Tráng vội cho người tìm bắt Lại Vǎn Khuông, nhưngKhuông đã cao chạy xa bay rồi Tráng muốn phát binh vào đánh chúaNguyễn, nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc, đành phải hoãnlại chưa đi hỏi tội chúa Nguyễn

Đào Duy Từ còn tiến cử cho chúa Nguyễn một viên tướng tài ba, mưulược là Nguyễn Hữu Tiến, quân lực của chúa Nguyễn từ đó ngày thêm mạnh.Đào Duy Từ chỉ giúp chúa Nguyễn 8 nǎm mà cơ nghiệp chúa Nguyễn thay đổihẳn về chất, đất Đàng Trong trở nên có vǎn hiến và quy củ hơn trước nhiều

Đối với lân bang, chúa Sãi chủ trương thân thiện với Chiêm Thành và ChânLạp Nǎm 1620, chúa gả công nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chetta II (1618?1686) để tạo thuận lợi cho dân chúng vào khai khẩn đất hoang ở Thuỷ Chân Lạp.Nǎm 1631, chúa Sãi lại gả công nữ Ngọc Khoa cho vua Chiêm Pô Romê để củng

cố nền hoà hiếu một thời gian khá dài giữa hai nước Chiêm - Việt

Trang 9

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, sinh 16/8/1563, mất ngày 19/12/1635 thọ

73 tuổi, ở ngôi chúa 22 nǎm Sau triều Nguyễn truy tôn Hy tông Hiếu vǎnHoàng đế Chúa Sãi có 15 người con (11 con trai và 4 con gái)

3 Chúa Nguyễn Phúc Lan (chúa Thượng, 1635-1648)

Nguyễn Phúc Nguyên có 11 con trai Nguyễn Phúc Lan là con trai thứhai được truyền ngôi chúa

Năm Ất Hợi (1635) chúa Sãi mất, Nguyễn Phúc Lan lên ngôi chúa gọi

là chúa Thượng

Nghe tin Phúc Lan nối nghiệp, hoàng tử thứ 3 là Nguyễn Phúc Anhđang trấn giữ Quảng Nam âm mưu phản nghịch, liên kết với chúa Trịnh đemquân vào đánh miền Nam Phúc Anh sai đắp luỹ Câu Ðê làm kế cố thủ PhúcLan đánh bắt được, không nỡ giết người ruột thịt, nhưng tướng sĩ và ông chú

là Trường quận công Nguyễn Phúc Khê đều xin giết để trừ hậu hoạ

Chúa dù đau xót cũng phải nghe theo

Năm Kỷ Mão (1639), Tống Thị (vợ goá của Phúc Anh) dâng cho chúachuỗi hoa vòng ngọc liên châu rất đẹp Chúa cầm lên ngửi thấy mùi hươngthơm ngát xúc động lòng yêu Tống Thị lại vào sụp lạy dưới thềm, thưa trình

về tình cảnh goá bụa thảm thiết, nhan sắc lại cực kỳ diễm lệ Chúa Thượngnổi tình riêng, sau đó mời nàng vào nội thất chung chăn gối

Từ đó chúa rất mực sủng ái Tống Thị Nàng trình bẩm việc gì chúacũng nghe theo Tống Thị lựa lời khéo léo để chúa vui lòng, nghĩ cách chiếmđoạt của cải của dân để làm giàu riêng Các quan đại thần căm ghét Tống Thị,tìm cách can gián nhưng chúa không nghe Cho hay, nhan sắc, gái đẹp cómãnh lực vô biên, làm lung lạc cả đấng quân vương

Làm chúa được 9 năm, vị chúa đa tình này lập được chiến công vangdội Lần đầu tiên trong lịch sử, thuỷ quân Việt Nam đã đánh thắng thủy quân

Âu Châu

Trang 10

Ðó là năm 1643, Hà Lan theo yêu cầu của chúa Trịnh đã cho 3 chiếctàu đồng kiểu tròn, trang bị nhiều trọng pháo tiến vào cửa Eo (Thuận An)mưu đồ xâm lược nước ta.

Chúa Thượng họp quần thần bàn định có nên đưa chiến thuyền củamình ra đánh tàu Hà Lan hay không Các quần thần không dám hứa là chắcthắng Chúa hỏi một người Hà Lan đang giúp việc cho chúa Người ấy tự phụtrả lời: Tầu Hà Lan chỉ sợ mãnh lực và quân đội của trời thôi Nghe vậy, chúacảm thấy bị xúc phạm Ông thân hành đến Eo, ra lệnh cho thuỷ quân chèothuyền ra đánh thẳng vào 3 chiếc tàu của Hà Lan

Hàng trăm chiếc thuyền Việt Nam xông thẳng vào các chiếc tàu HàLan, mặc đại bác bắn ra như mưa Bốn mặt tàu Hà Lan đều bị tấn công Nhờthuyền nhỏ cơ động, nhanh nhẹn nên mặc dù bị một số đạn, thuyền Việt Namvẫn bao vây tấn công vào tàu Hà Lan quyết liệt Chúng vô cùng kinh hoàng,không ngờ thủy quân chúa Nguyễn lại gan dạ đến thế Chiếc nhỏ nhất vộiluồn lách chạy thoát thân Chiếc thứ hai thảng thốt đâm vào đá, cả đoàn thuỷthủ và tàu chìm nghỉm xuống biển Chiếc thứ 3 lớn nhất chống cự lại, cácthuỷ quân chúa Nguyễn bám sát tàu bẻ bánh lái Một số nhảy lên tàu, chặt gẫycột buồm Bị dồn vào thế tuyệt vọng, thuyền trưởng Hà Lan cho nổ kho thuốcsúng Thế là tất cả thủy thủ bị hoả thiêu chết la liệt trên biển Có 7 tên trên tàunhảy xuống biển, cố bơi thoát nhưng đều bị tóm cổ

Thắng trận trở về, chúa Thượng dẫn 7 tên tù binh đến trước mặt người

Trang 11

Hữu Dật chỉ huy còn mình thì rút về Ðến phá Tam Giang thì chúa mất, thọ đến

48 tuổi, ở ngôi chúa 13 năm Sau triều Nguyễn truy tôn là Thần tôn Hiến chiêuHoàng đế Chúa Thượng có 4 người con (3 con trai, 1 con gái)

4 Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền, 1648-1687)

Nguyễn Phúc Tần sinh năm Canh Thìn (1620) Lúc đầu được phongPhó tướng Dũng lễ hầu, đã từng đánh giặc ở cửa biển, được chúa Phúc Lan rấtkhen ngợi Năm Mậu Tý - 1648 được tấn phong là tiết chế chủ quân, thayPhúc Lan phá quân Trịnh ở sông Gianh Bấy giờ ông 29 tuổi Chúa NguyễnPhúc Lan mất đột ngột, bày tôi tôn Nguyễn Phúc Tần lên ngôi chúa, gọi làchúa Hiền Chúa Nguyễn Phúc Tần là người chăm chỉ chính sự, khôngchuộng yến tiệc vui chơi

Phúc Tần biết tận dụng hai tướng tài giỏi là Nguyễn Hữu Dật vàNguyễn Hữu Tiến Quân chúa Nguyễn nhiều lần vượt sông Gianh tiến ra đấtĐàng Ngoài Năm 1656, sau hai năm tấn công ta Bắc, quân Nguyễn đã chiếmđược 7 huyện của Nghệ An Tự thân Nguyễn Phúc Tần đã đem quân ra đếnNghệ An đóng tại xã Vân Cát, quân Nguyễn có thể tiến sâu thêm nữa, nhưngnghe tin Trịnh Tráng mất, con là Trịnh Tạc lên ngôi chúa đang chịu tang,chúa Nguyễn cho người sang điếu rồi rút quân về, lưu các tướng đóng đồn từsông Lam trở về Nam, đắp luỹ từ núi đến cửa biển để phòng ngự Sau đợt tấncông đó, quân Nguyễn còn chiếm đất Nghệ An thêm 5 lần nữa, năm 1660chúa Trịnh mới khôi phục lại được Từ đó Trịnh - Nguyễn cầm cự nhau suốtmấy chục năm không phân thắng bại

Năm Kỷ Mùi - 1679, chúa Nguyễn cho phép Dương Ngạn Địch, mộttướng cũ của triều Minh cùng với Trần Thượng Xuyên đem gia thuộc hơn

3000 người và hơn 50 chiến thuyền đến khai phá vùng đất Gia Định - MỹTho Từ đó phố xá, chợ búa mọc lên sầm uất, thuyền buôn của các nướcThanh, Nhật Bản và các nước phương Tây ra vào tấp nập, do đó phong hoángày càng mở mang

Dưới thời chúa Hiền, nhiều kênh dẫn nước tưới ruộng được khơi đào,như Trung Đàn, Mai Xá Bấy giờ bờ cõi được thái bình, thóc lúa được mùa

Trang 12

Chúa càng chăm lo chính sự, không xây đền đài, không gần gái đẹp, bớt laodịch thuế khoá, nhân dân đều khen ngợi thời thái bình thịnh trị.

Năm Đinh Mão - 1687, chúa Hiền mất, thọ 65 tuổi, ở ngôi chúa 39năm Triều Nguyễn truy tôn ông là Thái tông hiền triết hoàng đế Chúa Hiền

có 9 người con (6 con trai, 3 con gái)

5 Nguyễn Phúc Thái (chúa Nghĩa, 1687-1691)

Nguyễn Phúc Tần có 6 người con trai, Nguyễn Phúc Thái là con thứ 2của bà vợ thứ hai người họ Tống, nhưng lớn tuổi và hiền đức Khi NguyễnPhúc Tần mất, Thái đã 39 tuổi

Nguyễn Phúc Thái nổi tiếng là người rộng rãi, hình phạt và phú thuế đãnhẹ, trăm họ ai cũng vui mừng Quan lại cũ của triều trước đều được trọng đãi

Người đời sau nhắc đến chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái là nhớ chúa đãdời phủ từ Kim Long về Phú Xuân địa thế bằng phẳng, đẹp đẽ, tiếp nối nhiềuđời chọn làm kinh đô

Chúa không thọ được lâu Sau 4 năm ở ngôi chúa, năm Tân Mùi

-1691, Nguyễn Phúc Thái mất, thọ 43 tuổi Triều Nguyễn truy tôn ông là Anhtông hiếu nghĩa hoàng đế Chúa Nghĩa có 10 người con (5 con trai, 5 con gái)

6 Nguyễn Phúc Chu (chúa Quốc, 1691-1725)

Nguyễn Phúc Chu là con cả Nguyễn Phúc Thái, sinh nǎm ất Mão

-1675, được ǎn học khá cẩn thận vì thế vǎn hay chữ tốt, đủ tài lược vǎn võ Khinối ngôi Chúa mới 17 tuổi

Chúa Nguyễn Phúc Chu mộ đạo Phật Nǎm 1710 chúa sai đúc chuônglớn nặng tới 3.285 cân, đặt ở chùa Thiên Mụ và xây dựng một loạt chùa miếukhác Chúa cho mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ, chùa núi Mỹ An Tự chúa cũng

ǎn chay ở vườn Côn Gia một tháng trời Chúa phát tiền gạo cho người nghèo.Đây là thời kỳ mà chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã tạm ngừng hơn 30 nǎm, đấtnước bình yên, chúa Nguyễn Phúc Chu có điều kiện mở mang đất đai về phíaNam và đạt được những thành tựu đáng kể: đặt phủ Bình Thuận nǎm ĐinhSửu - 1697 gồm đất Phan Rang, Phan Rí, chia làm hai huyện An Phúc và HoàĐa; bắt đầu đặt phủ Gia Định, chia đất Đông Phố lấy xứ Đồng Nai làm huyện

Trang 13

Phúc Long; dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hoà) lấy xứ Sài Gòn làm huyệnTân Bình; dựng dinh Phiên Trấn; lập xã Minh Hương Từ đó người Thanh đilại buôn bán rất sầm uất

Nǎm 1702, Công ty ấn Độ của Anh do Allen Catohpole đem 200 quânđến chiếm đảo Côn Lôn, chúa Quốc lập tức sai con là Nguyễn Phúc Phandùng mưu đánh đuổi ra khỏi đảo

Nǎm 1708, chúa Quốc dùng Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên Nǎm 1709, chúa Quốc cho đúc ấn Quốc Bửu "Đại Việt Quốc, NguyễnPhúc Vĩnh Trấn chi bửu" ấn ấy về sau trở thành vật báu truyền ngôi Nǎm

1714, chúa Quốc đại trùng tu chùa Thiên Mụ và đi thǎm phố Hội An Nhânthấy cầu do người Nhật làm tụ tập nhiều thuyền buôn các nước, chúa bèn đặt

là Lai Viễn Kiều và ban biển chữ vàng ngày nay vẫn còn biển đó

Ngày 1/6/1725, chúa Quốc mất, thọ 51 tuổi, ở ngôi 34 nǎm Sau triềuNguyễn truy tôn là Hiến Tông Hiếu Minh Hoàng đế Chúa Quốc có 42 ngườicon (38 con trai và 4 con gái)

7 Nguyễn Phúc Thụ (Ninh Vương, 1725-1738)

Nguyễn Phúc Thụ (nhiều sách viết là Chú) sinh ngày 14/1/1697, là contrai cả của chúa Quốc, khi chúa Quốc mất được lên ngôi Chúa lúc đó đã 30tuổi, xưng hiệu là Ninh Vương

Nǎm Quý Sửu - 1733, chúa cho đặt đồng hồ mua của Tây phương ở cácdinh và các đồn tàu dọc biển Sau có người thợ thủ công là Nguyễn Vǎn Túchế tạo được chiếc đồng hồ y hệt

Nǎm Bính Thìn - 1736, Mạc Cửu mất, con trai là Mạc Thiên Tứ đượcchúa cho làm Đô đốc trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ là một nhà cai trị giỏi, màlại vǎn thơ hay, Mạc Thiên Tứ mở Chiêu Anh Các để tụ họp các vǎn nhân thi

sĩ cùng nhau xướng hoạ Mạc Thiên Tứ để lại 10 bài thơ ca ngợi phong cảnhđẹp của Hà Tiên (Hà Tiên thập vịnh)

Ngày 7/6/1738, Ninh Vương mất, thọ 42 tuổi, ở ngôi 13 nǎm Sau triềuNguyễn truy tôn là Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế Ninh Vương có 9 ngườicon (3 con trai, 6 con gái)

Trang 14

8 Nguyễn Phúc Khoát (Võ Vương, 1738-1765)

Nguyễn Phúc Khoát, sinh nǎm Giáp Ngọ (1714), là con trưởng củaNinh Vương được lên ngôi chúa ngày 7/6/1738, lấy hiệu là Từ Tế Đạo nhân.Nǎm Giáp Tý (1744), Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi vương xưng là Võ Vươngcho đúc ấn Quốc Vương Xuống chiếu bố cáo thiên hạ, lấy Phú Xuân làmkinh đô

Từ nǎm Giáp Tuất (1754), để xứng đáng với kinh đô của NguyễnVương, Phú Xuân được xây dựng thêm hàng loạt cung điện theo quy mô đếvương Đặc biệt chiếc áo dài Việt Nam tha thướt xinh đẹp như hiện nay, phảitrải qua một quá trình phát triển, nó được hình thành từ đời Võ VươngNguyễn Phúc Khoát

Nǎm 1757, Võ Vương đặt Rạch Giá làm đạo Kiên Giang, Cà Mau làmđạo Long Xuyên

Ngày 7/6/1765, Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát mất, thọ 52 tuổi, nốingôi được 27 nǎm

Triều Nguyễn truy tôn ông làThế tông Hiếu vũ Hoàng đế Võ Vương có

30 người con (18 con trai, 12 con gái)

9 Nguyễn Phúc Thuần (Định Vương, 1765-1777)

Nguyễn Phúc Thuần sinh ngày 31/12/1753, là con thứ 16 của NguyễnPhúc Khoát

Võ Vương lúc đầu lập con thứ 9 là Phúc Hiệu làm thái tử, nhưng Hiệumất sớm, con trai Hiệu là Hoàng tôn Phúc Dương còn thơ ấu mà hoàng tử cả

là Chương cũng đã mất Hoàng tử thứ hai là Nguyễn Phúc Luân cũng rất khôingô tuấn tú, theo thứ tự sẽ phải lập Hoàng tôn Dương hoặc Phúc Luân lênngôi nên đã trao Luân cho một thầy học nổi tiếng là Trương Vǎn Hạnh dạybảo Nhưng khi Võ Vương mất, tình hình lại đảo ngược Quyền thần TrươngPhúc Loan không muốn lập Phúc Luân vì Luân đã lớn tuổi, khó bề lộng hành.Trương Phúc Loan lại chọn Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi vua

Phúc Luân không được lập mà còn bị bắt giam Trương Vǎn Hạnh cũng

bị giết chết

Trang 15

Nguyễn Phúc Thuần còn nhỏ tuổi, mọi quyền hành đều do TrươngPhúc Loan sắp đặt Loan tự phong là Quốc phó Loan thâu tóm toàn bộ từchính sự đến kinh tế Các nguồn lợi chủ yếu của vương quốc Đàng Trong đềurơi vào tay Trương Phúc Loan và họ hàng của hắn

Ngày nắng, Loan cho đem phơi của cải quý báu làm sáng rực cả mộtgóc trời Có tiền, có quyền, Loan mặc sức hoành hành ngang ngược, ngườingười ai nấy đều oán giận

Nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc cầm đầu ở Quy Nhơn được nhândân đồng tình ủng hộ ngày càng lớn mạnh Thêm vào đó, tháng 5 nǎm GiápNgọ (1774) Chúa Trịnh lại cho đại quân vào đánh Nguyễn Cả nghĩa quânTây Sơn lẫn quân Trịnh đều nêu khẩu hiệu : "Trừ khử quyền thần TrươngPhúc Loan và tôn phò Hoàng tôn Dương" Chiến tranh loạn lạc lại nổ ra, đấtThuận Hoá trước trù phú là thế mà nay trǎm bề xơ xác tiêu điều, người chếtđói đầy đường Trước tình cảnh đó, không có cách nào khác, tôn thất nhàNguyễn cùng nhau lập tức bắt trói Trương Phúc Loan nộp cho quân Trịnh.Tháng 12 nǎm 1974, quân Trịnh chiếm được Phú Xuân và đặt quan cai trịThuận Hoá Trong số quan lại nhà Trịnh cử vào trấn thủ Thuận Hoá có LêQuý Đôn (1776)

Nghĩa quân Tây Sơn tìm cách hoà hoãn với quân Trịnh để yên mặt Bắc

và rảnh tay đánh Nguyễn ở phía Nam

Đại quân Tây Sơn cả thuỷ lẫn bộ đánh vào Gia Định Chúa NguyễnPhúc Thuần chạy về Định Tường rồi lại chạy sang Long Xuyên Tháng 9 nǎmĐinh Dậu (1777), quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ thống lĩnh đánh chiếm LongXuyên, chúa Nguyễn bị chết trận Như vậy Nguyễn Phúc Thuần ở ngôi chúađược 12 nǎm, thọ 24 tuổi không có con nối Sau triều Nguyễn truy tôn là DuệTông Hiếu định Hoàng đế Định vương Nguyễn Phúc Thuần chết, kết thúcgiai đoạn lịch sử của 9 đời chúa Nguyễn Đàng Trong

III Các vua nhà Nguyễn

Trong 143 năm tồn tại kể từ khi thành lập năm 1802 đến khi sụp

đổ 1945, nhà Nguyễn có 13 vị vua cai trị.

Trang 16

Miếu hiệu Thụy hiệu Tên Năm Niên hiệu Lăng

Thế Tổ Cao Hoàng Đế Nguyễn Phúc Ánh 1802-1820 嘉隆

Gia Long Thiên Thọ Lăng

Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Nguyễn Phúc Đảm 1820-1841 明命

Minh Mạng Hiếu Lăng

Hiến Tổ Chương Hoàng Đế Nguyễn Phúc Miên Tông 1841-1847 紹治

Thiệu Trị Xương Lăng

Dực Tông Anh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Hồng Nhậm 1847-1883 嗣德

Trang 17

Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế Nguyễn Phúc Bửu Đảo 1916-1925 啟定

Khải Định Ứng Lăng

Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy 1926-1945 保大

Bảo Đại

Trang 18

1 Thời kì độc lập

Thành lập

Năm 1778, Nguyễn Ánh quay lại và tập hợp lực lượng chiếm được GiaĐịnh và đến năm 1780, ông xưng vương Trong mùa hè năm 1781, quân độicủa Nguyễn Ánh lên đến khoảng 3 vạn người với 80 chiến thuyền đi biển, 3thuyền lớn và 2 tàu Bồ Đào Nha do giám mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánhmời được Ông tổ chức tấn công Tây Sơn đánh tới tận đất Phú Yên nhưng saucùng phải rút chạy vì gặp bộ binh rất mạnh của Tây Sơn Tức giận vì tốn kémnhưng không thu được kết quả, quan lại Gia Định để cho một người phụ việccủa Bá Đa Lộc là cai cơ Manuel lập mưu giết chết các tay lính đánh thuê BồĐào Nha và cướp tàu của họ

Tháng 3 năm 1782, Nguyễn Huệ cùng vua Thái Đức mang quân thuỷ

bộ Nam tiến Tây Sơn đụng trận dữ dội ở sông Ngã Bảy, cửa Cần Giờ vớiquân Nguyễn do chính Nguyễn Ánh chỉ huy Dù lực lượng thuyền của TâySơn yếu hơn, nhưng nhờ lòng can đảm của mình, họ đã phá tan quân Nguyễn,buộc Manuel tự sát, tuy vậy cũng thiệt hại khá nhiều binh lực Nguyễn Ánh

bỏ chạy về Ba Giồng, rồi có khi trốn sang tận rừng Romdoul, Chân Lạp VuaThái Đức khi chiếm lại Nam bộ gặp phải sự chống đối mạnh của ngườiHoa ủng hộ Nguyễn Ánh tại đây khiến cho một thân tướng là Đô đốc PhạmNgạn tử trận, binh lính thương vong nhiều, nên ông rất đau đớn rồi nổi giận ralệnh tàn sát người Hoa ở Gia Định để trả thù Việc này đã cản chân Tây Sơntrong việc truy bắt Nguyễn Ánh, khiến cho Nguyễn Ánh có cơ hội quay trở

về Giồng Lữ, một đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Học đem quân đuổi theo Ánh bịquân Nguyễn bắt giết khiến cho Nguyễn Ánh có được 80 thuyền của Tây Sơn.Nguyễn Ánh thấy vậy định kéo về chiếm lại Gia Định nhưng đụng NguyễnHuệ dàn binh quay lưng ra sông đánh bại khiến Nguyễn Ánh phải chạy

về Hậu Giang, Rạch Giá, Hà Tiên rồi theo thuyền nhỏ trốn ra Phú Quốc

Trang 19

Sau khi chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung đang chuẩn bị phốihợp với vua anh đem quân vào Nam đánh Gia Định thì đột ngột qua đời(1792), con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, hiệu là CảnhThịnh Loạn lạc liền nổ ra ở Bắc Hà, sĩ phu trung thành với nhà Lê nổi lêntôn Lê Duy Cận làm minh chủ, Duy Cận liên lạc với Nguyễn Ánh để cùngđánh Tây Sơn, việc này góp phần làm cho nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu.Nội bộ Tây Sơn xảy ra tranh chấp, quyền hành rơi vào tay ngoại thích Bùi ĐắcTuyên Từ đó, Nguyễn Ánh ra sức mở các đợt tấn công ra Quy Nhơn theo

nguyên tắc đã định trước đó: "Gặp nồm thuận thì tiến, vãn thì về, khi phát thì

quân lính đủ mặt, về thì tản ra đồng ruộng" Ngoài ra, Nguyễn Ánh còn định

cho sứ đi ngoại giao với Trung Quốc, lợi dụng mâu thuẫn và thù hằn của quốcgia này với Tây Sơn, và cả sự có mặt của Lê Chiêu Thống bên đó để khiếnTrung Quốc giúp mình nhưng việc không thành do khi sứ của Nguyễn Ánh

là Ngô Nhơn Tĩnh và Phạm Thận sang đến nơi thì Lê Chiêu Thống đã mất

Năm 1793, Nguyễn Ánh cùng các tướng Võ Duy Nguy, Nguyễn VănTrương, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, Nguyễn PhướcHội, Philippe Vannier, Nguyễn Văn Hòa, Chưởng cơ Cố đem quân đánh NhaTrang, Diên Khánh, Phú Yên rồi tranh thủ đánh tới tận thành Quy Nhơn củaNguyễn Nhạc Vua Thái Đức cầu cứu Phú Xuân Cảnh Thịnh sai Ngô Văn

Sở, Phạm Công Hưng, đô đốc Hố và Chưởng cơ Thiêm đem 17.000 quân,

80 thớt voi,và 30 chiếc thuyền chia nhiều đường tiến vào cứu, quân NguyễnÁnh rút lui, trên đường về ông sai quân đắp thành Diên Khánh để lợi dụng địathế nơi này làm bàn đạp chống Tây Sơn Cùng thời gian, quân Phú Xuân củaTây Sơn nhân dịp đánh chiếm luôn đất đai, kho tàng của vua Thái Đức Lúc

đó Nguyễn Nhạc đang bệnh trên giường, nghe tin cơ nghiệp của con mình làQuang Bảo bị chiếm mất, uất quá thổ huyết mà qua đời.Quang Toản cho antrí Quang Bảo ra huyện Phù Ly và cai quản toàn bộ đất đai của vua bác

Từ năm 1794 đến năm 1795, Tây Sơn phản công, họ cho quân nhiềulần vào đánh Phú Yên, vây thành Diên Khánh, quân Nguyễn cũng ra sức

Trang 20

chống cự, nhiều lần kìm hãm, thậm chí là đánh lại được quân Tây Sơn Tuynhiên nội bộ Tây Sơn lại mâu thuẫn, các tướng tranh quyền Vũ VănDũng giết Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở, Quang Toản không làm gìđược Trần Quang Diệu đang đi đánh Nguyễn Ánh, nghe tin đành rút quân về,suýt giao tranh với Vũ Văn Dũng may nhờ có Quang Toản sai quan ra khuyêngiải Trần Quang Diệu mới đồng ý hòa Nhưng sau đó Quang Toản lại nghe lờigièm pha tước mất binh quyền của Trần Quang Diệu, Tây Sơn từ đó cứ lụcđục mãi, các quan nghi kị giết hại lẫn nhau tạo điều kiện thuận lợi choNguyễn Ánh Năm 1797, Nguyễn Ánh cho quân ra đánh Phú Yên, riêng ôngthì cùng Nguyễn Phúc Cảnh chỉ huy thủy quân ra tận Quy Nhơn giao chiếnvới tướng Tây Sơn là Lê Trung tại Thị Nại thu được nhiều khí giới, nhưng khitới Quy Nhơn thấy thế lực Tây Sơn thủ mạnh quá đành vòng lên đánhQuảngNam nhưng được mấy tháng lại rút về vì thuyền chở quân lương từ Gia Định

bị ngược gió không lên kịp

Nguyễn Ánh chiêu dụ Nguyễn Quang Bảo nhưng việc chưa thành vìQuang Toản ra tay trước, bắt và giết được Quang Bảo Nhưng Tây Sơn lại rơivào lục đục, Quang Toản nghi ngờ giết hại nhiều triều thần, võ tướng, khiếncho sức chiến đấu suy giảm, thêm nhiều người sang hàng NguyễnÁnh.Năm 1799, Nguyễn Ánh cho sứ yêu cầu vua Xiêm La cho một đạo quânChân Lạp và Vạn Tượng đi đến sát biên giới Nghệ An để nghi binh và vuaXiêm đồng ý làm theo Cũng trong năm 1799, Nguyễn Ánh tự cầm quân điđánh thành Quy Nhơn, tướng giữ thành của Tây Sơn là Vũ Tuấn đầu hàng dùtrước đó Quang Toản đã sai Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem quân vàocứu Sau đó, Nguyễn Ánh đổi tên Quy Nhơn thành Bình Định, rồi cho quântới trấn giữ thành Tây Sơn ngay lập tức tìm cách chiếm lại; tháng

1 năm 1800, hai danh tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng kéo đếnvây thành Quy Nhơn Nguyễn Ánh cho quân ra cứu nhưng bị bộ binh TâySơn chặn lại, ông chia quân đi đánh các nơi và thắng nhiều trận, trong đó cómột trận lớn ở Thị Nại Thấy thế Tây Sơn vây Quy Nhơn còn mạnh, NguyễnÁnh cho người lẻn mang thư đến bảo tướng quân Nguyễn giữ thành là VõTánh mở đường máu mà trốn ra nhưng Võ Tánh quyết tử thủ để tạo điều kiện

Trang 21

cho Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân, việc này khiến thời gian hai danh tướngTây Sơn bị cầm chân lên hơn một năm Năm 1801, Nguyễn Ánh nhận thấytinh binh Tây Sơn đều tập trung cả ở chiến trường Quy Nhơn nên mang quânchủ lực vượt biển ra đánh Phú Xuân Tháng 5 năm 1801, Nguyễn Ánh kéoquân giao chiến dữ dội với Tây Sơn ở cửa Tư Dung; rồi đụng Quang Toản

ở cửa Eo, Quang Toản thua trận bỏ chạy ra Bắc và đến ngày 3 tháng 5Nguyễn Ánh giành được Phú Xuân

Cùng thời gian nghe tin Phú Xuân bị tấn công, Trần Quang Diệu đang vâyQuy Nhơn sai binh về cứu nhưng bị quân Nguyễn chặn đánh nên quân không vềđược, ông chỉ còn cách cố gắng đốc binh chiếm thành Đầu năm 1802, Tây Sơnmới chiếm lại thành Quy Nhơn, Võ Tánh tự vẫn để xin tha mạng cho binh sĩ.Trần Quang Diệu tha cho binh Nguyễn, an táng Võ Tánh và thuộc tướngrồi bỏthành Quy Nhơn; cùng Vũ Văn Dũng mang quân cứu viện ra Nghệ An, bị quânNguyễn chặn đường, phải vòng qua đường Vạn Tượng (Lào) Lúc tới Nghệ Anthì thấy thành đã mất, quân sĩ bỏ chạy gần hết, vợ chồng Trần Quang Diệu

và Bùi Thị Xuân bị bắt, Vũ Văn Dũng không rõ số phận

2 Các vua nhà Nguyễn.

2.1 GIA LONG HOÀNG ĐẾ (1802-1819)

Niên hiệu: Gia Long

Nguyễn Ánh lấy được Gia

Định năm Mậu Thân (1788) tuy đã

xưng vương mà chưa đặt niên hiệu

riêng,,vẫn dùng niên hiệu là vua Lê

Tháng năm năm Nhâm Tuất (1802)

lấy lại được toàn bộ đất đai cũ của

các chúa Nguyễn, Nguyễn Vương

Phúc Anh cho lập đàn tế cáo trời đất,

thiết triều tại Phú Xuân, đặt niên hiệu

Gia Long năm thứ nhất Hình 1 Vua Gia Long (1802-1819)

Trang 22

Lê Quang Định được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh xin phongvương và đổi tên nước là Nam Việt Nhà Thanh tên nước là Nam Việt sẽ lẫntên nước của Triệu Đà (gồm cả Đông Việt, Tây Việt) nên đổi là Việt Nam.Năm Giap Tí (1804) án sát Quảng Tây Tề Bồ Sâm được vua Thanh phái sangphong vương chi Gia Long và nước ta có tên là Việt Nam Năm BínhDần(1806), Gia Long chính thức làm lễ xưng đế ở điện Thái Hòa và từ đâyqui định hằng tháng cứ ngày rằm và mồng một thì thiết đại triều; các ngày 5,

10, 20, 15, thì thiết tiểu triều

Là vua sáng nghiệp của triều Nguyễn của một quốc gia thống nhất, GiaLong phải giải quyết rất nhiều việc đặt nền móng cho vương triều có một địabàn thống trị rộng lớn từ Bắc đến Nam Để tránh lộng quyền, ngay từ đầu nhàvua bãi bỏ chức vụ Tể tướng Ở triều đình chỉ đặt ra 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh,Hình, Công, do các Thượng thư đứng đầu và Tả hữu tham tri,Tả hữu thị langgiúp việc

Quản lý của một đất nước thống nhất kéo dài từ Lạng Sơn đến Hà Tiênđối với Gia Long lúc đó hoàn toàn là mới mẻ Gia Long cho tổ chức lại cácđơn vị hành chính từ trung ương xuống Cả nước chia làm 23 trấn,, 4 doanh

Từ Ninh Bình trở ra gọi là Bắc Thành gồm 11 trấn (5 nội trấn và 6 ngoạitrấn); từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Định thành gồm 5 trấn; ở quãng giữa

là các trấn độc lập: Thanh Hóa,Nghệ An, Quảng Nghĩa,Bình Định, Phú Yên,Bình Hòa, Bình Thuận; đất kinh kỳ đặt 4 doanh: Trực Lệ Quảng Đức Doanh(tức Thừa Thiên), Quảng Trị doanh, Quảng Bình doanh, Quảng Nam doanh.Cai quản Bắc Thành và Gia Định thành có Tổng trấn và Phó tổng trấn Mỗitrấn có Lưu trấn hay Trấn thủ, Cai bạ và Ký lục Trấn chia ra phủ, huyện,chau, có Tri phủ, Tri huyện, Tri châu đứng đầu Đây là lần đầu tiên một lãnhthổ thống nhất, các tổ chức hành chính được sắp đặt chính quy như vậy

Quản lý định khẩu, ruộng đất và thuế khóa áp dụng theo mẫu hình thời

Lê sơ nhưng được thực hiện trên quy mô lớn hơn, có quy củ hơn Đáng chú ý

là việc làm sổ ruộng (địa bạ) dưới thời Gia Long được tiến hành nhất loạt, cố

Trang 23

quy mô toàn quốc Các làng xã phải lập sổ địa bạ ghi rõ từng loại ruộng đất,diện tích, vị trí, công, tư… chép thành 3 bản nộp liên bộ Hộ Bộ đóng dấukiềm, lưu 1 quyển, tỉnh giữ 1, xã giữ 1 Năm năm làm lại địa bạ một lần Đếnnay còn lưu giữu khá đủ toàn bộ địa bạ Gia Long của cac trấn, doanh cả nước.

Cả nước gồm 4 địa hình sông núi, cầu quán, chợ búa, phong tục, thổ sản…năm Bính Dần (1806), vua Gia Long sai biên soạn và ban hành bộ “nhấtthống địa dư chí” gồm 10 quyển.Năm Ât Hợi (1815) bộ “Quốc triều hìnhluật” gồm 22 quyển với 298 điều luật đã được ban hành.Công cuộc khaihoang vùng đồng bằng sông Cửu Long được tiếp tục Nhà nước đã bỏ tiềnđào kênh Thụy Hà và sông Vĩnh Tế tạo thuận lợi cho việc khẩn hoang Nhữngcông trình lớn như sông Chân Lập dọc 2 bên bờ có sông chảy qua: việc trịthủy vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng được Gia Long chú ý làm lễ thụ phong củanhà Thanh, Gia Long cũng nêu vấn đề đắp đê để sĩ phu Bắc Hà bàn luận Mặc

dù chưa nhất trí, nhà vua vẫn quyết định đắp đê Thời Gia Long khối lượng

đê, kè, cống được đắp nhiều nhất so với các triều trước

* Quân đội

Một trong những thành quả Gia Long đạt được sau nhiều năm nội chiếnvới Tây Sơn là quân đội tương đối mạnh với trang bị và tổ chức kiểu phươngTây Sau khi quản làm chủ toàn bộ quốc gia, nhà Nguyễn xây dựng quân độihoàn thiện hơn, chính quy hơn Để sung binh ngạch mới, vua Gia Long chothực hiện phép giản binh, theo hộ tịch tuỳ nơi mà định, lấy 3, 5 hay 7 suấtđinh tuyển 1 người lính.Quân chính quy đóng tại kinh thành và những nơixung yếu; các địa phương đều có lực lượng vũ trang tại chỗ làm nhiệm vụ trị

an Quân chính quy có 14 vạn người, ngoài ra còn có quân trừ bị Quân độicòn được tổ chức thành 4 binh chủng: bộ binh, tượng binh, thủy binh và pháobinh, trong đó bộ binh và thuỷ binh được chú trọng xây dựng để tác chiến độclập Trình độ chính quy thống nhất cao Ngoài vũ khí cổ truyền, quân chínhquy được trang bị hoả khí mua của phương Tây như đại bác, súng trường,

Trang 24

thuyền máy, thuốc nổ Các loại súng thần công, đại bác được đúc với kíchthước, trọng lượng thống nhất; thành luỹ, đồn to nhỏ cũng được quy định chotừng cấp với số lượng quân nhất định.

* Thuế khóa và lao dịch

Việc sinh hoạt quốc gia đòi hỏi phải có đủ tài chính để duy trì bộ máy

triều đình nên sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã tổ chức lại vấn đề đăng tịch, bắt buộc mỗi làng xã phải ghi vào sổ đinh trong làng số đàn ông từ 18-60 tuổi.

Các đinh bộ không bao giờ kê khai hết tất cả số đàn ông trong làng vì ngoài dân

đinh còn có một số người là dân ngoại tịch, dân lậu, những người bần cùng, vô

sản, không thể đánh thuế cũng như những người mới tới làng định cư.

Do tổ chức xã hội Việt Nam căn bản dựa trên xã, thôn nên triều đình không đòi hỏi người dân phải trả thuế trực tiếp mà giao cho làng lo việc thuế

má và sưu dịch, không cần biết làng sẽ phân chia trách nhiệm giữa các dânlàng ra sao Mỗi làng hưởng quyền tự trị rất lớn, tự họ cai trị theo những tục

lệ riêng ghi trong hương ước của làng Hội đồng Kỳ mục trông coi tất cả

công sản (tài sản công) và thuế khóa, đê điều, trị an họ cũng phải lo phân

phối công điền (ruộng công) giữa các dân đinh mỗi kỳ quân cấp và chỉ định thanh niên đi lính.

Về thuế nhân đinh và thuế ruộng, Nhà Nguyễn xoá bỏ tất cả chế độthuế khoá cũ của Tây Sơn để đặt lại thuế khoá mới nặng hơn thời trước VuaGia Long cho sửa lại hộ tịch và điền tịch đã hư hỏng qua thời nội chiến Hộtịch phân ra 9 hạng, tuỳ từng hạng mà nộp thuế toàn bộ hay được miễn giảmmột nửa hoặc miễn trừ cả sưu thuế lẫn sai dịch Thuế đinh nhà Nguyễn đặc

biệt đánh nặng lên dân Thanh Nghệ và Bắc Hà Dân công nghệ thì nộp thuế

sản vật Thời Minh Mạng thì định lại thuế điền, chia cả nước ra 3 khu vực để

đánh thuế Thuế điền thì dân Thanh Nghệ và Bắc Hà cũng bị nặng hơn ở các

miền khác Theo thống kê của bộ Hộ thì số đinh năm đầu đời Gia Long là992.559 người, cuối đời Thiệu Trị là 1.024.380 người Về điền thổ thì đầuđời Tự Đức có 3.398.584 mẫu ruộng và 502.672 mẫu đất

Trang 25

Mỗi người dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch cho triều đình Lao dịchthường là để làm các mục đích, xây sửa hệ thống đê điều, kênh rạch, sôngngòi; xây đắp các thành lũy; xây dựng các cung điện cho hoàng gia Trên thực

tế, người dân phải lao dịch khá nặng trong thời gian vương triều Nguyễn xâydựng các cung điện, lăng tẩm, dinh thự, Ví dụ năm 1807, ngay khi kinhthành Huế vừa được xây xong, vua Gia Long lại huy động hàng nghìn dânđinh và binh lính tiếp tục sửa chữa và tu bổ thêm trong một thời gian dài VuaMinh Mạng cũng tiếp tục công việc xây dựng kinh đô Vua Thiệu Trị thìkhông tập trung xây dựng kinh đô nữa, nhưng, trong một cuộc tuần du lớn raBắc Kì năm 1842, người dân đã phải xây 44 hành cung cho một phái đoànđông đến 17.500 người, 44 con voi và 172 con ngựa của nhà vua Theo nhậnxét của giáo sĩ Pháp Guérard: " sự bất công và lộng hành làm người ta rênxiết hơn cả thời Tây Sơn: thuế khóa và lao dịch đã tăng lên gấp ba" Trongdân gian đã xuất hiện các bài vè, bài ca miêu tả sự nặng nề của chế độ lao

dịch, ví dụ bài "Tố khuất khúc" của dân Sơn Nam Hạ có câu:

Binh tài hai việc đã xong, Lại còn lực dịch thổ công bao giờ.

Một năm ba bận công trình, Hỏi rằng mọt sắt dân tình biết bao

* Đối ngoại với các nước lân bang.

Cũng như các triều đại trước, nước đầu tiên mà Gia Long tiến hànhngoại giao là Trung Quốc Tháng 5 năm 1802, sau khi lên ngôi vua, Gia Longcho một đoàn sứ giả đem đồ cống sang Quảng Đông cầu phong triều đìnhTrung quốc Dẫn đầu đoàn sứ giả là Trịnh Hoài Đức chánh sứ, Ngô NhânTĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn là phó sứ Đoàn sứ giả sang Quảng Tây,quan lạinhà Thanh ở đây nhận chuyển đồ cống lên Bắc Kinh, còn giữ đoàn sứ ởlại Quảng Tây chờ lệnh triều đình có cho sứ giả lên Bắc Kinh triều yết haykhông Sứ đoàn này chưa hồi hương thì cuối năm đó vua Gia Long tiếp tục cử

Trang 26

Binh bộ Thượng thư là Lê Quang Định sang cầu phong vua Gia Khánh nhà

Thanh đổi quốc hiệu là Nam Việt Sau những tranh luận về tên gọi vì nhà

Thanh ngại nhầm lẫn với nước Nam Việt xưa nằm ở Lưỡng Quảng và cùngđồng ý đảo ngược lại thành Việt Nam, vua Thanh cho Tổng đốc Quảng Tây là

Tề Bố Xâm sang làm lễ tấn phong cho Gia Long là Việt Nam quốc vương, ấn

định thể lệ tiến cống hai năm một lần và cứ bốn năm một lần Việt Nam sẽphái sứ bộ sang làm lễ triều kính

Ngoài Trung Quốc, nhà Nguyễn còn qua lại với Xiêm La Dù có xung đột từ thời kỳ trước đó đến khi Gia Long nắm quyền, việc giao thiệp giữa triều Gia Long và Xiêm La vẫn giữ được sự hòa hảo Từ năm

1802 trở đi hai bên vẫn có sự sứ bộ qua lại trao đổi thân thiện và tặng phẩm Tại Ai Lao, Việt và Xiêm cùng đặt ảnh hưởng, Quốc vương Ai Lao xin thần phục cả Việt lẫn Xiêm Dân vùng Cam Lộ, dân ở các vùng cao nguyên hai tỉnh Thanh Nghệ, người Thượng (tức người Rhadé) ở các nước Thủy Xá và Hỏa Xá cũng có cống phẩm đến để tỏ lòng tuân theo chính quyền của triều Nguyễn Thời vua Minh Mạng, nhiều xứ ở Ai Lao xin thuộc quyền bảo hộ của Việt Nam Các vùng nay là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam Môn và Savannakhet giáp với các tỉnhThanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, đều xin làm nội thuộc và trở thành các châu, phủ của Việt Nam Còn với Chân Lạp, khi vua Gia Long lên ngôi, nước Cao Miên tuy mất Thủy Chân Lạp cho người Việt nhưng vẫn phải chịu thần phục Thời Minh Mạng, sau khi phá được quân Xiêm, Tướng Trương Minh Giảng và tham tán Lê Đại Cương lập đồn đóng quân ở gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp.

* Với phương Tây

Năm 1803, Anh Quốc sai sứ là Robert sang xin cho mở cửa hàng buônbán ở Trà Sơn, thuộc Quảng Nam Vua Gia Long không nhận đồ, và cũngkhông cho mở cửa hàng Sau người Anh còn đưa thư sang hai ba lần nữa,nhưng vẫn bị từ chối Đối với nước Pháp, vua Gia Long có thiện cảm hơn do

Trang 27

khi ông còn gian truân có nhờ ông Bá Đa Lộc giúp đỡ Khi chiến tranh kếtthúc, các ông Chaigneau, Vannier và Despiau làm quan tại triều, Gia Long chomỗi người 50 lính hầu và khi chầu thì không cần lạy Hoàng đế Năm 1817,chính phủ Pháp phái tới Việt Nam chiếc tàu Cybèle để thăm dò bang giao.Thuyền trưởng là Achille De Kergariou nói rằng vua Louis XVIII sai sang xinthi hành những điều ước do Bá Đa Lộc ký năm 1787 về việc nhường cửa ĐàNẵng và đảo Côn Lôn Vua Gia Long sai quan ra trả lời rằng những điều ước

ấy nước Pháp trước đã không thi hành thì nay bỏ, không nói đến nữa

Tuy nhiên, sự bành trướng của Châu Âu ở Đông Nam Á khiến GiaLong e ngại, nhất là sau khi nước Anh chiếm được Singapore Nhà vua thấyrằng cần phải giao hảo với người Tây phương nhưng không thể biệt đãimột quốc gia đặc biệt nào Năm 1819, John White, một thương gia Hoa

Kỳ tới Gia Định và được hứa hẹn sẽ dành cho mọi sự dễ dàng khi buôn bán ởViệt Nam Vua Minh Mạng không có cảm tình với người Pháp như thái độchung của người Á Đông lúc đó, coi người Âu Châu là bọn man di, là quânxâm lược Ngoài ra ông cũng không thích cảCông giáo của Châu Âu Trongthời kỳ Minh Mạng nắm quyền, tín đồ Công giáo bị đàn áp quyết liệt vàcác giáo sĩ nước ngoài đã so sánh ông với hoàng đế Nero của Đế quốc La

Mã - một hoàng đế từng tàn sát hàng loạt giáo dân Công giáo Với nhữngngười Pháp đã từng giúp vua Gia Long, Minh Mạng tỏ thái độ lạnh nhạt nênkhi Chaigneau trở lại Việt Nam không được trọng dụng nữa Minh Mạng choChaigneau hay rằng không cần phải ký thương ước giữa hai chính phủ, ngườiViệt Nam vẫn đối xử tốt đẹp với người Pháp là đủ, ông chỉ thỏa thuận muabán với người Pháp nhưng không chấp nhận xây dựng đặt quan hệ ngoại giaochính thức với nước Pháp, quốc thư của Pháp xin cho ông Chaigneaulàm Lãnh sự Pháp ở Việt Nam không được nhà vua đếm xỉa đến Cũng theođường lối của hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị, vua Tự Đức khước từ mọiviệc giao thiệp với các nước ngoài, dầu việc giao thiệp chỉ nhằm phục vụ

Trang 28

thương mại Năm 1850 có tàu của nước Mỹ vào cửa Hàn có quốc thư xinthông thương nhưng không được tiếp nhận.

Từ năm 1855 các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha nhiều lần có tàu vàocửa Hàn, cửa Thị Nại và Quảng Yên xin thông thương cũng không được Saukhi Gia Định bị người Pháp chiếm, việc ngoại giao giữa triều đình với cácnước phương Tây khó khăn, Tự Đức mới thay đổi chính sách, đặt ra BìnhChuẩn Ty để lo buôn bán và Thượng Bạc Viện để giao dịch với người nướcngoài nhưng không có kết quả vì những người được ủy thác vào các việc nàykhông được học gì về ngoại giao

* Văn hóa-giáo dục

Vua Gia Long rất đề cao Nho học, cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở Kinh thành

Huếđể dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có

học, có hạnh ra làm quan Cũng trong năm này, Gia Long cũng cho ban hànhhai đạo dụ về việc mở các trường ở các tỉnh, ấn định nhân viên giáo giới và

chương trình học chế đồng thời tái lập lại các khoa thi ở các trấn Ở mỗi trấn

có một quan Đốc Học, một phó Đốc Học hay Trợ Giáo Cứ tháng 10 hàngnăm triều đình mở một kỳ thi Theo thông lệ cứ ba năm triều đình mở

khoa thi Hương ở các địa phương Những người trúng cao ở khoa thi Hương gọi là cử nhân, trúng thấp gọi là tú tài Năm sau ở Kinh đô mở khoa thi

Hội tại bộ Lễ, những cử nhân năm trước khi ứng thí, nếu trúng cách thì được

tiếp tục thi Đình ở trong điện nhà vua để lấy các bậc Tiến sĩ.

Trong dân chúng, việc học tập có tính chất tự do hơn Bất kỳ người nào

có học lực kha khá cũng có thể mở trường tư thục để dạy học Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học Theo ông Trần Trọng

Kim thì người Việt Nam vốn chuộng sự học, cho nên người đi học cũng

Trang 29

nhiều.Dù vậy, việc học tập càng lúc càng thoái hóa Nhiều người học chỉ để ralàm quan Trần Trọng Kim cho rằng:

“Bao nhiêu công phu của người đi học chú trọng vào sự học cho nhớ

những sách Tứ Thư, Ngũ Kinh cùng những lời thể chú của tiền nho trong

những sách ấy và học thêm mấy bộ sử nước Tàu Còn sự luyện tập hàngngày, thì cốt tập cho thạo thuộc các lề lối ở chỗ khoa trường là: kinh nghĩa,

tứ lục, thi phú, văn sách Ấy là dùng hư văn mà xét tài thực dụng, đem sựhoa mỹ làm mực thước đo tài kinh luân Bởi vậy ai hay kinh nghĩa đã nghĩmình hơn người, ai tài thi phú đã tưởng mình giỏi nghề trị nước Việc đời thìtối tăm mờ mịt mà lại tự phụ và kiêu căng, cho thiên hạ như rơm rác, coimình như thần thánh

Sự học của mình đã hư hỏng như thế, những hủ tục lại ăn sâu vào trí

não, thành ra một thứ cố tật không sao chữa được Đại khái, cái trình độ của

bọn sĩ phu ở nước ta lúc bấy giờ là thế, cho nên vận nước suy đến nơi mà hồn

người vẫn mê muội ở chỗ mơ màng mộng mị Bọn sĩ phu là người có học,

làm tai làm mắt cho mọi người mà còn kém cỏi như thế, thì bảo dân gian

khôn ngoan làm sao được”

Trang 30

Hình 2 Ống quyển, ống bút, nghiên mực, hòm sách- những "đồ nghề"

của một sĩ tử thời Nguyễn

Một trong nhưng tai tiếng và gần như là căn bệnh của mọi vua, chúasáng nghiệp gian nan và lâu dài là sát hại công thần Những người có côngnhư Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường đều bị giết hại giữa lúc GiaLong đang trị vì.Nguyễn Văn Thành nguyên là người Thừa Thiên vào GiaĐịnh đã hai ba đời, theo Nguyễn Ánh từ những ngày đầu vào chịu muôn lỗigian truân cuàng chủ tướng.Nguyễn Văn Thành có tài lập được nhiều cônglớn, đứng đầu hàng công thần Gia Long lên ngôi giao Nguyễn Văn Thànhlàm Tổng trấn Bắc Thành, tình hình đất Bắc yên ổn sau nhiều năm loạn lạcliên miên Sau đó Thành được triệu về kinh lãnh chức Trung quân Thành vốn

có tài trước thuật nên được giao làm tổng tài bộ quốc triều hình luật và biênsoạn quốc sử Con trai ông là Nguyễn Văn Thuyên đỗ cử nhân, là người hâm

mộ văn chương Nhân Thuyên làm thơ ngâm vịnh với bạn bè, lời lẽ khingông, các đối thủ cho Thuyên vốn ngầm đó kị công lao của Thành, liền vucho Nguyễn Văn Thành có mưu đồ thoán đoạt ngôi vua, cha con Nguyễn VănThành cùng bị hạch tội Thuyên bị giam, Thành bị triều thần nghị tội tử Saubuổi triều kiến, Thành chạy theo nắm lấy áo vua, kêu khóc thảm thiết: Thầntheo bệ hạ từ nhỏ đến bây giờ nay chẳng có tội gì mà bị người ta cấu xé Bệ

hạ nỡ lòng nào ngồi nhìn người ta giết thần mà không cứu.Gia Long khôngnói gì, giật áo ra, đi vào cung, từ đó không cho Thành vào chầu nữa Lê VănDuyệt đem Thuyên ra tra khảo, bắt phải nhận tội phản nghịch, Thành sợ uốngthuốc độc tự tử.Thuyên bị chém Bậc công thần thứ 2 là Đặng Trần Thường

có tài văn học, đã giúp Nguyễn Ánh từ những ngày đầu, làm đến Binh Bộthượng thư Sau vì bị hạch tội làm sắc phong cho Hoàng Ngũ Phúc làm Phúcthầ bị án giảo Âu đây là một thứ luật đối với những người không biết dừngchân trước bả công danh.Tháng một năm 1818 vua không được khỏe,, Hoangthái tử và cận thần vào hầu, vua hạ chiếu cho Hoàng Thái tử quyết đoán việcnước, tâu lên vua sau.Tháng Mười hai, bệnh nguy kịch, vua gọi Hoang Thái

Trang 31

tử và các hoàng tử và địa thần Lê Văn Duyệt, Phạm Văn Hưng vào hầu Vuacho bày ấn, ngọc, cờ, gươm trên án vàng trước gường ngự rồi dụ Hoàng Thái

tử rằng: Đấy là cơ nghiệp gian nan của trẫm, nay giao cho con, con nên cẩnthận giữ gìn.Hoàng tử cùng tước công, đại thần, khuyên nhà vua gắng gượngthuốc thang, an tâm tĩnh dưỡng, chớ nên lo lắng gì nhiều… Vua nói: Điều nàybọn ngươi không biết đâu? phần truyền ngôi là việc lớn xưa nay, hôm nay nóiđược mà không nói, ngày khác chết thì nói sao kịp, Vua liền gọi thái tử đếntrước giượng dụ rằng: Nay việc lớn của thiên hạ đã định rồi Ta cũng sắp chết,không nói gì, chỉ có việc là ngày sau phải cẩn thận, chớ nên gây hấn ngoàibiên Nói rồi vua sai Hoàng Thái tử lấy giấy bút chép lại lời đó Thái tử ngậpngừng muốn tránh chữ băng, vua liên càm bút phê vào Ngày Đinh Mùi thángMười hai vua băng ở điện Trung Hòa thọ 59 tuổi Gia Long tiếp tục ngôichúa trong 25 năm, làm vua cả nước 18 năm tổng cộng 43 năm Gia Long có

2 vợ chính: thứ nhất là Thế tổ Thừa Thiên Cao hoàng hậu họ Tống, ngườihuyện Tống Sơn, Thanh Hóa, con gái Qúy Quốc công Tống Phúc Khuông.Nguyễn Phúc Ánh cưới bà làm vợ năm 18 tuổi, người cung kính, cẩn thanh,phép tắc, lễ độ Bà sinh được 2 hoàng tử, con cả là Chiêu chết sớm; con thứ làHoàng tử Cảnh từng theo Bá Đa Lộc làm con tin sang cầu viện Pháp rồi vềnước lập làm Thái tử, sau bị bệnh đậu mùa, mất năm Tân Dậu Bà thứ 2 làThuận Thiên Cao hoàng hậu họ Trần, người huện Hương Trà, phủ ThừaThiên, con gái Nguyễn Ánh từ năm Giap Ngọ (1774), năm Kỷ Dậu đượcphong là Tả cung thần, hiệu Nhị phi.Bà sinh được 4 hoàng tử: Nguyễn PhúcĐảm (sau lên ngôi lấy hiệu là Minh Mệnh), Nguyễn Phúc Đài (Kiến AnVương); Nguyễn Phúc Hiệu (mất sớm), Nguyễn Phúc Thuấn (Thiệu Hòa quậnvương) Ngoài 6 người con với 2 người vợ chính đã kể trên Gia Long còn có

7 người con trai tổng cộng 13 hoàng tử, 18 công chúa

Trang 32

Hình 3 Một khẩu đại bác của quân đội nhà Nguyễn

ở thành Gia Định xưa

Hình 4 Binh lính người Việt thời Nguyễn

Trang 33

2.2 MINH MỆNH HOÀNG ĐẾ (1820-1840)

Niên hiệu:Minh Mệnh

Vua húy là Hiệu,lại có tên là

Đảm, sinh ngày 23 tháng Giêng,

năm Kỷ Dậu (1789), là con thứ 4

của vua Gia Long Tháng Giêng

năm Canh thìn (1820), Hoàng Thái

tử Đảm lên ngôi vua, đặt quốc hiệu

là Đại Nam niên hiệu là Minh

Mệnh, khi ấy 30 tuổi

Hình 5 Vua Minh Mạng (1820-1840)

Minh Mệnh có tư chất thông minh, hiếu học, năng động và quyết đoán

Từ khi lên ngôi, ông ra coi chầu rất sớm, xem xét mọi việc trong triều và tựtay “châu phê” rồi mới cho thi hành- Thuật ngữ “châu phê” bắt đầu cố từ đây.Minh Mệnh muốn quan lại các cấp phải có đức độ và năng lực, nên khi mớilên ngôi đã đặt ra lệ mà về sau không ai thực hiện nổi

* Tổ chức hành chính

Để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, năm 1831-1832nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn,đổi các dinh, trấn trấn thành tỉnh Đây là lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnhxuất hiện ở Việt Nam Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn từ Quảng Trị trở rathành 18 tỉnh, và vùng còn lại ở phía Nam được chia làm 12 tỉnh Thừa Thiên,nơi toạ lạc của kinh đô Phú Xuân, là phủ trực thuộc Trung ương Cả nướcđược chia làm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên

Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (mỗi người phụ trách 2-3 tỉnh và chuyêntrách 1 tỉnh) và Tuần phủ (dưới Tổng đốc, phụ trách chỉ 1 tỉnh) Giúp việc có

Bố chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về anninh, luật pháp Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh Các quan chức đứng

Trang 34

quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn Hệ thống chính quyềnđược phân biệt rõ rệt giữa Trung ương và địa phương, và trong hệ thống nàynhà vua, người đứng đầu đất nước, nắm nhiều quyền lực hơn hẳn so với cácthời kỳ trước.

Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã Quan chức của triều đình chỉphân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quảntrị Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hộiđồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trongtổng Nhìn chung, cơ cấu hành chính của các tổng, xã được tổ chức khá chặtchẽ để triều đình dễ dàng quản lý và phản ứng mau lẹ khi có sự biến xảy ra

Đối với vùng thượng du và với các khu vực sinh sống của các dân tộcthiểu số, Minh Mạng thực hiện nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với cácvùng miền xuôi Năm 1829 ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ ti (các tùtrưởng của dân tộc thiểu số) mà cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địaphương làm Thổ tri các châu huyện Sau đó, Minh Mạng còn đặt thêm mộtchức lưu quan do người Kinh nắm giữ để khống chế các vùng này tốt hơn vàtiến hành thu thuế như ở miền xuôi Tuy nhiên, do phản ứng của người dânđịa phương, vua Tự Đức sau đó đã bãi bỏ chế độ lưu quan

Tính đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam có 98 phủ bao gồm 342 huyện và châu.Đối với những hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vua Gia Long từnăm 1816 đã chính thức ra lệnh tiếp thu Hoàng Sa, cắm cờ trên đảo và đothuỷ trình Sang triều Minh Mạng, nhà Nguyễn cho xây đền, đặt bia đá, đóngcọc, và trồng cây Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụhơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo

vệ hai quần đảo Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Phápvào Đông Dương Từ thập niên 1890 chính quyền Bảo hộ nhân danh triềuđình Huế của nhà Nguyễn cũng có dự định dựng ngọn hải đăng để khẳng địnhchủ quyền của Pháp trên quần đảo Hoàng Sa nhưng đồ án không thực hiệnđược và mãi đến năm 1938 mới có lực lượng chính thức chiếm đóng quần đảo

Trang 35

này Dù vậy khi nhà Thanh gửi thuyền xâm phạm Hoàng Sa vào những nămđầu thế kỷ 20 thì Bộ Ngoại giao Pháp đã có công văn phản đối Cuộc tranhchấp này kéo dài cho đến khi người Pháp mất chủ quyền ở Đông Dương vàvẫn chưa kết thúc.

Quan lại ở Thành, Dinh, Trấn, văn từ Hiệp trấn, Cai bạ, Ký lục, Thamhiệp; võ từ thống quản cơ đến Phó vệ úy…, ai được thăng điệu, bổ nhiệm…đều cho đến kinh gặp vua trước khi nhậm chức để nhà vua hỏi han công việc,kiểm tra năng lực và khuyên bảo… Minh Mệnh là người ham hiểu biết,thường khi tan chầu, nhà vua cho đòi một vài đại thần tới bàn các việc kinh

lý, hỏi sự tích đời xưa, danh nhân và phong tục các nước xa lạ Nhiều đêmvua thắp đèn xem chương, sớ đến canh hai, canh ba mới nghỉ Vua thường nóivới triều thần: Lòng người ai chả muốn yên, hay gì sinh sự để thay đổi luôn,những lúc trẻ khỏe mà không biết sửa sang mọi việc, đến lúc già yếu mới mỏimệt mong làm gì được nữa Bởi thế trẫm không dám lười biếng bất kì lúc nào

là người tinh thâm nho học, sùng đạo Khổng Mạnh,Minh Mệnh rất quan tâmđến học hành khoa cử, tuyển chọn nhân tài Dựng Quốc Tử Giám, đặt chức

Tế Tửu và Tư nghiệp năm Tân Tị (1821), mở lại mỗi năm một khoa thi nayrút xuống 3 năm: các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi Hương; Các năm Thìn,Tuất, Sửu, Mùi thi Hội thi Đình Vua còn cho đặt đốc học ở Gia Định thành,dùng thầy giáo người Nghệ An là Nguyễn Trọng Vũ làm phó đốc học đểkhuyến khích việc học tập ở Nam Bộ Minh Mệnh thường nói: Người GiaĐịnh vốn tính trung nghĩa nhưng ít học, do đó hay tức khí với nhau Nếu đượcbậc nho học làm thầy dạy bảo cho điển lễ nhượng thì dễ hóa,làm thiện màthành tài sẽ nhiều đó Thời đó ở Gia Định chỉ có Trịnh Hoài Đức có học, đượcvua rất tin dùng, cho làm Hiệp điện Đại học sĩ, làm Thượng thư bộ lại kiêmThượng thư bộ binh Minh Mệnh đặc biệt chú trọng đến học thức Năm NhâmNgọ (1822), Lê Văn Liêm được Thự tiền quân Trần Văn Năng tiến cử làm Triphủ Ninh Giang, bộ Lại đưa vào bệ kiến, vua xét hỏi, Liêm đáp là ít học, Vuanói: Tri phủ giữ chính lệnh trong một phủ, không học thì không rõ luật lệ, lỡ

Trang 36

khi xử sai thì pháp luật khó dung, như thế là làm hại chứ không phải là yêu.Thế là Liêm không được bổ dụng Nhà vua đã có lần công bố thuất dùngngười rất chí lý: Nay dùng người không ngoài hai đường là khoa mục và tiến

cử, người giỏi khoa mục không chắc đã giỏi chính sự Nhưng cũng chưa ai họnuôi con rồi sau mới lấy chồng Chính sự cốt nuôi dân, muốn yên dân thìđừng phiền nhiễu dân; làm quan phủ huyện không tham không nhiễu thì chính

sự có khó gì đâu! nếu không thế thì văn học dẫu nhiều há dùng làm gì

Chế độ tiền, lương cho quan lại cũng được quy định khá chi tiết,, từChánh Nhất phẩm đến tòng Cửu phẩm cách nhau chừng 18 bậc, tiền lươngcũng chênh nhau khoảng 18 đến 20 lần Ngoài ra, Tri phủ, đồng Tri phủ, Trihuyện, Tri châu còn có khoản tiền “dưỡng liêm” từ 20 đến 50 quan tùy theocương vị khác nhau, nhà vua nghiêm trị bọn quan lại tham nhũng Có viênquan không dùng thước để gạt thăng đong thóc thuế, thường dùng tay để dễ

bề lạm dụng, biết chuyện nhà vua liền sai chặt tay tê lại đó Minh Mệnh rấtquan tâm đến võ bị, đặc biệt là thủy quân Ngay những năm đầu lên ngôi, vua

đã sai người tìm hiểu cách đóng tầu của châu Âu và quyết tâm làm cho ngườiViệt tự đóng được tàu theo kiểu Tây Âu và biết lái tàu vượt đại dương, cácquy chế luyện tập thủy quân, khảo sát vị trí bờ biển, hải cảng cũng được chú

ý Hàng năm nhà vua thường phái nhiều tàu biển vượt sang các nước và cáccảng lớn vùng biển Đông như Jakarta, Singapore, Malaysia… để bán hàng,mua hàng, luyện tập đi biển và xem xét tình hình các nước Minh Mệnh đãcho hoàn chỉnh hệ thống đê điều Bắc Bộ, đặt quan khuyến nông, khai hoangven biển Bắc Bộ, lập hai huyện mới Kim Sơn và Tiền Hải Công cuộc khaihoang và thủy lợi ở Nam Bộ cũng được đẩy mạnh Minh Mệnh đã thử nghiệmgiải phá bỏ đê phái nam Hà Nội…, đào sông thoát lũ Cửu An (Hưng Yên)

Trên cơ sở đã có từ thời Gia Long, Nay Minh Mệnh củng cố và hoànthiện hơn bộ máy quản lý đất nước, đặt nội các trong cung điện để khi cần,vua hỏi han và làm giấy tờ: biểu sắc, chế cáo năm kỷ Sửu (1829); đặt cơ mật

Trang 37

viện năm Giáp Ngọ (1834) dùng 4 đại thần, đeo kim bài để phân biệt chức vị.

Cơ mật viện cùng vua bàn bạc và quyết định những việc quan trọng nhất

* Quân đội

Minh Mạng lấy phương Tây làm kiểu mẫu cho việc tổ chức quân đội,hướng đến việc quân cần tinh nhuệ, không cần nhiều, bỏ bớt số lượng ngườicầm cờ từ 40 người xuống 2 người trong đội ngũ đơn vị 1 vệ (500người) Phương thức tác chiến được các học giả Mãn Thanh ghi nhận là giốnghệt kiểu Pháp, do trong quân đội Minh Mạng có thuê các sĩ quan huấn luyệnTây Dương Có thể nói, quân đội nhà Nguyễn thời bấy giờ là lực lượng quân

sự tân tiến hiện đại nhất ở khu vực Đông A, vượt xa các nước láng giềng nhưTrung Hoa, Thái Lan, Campuchia

Sang thời Tự Đức, công tác quốc phòng của nhà Nguyễn có sự tươngphản rõ rệt với các triều trước Một trong các lý do khiến tình hình quân độisuy sút là vấn đề tài chính Vũ khí và trang thiết bị làm mới gần như không

có Trang bị bộ binh rất lạc hậu: 50 người mới có 5 súng, mỗi năm chỉ tập bắn

1 lần 6 viên đạn Vũ khí được bảo trì cũng kém Về thuỷ binh, không tàu hơinước nào được đóng mới, thuỷ quân thậm chí không đủ khả năng bảo vệ bờbiển chống hải tặc Việc giảng dạy binh pháp không chú trọng tới sách vởphương Tây nữa mà quay trở lại với Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo.Đời sống quân lính không được quan tâm thoả đáng, lương thực lại bị ăn bớt

Do đó tinh thần chiến đấu của quân sĩ không cao Quan điểm khoa học quân

sự của vua quan nhà Nguyễn không hề vượt quá khuôn khổ của khoa họcquân sự phong kiến Việc không bắt kịp với thành tựu mới của khoa họcphương Tây thời Tự Đức khiến quân sự Việt Nam bị lạc hậu nhiều Do đó,khi người Pháp vào xâm lược Việt Nam (1858), khoảng cách về trang thiết bịgiữa quân đội nhà Nguyễn và quân Pháp đã khá xa

* Văn học

Trang 38

Thời vua Minh Mạng, ông muốn canh tân việc học hành thi cử nhưng

lại không biết tiến hành ra sao bởi triều thần của ông phần nhiều chỉ là

những hủ nho lạc hậu, không giúp đỡ được nhà vua một kế hoạch nào cho

quốc phú dân cường, ông nói rằng:

“Lâu nay cái học khoa cử làm cho người ta sai lầm, Trẫm nghĩ văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay những văn cử-nghiệp chỉ câu

nệ cái hư sáo khoe khoang lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp do tự đó Khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó Học như thế thì trách nào mà nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi Song tập tục đă quen rồi, khó đổi ngay được, về sau nên dần dần đổi lại

Năm Tân Mão (1831), Minh Mệnh cho tiến hành cải cách hành chínhtrên quy mô lớn, chia cả nước ra làm 31 tỉnh Từ đây, tỉnh là đơn vị hànhchính thống nhất trong cả nước có cương vực và địa hình khá hợp lý Mỗi tỉnh

có Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, An sát để trông coi công việc Các châumiền núi dựa theo đơn vị hành chính thống nhất với miền xuôi.Tuy vậy dướithời Minh Mệnh có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra với nhiều loại khác nhau.Nông dân nghèo nổi lên chống quan lại nhũng nhiễu, hà khắc như Phan BáVành ở vùng đòng bằng Bắc Bộ Cựu thần nhà Lê như Lê Duy Lương nổi lênchống lại triều đình, các tù trưởng người thiểu số như Nông Văn Vân, họQuach ở Hòa Bình, Thanh Hóa… Minh Mệnh phải cử Trương Minh Giảng,

Tạ Quang Cự, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ cầm quân đi dẹp loạn Mặc dù

có di chiếu của vua cha: “phải cẩn thận, chớ gây hấn ngoài biên” và sớ củathượng thư bộ Binh Nguyễn Tường Vân trong di biểu trước khi ông chếttháng Chín năm Canh Thìn(1820) rằng: “đến như nước La Xiêm, nếu có lỗinhỏ cũng cần bỏ qua để cùng nhau làm đạo lớn, thì không những là báo nghĩatiên đế dừng chân ở đấy mấy năm, mà còn tránh khỏi mối lo trăm đời của năm

kẻ bề tôi lớn ngoài biên” Minh Mệnh vẫn đưa quân ra giáp biên giới NămQúy Tỵ (1833), Lê Văn Khôi khởi binh ở Gia Định chống lại triều đình Khôisai người sang cầu cứu, người Xiêm đem quân thủy bộ sang giúp LLê Văn

Trang 39

Khôi đánh lại quân nguyễn Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân đại phá đượcquân Xiêm, đuổi ra khỏi bờ cõi Không dừng lại ở đó, năm Ât Mùi (1835) nhàNguyễn còn tiến quân sang tận Nam Vang (Phomphenh), bắt vua Chân Lạp làNặc Ông Châu đổi Chân Lạp thành Trấn Tây để cai quản Nhà Nguyễn chiếmChân Lạp khoảng 5 năm, khi Minh Mệnh mất quan quân đã bỏ Trấn TâyThành rút về An Giang.

Về đối ngoại, Minh Mệnh đặc biệt chú ý thần phục nhà Thanh Lễ thụphong của nhà vua ở thành Thăng Long được tổ chức trọng thể Ngày 10tháng 10 năm Tân Tị (1821), nhà vua dẫn đầu 1 đoàn tùy tùng có 1.782 ngườigồm hoàng thân, bá quan văn võ và 5.150 lính (tổng cộng 6.932 người) rờiPhú Xuân ra Thăng Long để nhận sắc phong của “thiên triều” Hành trình kéodài 33 ngày đêm Đoàn người đông đúc đó nằm chờ ở Thăng Long mãi khi sứThanh đến và xong lễ Thủ tục đón tiếp và chiêu đãi sứ Thanh diễn ra hết sứcchu đáo và long trọng

Đối với các nước phương Tây nhà vua lại tỏ ra lạnh nhạt và nghi kỵ.Chính sách thụ động như vậy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước MinhMệnh còn là người được ghi nhớ nhiều bởi ghép đặt tên đôi rất độc đáo GiaLong đó quy định cách viết tộc phả nhà Nguyễn: con cháu Nguyễn Hoàng vào

Nam thì chép theo họ Tôn thất Nguyễn Phúc; con cháu của Nguyễn Hoàng ở

Thanh Hóa thì thuộc về công tính họ Nguyễn Hựu Năm Qúi Mùi (1823),Minh Mệnh đã nghĩ đến chuyện tránh tranh chấp trong nội bộ hoàng gia, đảmbảo đế nghiệp lâu dài cho mình và con cháu Vua tìm ra phép đặt tên đôi kháchặt chẽ và tế nhị dễ chấp nhận đối với các hoàng tử ruột thịt Vua đã thảo ra

11 bài thơ trong đó có bài “Đế hệ thi” và 10 bài “phiên hệ thi” Mỗi bài 20chữ, chữ có nghĩa tốt và uyên bác dùng làm tiền từ cho 20 đời nối tiếp sau kể

từ Minh Mệnh Đế hệ thi có 20 chữ như sau:

“Miên, Hường, Ưng, Bửu, VinhBảo, Qúy, Định, Long, Tường

Trang 40

Hiền, Năng, Kham, Kê, ThuậtThế, Thoại,Quốc,Gia,Xương”.

Theo phép này tất cả con trai của Minh Mệnh đều phải có tiền từ

“Miên”, thêm sau do tên gia đình đặt; đến lượt mình mọi con trai của thế hệ

“Miên” đều phải có tên bắt đầu bằng “Hường” lại lấy tiền từ “Ưng” thêm sautên do gia đình tự đặt…cứ thế đến hết 20 chữ của bài thơ “đế hệ” 10 bài

“phiên hệ” cũng theo nguyên tắc trên Mục đích của việc này nhằm từ đâychia các hoàng tử vua Gia Long ra làm hai hệ: đế hệ và phiên hệ Đế hệ được

kế thừa đế nghiệp, phiên hệ là bờ rào bao quanh bảo vệ đế hệ, Khi ban bốcách đặt tên này, Minh Mệnh nói rằng: Trẫm không dám so sánh với nhà Chu

ở Trung Nguyên bói năm được 700 năm, bói đời được 30 đời Nhờ các tiên đế

ta tích nhân đức, chính sự ân huệ tốt họ Nguyễn Phúc được cội sâu gốc bền,nghiệp lớn tốt thịnh Trẫm chỉ giơ tay lên trán cầu trời cho từ nay về sau concháu ta nhận nối cơ đồ lớn, được hưởng 500 năm tức là hơn 20 đời, chẳngdám mong nhiều hơn! Cùng năm ban hành phép đặt tên này, 23 hoàng tử củavua Minh Mệnh thảy được đổi tên lấy Miên đứng đầu: Miên Tông, MiênĐịnh, Miên nghi, Miên Hoàng, Miên An…Từ đó trở đi hễ sinh thêm hoàng tửđầy 100 ngày là phải làm lễ “Bảo Kiến”(ẵm đến ra mắt vua) chiếu theo đế hệthi mà cho tên Có tên mới chấm dứt dùng tên cũ Triều Nguyễn đã thự hiện

bà “đế hệ thi” đến chữ thứ 5-“Vĩnh” thì bị cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945lật đổ Minh Mệnh có rất nhiều vợ, số chính xác thì chưa thấy có tài liệu nàonói đến, nhưng căn cứ vào câu thơ của Minh Mệnh: “Nhất dạ ngũ giao,tamhữu dậng”(một đêm ngủ với 5 bà vợ thì 3 bà có thai) và theo sử sách nhân cónăm trời hạn hán nhà vua cho rằng thâm cung có quá nhiều cung nữ khí uấttắc mà nên, nhà vua bền cho thả 100 người Với sinh hoạt như vậy và một lúcdám thả 100 người thì rõ ràng số cung nữ thường xuyên ít nhất cũng gấp bốnđến năm lần Số liêu chính xác về con số của Minh Mệnh lầ 78 hoàng nam, 64hoàng nữ, tổng cộng 142 người Trị vì 21 năm, Minh Mệnh lo toan công việcthường như một ngày, sức làm việc phải nói đáng ngạc nhiên, mội phê bảo,

Ngày đăng: 29/03/2016, 21:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2002), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến Thế kỷ XIX, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến Thế kỷ XIX
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
2. Phan Khoang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử xứ Đàng Trong
Tác giả: Phan Khoang
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 2001
4. Phan Khoang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử xứ Đàng Trong
Tác giả: Phan Khoang
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 2001
6. Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung (2008), 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: 54 vị Hoàng đế Việt Nam
Tác giả: Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân
Năm: 2008
7. Trương Hữu Quýnh (2005), Đại cương Lịch sử Việt Nam-tập I, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Lịch sử Việt Nam-tập I
Tác giả: Trương Hữu Quýnh
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2005
8. Trương Hữu Quýnh (2004), Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến 1858, Nxb ĐH Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến 1858
Tác giả: Trương Hữu Quýnh
Nhà XB: Nxb ĐH Sư phạm
Năm: 2004
9. Đinh Xuân Lâm (2007), Đại cương Lịch sử Việt Nam-tập II, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Lịch sử Việt Nam-tập II
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2007
10. Trần Đức Anh Sơn (2004), HUẾ Triều Nguyễn một cái nhìn, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: HUẾ Triều Nguyễn một cái nhìn
Tác giả: Trần Đức Anh Sơn
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2004
11. Nguyễn Thị Thạnh (2008), The French conquest of Cochin-China, 1858- 1862, [Ph.D. Thesis], Cornell University 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The French conquest of Cochin-China, 1858-1862
Tác giả: Nguyễn Thị Thạnh
Năm: 2008
12. Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1971), Lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb KHXH,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam, tập I
Tác giả: Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1971
13. Nguyễn Thế Anh (2008), Kinh tế & xã hội Việt Nam dưới các triều vua nhà Nguyễn, Nxb Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế & xã hội Việt Nam dưới các triều vua nhà Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 2008
14. Nguyễn Thế Anh (2008a), Việt Nam Thời Pháp Đô Hộ, Nxb Văn Học, ISBN 1107020003574 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Thời Pháp Đô Hộ
Nhà XB: Nxb Văn Học
15. Nguyễn Khắc Thuần (2005), Đại cương lịch sử cổ trung đại Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử cổ trung đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
Năm: 2005
16. Nhiều tác giả (2007), Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn, TP Hồ Chí Minh: Nxb Văn hoá Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn hoá Sài Gòn
Năm: 2007
17. Lê Nguyễn (2009), Nhà Nguyễn và những vấn đề lịch sử, Hà Nội: Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà Nguyễn và những vấn đề lịch sử
Tác giả: Lê Nguyễn
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2009
19. Nguyễn Phan Quang (1976), Lịch sử Việt Nam (1427-1858), quyển II, Tập 2, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam (1427-1858), quyển II, Tập 2
Tác giả: Nguyễn Phan Quang
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1976
20. Nguyễn Phan Quang (1999), Việt Nam Thế kỷ XIX, NXB Giáo Dục TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Thế kỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Phan Quang
Nhà XB: NXB Giáo Dục TpHCM
Năm: 1999
21. Nguyễn Đình Đầu (2005), Việt Nam-Quốc hiệu và Cương vực qua các thời đại, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam-Quốc hiệu và Cương vực qua các thời đại
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2005
22. Nayan Chanda (1986), Brother Enemy, Harcourt Brace Jovanovich Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brother Enemy
Tác giả: Nayan Chanda
Năm: 1986
24. Nguyễn Lương Bích (1996), Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước, Quân đội nhân dân.Đọc thêm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước
Tác giả: Nguyễn Lương Bích
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3. Một khẩu đại bác của quân đội nhà Nguyễn - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 3. Một khẩu đại bác của quân đội nhà Nguyễn (Trang 32)
Hình 4. Binh lính người Việt thời Nguyễn - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 4. Binh lính người Việt thời Nguyễn (Trang 32)
Hình 5. Vua Minh Mạng (1820-1840) - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 5. Vua Minh Mạng (1820-1840) (Trang 33)
Hình 7. Áo hoàng bào bằng hàng thượng hạng được thêu thùa tinh xảo - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 7. Áo hoàng bào bằng hàng thượng hạng được thêu thùa tinh xảo (Trang 47)
Hình 8. Phu Văn Lâu, nơi niêm yết những chỉ dụ quan trọng - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 8. Phu Văn Lâu, nơi niêm yết những chỉ dụ quan trọng (Trang 48)
Hình 9. Sơ đồ Thành Bát Quái Sài Gòn do Trương Vĩnh Ký vẽ, - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 9. Sơ đồ Thành Bát Quái Sài Gòn do Trương Vĩnh Ký vẽ, (Trang 51)
Hình 17. Trần Cao Vân - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 17. Trần Cao Vân (Trang 82)
Hình 26. Mộ cựu hoàng Bảo Đại  tại Nghĩa trang Passy, Paris. - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 26. Mộ cựu hoàng Bảo Đại tại Nghĩa trang Passy, Paris (Trang 102)
Hình 32. Vườn bia tiến sĩ trong Văn Miếu. - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 32. Vườn bia tiến sĩ trong Văn Miếu (Trang 130)
Hình 35. Ngai vàng trong điện Thái Hòa nhà vua ngồi hỏi thi đình. - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 35. Ngai vàng trong điện Thái Hòa nhà vua ngồi hỏi thi đình (Trang 131)
Hình 34. Các tân khoa nhận áo mũ vua ban - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 34. Các tân khoa nhận áo mũ vua ban (Trang 131)
Hình 36. Chùa Thiên Mụ (Huế). - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 36. Chùa Thiên Mụ (Huế) (Trang 132)
Hình 37. Ngọ Môn Huế - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 37. Ngọ Môn Huế (Trang 133)
Hình 39. Phố cổ Hội An. - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 39. Phố cổ Hội An (Trang 134)
Hình 40. Sơ đồ các công trình trong Hoàng thành Huế: - Bài thu hoạch thực tế sự thành lập vương triều nhà nguyễn
Hình 40. Sơ đồ các công trình trong Hoàng thành Huế: (Trang 135)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w