1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn theo pháp luật việt nam

105 567 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, Luật Doanh nghiệp Việt Nam phân loại công ty dựa trên hình thức pháp lý của công ty mà chưa xem xét phân loại công ty dưới góc độ công ty đối nhân và công ty đối vốn, cũng như

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ NGỌC HUYỀN

VẤN ĐỀ CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC GIỮA CÔNG TY ĐỐI NHÂN VÀ CÔNG TY ĐỐI VỐN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ NGỌC HUYỀN

VẤN ĐỀ CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC GIỮA CÔNG TY ĐỐI NHÂN VÀ CÔNG TY ĐỐI VỐN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Hồng Vân

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Ngọc Huyền

Trang 4

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI

HÌNH THỨC CÔNG TY VÀ PHÁP LUẬT CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC GIỮA CÔNG TY ĐỐI NHÂN VÀ CÔNG TY

8

1.1 Khái quát chung về công ty đối nhân và công ty đối vốn 8 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại công ty 8 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và hình thức của công ty đối nhân và công

1.2.4 Hậu quả pháp lý của việc chuyển đổi hình thức giữa công ty

đối nhân và công ty đối vốn

22

1.3 Pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và

công ty đối vốn

26

1.3.2 Nội dung của pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty

đối nhân và công ty đối vốn

28

Trang 5

1.3.3 Vị trí, vai trò của pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công

ty đối nhân và công ty đối vốn

29

1.3.4 Lược sử phát triển của pháp luật Việt Nam về vấn đề chuyển

đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

30

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

VỀ CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC GIỮA CÔNG TY ĐỐI NHÂN VÀ CÔNG TY ĐỐI VỐN

37

2.1 Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển

đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

37

2.1.1 Một số quy định chung về hình thức công ty và chuyển đổi

hình thức công ty

37

2.1.2 Những quy định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp 2014 liên

quan tới chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công

ty đối vốn

40

2.2 Một số bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành

liên quan tới chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và

công ty đối vốn và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế

50

2.2.1 Một số bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành

liên quan tới chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và

công ty đối vốn

51

2.2.2 Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế 61

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI QUY ĐỊNH VỀ CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC GIỮA CÔNG TY ĐỐI NHÂN

VÀ CÔNG TY ĐỐI VỐN

68

3.1.1 Một số định hướng hoàn thiện pháp luật 68 3.1.2 Một số giải pháp cụ thể, bổ sung quy định của pháp luật về

chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

74

Trang 6

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quy định của pháp luật 84 3.2.1 Giải pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật 84 3.2.2 Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

thuộc công tác đăng kí doanh nghiệp

86

3.2.3 Tập hợp, hệ thống hóa lại quy định pháp luật 87 3.2.4 Cần tăng cường hoạt động giải thích luật, kiến tạo án lệ 88 3.2.5 Tòa án cần có giải pháp giải quyết tranh chấp linh hoạt hơn 90 3.2.6 Cần rút gọn thời gian giải quyết yêu cầu đăng kí doanh nghiệp

và đăng kí chuyển đổi hình thức công ty

91

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật Dân sự BLTM : Bộ luật Thương mại DNTN : Doanh nghiệp tư nhân TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Công ty là một thực thể kinh doanh phổ biến trong xã hội và là hạt nhân chính thúc đẩy nền kinh tế Có thể thấy , mô ̣t công ty nổi tiếng có thể đồng thời mang hình ảnh và uy tín của nó cũng như quốc gia đó ra khắp thế giới Đứng trước nhu cầu hội nhập và phát triển kinh tế , xã hội, mỗi quốc gia đều khuyến khích việc thành lập công ty , ghi nhận đa đạng các loại hình công

ty để đáp ứng nhu cầu, khả năng hoạt động của công ty và các thành viên trong công ty cũng như ta ̣o điều kiê ̣n cho công ty ki ̣p thời thích ứng với

những thay đổi của nền kinh tế

Tại Việt Nam , luật lệ về công ty lần đầu tiên được quy định là trong

"Bộ Dân luật thi hành tại các tòa Nam án Bắc Kỳ", trong đó tiết thứ 5 (Chương IX) nói về hội buôn được chia thành hai loại là hội người và hội vốn Trong đó hội vốn được chia thành hai loại là hội vô danh (Công ty cổ phần) và hội hợp cổ (Công ty hợp vốn đơn giản) Dưới thời kì Pháp thuộc, các quy định của Bộ luật Thương mại (BLTM) Pháp năm 1807, trong đó có quy định về các loại hình công ty, được áp dụng ở cả ba kỳ tại Việt Nam Đến năm 1942, chính quyền Bảo Đại ban hành BLTM Trung phần có hiệu lực từ 25/1/1944 áp dụng tại Trung Kỳ, đã phân loại công ty thành các công ty đối nhân {bao gồm công ty đồng danh, công ty cấp vốn đơn giản và công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)} và các các công ty đối vốn (bao gồm công ty vô danh và công ty cấp vốn cổ phần) BLTM 1942 cũng có quy định về việc chuyển đổi hình thức công ty, gọi là "sự cải hóa" công ty Bấy giờ, hậu quả của sự cải hóa công ty đã được hiểu một cách sâu sắc là tiêu hủy bộ máy cũ

và thay thế bằng bộ máy mới, tức là chấm dứt sự sinh hoạt của công ty cũ

Như vậy, ngay từ khi được xây dựn g, các quy định của pháp luật về công ty đã hết sức quan tâm tới viê ̣c phân loại công ty dựa vào tính chất đối

Trang 9

nhân và đối vốn của công ty , qua đó đa da ̣ng hóa các loa ̣i hình công ty , đồng thời theo thời gian , các quy định pháp luật dầ n được bổ sung , hoàn thiện, và hình thành những quy định cho phép các công ty có thể chuyển đổi hình thức cho phù hợp với thực tế xã hô ̣i và điều kiê ̣n kinh tế Chuyển đổi hình thức công ty được hiểu là một trong những phương t hức để tổ chức lại công ty bảo đảm cho sự phát triển của công ty đáp ứng được các mục tiêu của nhà đầu tư, yêu cầu của thị trường, cũng như yêu cầu của pháp luật

Cho đến nay , Luật Doanh nghiệp 2014 hiê ̣n hành vẫn kế thừa những quy định đối với việc chuyển đổi hình thức công ty trong những trường hợp như công ty không còn đáp ứng được điều kiện về hình thức của công ty , hay công ty có nhu cầu chuyển đổi sang hình thức khác để phù hợp hơn với cách thức hoạt động cũng như xu thế chung của nền kinh t ế Tuy nhiên với sự biến đổi không ngừng của đời sống kinh tế , xã hội, cũng như những quan điểm về công ty và chuyển đổi hình thức công ty của các nhà làm luật hiện nay còn chưa đúng đắn và đầy đủ , dẫn tới các quy đi ̣nh của Luâ ̣t Doanh nghiê ̣ p nói chung và quy đi ̣nh về chuyển đổi hình thức công ty nói riêng đã dần bô ̣c lô ̣ không ít những ha ̣n chế Mô ̣t trong những hạn chế đó là Luật Doanh nghiệp hiện hành chưa quy định đầy đủ các trường hợp chuyển đổi hình thức công ty,

và cụ thể hơn là chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

Về bản chất, việc chuyển đổi hình thức công ty là sự sửa đổi các thỏa thuận ban đầu của các thành viên sáng lập nên công ty, và nền tảng của việc chuyển đổi hình thức công ty nói chung chính là quyền tự do kinh doanh Tuy nhiên Luật Doanh nghiệp 2014 chưa quy định đầy đủ các trường hợp chuyển đổi hình thức công ty nói chung và chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói riêng

Thực tiễn xảy ra trường hợp một công ty hợp danh (công ty đối nhân) không còn đảm bảo được các điều kiện về hình thức, hoặc có nhu cầu chuyển đổi sang loại hình công ty cổ phần (công ty đối vốn) khác để đáp

Trang 10

ứng nhu cầu kinh doanh, song pháp luật chưa có quy định cho trường hợp chuyển đổi này, gây khó khăn cho công ty trong việc hoạt động Như vậy, Luật Doanh nghiệp chưa đảm bảo được quyền tự do thay đổi hình thức công

ty nói chung và chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói riêng, hay nói một cách khác là hạn chế quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tư

Do vậy, nghiên cứu về việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn để chỉ ra những vấn đề pháp lý của việc chuyển đổi

và hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn là vấn đề thiết thực có tính ứng dụng cao cả về mặt thực tiễn

và lý luận Đó là lý do mà tôi lựa chọn đề tài: "Vấn đề chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn theo pháp luật Viê ̣t Nam " làm đề

tài luâ ̣n văn tha ̣c sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề pháp lý về chuyển đổi hình thức công ty tuy được nghiên cứu từ lâu song vẫn luôn là vấn đề được tranh luâ ̣n và nghiên cứu Đến nay, nếu không tính các sách chuyên khảo , đã có một số công trình khoa ho ̣c có liên

quan tới vấn đề này , tiêu biểu nhất là luâ ̣n án Tiến sĩ : "Chuyển đổi hình thức công ty theo pháp luật Viê ̣t Nam " của Hoàng Anh Tuấn (2012) Luận án đã

phân tích cơ sở lý luận pháp luật về chuyển đổi hình thức công ty ở Việt Nam, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển đổi hình thức công ty, cũng như tìm ra các bất cập cụ thể cần sửa đổi

và kiến nghị những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam

về việc chuyển đổi hình thức công ty

Tác giả Hoàng Tuấn Anh cũng đồng thời có rất nhiều bài viết khoa học được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành với nội dung liên

quan tới vấn đề chuyển đổi hình thức công ty như: "Bàn về việc chuyển đổi hình thức các Công ty Trách nhiệm hữu hạn"; "Những bất cập của các quy

Trang 11

định chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty TNHH Một thành viên", "Hợp đồng chuyển đổi hình thức công ty vô hiệu"

Trong các xuất bản phẩm bằng tiếng Việt ở Việt Nam cần phải kể

đến cuốn "Tổ chức công ty" của Maurice Cozian, Alain Viandier do Nguyễn

Văn Bình và Lê Thị Lý dịch và được xuất bản năm 1989 bởi Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

Ngoài ra đã có mô ̣t số bài viết , bài báo , chuyên đề tham luận khoa học khác có nội dung l iên quan tới việc chuyển đổi hình thức công ty nói chung hay chuyển đổi hình thức giữa các loại hình công ty cụ thể , tuy nhiên chưa có công trình nào phân tích sâu về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và đối vốn Do đó luâ ̣n văn nà y có tính mới chưa bi ̣ trùng lă ̣p với những công trình khác

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Phân tích, đánh giá thực tra ̣ng pháp luâ ̣t và chỉ ra những bất cập , tồn tại của các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t hiê ̣n hành về viê ̣c chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn , qua đó đóng góp những kiến nghi ̣ giải pháp hoàn thiện pháp luật

Trang 12

Làm rõ các vấn đề lý luận liên quan việc tới chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn;

Lược sử pháp luật của Việt Nam về vấn đề chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn;

Phân tích rõ thực trạng pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành liên quan tới vấn đề chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, qua đó chỉ ra bất cập, tồn tại và những nguyên nhân của các bất cập, tồn tại đó;

Đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành liên quan tới vấn đề chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, đồng thời luận văn có nhiệm vụ nêu ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quy định

về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

* Đối tượng nghiên cứu

Pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện hành liệt kê các loại hình công

ty cụ thể , đồng thời, đối với vấn đề chuyển đổi hình thức công ty , pháp luật chỉ đưa ra các quy đi ̣nh cho viê ̣c chuyển đổi từ hình thức công ty này sang hình thức công ty khác Như vậy, Luật Doanh nghiệp Việt Nam phân loại công ty dựa trên hình thức pháp lý của công ty mà chưa xem xét phân loại công ty dưới góc độ công ty đối nhân và công ty đối vốn, cũng như chưa đưa

ra được các quy định mang tính khái quát chung thể hiện được các vấn đề pháp lý của việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn Luâ ̣n văn này sẽ tâ ̣p trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan tới viê ̣c chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn như điều kiện chuyển đổi, căn cứ chuyển đổi, phương thức thức chuyển đổi hay hậu quả pháp lý của việc chuyển đổi

Trang 13

* Phạm vi nghiên cứu

Luâ ̣n văn chỉ tâ ̣p trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan tới mục đích và nhiệm vụ của đề tài Luâ ̣n văn sẽ không đi sâu vào các yếu tố kinh tế và tác đô ̣ng xã hô ̣i của đề tài

Trên thực tế, với những mục đích và lĩnh vực hoạt động khác nhau, sẽ tồn tại các loại công ty khác nhau như công ty thương mại (hay còn gọi là công ty kinh doanh) và công ty dân sự Thuật ngữ công ty đề cập trong luận văn chỉ bao gồm công ty thương mại

Ngoài ra, luâ ̣n văn có đề câ ̣p tới pháp luâ ̣t doanh nghiê ̣p Viê ̣t Nam từ trướcnăm 1990 đến nay, song dừng la ̣i ở mức đô ̣ lược sử pháp luâ ̣t Luâ ̣n văn sẽ tâ ̣p trung nghiên cứu các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t hiê ̣n hành (Luâ ̣t Doanh nghiê ̣p 2014)

5 Phương pháp luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu đề tài

Đối với phương pháp luận, luận văn sử du ̣ng phương pháp luâ ̣n của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luâ ̣t cũng như sử du ̣ng phương pháp luâ ̣n của chủ nghĩa duy vâ ̣t biê ̣n chứng , chủ nghĩa duy vâ ̣t li ̣ch sử

Đối với hoạt động nghiên cứu, luận văn sử du ̣ng các phương pháp sau: Phương pháp li ̣ch sử : Nghiên cứu các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t doanh nghiê ̣p Viê ̣t Nam từ trước giai đoa ̣n 1990 đến nay;

Phương pháp so sánh : Sử du ̣ng trong Chương 2 khi so sánh các quy

đi ̣nh của pháp luâ ̣t doanh nghiê ̣p Viê ̣t Nam qua các thời kì Phương pháp so sánh cũng được sử dụng trong chương 1 khi đề câ ̣p tới mô ̣t số vấn đề lý luâ ̣n

có liên quan tới đối tượng nghiên cứu của đề tài;

Phương pháp phân tích , quy na ̣p, diễn giải được sử du ̣ng xuyên suốt trong toàn bô ̣ luâ ̣n văn để làm rõ những vấn đề được đưa ra;

Ngoài ra, luâ ̣n văn còn sử du ̣ng mô ̣t số phương pháp khác như phương pháp giả định, phương pháp tình huống…

Trang 14

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về chuyển đổi hình thức công

ty và pháp luật chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển đổi

hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao

hiệu quả thực thi quy định về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

Trang 15

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI

HÌNH THỨC CÔNG TY VÀ PHÁP LUẬT CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC

GIỮA CÔNG TY ĐỐI NHÂN VÀ CÔNG TY ĐỐI VỐN

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY ĐỐI NHÂN VÀ CÔNG TY ĐỐI VỐN

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại công ty

Công ty có thể hiểu theo nhiều nghĩa nếu xét dưới các góc độ khác nhau Dưới góc độ kinh tế, công ty có thể được hiểu là các tổ chức chuyên thực hiện các hoạt động thương nghiệp, dịch vụ Dưới góc độ pháp lý, công ty được hiểu là sự liên kết của nhiều người để tiến hành một công việc gì đó vì mục đích kiếm lời

Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học đưa ra khái niệm về công ty Nhà luật học Kubler Cộng hòa liên bang Đức đã quan niệm rằng: "Công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một

sự kiện pháp lý nhằm tiến hành các hoạt động để đạt một mục tiêu chung nào đó" [19, tr 29] Còn theo Điều 1832 Bộ luật Dân sự (BLDS) Pháp thì công ty là một sự liên kết của hai hay nhiều người trên cơ sở hợp đồng, hoặc bởi ý chí của chỉ một người nhằm sử dụng tài sản góp vốn cho mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận

Với những cách định nghĩa như trên, có thể thấy các nhà Luật gia tại Đức hay Pháp đều quan niệm rằng công ty là một hợp đồng (sự liên kết) giữa các thành viên theo đó các thành viên cùng nhau góp vốn, cùng nhau hoạt động chung, cùng kiếm lời để chia nhau và cùng nhau chịu lỗ

Tại Việt Nam, đến nay chưa có văn bản luật nào đưa ra một khái niệm chung nhất về công ty Tuy nhiên từ Luật Công ty 1990, đến Luật Doanh nghiệp 1999, 2005 và 2014, đều có quy định công ty là một loại hình doanh nghiệp, hay một chủ thể kinh doanh, chịu sự điều chỉnh của pháp luật về doanh nghiệp

Trang 16

Bằng việc tổng hợp các quan niệm nêu trên về công ty, có thể hiểu

rằng: Công ty là một thực thể kinh doanh, được tạo lập nên bởi ý chí của một hoặc các thành viên trong công ty thông qua hợp đồng thành lập công ty, khai thác tài sản của công ty được hình thành từ vốn góp của các thành viên công

ty nhằm mục tiêu lợi nhuận hay mục đích thương mại

Với việc đưa ra định nghĩa như trên, có thể thấy công ty mang những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, công ty được tạo lập bởi ý chí và sự liên kết giữa các cá

nhân hay tổ chức là thành viên của công ty, và sự liên kết này thể hiện ở hình thức bên ngoài là một tổ chức Đặc điểm này dựa trên cơ sở hình thành cũng như ý nghĩa của sự hình thành nên các công ty, đồng thời cũng là điều kiện quan trọng cho việc tạo lập nên công ty Để đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh trong bối cảnh nền sản xuất hàng hóa đã phát triển đến mức độ nhất định, các nhà đầu tư trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau đã liên kết lại theo những hình thức nhất định và tạo ra các mô hình tổ chức kinh doanh mới, chính là các công ty kinh doanh Như vậy, ý chí, nguyện vọng của các nhà nhà đầu tư (hay các thành viên sáng lập) là điều kiện tiên quyết cho sự liên kết và tạo lập nên một công ty mới Đối với công ty TNHH một thành viên, thì ý chí thành lập công ty của chính chủ sở hữu công ty là cơ sở, tiền đề cho việc tạo lập nên công ty

Thứ hai, ý chí tạo lập, hay sự liên kết giữa các thành viên được thực

hiện thông qua một sự kiện pháp lý Thông thường, sự kiện pháp lý là việc các thành viên cùng nhau ký kết hợp đồng thành lập công ty, hợp đồng góp vốn, xây dựng điều lệ công ty, quy chế công ty… Đồng thời, tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đều có những quy định chung về trình tự, thủ tục đối với việc thành lập doanh nghiệp nói chung và thành lập công ty nói riêng

Thứ ba, các thành viên sáng lập sẽ bỏ ra một số tài sản của mình để

góp vào công ty và cùng nhau khai thác khối tài sản hình thành từ vốn góp đó

Trang 17

Tuy nhiên, vai trò của vốn góp đối với mỗi loại thành viên trong mỗi loại hình công ty là khác nhau

Thứ tư, mục đích của việc thành lập công ty là để kinh doanh có lợi

nhuận (mục đích kiếm lời) Có thể hiểu, mục đích kiếm lời là ý chí, mong muốn của công ty hay các thành viên trong công ty Ý chí, mong muốn đó luôn tồn tại và không phụ thuộc vào việc thực tế công ty đó có đang kiếm được lợi nhuận hay không

Như vậy, công ty là một thực thể kinh doanh, được tạo lập nên bởi ý chí của một hoặc các thành viên trong công ty thông qua hợp đồng thành lập công

ty, khai thác tài sản của công ty được hình thành từ vốn góp của các thành viên công ty nhằm mục tiêu lợi nhuận hay mục đích thương mại Có thể nói, công ty

có bản chất là một hành vi pháp lý, có nghĩa công ty một thành viên là một hành

vi pháp lý đơn phương, còn công ty nhiều thành viên là một hợp đồng [9]

Với đa dạng các loại hình công ty như hiện nay, sự phân loại công ty

là điều hết sức cần thiết và quan trọng Có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại công ty:

+ Căn cứ vào chế độ trách nhiệm của các thành viên, có thể phân loại công ty thành công ty có chế độ TNHH và công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn

+ Căn cứ vào hình thức pháp lý, có thể phân loại công ty thành công

ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn giản, công ty cổ phần, công ty TNHH…

+ Căn cứ dưới góc độ pháp lý, công ty được chia thành thành hai nhóm cơ bản là công ty đối nhân và công ty đối vốn Đây cũng là cách phân loại theo truyền thống Civil Law

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và hình thức của công ty đối nhân và công

ty đối vốn

1.1.2.1 Công ty đối nhân

Có thể nói, công ty đối nhân là loại hình công ty có mặt sớm nhất trong lịch sử phát triển của nền kinh tế Những quy định sơ khai về công ty

Trang 18

đối nhân đã được tìm thấy trong các bộ luật thời cổ đại như Bộ luật Hammurabi của Babylon vào khoảng năm 2300 trước Công nguyên Ở châu

Âu, Châu Á, tập quán kinh doanh của các thương nhân, sự liên kết những phường, hội người buôn là tiền đề hình thành nên hình thức công ty này Ban đầu, công ty chỉ là những liên kết giản đơn của các thương nhân quen biết nhau, và sự quen biết dựa trên yếu tố nhân thân tạo nên sự tin cậy về mặt tâm

lý, yếu tố vốn chỉ là thứ yếu Cho đến nay, công ty đối nhân vẫn là một trong những loại hình công ty được nhiều thương nhân lựa chọn

Như vậy, công ty đối nhân là những công ty mà sự liên kết dựa trên sự tin cậy của các thành viên về nhân thân, sự góp vốn chỉ là thứ yếu Một đặc điểm quan trọng của công ty đối nhân là việc tài sản của các thành viên công

ty và tài sản của công ty không có sự tách biệt Các thành viên, hoặc ít nhất một thành viên của công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty Các thành viên có tư cách thương gia độc lập và phải chịu thuế thu nhập cá nhân, bản thân công ty không bị đánh thuế

Các công ty đối nhân thường tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là công

ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản

Công ty hợp danh là loại hình công ty trong đó các thành viên (gọi là thành viên hợp danh) cùng nhau tiến hành hoạt động thương mại dưới cùng một tên chung và tất cả các thành viên đều phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty Chính đặc điểm liên đới chịu trách nhiệm

vô hạn của công ty hợp danh đòi hỏi các thành viên phải thật sự hiểu biết nhau và tin tưởng lẫn nhau (tính đối nhân) Công ty hợp danh có thể coi là công ty đối nhân điển hình và là loại hình công ty xuất hiện sớm nhất trong lịch sử

Công ty hợp vốn đơn giản là loại hình công ty có ít nhất một thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ (thành viên nhận vốn), các thành viên khác chỉ chịu TNHH trong phạm vi số vốn góp vào công

Trang 19

ty (thành viên góp vốn) Về cơ bản, công ty hợp vốn đơn giản cũng giống như công ty hợp danh về tính đối nhân (có thành viên hợp danh chịu trách nhiệm

vô hạn về khoản nợ của công ty) Tuy nhiên, ngoài thành viên hợp danh thì công ty hợp vốn đơn giản có thêm một loại thành viên mang thân phận pháp

lý khác biệt là thành viên góp vốn Thành viên góp vốn chỉ chịu TNHH với phần vốn góp vào công ty, không được đại diện công ty tham gia vào các quan hệ đối ngoại mà chỉ có quyền trong các quan hệ nội bộ của công ty

Ngoài ra, thực tế cũng ghi nhận một loại hình công ty đối nhân nữa là công ty nặc danh Đây là loại hình công ty gần tương tự với công ty hợp vốn đơn giản, khi có cả thành viên nhận vốn và thành viên góp vốn Tuy nhiên, trong khi các thành viên nhận vốn để kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty thì các thành viên góp vốn chỉ có trách nhiệm góp vốn cho các thành viên nhận vốn, được hưởng một phần lợi nhuận của công ty và không phải chịu trách nhiệm về nợ của công ty

Tuy nhiên, phổ biến trong pháp luật doanh nghiệp hiện đại quy định công ty đối nhân bao gồm: Công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản

1.1.2.2 Công ty đối vốn

Về mặt lịch sử, công ty đối vốn ra đời sau các công ty đối nhân Khác với công ty đối nhân, các công ty đối vốn chỉ có các thành viên góp vốn (được gọi chung là thành viên công ty), và công ty đối vốn không quan tâm tới tư cách cá nhân (nhân thân) của các thành viên trong công ty, mà chỉ quan tâm tới phần vốn góp của thành viên vào công ty Đó cũng là đặc điểm quan trọng nhất của một công ty đối vốn Ngoài ra, công ty đối vốn có một số đặc điểm như: Công ty là pháp nhân có tài sản tách biệt với tài sản của các thành viên trong công ty; Khi liên kết, các thành viên không quan tâm đến tư cách cá nhân thành viên công ty mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp mà họ góp vào công ty; Thành viên của công ty dễ dàng thay đổi, người không hiểu biết về kinh doanh cũng có thể tham gia vào công ty

Trang 20

Các công ty đối vốn có rất nhiều ưu điểm khiến cho người kinh doanh lựa chọn tham gia, đặc biệt là chế độ chịu TNHH Những người không am hiểu về kinh doanh cũng có thể tham gia vào hoạt động kinh doanh của công

ty đối vốn Đối với các nhà kinh doanh giỏi, công ty đối vốn tạo điều kiện cho

họ huy động được số vốn đầu tư lớn vào mục đích mở rộng kinh doanh Bên cạnh các ưu điểm trên, công ty đối vốn cũng có những nhược điểm nhất định Trước hết, công ty đối vốn dễ dàng gây rủi ro cho các chủ nợ, đặc biệt là ngân hàng khi cho các công ty này vay các khoản tín dụng lớn, bởi công ty chỉ chịu TNHH đối với các khoản nợ bằng tài sản của mình Thêm vào đó, công ty đối vốn cũng chỉ quan tâm đến phần vốn của các thành viên góp vào công ty mà không quan tâm tư cách cá nhân của các thành viên, vì vậy số lượng thành viên có thể rất lớn dẫn tới việc phân hóa các nhóm quyền lợi khác nhau, thậm chí đối lập nhau Đặc biệt, do công ty đối vốn được quyền công khai huy động vốn trong công chúng nên cũng rất dễ dẫn tới những hành vi lừa đảo trong việc huy động vốn, gây ra những hậu quả khó kiểm soát Với những nhược điểm trên, công ty đối vốn phải chịu sự điều chỉnh rất chặt chẽ của pháp luật

Công ty đối vốn thông thường bao gồm hai hình thức là công ty cổ phần và công ty TNHH Công ty TNHH được chia thành hai loại là công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH từ hai thành viên trở lên

Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, thể hiện ở chế độ trách nhiệm của công ty: Công ty cổ phần là thực thể tách biệt với các thành viên của nó, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty; vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là

cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần mà họ sở hữu Một công

ty cổ phần phải có ít nhất ba cổ đông và không giới hạn số lượng thành viên tối đa Một trong những ưu thế của công ty cổ phần là việc công ty có quyền

Trang 21

phát hành chứng khoán (ví như cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn, qua đó giúp cho công ty

có thể chủ động trong việc huy động vốn

Công ty TNHH được cho là hình thức công ty được tạo lập nên bởi sự kết hợp giữa một số yếu tố của công hợp danh và một số yếu tố của công ty

cổ phần (vừa có tính đối nhân vừa có tính đối vốn) Công ty TNHH được coi

là có tính đối nhân bởi: số lượng thành viên công ty bị hạn chế (không quá 50 người), thường có quan hệ gần gũi, phần vốn góp của các thành viên không được chuyển nhượng một cách dễ dàng và bộ máy tổ chức tương đối đơn giản

so với công ty cổ phần Tuy nhiên, công ty TNHH cũng mang những đặc tính

cơ bản của đối vốn, thể hiện ở chỗ: công ty TNHH có tài sản riêng tách biệt với tài sản của thành viên công ty; chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty; thành viên công ty không có tư cách thương nhân, chịu TNHH về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty Công ty TNHH cũng gồm hai loại là công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH có hai thành viên trở lên

1.1.3 Chế độ trách nhiệm của công ty đối nhân, công ty đối vốn

Bên cạnh cách phân loại công ty theo truyền thống Civil law, công ty còn được phân loại theo học thuyết TNHH Theo đó, người ta phân loại công

ty thành công ty có chế độ TNHH và công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn Khi nhắc tới công ty nói chung và công ty đối nhân, công ty đối vốn nói riêng, không thể không bàn tới chế độ trách nhiệm của công ty đó

Theo Luật Doanh nghiệp 2014, mọi loại hình công ty đều có tư cách pháp nhân Các nước trên thế giới cũng công nhận hầu hết các loại hình công

ty có tư cách pháp nhân (trừ công ty hợp danh không được công nhận có tư cách pháp nhân tại một số nước trên thế giới) Là một pháp nhân nên công ty khi được thành lập sẽ có tài sản riêng và công ty có nghĩa vụ thanh toán các

Trang 22

khoản nợ bằng toàn bộ tài đó (chịu trách nhiệm vô hạn đối với tài sản của mình) Tuy nhiên đối với thành viên công ty, trách nhiệm của họ đối với khoản nợ của công ty lại phụ thuộc vào chế độ trách nhiệm của công ty, cụ thể là:

- Đối với công ty đối vốn, các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm đối với khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn đã góp Khi công ty đã hết tài sản thì các thành viên không phải liên đới chịu trách nhiệm Do đó, công ty đối vốn được coi là có chế độ TNHH

- Đối với công ty đối nhân, trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ

mà tài sản của công ty hết thì các thành viên nhận vốn sẽ tiếp tục thanh toán các khoản nợ của công ty bằng tài sản riêng của mình (chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ thanh toán nợ của công ty), hay nói một cách khác, các thành viên hợp danh được xem như những người bảo lãnh liên đới cho hoạt động của công ty [15], thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đã góp vào công ty Công ty đối nhân được coi là có chế độ trách nhiệm vô hạn

Như vậy, chế độ trách nhiệm của công ty được hiểu là trách nhiệm thanh toán nợ của các thành viên trong công ty đối với các khoản nợ của công

ty đó Đồng thời chế độ trách nhiệm của công ty cũng thể hiện được giới hạn quyền đòi nợ của chủ nợ công ty, cụ thể:

- Đối với công ty có chế độ TNHH (công ty đối vốn) thì các chủ nợ của công ty chỉ có quyền đòi nợ trên tài sản của công ty đó mà không có quyền đòi nợ trên tài sản của người góp vốn (chủ sở hữu), giám đốc, hay những người tham gia khác như người lao động, nhà cung ứng, hay khách hàng của công ty

- Ngược lại, đối với công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn (công ty đối nhân), chủ nợ có quyền đòi nợ trên tài sản của những thành viên nhận vốn trong công ty đó

Trang 23

Hình thức và chế độ trách nhiệm của công ty có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Khi nhắc tới một hình thức công ty cụ thể ta dễ dàng xác định được chế độ trách nhiệm của công ty đó Ví dụ như công ty cổ phần có chế độ TNHH, công

ty hợp danh có chế độ trách nhiệm vô hạn… Do đó khi công ty có sự thay đổi về hình thức thì chế độ trách nhiệm của công ty cũng sẽ có sự thay đổi tương ứng Việc làm rõ chế độ trách nhiệm của công ty có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan đến công ty, trong đó có vấn

đề chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

1.2 KHÁI LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC GIỮA CÔNG TY ĐỐI NHÂN VÀ CÔNG TY ĐỐI VỐN

1.2.1 Khái niệm

Chuyển đổi hình thức công ty là việc chuyển đổi giữa hình thức công

ty này sang hình thức công ty khác, hay cụ thể hơn là thay đổi các yếu tố kết cấu chủ yếu để tạo lập thành các hình thức công ty

Các yếu tố kết cấu nên công ty bao gồm vốn điều lệ của công ty, kết cấu về thành viên - số lượng thành viên (tối đa hay tối thiểu), và kết cấu về chế độ trách nhiệm [15] Việc thay đổi các yếu tố không ảnh hưởng tới hình thức công ty mà pháp luật đã xác định (ví dụ như thay đổi một số quy định trong điều lệ công ty không liên quan tới hình thức công ty, việc gia hạn thời gian hoạt động ) không được xem là thay đổi hình thức công ty

Như vậy, chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn có thể hiểu là việc chuyển đổi các yếu tố căn bản để tạo lập nên công ty đối nhân sang các yếu tố căn bản tạo lập nên công ty đối vốn và ngược lại

Công ty là một thương nhân pháp nhân, và hình thức công ty là các hình thức cấu tạo nên thương nhân pháp nhân đó Về nguyên tắc, chuyển đổi hình thức cấu tạo của thương nhân pháp nhân là do chính thương nhân đó quyết định, không làm tiêu biến thương nhân pháp nhân cũng như không rũ

bỏ các khoản nợ của thương nhân pháp nhân đó với người thứ ba Ngoài ra,

Trang 24

một công ty được thành lập hoặc chấm dứt bởi ý chí của các thành viên nên việc chuyển đổi hình thức công ty cần được tự do cả về thời điểm cũng như hình thức mà công ty muốn chuyển đổi Thêm vào đó, công ty đối nhân và công ty đối vốn có chế độ trách nhiệm khác nhau, quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên trong công ty đối nhân khác với trong công ty đối vốn… Do vậy, việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn trước hết cần phải do công ty định đoạt

Ngoài sự định đoạt của công ty thì việc chuyển đổi hình thức giữa

công ty đối nhân và công ty đối vốn có thể xảy ra dựa trên các sự kiện pháp lý

do luật pháp quy định Khi xảy ra các sự kiện pháp lý đó, công ty không thể

tiếp tục duy trì hình thức hiện tại mà cần thực hiện thủ tục chuyển đổi sang hình thức mới phù hợp Với việc chuyển đổi dựa trên căn cứ pháp luật, công

ty bị chuyển đổi vẫn cần đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cũng như đảm bảo quyền và lợi ích của bên thứ ba

Tóm lại, chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn là chuyển đổi hình thức kết cấu của công ty trên cơ sở lựa chọn hoặc theo quy định của pháp luật, không làm ảnh hưởng tới việc trả nợ của công ty đó cũng như không làm ảnh hưởng tới bên thứ ba liên quan

Có thể nói, việc chuyển đổi hình thức công ty nói chung, và chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói riêng có vai trò và

ý nghĩa rất quan trọng đối với lợi ích kinh tế, pháp lý của công ty cũng như đời sống văn hóa xã hội, cụ thể:

Thứ nhất, việc chuyển đổi đã tạo ra một công ty mới có hình thức pháp

lý đúng theo nguyện vọng của nhà đầu tư, phù hợp với tình hình và khả năng thực tế của công ty, đồng thời công ty mới được kế thừa mọi quyền và nghĩa

vụ của công ty cũ do đó hoạt động kinh doanh được thuận lợi và liên tục

Thứ hai, xét về lợi ích kinh tế, việc chuyển đổi hình thức giữa công ty

đối nhân và công ty đối vốn không mất nhiều thời gian, không phải vận hành

Trang 25

cả hai công ty (chuyển đổi và được chuyển đổi) cùng lúc, không cần làm thủ tục chấm dứt công ty bị chuyển đổi, và công ty mới đương nhiên được kế thừa mọi quyền lợi và nghĩa vụ của công ty cũ, do đó công ty có thể đảm bảo hoạt động bình thường ngay sau khi được chuyển đổi (ngay sau khi đăng kí kinh doanh cho công ty mới chuyển đổi) mà không phải chịu thuế hay lệ phí,

ổn định ngay bộ máy quản lý điều hành, nhân công lao động và hệ thống khách hàng

Thứ ba, về mặt pháp lý, việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối

nhân và công ty đối vốn đảm bảo cho công ty chuyển đổi trở thành chủ sở hữu tài sản kế thừa một cách đương nhiên, an toàn, và dễ dàng Thủ tục kế thừa các nghĩa vụ cũng thuận lợi vì công ty vẫn hoạt động kinh doanh bình thường trong quá trình chuyển đổi

Thứ tư, về mặt xã hội, và chuyển đổi hình thức công ty nói chung và

chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói riêng vừa đáp ứng được nguyện vọng của các nhà đầu tư (nguyện vọng lựa chọn một hình thức công ty phù hợp, nguyện vọng được tiếp tục hoạt động khi có những sự kiện pháp lý kiến công ty không tiếp tục duy trì hình thức hiện tại…), vừa có ý nghĩa kinh tế cho bản thân công ty, đồng thời không triệt tiêu nghĩa vụ của công ty và đảm bảo được quyền lợi cho các bên liên quan, qua

đó không ảnh hưởng tới lợi ích chung cho xã hội

1.2.2 Căn cứ chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công

ty đối vốn

Như đã phân tích trong phần 1.2.1 thì công ty có thể chuyển đổi hình thức dựa trên ý chí, hay sự tự nguyện của mình Tuy nhiên không phải mọi trường hợp công ty tự nguyện chuyển đổi hình thức thì việc chuyển đổi đều

có thể đạt được, cũng như không phải mọi trường hợp công ty đối nhân chuyển đổi thành công ty đối vốn (và ngược lại) dựa trên sự tự nguyện của công ty Các nhà làm luật đã dự liệu những trường hợp việc chuyển đổi hình

Trang 26

thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn không thể đạt được, đồng thời đặt ra những trường hợp công ty cần chuyển đổi hình thức khi không còn đảm bảo được những yếu tố kết cấu nên hình thức công ty hiện tại Như vậy, việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn có thể dựa trên

sự tự nguyện của công ty hoặc dựa trên cơ sở pháp luật

1.2.2.1 Chuyển đổi dựa trên sự tự nguyện của công ty

Chuyển đổi hình thức công ty do tự nguyện thực chất là sửa đổi các thỏa thuận ban đầu của các thành viên sáng lập nên công ty, hay sửa đổi ý chí đơn phương tạo lập nên công ty Mỗi công ty ban đầu khi thành lập đều phải xác định rõ hình thức công ty, lĩnh vực kinh doanh, vốn điều lệ… Trong quá trình hoạt động, bản thân công ty tự thấy mình không còn phù hợp với hình thức công ty hiện tại, có thể thực hiện chuyển đổi hình thức công ty Ví dụ như, khi tất cả các thành viên hợp danh của công ty hợp danh A không còn muốn chịu trách nhiệm vô hạn định với các khoản nợ của công ty mà muốn trở thành thành viên góp vốn, chịu TNHH trong phạm vi vốn góp, thì các thành viên hợp danh có thể thống nhất chuyển đổi công ty hợp danh A thành một công ty có chế độ TNHH như công ty cổ phần, hoặc công ty TNHH có hai thành viên trở lên

Trên thực tế, hầu hết các trường hợp chuyển đổi hình thức công ty nói chung đều dựa trên sự tự nguyện của công ty đó Luật pháp hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận và đảm bảo cho công ty được tự do chuyển đổi hình thức công ty Ví dụ như Đạo luật công ty của Úc năm 2001; Luật công ty của Anh năm 2006; Luật công ty của Nhật Bản năm 2006…, tuy nhiên việc chuyển đổi hình thức công ty cần đảm bảo các điều kiện cần thiết và dựa trên trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

Có thể nói, nền tảng của việc chuyển đổi hình thức công ty nói chung, chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói riêng, chính là quyền tự do kinh doanh Tại Điều 33 Hiến pháp 2013 đã khẳng định

Trang 27

"Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm" [39], hay Điều 50 Bộ luật dân sự 2005 cũng khẳng định quyền tự

do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ, và cá nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền khác phù hợp với quy định của pháp luật [35]

Quyền tự do kinh doanh là một tập hợp quyền mà hạt nhân căn bản của nó là quyền tự do lựa chọn của con người liên quan tới việc tạo lập, vận hành, thay đổi và chấm dứt doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ [50] Quyền

tự do Với nội dung quyền tự do kinh doanh, chuyển đổi hình thức công ty mang lại cho chủ thể một phương tiện mới, hay một phương thức tổ chức kinh doanh mới phù hợp với quy mô, khả năng tài chính và mục tiêu của chủ thể

Do đó, pháp luật luôn ghi nhận và đảm bảo quyền tự do thay đổi hình thức công ty nói chung và chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói riêng

1.2.2.2 Chuyển đổi dựa trên căn cứ pháp luật

Không phải trong mọi trường hợp, việc chuyển đổi hình thức giữa công

ty đối nhân và công ty đối vốn đều dựa trên sự lựa chọn của công ty đó Khi có những yếu tố pháp lý xảy ra khách quan với ý chí của công ty, khiến công ty không thể tiếp tục duy trì hình thức hiện tại thì buộc công ty cần tiến hành chuyển đổi sang một hình thức khác Luật pháp thường dự đoán trước những yếu tố có thể xảy ra để đặt ra những quy định cho việc chuyển đổi hình thức công

ty Đó là căn cứ pháp luật của việc chuyển đổi hình thức công ty nói chung và chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói riêng

1.2.3 Các trường hợp chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

Việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn cũng được hiểu là việc chuyển đổi từ công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn

Trang 28

thành công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn và ngược lại Sự khác nhau cơ bản về chế độ trách nhiệm khiến cho việc chuyển đổi giữa hai loại công ty có chế độ trách nhiệm khác nhau này phức tạp hơn so với chuyển đổi giữa các hình tức công ty có cùng chế độ trách nhiệm Tuy nhiên với từng trường hợp chuyển đổi, các vấn đề pháp lý cũng như điều kiện khách quan tác động tới việc chuyển đổi là khác nhau

Trường hợp chuyển đổi hình thức từ công ty đối vốn sang công ty đối nhân, hay nói một cách khác, từ công ty có chế độ TNHH sang công ty có chế

độ trách nhiệm vô hạn không phải là điều quá khó khăn, bởi xét về mặt pháp

lý, việc chuyển đổi này đã mở rộng tối đa trách nhiệm của các thành viên trong công ty đối với các khoản nợ của công ty Do đó, quyền lợi của các chủ

nợ của công ty không bị ảnh hưởng

Điều quan trọng trong việc chuyển đổi hình thức từ công ty đối vốn sang công ty đối nhân là việc cần có sự nhất trí của tất cả các thành viên trong công ty, bởi sau khi chuyển đổi, trách nhiệm của các thành viên theo đó sẽ thay đổi, từ việc chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của mình, các thành viên sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn định về các khoản nợ của công ty nếu thành viên đó lựa chọn chuyển thành thành viên nhận vốn Thông thường, rất

ít người lựa chọn cách thức chuyển đổi từ công ty đối vốn sang công ty đối nhân Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau (thường là lý do về đặc thù ngành nghề kinh doanh, thương hiệu, hay do sự thay đổi pháp luật) mà công ty chỉ

có thể hoạt động dưới mô hình công ty trách nhiệm vô hạn thì công ty sẽ tiến hành chuyển đổi

Trường hợp chuyển đổi hình thức từ công ty đối nhân sang công ty đối vốn so với trường hợp trên có nhiều điểm phức tạp và khó khăn hơn

Trước hết, trách nhiệm của các thành viên công ty đối với các khoản

nợ của công ty bị thu hẹp lại kể từ khi việc chuyển đổi công ty hoàn tất Do

đó, đối với các khoản nợ phát sinh trước khi công ty được chuyển đổi có khả

Trang 29

năng không được thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, và do đó quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ nợ của công ty bị ảnh hưởng một cách trực tiếp

Để giải quyết vấn đề này, cần có sự điều chỉnh của pháp luật Pháp luật đặt ra các điều kiện để chuyển đổi như công ty phải thanh toán đầy đủ các khoản nợ

đã phát sinh trước khi chuyển đổi; hoặc chưa thanh toán đầy đủ các khoản nợ

đã phát sinh nhưng có phương án chuyển đổi thích hợp và được sự chấp thuận của các chủ nợ…

Ngoài ra, kể từ khi công ty hoàn tất chuyển đổi, công ty chỉ chịu chế

độ TNHH, dẫn tới khả năng mất đi nhiều đối tác vốn yên tâm hợp tác kinh doanh do công ty có chế độ chịu trách nhiệm vô hạn Do đó, công ty cũng cần

có những chính sách hoạt động phù hợp trước khi tiến hành chuyển đổi (trong trường hợp công ty tự nguyện chuyển đổi) hoặc có những dự tính cụ thể (trong trường hợp chuyển đổi do căn cứ pháp luật) để hạn chế khả năng không thể tiếp tục duy trì hoạt động

1.2.4 Hậu quả pháp lý của việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

Hậu quả pháp lý của việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân

và công ty đối vốn vừa mang những điểm tương đồng với hậu quả pháp lý chuyển đổi hình thức công ty nói chung, vừa có những nét riêng so với các loại chuyển đổi hình thức công ty khác

1.2.4.1 Chấm dứt sự tồn tại của công ty trước khi chuyển đổi và hình thành công ty mới

Chấm dứt tồn tại của công ty là kết thúc mọi hoạt động từ kinh doanh cho đến hoạt động nội bộ cũng như sự tồn tại cả về thực tế và pháp lý của công ty đó

Theo quy định của BLDS 2005 thì pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm xóa tên trong sổ đăng ký pháp nhân hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 30

Theo quy định Luật Doanh nghiệp năm 2014, các công ty có thể chấm dứt (hoặc bị buộc chấm dứt trong một số trường hợp) tồn tại theo các phương thức: chuyển đổi hình thức công ty, chia, hợp nhất, sáp nhập, giải thể (theo sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp) và phá sản công ty (theo sự điều chỉnh của pháp luật phá sản) Như vậy, chuyển đổi hình thức công ty là một trong những căn cứ để chấm dứt sự tồn tại của công ty trước khi chuyển đổi

Đồng thời, sau khi tiến hành chuyển đổi xong, công ty chuyển đổi phải tiến hành đăng kí lại doanh nghiệp dưới hình thức mới Như vậy sự kiện pháp lý đăng kí lại doanh nghiệp cũng chính là căn cứ hình thành nên công ty mới chuyển đổi Công ty bị chuyển đổi sẽ chấm dứt sự tồn tại về mặt pháp lý, tuy nhiên, thực tế thì công ty đó vẫn còn hoạt động, nhưng dưới một hình thức khác Điều này đồng nghĩa với việc các khoản nợ, nghĩa vụ, cũng như quyền lợi của công ty cũ đều được chuyển sang cho công ty mới

1.2.4.2 Tác động tới người thứ ba

Khi chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, chúng ta không thể khẳng định việc chuyển đổi hoàn toàn không ảnh hưởng tới bất cứ cá nhân, tổ chức hay cộng đồng nào (người thứ ba) Bởi lẽ bản chất công ty đối nhân và công ty đối vốn khác nhau về việc quản lý nhân thân các thành viên và chế độ chịu trách nhiệm với phần vốn góp của các thành viên, nên khi thay đổi hình thức công ty, cơ chế quản lý thành viên cũng như chế độ chịu trách nhiệm của các thành viên và công ty có sự thay đổi cơ bản so với ban đầu

Việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn,

dù trên cơ sở tự nguyện hay trên cơ sở quy định của pháp luật ít nhiều đều có ảnh hưởng tới người thứ ba, bao gồm: thành viên công ty, người lao động trong công ty, chủ nợ của công ty và đối tác của công ty

Thứ nhất, việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty

đối vốn tác động trực tiếp tới thành viên công ty, là các chủ sở hữu công ty

Trang 31

Việc chuyển đổi hình thức có thể dẫn tới việc thay đổi tên gọi, quyền và nghĩa

vụ của các thành viên trong công ty Đối với trường hợp chuyển đổi hình thức công ty, mặc dù theo sự tự nguyện nhưng việc quyết định vẫn phải tuân theo theo tỉ lệ nhất trí nhất định, và do đó có những thành viên của công ty buộc phải chấp nhận việc chuyển đổi dù không biểu quyết thông qua Ngoài ra, sau khi chuyển đổi, việc xác định lại giá trị của công ty mới cũng như quy đổi lại phần vốn góp cho mỗi thành viên… cũng có tác động nhất định đối với thành viên công ty

Thứ hai, chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối

vốn sẽ tác động tới người lao động của công ty Người lao động và việc làm

là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong quan hệ lao động của mỗi quốc gia, do đó mọi hoạt động của người sử dụng lao động có ảnh hưởng tới người lao động cần được quan tâm, giải quyết một cách thỏa đáng

và hiệu quả Không khó để nhận thấy, việc chuyển đổi hình thức doanh nghiệp nói chung, chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói riêng thường có tác động đến người lao động trong công ty, bởi lẽ việc chuyển đổi hình thức công ty dẫn tới việc thay đổi quy mô, ngành nghề sản xuất… dẫn tới việc có thể biến động về số lượng người lao động trong công ty, gây ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Thứ ba, việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty

đối vốn sẽ tác động tới chủ nợ của công ty Các chủ nợ là người có quyền lợi trực tiếp tới việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của công ty cũng như trách nhiệm của các thành viên trong công ty liên quan tới vấn đề thanh toán nợ Do đó, khi chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, hay rõ hơn là từ một công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn sang công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn (và ngược lại) sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới quyền lợi của các chủ nợ Thêm vào đó, khi chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công

Trang 32

ty đối vốn, chế độ trách nhiệm của các thành viên cũng theo đó thay đổi, khiến cho khả năng trả nợ của công ty gặp nhiều bất lợi Bởi vậy, đảm bảo khả năng thanh toán nợ cho các chủ nợ của công ty là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn là công ty và được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh

Thứ tư, việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty

đối vốn sẽ tác động tới các đối tác của công ty Đối với những đối tác đã và đang hợp tác, công ty chuyển đổi kéo theo những vấn đề về nhân sự, tên gọi, lĩnh vực hoạt động… khiến cho việc hợp tác có thể bị gián đoạn hoặc gặp những vấn đề về mặt pháp lý Đối với những đối tác đang có dự định hợp tác, việc công ty chuyển đổi hình thức có thể dẫn tới sự nghi ngại về tiềm năng, khả năng hoạt động của công ty, khiến cho việc hợp tác kinh doanh bị ảnh hưởng

Do vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba, và rộng hơn là đảm bảo sự ổn định của trật tự xã hội, cũng như vừa đảm bảo sự

tự do lựa chọn hình thức kinh doanh của các công ty, thì pháp luật cần có quy định chặt chẽ và cụ thể đối với việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

1.2.4.3 Thay đổi chế độ pháp lý liên quan tới cơ chế tổ chức quản lý công ty, mối liên hệ giữa các thành viên trong công ty, chế độ tài chính, cũng như chế độ trách nhiệm của công ty trước và sau khi chuyển đổi

Có thể nói, hoạt động chuyển đổi hình thức công ty nói chung đều có những hậu quả lý là chấm dứt sự tồn tại của công ty trước khi chuyển đổi và hình thành công ty mới, cũng như việc chuyển đổi sẽ tác động tới bên thứ ba có liên quan Tuy nhiên đối với hoạt động chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân

và công ty đối vốn nói riêng, việc chuyển đổi sẽ làm thay đổi chế độ trách nhiệm của công ty đó tương ứng với loại hình công ty được chuyển đổi Đồng thời chế

độ pháp lý của công ty liên quan tới thành viên, vốn góp hay cơ cấu tổ chức quản lý công ty trước và sau khi chuyển đổi cũng sẽ có sự thay đổi tương ứng

Trang 33

Ví dụ, trong trường hợp chuyển đổi từ công ty đối nhân sang công ty đối vốn, công ty ban đầu có chế độ trách nhiệm vô hạn, thì sau khi chuyển đổi công

ty sẽ có chế độ TNHH Đồng thời, trước khi chuyển đổi, pháp luật điều chỉnh đối với công ty đối nhân chủ yếu quan tâm tới yếu tố nhân thân của các thành viên, thì sau khi chuyển đổi, pháp luật điều chỉnh đối với công ty đối vốn lại quan tâm tới cơ cấu tổ chức chặt chẽ của công ty và tài sản/vốn góp của công ty

1.3 PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC GIỮA CÔNG TY ĐỐI NHÂN VÀ CÔNG TY ĐỐI VỐN

1.3.1 Khái niệm và đặc điểm

Pháp luật chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn là hệ thống các quy định về cơ sở, điều kiện, trình tự thủ tục… cho việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, nhằm đảm bảo cho việc chuyển đổi hình thức công ty được thống nhất, không ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của công ty cũng như của các chủ thể khác có quyền và nghĩa vụ liên quan

Như vậy, từ khái niệm trên có thể thấy pháp luật chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, đây là một bộ phận của pháp luật về tổ chức lại doanh

nghiệp Luật Doanh nghiệp 2014 có rất nhiều các quy định liên quan tới việc

tổ chức lại doanh nghiệp như: chia tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức công ty Pháp luật chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn chỉ là một bộ phận của pháp luật về chuyển đổi hình thức công ty nói chung, do nó đương nhiên là một bộ phận của pháp luật về tổ chức lại doanh nghiệp Tuy là một bộ phận nhưng pháp luật chuyển đổi hình thức giữa công

ty đối nhân và công ty đối vốn lại có vị trí rất quan trọng trong tổng thể các quy định cung về tổ chức lại doanh nghiệp

Thứ hai, các quy định đó chỉ áp dụng cho trường hợp chuyển đổi giữa

công ty đối nhân và công ty đối vốn (chuyển đổi từ công ty đối nhân sang

Trang 34

công ty đối vốn và ngược lại) Pháp luật chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn không áp dụng cho trường hợp chuyển đổi hình thức giữa các công ty đối vốn với nhau và giữa các công ty đối nhân với nhau

Thứ ba, pháp luật chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công

ty đối vốn được xây dựng trên cơ sở: (1) hoặc có sự tự nguyện của công ty muốn chuyển đổi; hoặc (2) do công ty không còn đáp ứng được các yếu tố cấu thành nên hình thức ban đầu và buộc phải chuyển đổi sang hình thức khác Cụ thể hơn, pháp luật chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn vừa đưa ra các quy định về nội dung: điều kiện chuyển đổi, căn cứ chuyển đổi, các hình thức chuyển đổi…; vừa đưa ra các quy định về hình thức: trình tự, thủ tục chuyển đổi và đăng kí mới… Đây là một điểm khác so với các quy định về tổ chức doanh nghiệp khác, bởi lẽ đối với các trường hợp còn lại là hợp nhất, sáp nhập, chia, tách doanh nghiệp, căn cứ chính để diễn ra

sự kiện pháp lý tổ chức lại doanh nghiệp là dựa trên sự đồng thuận, nhất trí của các doanh nghiệp đó Pháp luật về hợp nhất, sáp nhập, chia, tách công ty chỉ tập trung đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên có liên quan vào hoạt động tổ chức doanh nghiệp, mà không đặt ra các trường hợp hay điều kiện bắt buộc các doanh nghiệp phải tiến hành hợp nhất hay chia tách

Thứ tư, pháp luật chuyển đổi hình thức giữa công ty nói chung và

chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói riêng áp dụng trên chỉ một chủ thể xác định Nếu như các trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp khác như hợp nhất, chia tách hay sát nhập doanh nghiệp, luôn xuất hiện nhiều hơn một chủ thể, đòi hỏi pháp luật cần điều chỉnh tất cả các chủ thể đó Ví dụ như trường hợp hợp nhất công ty A và B thành công ty C thì pháp luật cần điều chỉnh tới ba chủ thể khác nhau là A, B và C; hoặc trường hợp sáp nhập công ty D vào công ty E thì pháp luật sẽ điều chỉnh hai chủ thể

là D và E Trong khi đó pháp luật chuyển đổi hình thức công ty nói chung, và chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói riêng chỉ

Trang 35

điều chỉnh trên một chủ thể Như đã phân tích, việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn sẽ chấm dứt sự tồn tại của công ty bị chuyển đổi và hình thành công ty được chuyển đổi Tuy có sự xuất hiện của hai công ty song thực chất đó chỉ là một thực thể kinh doanh cụ thể, và có khác chăng chỉ là thực thể đó thay đổi hình thức về pháp lý mà thôi Mọi quyền lợi hợp pháp, mọi nghĩa vụ về tài sản, hợp đồng lao động… của công

ty vẫn được duy trì

1.3.2 Nội dung của pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công

ty đối nhân và công ty đối vốn

Là một bộ phận của pháp luật về chuyển đổi hình thức công ty nói chung, nên pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói bao gồm các nội dung tương tự như nội dung của pháp luật về chuyển đổi hình thức công ty nói chung Có thể nói, dù trong trường hợp chuyển đổi hình thức công ty nào, pháp luật vẫn phải đảm bảo đủ các nội dung về cơ sở cho việc chuyển đổi, điều kiện chuyển đổi, trình tự, thủ tục chuyển đổi và hậu quả pháp lý cho việc chuyển đổi Do đó, pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn cũng bao gồm các nội dung đó, cụ thể:

Thứ nhất, pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và

công ty đối vốn quy định căn cứ cho việc chuyển đổi Như đã phân tích, căn cứ cho việc chuyển đổi hình thức công ty nói chung là dựa trên sự lựa chọn của công ty hoặc dựa trên các căn cứ pháp luật Pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn sẽ ghi nhận quyền lựa chọn (hay quyền

tự định đoạt) của công ty trong việc chuyển đổi hình thức công ty, đồng thời chỉ

rõ các sự kiện pháp lý có thể xảy ra khiến cho công ty không thể tiếp tục duy trì hình thức hiện tại và phải tiến hành chuyển đổi sang hình thức hoạt động mới

Thứ hai, pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và

công ty đối vốn quy định về điều kiện cho việc chuyển đổi Các quy định về điều kiện cho việc chuyển đổi chủ yếu áp dụng trong trường hợp công ty tự

Trang 36

nguyện chuyển đổi hình thức, đòi hỏi công ty phải đảm bảo đủ các điều kiện cần thiết mới có thể tiến hành chuyển đổi một cách nhanh chóng, thuận lợi và hạn chế tối đa các tác động tiêu cực tới bên thứ ba liên quan

Thứ ba, pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và

công ty đối vốn quy định về các trường hợp chuyển đổi và trình tự, thủ tục cho việc chuyển đổi đó Các quy định pháp luật này không chỉ áp dụng đối với công ty và các bên liên quan mà còn áp dụng cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan tới hoạt động chuyển đổi hình thức công ty

Thứ tư, pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và

công ty đối vốn quy định hậu quả pháp lý cho việc chuyển đổi, bao gồm quyền và nghĩa vụ của công ty sau khi chuyển đổi, đặc biệt là nghĩa vụ của công ty đối với bên thứ ba có liên quan

Ngoài ra, do pháp luật chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn chỉ áp dụng đối với một chủ thể (công ty) xác định, và sau khi

chuyển đổi công ty lại có những thay đổi cơ bản chế độ trách nhiệm của công

ty (từ chế độ TNHH sang chế độ trách nhiệm vô hạn và ngược lại) và thành viên công ty (các yếu tố về nhân thân như số lượng thành viên, quan hệ giữa

các thành viên; yếu tố về vốn như vốn góp, bán, chuyển nhượng vốn góp, quy

mô, tính chất hoạt động…) nên khi nghiên cứu pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, chúng ta cần xem xét chung cả những quy định pháp luật liên quan tới chế độ trách nhiệm của công ty và thành viên của công ty trước và sau khi chuyển đổi

1.3.3 Vị trí, vai trò của pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội; là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích của mỗi công dân Đối với vấn đề chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, pháp luật đóng vai trò vô cùng quan trọng:

Trang 37

Thứ nhất, pháp luật công nhận và bảo vệ quyền tự do kinh doanh của

thương nhân, trong đó có hoạt động chuyển đổi hình thức công ty nói chung

và chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn nói riêng Như vậy, việc chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn đều được và cần được thực hiện trên cơ sở pháp luật

Thứ hai, pháp luật quy định trình tự, thủ tục cho việc chuyển đổi hình

thức giữa công ty đối nhân và đối vốn, một mặt tạo ra sự thống nhất trong hoạt động chuyển đổi đối với các công ty muốn chuyển đổi, qua đó đảm bảo

cả về mặt thời gian và kinh tế cho công ty đó; một mặt đảm bảo trật tự xã hội, tránh tình trạng kéo dài hay rút ngắn thời gian chuyển đổi cũng như hạn chế các vấn đề tiêu cực phát sinh trong hoạt động chuyển đổi

Thứ ba, pháp luật đặt ra các điều kiện để có thể chuyển đổi hình thức

giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, không chỉ đảm bảo cho công ty có thể nhanh chóng tiếp tục hoạt động dưới một hình thức phù hợp và hợp pháp,

mà còn đảm bảo được quyền và lợi ích của bên thứ ba liên quan tới hoạt động chuyển đổi

Thứ tư, pháp luật về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và

công ty đối vốn làm phong phú thêm các quy định của pháp luật đối với hoạt động tổ chức lại doanh nghiệp nói chung, đồng thời là tiền đề, cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động chuyển đổi

1.3.4 Lược sử phát triển của pháp luật Việt Nam về vấn đề chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

1.3.4.1 Trước năm 1990

Trong các triều đại phong kiến Việt Nam đã có rất nhiều các bộ luật lớn, như Bộ hình thư (triều Lý), Bộ Quốc triều thống chế (triều Trần), Bộ Quốc triều hình luật (triều Lê) và Bộ Hoàng Việt luật lệ (triều Nguyễn) Hiện nay chỉ có hai bộ luật triều Lê và triều Nguyễn còn được lưu lại, và nội dung tuy còn nặng về hình sự, tuy nhiên hai bộ luật vẫn chứa đựng một số chế định

Trang 38

về luật dân sự và một số ngành luật khác Tuy nhiên giai đoạn này, nền thương mại Việt Nam còn nghèo nàn, kém phát triển nên pháp luật về thương mại hầu như chưa được biết đến

Đến thời kì Pháp thuộc, nước ta mới bắt đầu xuất hiện những quy định, chế định của luật thương mại, do người Pháp mang tới và áp dụng vào hầu hết các hoạt động thương mại của thương nhân trên lãnh thổ Việt Nam

Chỉ đến năm 1942, triều đình Huế mới ban hành BLTM Trung phần

Bộ luật này có nội dung cơ bản giống với BLTM của Pháp và có hiệu lực thi hành tại Trung bộ từ ngày 25/1/1944 Là văn bản quy phạm pháp luật về thương mại đầu tiên của nước ta, BLTM 1942 đã quy định tương đối đầy đủ các vấn đề liên quan tới hoạt động thương mại và trong đó có các quy định liên quan tới công ty, hình thức công ty và việc chuyển đổi hình thức công ty

Bộ luật thương mại 1942 đã phân loại công ty thành công ty đối nhân và công ty đối vốn Công ty đối nhân bao gồm: Công ty đồng danh (tương tự như công ty hợp danh), công ty cấp vốn đơn giản (tương tự như công ty hợp vốn đơn giản), và công ty TNHH Công ty đối vốn bao gồm: công ty vô danh (tương tự như công ty cổ phần) và công ty cấp vốn cổ phần BLTM 1942 cũng có quy định

về việc chuyển đổi hình thức công ty, gọi là "sự cải hóa" công ty Bấy giờ, hậu quả của sự cải hóa công ty đã được hiểu một cách sâu sắc là tiêu hủy bộ máy cũ

và thay thế bằng bộ máy mới, tức là chấm dứt sự sinh hoạt của công ty cũ

Tác giả Lê Tài Triển đã phân tích trong cuốn "Luật thương mại toát yếu" quyển thứ hai như sau:

Mỗi công ty thương mại có một hình thức; mỗi hình thức có những bộ phận riêng Cải hóa một công ty tức là thay đổi cái hình thức và những bộ phận ấy Sự cải hóa một công ty vô danh ít khi xảy

ra bởi không mấy khi người ta bỏ một công ty vô danh để lập một công ty trách nhiệm hữu hạn hay một công ty đối nhân Do đó, theo Luật thương mại Trung phần và Dân luật Bắc phần, muốn thay đổi hình thức công ty như vậy phải có toàn thể cổ hợp viên ưng thuận [47]

Trang 39

Như vậy có thể thấy sự tiến bộ trong những quy định của BLTM Trung phần đối với việc chuyển đổi hình thức công ty đối nhân và công ty đối vốn Không chỉ cho phép việc chuyển đổi hình thức giữa hai nhóm công ty với nhau, mà Bộ luật cũng đưa ra cả trình tự, thủ tục cần thiết cho việc chuyển đổi đó Cũng có thể thấy BLTM Trung phần đã ít nhiều kế thừa được những điểm tiến bộ trong các chế định về thương mại của Pháp giai đoạn trước

1.3.4.2 Từ năm 1990 đến trước năm 1999

Năm 1990 Luật Công ty được ban hành, đánh dấu một bước phát triển mới cho nền kinh tế nước ta Đúng như tinh thần của Luật là:

Thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, lao động và tài nguyên của đất nước, tạo thêm việc làm; bảo hộ lợi ích hợp pháp của người góp vốn đầu tư, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh [39]

Luật Công ty 1990 mở ra hai hình thức công ty mà các nhà đầu tư Việt Nam có thể lựa chọn là công ty cổ phần và công ty TNHH Cùng với việc đưa

ra các quy định chung về công ty, các quy định về thành lập, đăng kí kinh doanh, giải thể, phá sản công ty…, Luật Công ty 1990 cũng có các quy định riêng cho mỗi loại hình công ty và tuy không có quy định trực tiếp song luật vẫn có quy định liên quan tới việc chuyển đổi hình thức công ty

Tại Điều 21 có quy định: "Khi thay đổi mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh, vốn điều lệ và các nội dung khác trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, công ty phải khai báo lại với Trọng tài kinh tế và phải đăng báo theo quy định (tại Điều 19 của Luật này)" [31]

Với việc cho phép một công ty được thay đổi mục tiêu, ngành nghề kinh doanh, vốn điều lệ, các nội dung khác trong hồ sơ đăng kí kinh doanh, tức là luật cho phép công ty có thể chuyển đổi về hình thức, vì chuyển đổi hình thức công ty thực chất là thay đổi các yếu tố cấu thành nên hình thức đó,

do sự lựa chọn của công ty và dựa trên nền tảng của quyền tự do kinh doanh

Trang 40

Điều đáng nói ở đây, là Luật Công ty chỉ quy định hai loại hình công

ty là công ty cổ phần và công ty TNHH Điều đó phản ánh nền kinh tế Việt Nam giai đoạn này còn chưa phát triển, hoạt động thương mại vẫn chỉ giới hạn trong phạm vi từng địa phương hoặc trong nước mà chưa có giao lưu quốc tế, do đó việc thành lập doanh nghiệp cũng như các loại hình doanh nghiệp còn rất hạn chế Thêm vào đó, các nhà lập pháp khi đó còn chưa nhận thức được đầy đủ về công ty và hình thức công ty nên các quy định về công ty

cổ phần và công ty TNHH vẫn còn rất đơn giản, chưa đầy đủ, chưa thể hiện hết được đặc điểm riêng của từng loại công ty Do đó, với những quy định còn chưa thực sự cụ thể và hoàn thiện thì công ty TNHH bấy giờ có những điểm gần gũi với công ty đối nhân như không được phát hành bất cứ loại chứng khoán nào; việc chuyển nhượng vốn chỉ được tự do giữa các thành viên công ty, việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người không phải là thành viên phải được sự nhất trí của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty; bộ máy công ty tương đối đơn giản…

Như vậy có thể nói, Luật Công ty 1990 bước đầu đã có những quy định

về các hình thức công ty, quy định về chuyển đổi hình thức công ty, và mặc

dù các quy định vẫn còn rất giản đơn nhưng đây là tiền đề quan trọng cho các quy định về chuyển đổi hình thức giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn

1.3.4.3 Từ năm 1999 đến năm 2014

Năm 1999, Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời thay thế cho Luật công ty

1990, đã sửa đổi và thay thế rất nhiều các quy định liên quan tới công ty và chuyển đổi hình thức công ty Luật Doanh nghiệp 1999 đã mở rộng thêm các loại hình công ty, bao gồm: Công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty TNHH (trong đó gồm công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên) Các quy định cho từng loại công ty đã thể hiện được tính chất đối nhân và đối vốn của công ty đó Công ty hợp danh là công ty đối nhân điển hình; công ty cổ phần là công ty đối vốn điển hình, trong khi đó công ty TNHH vừa có tính đối nhân và vừa có tính đối vốn

Ngày đăng: 29/03/2016, 20:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Mạnh Bách (2006), Các công ty thương mại, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công ty thương mại
Tác giả: Nguyễn Mạnh Bách
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2006
5. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (1995), Nxb Chính trị quốc gia, (2005), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan
Tác giả: Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (1995), Nxb Chính trị quốc gia
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
6. Chính phủ (2000), Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp 1999
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
7. Chính phủ (2010), Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của luật doanh nghiệp 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của luật doanh nghiệp 2005
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
8. Ngô Huy Cương (2004), Hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2004
9. Ngô Huy Cương (2006), Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
10. Ngô Huy Cương (2009), Tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam, Đề tài nghiên cứu đặc biệt cấp Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2009
11. Ngô Huy Cương (2009), "Khái niệm công ty hợp danh tại Luật Doanh nghiệp năm 2005", www.vnclp.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm công ty hợp danh tại Luật Doanh nghiệp năm 2005
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2009
12. Ngô Huy Cương (2010), "Vài bình luận về pháp luật doanh nghiệp tư nhân", Luật học, (26), tr. 24-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài bình luận về pháp luật doanh nghiệp tư nhân
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2010
13. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật Thương mại phần chung và thương nhân, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại phần chung và thương nhân
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
14. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật hợp đồng phần chung, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hợp đồng phần chung
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
15. Ngô Huy Cương (2014), "Dự án sửa đổi Luật doanh nghiệp 2005: Bình luận những vấn đề pháp lý chủ yếu", Nghiên cứu lập pháp, (13), tr. 21-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án sửa đổi Luật doanh nghiệp 2005: Bình luận những vấn đề pháp lý chủ yếu
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2014
16. Ngô Huy Cương (2014), "Sửa đổi Luật doanh nghiệp 2005: Phân tích, bình luật và kiến nghị", Nghiên cứu lập pháp, (10), tr. 25-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi Luật doanh nghiệp 2005: Phân tích, bình luật và kiến nghị
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2014
17. Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật Việt Nam hiện hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật Việt Nam hiện hành
Tác giả: Bùi Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
19. Friedrich Kuebler & Juergen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa liên bang Đức, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa liên bang Đức
Tác giả: Friedrich Kuebler & Juergen Simon
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1992
20. Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam
Tác giả: Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
21. Khoa Luật - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1993), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Khoa Luật - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
Năm: 1993
22. Maurice Cozian, Alain Viandier (1989), Tổ chức công ty, Tập 1, (do Nguyễn Văn Bình và Lê Thị Tý dịch từ cuốn "Droit des Societes" (Litec Sách, tạp chí
Tiêu đề: Droit des Societes
Tác giả: Maurice Cozian, Alain Viandier
Năm: 1989
24. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân luật lược khảo, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, Sài gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Dân luật lược khảo
Tác giả: Vũ Văn Mẫu
Năm: 1963

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w