Tăng cường mối quan hệ phối hợp trên cơ sở pháp luật tố tụng hình sự giữa Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy với cơ quan điều tra và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác trong thực hành
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG THỊ THU HếA
Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG THỊ THU HếA
Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐƯỜNG MINH GIỚI
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Dương Thị Thu Hòa
Trang 4CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 7 1.1 Nhận thức chung về điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính
chất chiếm đoạt 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý các tội xâm phạm sở hữu có tính
chất chiếm đoạt 7 1.1.2 Điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 12
1.2 Khái quát về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 20
1.2.1 Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự 20 1.2.2 Nội dung thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội
xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 26 1.2.3 Đặc điểm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 39
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ
KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY 43
Trang 52.1 Tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm
đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy từ năm 2010 đến năm 2014 43
2.1.1 Vài nét về tình hình, đặc điểm quận Cầu Giấy 43 2.1.2 Tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
trên địa bàn quận Cầu Giấy từ năm 2010 đến năm 2014 44
2.2 Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của
Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 45
2.2.1 Bộ máy tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy liên
quan đến thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 45 2.2.2 Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với
các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 46
Chương 3: DỰ BÁO TÌNH HÌNH VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIẾM SÁT ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY 57 3.1 Dự báo các tình hình có liên quan đến hoạt động thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 57
3.1.1 Xu hướng của tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm
đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy trong thời gian tới 57 3.1.2 Những yếu tố khác tác động đến hoạt động thực hành quyền công
tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy trong thời gian tới 58
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 61
Trang 63.2.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp 61 3.2.2 Cần sớm kiện toàn tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và
hoàn thiện đội ngũ Kiểm sát viên, Kiểm tra viên theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 67 3.2.3 Đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, phân định trách
nhiệm trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra 70 3.2.4 Tăng cường mối quan hệ phối hợp trên cơ sở pháp luật tố tụng
hình sự giữa Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy với cơ quan điều tra và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 72 3.2.5 Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Viện
kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy nói chung và đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra 73
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CQĐT KSĐT KSND THQCT TTHS VAHS VKS
: Cơ quan điều tra : Kiểm sát điều tra : Kiểm sát nhân dân : Thực hành quyền công tố : Tố tụng hình sự
: Vụ án hình sự : Viện kiểm sát
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG PHỤ LỤC
Bảng 2.1: Thống kê số lượng án xâm phạm sở hữu có tính chất
chiếm đoạt Cơ quan điều tra Công an quận Cầu Giấy
Bảng 2.2: Thống kê số lượng án xâm phạm sở hữu có tính chất
chiếm đoạt Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã
Bảng 2.3: Thống kê các loại tội xâm phạm sở hữu Cơ quan Cảnh
Bảng 2.4: Thống kê các loại tội xâm phạm sở hữu Viện kiểm sát
Bảng 2.5: Thống kê kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra đối với việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy từ năm 2010
Bảng 2.6: Thống kê kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy từ năm
Bảng 2.7: Thống kê kết quả kiểm sát tiếp nhận, xử lý tố giác,
tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là hai chức năng hiến định của Viện kiểm sát nhân dân và việc đảm bảo thực hiện chức năng này cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta Nhận thức và quán triệt nghiêm túc tinh thần các nghị quyết của Đảng, trải qua 55 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Kiểm sát nhân dân đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phục
vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, các quyền dân chủ của công dân
Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội là một bộ phận cấu thành của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân Mặc dù mới thành lập được 18 năm (khi tách huyện Từ Liêm cũ thành huyện Từ Liêm và quận Cầu Giấy năm 1997) nhưng Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn quận nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung
Tính từ năm 2010 đến năm 2014 Viện kiểm sát nhân dân (KSND) quận Cầu Giấy đã kiểm sát khởi tố, điều tra 2065 vụ/ 3146 bị can, trong đó các tội xâm phạm sở hữu (XPSH) có tính chất chiếm đoạt xảy ra 984 vụ với 1314 bị can chiếm tỷ lệ 47% so với số vụ án thụ lý điều tra [46] Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp ngăn chặn đảm bảo đúng quy định của pháp luật, việc truy tố, xét xử không có trường hợp nào làm oan người vô tội
Tuy nhiên, hoạt động thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát điều tra (KSĐT) đối với các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt còn nhiều tồn tại, hạn chế như việc thu thập chứng cứ trong hồ sơ không đầy đủ, hình sự hoá
Trang 102
các quan hệ dân sự, nhầm lẫn trong việc định tội danh Những tồn tại trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân trực tiếp do nhận thức của Kiểm sát viên làm công tác THQCT và KSĐT các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt chưa đầy đủ và thống nhất, các quy định của pháp luật còn thiếu đồng bộ Mặt khác, lý luận về công tác THQCT và KSĐT đối với loại tội này chưa được xem xét, nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện Với tình hình thực tế
như trên, tác giả chọn đề tài “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội)" làm luận văn
thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Thực hành quyền công tố và KSĐT là một đề tài rộng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà làm luật và các nhà khoa học Do vậy, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chức năng THQCT và KSĐT của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra nói chung và đối với một số tội nói riêng
Ở cấp độ luận văn thạc sĩ có các công trình tiêu biểu sau: “Một số hoạt
động kiểm sát điều tra án kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh” tác giả Vũ Thị
Xuân Nhuệ, Luận văn cao học luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 1998;
"Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự theo
yêu cầu cải cách tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội", của Hà Thị Minh Hạnh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2007; “Nhiệm vụ, quyền hạn
của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra”, Bùi Ngọc Tú, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2013
Bên cạnh đó có các giáo trình, sách chuyên khảo, các bài viết, bình luận
trên các tạp chí như: “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra”, sách tham khảo, Lê Hữu Thể (chủ biên), NXB
Trang 113
Tư pháp năm 2005; “Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng hình sự”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm
2006; “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra,
kiểm sát xét xử các vụ án kinh tế - chức vụ”, Nguyễn Mạnh Hiền, Tạp chí
Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Số xuân 2012; “Nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án tham nhũng”, Dương Văn Phùng, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Số Xuân 2013:“Một số kinh nghiệm trong công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án về ma túy” Trấn Thế Vinh, Tạp chí
Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Số 8/2013…
Qua kết quả khảo sát trên cho thấy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về THQCT và KSĐT đối với các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trong khi các tội này chiếm tỷ lệ lớn trong quá trình giải quyết án trên các địa bàn Điều này một lần nữa khẳng định việc
nghiên cứu đề tài: "Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với
các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội)” là một yêu cầu khách
quan, cấp thiết, đáp ứng nhu cầu lý luận và thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật về THQCT và KSĐT nói chung và thực tiễn áp dụng đối với các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy nói riêng để góp phần làm phong phú thêm lý luận, nhận thức đúng thực tiễn và
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt
Trang 124
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm THQCT
và KSĐT các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
- Phân tích làm rõ khái niệm, đặc điểm của các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt và hoạt động điều tra của các cơ quan chức năng
- Phân tích những căn cứ, đặc điểm của hoạt động THQCT và KSĐT của Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt
- Khảo sát làm rõ thực trạng THQCT và KSĐT của Viện KSND quận Cầu Giấy đối với các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt từ năm 2010 đến năm 2014; những kết quả đạt được, những mặt tồn tại và nguyên nhân
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả THQCT và KSĐT của Viện KSND quận Cầu Giấy nói riêng và các cấp Viện kiểm sát nhân dân nói chung, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phương cũng như trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động THQCT và KSĐT theo chức năng của Viện KSND đối với các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt, kể
từ khi khởi tố cho đến khi kết thúc điều tra vụ án
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về THQCT và KSĐT của Viện kiểm sát nhân dân đối với các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt xảy ra trên địa bàn quận Cầu Giấy do
Cơ quan Cảnh sát điều tra thụ lý, trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Văn kiện Đại
Trang 135
hội Đảng VIII, IX, X, XI và các Nghị quyết số 09/NQ-TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 26/5/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp như: thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh…
6 Những điểm mới đóng góp của đề tài
Luận văn là tài liệu chuyên sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về THQCT và KSĐT đối với các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt gắn với thực tiễn của một địa phương cụ thể Vì vậy, luận văn có một số điểm mới sau:
- Phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận trong hoạt động THQCT và KSĐT nói chung của Viện kiểm sát nhân dân
- Nêu lên những điểm đặc trưng của công tác THQCT và KSĐT đối với các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá số liệu, tình hình thực tế, chỉ ra những tồn tại, khó khăn, vướng mắc; nguyên nhân và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác trên
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn trong hoạt động THQCT và KSĐT của của Viện KSND quận Cầu Giấy đối với các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt, từ đó
có thế tổng kết kinh nghiệm cho toàn ngành Bên cạnh đó, luận văn góp phần xây dựng, hoàn thiện các tri thức của khoa học Luật Hình sự, Luật tố tụng hình sự, khoa học Điều tra hình sự
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học….nói riêng
Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể phục vụ cho việc tham
Trang 146
khảo của cán bộ đang công tác tại các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra
đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy
Chương 3: Dự báo tình hình và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các tội xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn quận Cầu Giấy
Trang 157
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
cơ bản của công dân, bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản Các quyền này được pháp luật tôn trọng và bảo vệ
Các tội xâm phạm sở hữu (XPSH) là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi [38, tr.5] Các tội này được quy định tại Chương XXIV Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây viết tắt là Bộ luật hình sự), gồm 13 tội được quy định từ Điều 133 đến Điều 145 Đó là các tội: tội cướp tài sản (Điều 133), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135), tội cướp giật tài sản (Điều 136), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137), tội trộm cắp tài sản (Điều 138), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140), tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141), tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142), tội hủy hoại
Trang 168
hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143), tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144), tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145)
Căn cứ vào tính chất của mục đích phạm tội, khoa học luật hình sự chia các tội xâm phạm sở hữu thành hai nhóm: (1) các tội có mục đích tư lợi (bao gồm 10 tội từ Điều 133 đến Điều 142 BLHS) và (2) nhóm các tội không có mục đích tư lợi (từ Điều 143 đến Điều 145 BLHS) Đối với nhóm các tội có mục đích tư lợi, dựa vào đặc điểm chung của hành vi phạm tội có thể chia thành nhóm có tính chất chiếm đoạt (bao gồm 8 tội từ Điều 133 đến Điều 140) và nhóm không có tính chất chiếm đoạt (gồm các Điều 141, 142) Vậy tính chất chiếm đoạt ở đây được hiểu như thế nào?
Có ý kiến cho rằng “chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài
sản đang thuộc sự quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình” [38, tr.11] Quan
điểm này thể hiện được bản chất của khái niệm chiếm đoạt nhưng đã đồng nhất dấu hiệu chiếm đoạt với hành vi chiếm đoạt
Trong khi đó, theo Từ điển tiếng Việt, chiếm đoạt là “chiếm của người
làm của mình, bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế”[21, tr.212] Như vậy,
khái niệm chiếm đoạt cần phải bao quát cả ở khía cạnh hành vi phạm tội và mục đích phạm tội Từ đó, chúng tôi cho rằng khái niệm chiếm đoạt trong dấu
hiệu chiếm đoạt cần được hiểu như sau: “chiếm đoạt là việc cố ý chuyển dịch
trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lí của chủ sở hữu thành tài sản của mình Chúng được biểu hiện dưới dạng hành vi hoặc mục đích phạm tội”
Trên cơ sở khái niệm các tội XPSH và khái niệm chiếm đoạt ở trên, có thể đưa ra khái niệm về các tội XPSH có tính chiếm đoạt như sau:
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những hành vi cố
ý chiếm lấy, đoạt lấy tài sản đang do người khác sở hữu hợp pháp làm tài sản của mình vì mục đích vụ lợi
Trang 17- Khách thể của tội phạm
Theo khoa học luật hình sự, khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [37, tr.78] Nghiên cứu quy định của BLHS đối với các tội từ Điều 133 đến Điều 140 và thực tiễn áp dụng, các tội từ Điều 133 đến Điều 136 BLHS có khách thể không chỉ là quan
hệ sở hữu mà còn là quyền nhân thân Còn đối với các tội từ Điều 137 đến Điều 140 BLHS có khách thể chỉ là quan hệ sở hữu
Về đối tượng tác động thuộc khách thể của tội phạm, các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt có đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác (không phải là của người phạm tội) và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lí của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Về nguyên tắc tài sản này là hợp pháp và bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền
và các quyền về tài sản (Điều 163 Bộ luật dân sự)
- Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi phạm tội được hiểu là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định chịu sự kiểm soát, điều khiển bởi ý thức, ý chí của người phạm tội [37, tr.93-97] Hành vi phạm tội có hai hình thức thể hiện
là hành động và không hành động
Dựa vào quy định của BLHS và thực tiễn áp dụng, các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt có những hành vi khách quan khác nhau Đó có thể là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực như tội Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm
Trang 1810
chiếm đoạt tài sản, Cưỡng đoạt tài sản (nhóm 1); hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để thực hiện tội phạm như tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản (nhóm 2); hành vi dùng thủ đoạn gian dối như tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (nhóm 3) hay hành
vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai như tội Cướp giật tài sản Tuy nhiên, thủ đoạn, cách thức, đối tượng thực hiện hành vi và điều kiện khi thực hiện hành vi là khác nhau và chúng là dấu hiệu phân biệt các tội phạm có cùng hành vi chiếm đoạt với nhau Cụ thể, trong nhóm 1, đối với tội Cướp tài sản, người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực “ngay tức khắc” đối với chủ tài sản; đối với tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành
vi đe dọa dùng vũ lực lại nhằm vào con tin từ đó khiến người thân của con tin (người có tài sản) phải lo sợ, giao nộp tài sản; hoặc cùng là đe dọa dùng vũ lực đối với chủ tài sản nhưng ở tội Cưỡng đoạt tài sản không có đặc điểm
“ngay tức khắc” như tội Cướp tài sản Đối với nhóm 2, người phạm tội Trộm cắp tài sản có thủ đoạn lén lút khi thực hiện hành vi chiếm đoạt; còn ở tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội lại có hành vi công khai Ở nhóm 3,tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được phân biệt với nhau bởi thủ đoạn gian dối được thực hiện trước hay sau khi hành vi chiếm đoạt được thực hiện
Về hậu quả mà những hành vi nói trên gây ra trước hết là những thiệt hại gây ra cho quan hệ sở hữu, thể hiện dưới dạng thiệt hại vật chất cụ thể là tài sản bị mất Đối với những tội như Cướp tài sản, Cướp giật tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì thiệt hại còn bao gồm cả thiệt hại về thể chất (thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe, tinh thần)
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của nhóm tội này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định: từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu
Trang 1911
trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ
16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc những tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 133; khoản 2,3,
và 4 của các Điều 134, 135, 136; khoản 3 và 4 các Điều 137, 138, 139, 140 Ngoài ra tại các Điều 139, 140 Bộ luật hình sự, dấu hiệu chủ thể đặc biệt được phản ánh trong cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự, cụ thể ở điểm d khoản 2 Điều 139: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản; điểm b khoản 2 Điều 140: Lợi dụng chức vụ quyền hạn để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Mặt chủ quan của tội phạm:
Tất cả các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt đều được thực hiện với lỗi cố
ý trực tiếp Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lí nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành của mình
Về động cơ và mục đích phạm tội: người phạm tội mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác và dấu hiệu chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc đối với các tội này Tùy thuộc vào đặc trưng của từng tội do BLHS quy định
mà dấu hiệu chiếm đoạt trong các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt là khác nhau Chúng có thể là hành vi chiếm đoạt, mục đích chiếm đoạt hoặc chiếm đoạt được Ví dụ: Đối với các tội từ Điều 133 đến Điều 135 BLHS, khách thể được bảo vệ bao gồm quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Để xâm phạm quan hệ sở hữu, người phạm tội phải có hành vi xâm hại quan hệ nhân thân Trong đó, quan hệ nhân thân rõ ràng quan trọng hơn quan hệ sở hữu nên các tội này có cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội xem như tội phạm đã hoàn thành và dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua mục đích phạm tội Vì vậy, mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội này Đây là cơ sở phân biệt các tội này với các tội khác do BLHS quy định có hành vi khách quan tương tự như hành vi phạm tội của các tội này
Trang 2012
Đối với tội cướp giật tài sản, mặc dù khách thể mà tội này xâm phạm cũng là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân nhưng khác với các tội tại các Điều 133, 134, 135 BLHS Hành vi khách quan do BLHS quy định đối với tội cướp giật tài sản xâm phạm trực tiếp đến quan hệ sở hữu và qua việc xâm phạm quan hệ sở hữu mới xâm phạm đến quan hệ nhân thân nên dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua hành vi chiếm đoạt được mô tả trong điều luật
1.1.2 Điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.1.2.1 Khái niệm điều tra các vụ án hình sự
Pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) Việt Nam từ trước tới nay chưa bao giờ ghi nhận định nghĩa pháp lý khái niệm giai đoạn TTHS Tuy nhiên, Bộ luật TTHS 2003 đã thể hiện sự phân chia các giai đoạn tố tụng một cách rõ nét, theo đó quá trình giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Tương ứng với đó, mỗi giai đoạn
có nhiệm vụ, chủ thể, trình tự, thủ tục, thời hạn cụ thể nhằm phục vụ mục đích chung của toàn bộ quá trình tố tụng Bên cạnh đó, trên phương diện khoa học luật TTHS, căn cứ vào cơ quan và người tiến hành tố tụng, các nhà nghiên cứu cũng chia quá trình tố tụng thành các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành bản án và quyết định của Toà án Như vậy, có thể thấy cả trên phương diện lý luận cũng như quy định của pháp luật, điều tra được coi là một giai đoạn tố tụng độc lập Trong quá trình điều tra, một mặt phải đảm bảo các yêu cầu của luật TTHS về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đồng thời phải áp dụng các phương pháp, thủ thuật chiến thuật, kỹ thuật điều tra để phát hiện, thu thập chứng cứ làm sáng tỏ sự thật của vụ án hình sự để làm cơ sở cho việc
xử lý theo đúng quy định của pháp luật
Trên cơ sở nhận thức đó, tác giả đưa ra khái niệm điều tra vụ án hình sự
như sau: Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình
sự do cơ quan có thẩm quyền tiến hành bằng các biện pháp theo quy định của
Trang 2113
pháp luật nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ sự thật của vụ án, chứng minh tội phạm trước pháp luật, đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ án hình sự và góp phần phòng ngừa tội phạm
Trong quá trình giải quyết vụ án, giai đoạn điều tra có vai trò hết sức quan trọng Bởi lẽ, điều tra vụ án hình sự (VAHS) là giai đoạn thu thập chứng
cứ để chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, xác định tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Kết quả điều tra vừa là
cơ sở để Viện kiểm sát (VKS) quyết định truy tố, vừa là cơ sở để Toà án đưa
vụ án ra xét xử Tác động của kết quả điều tra đối với công tác truy tố, xét xử không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng chứng cứ mà còn là nhận định, đánh giá tội phạm, áp dụng pháp luật hình sự của Cơ quan điều tra (CQĐT) Trong TTHS thẩm vấn, vị trí của hoạt động điều tra càng quan trọng, những sai lầm nghiêm trọng làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm trong lịch sử tư pháp nước ta chủ yếu bắt nguồn từ giai đoạn điều tra [35, tr.198] Do đó, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát điều tra (KSĐT) nhằm bảo đảm mọi hoạt động trong quá trình điều tra đúng pháp luật Đồng thời việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT và KSĐT trong
Bộ luật TTHS là hết sức cần thiết và mang một ý nghĩa rất lớn trong quá trình giải quyết VAHS, nhằm đảm bảo việc điều tra VAHS khách quan, toàn diện, đúng quy định của pháp luật
1.1.2.2 Thẩm quyền điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Với phạm vi nghiên cứu của luận văn là THQCT và KSĐT các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cầu Giấy nên trong nội dung này, tác giả chỉ nêu về cơ sở pháp lý của việc tổ chức và phân định thẩm quyền điều tra ở cấp huyện
Trên cơ sở quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004, ngày 07 tháng 7 năm 2014 Bộ Công an đã ban
Trang 2214
hành Thông tư số 28/2014/BCA về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, các cơ quan khác của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Theo quy định tại Điều 17 Thông tư này thì trong điều tra các VAHS, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; phân loại và chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết; trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện; tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật hình sự năm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
và Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân)
1.1.2.3 Nội dung điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
- Tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố VAHS
và quyết định việc khởi tố VAHS
Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là các thông tin đầu tiên
về tội phạm đến với cơ quan có thẩm quyền Đây là cơ sở đầu tiên để cơ quan
có thẩm quyền xem xét xác định có phải là vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt hay không để quyết định đưa hay không đưa vụ việc vào giải quyết theo thủ tục TTHS
Để đảm bảo tính chính xác, đòi hỏi các hoạt động liên quan đến việc tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải được thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của luật TTHS về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn và các yêu cầu pháp lý khác
Sau quá trình kiểm tra, xác minh, tùy thuộc vào kết quả, cơ quan có thẩm quyền có thể ra các quyết định sau:
Trang 2315
+ Có đủ căn cứ xác định sự việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra trên thực
tế, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định khởi tố vụ án
+ Có căn cứ xác định không có sự việc xảy ra hoặc có một trong các căn cứ để không khởi tố VAHS theo quy định tại Điều 107 Bộ luật TTHS thì
cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố VAHS và kết thúc về mặt TTHS đối với vụ việc
- Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong điều tra các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt
Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình điều tra các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, không để các đối tượng trong vụ án bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình điều tra vụ án, nhưng đồng thời nó cũng liên quan đến các chiến thuật điều tra Các biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt bao gồm: Bắt người (với ba trường hợp bắt bị can bị cáo
để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã); Tạm giữ, tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bảo lĩnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm [28] Các biện pháp ngăn chặn này có thể được áp dụng trước hoặc sau khi khởi tố vụ án Đây là các biện pháp có tính cưỡng chế nghiêm khắc, thường tác động đến các quyền cơ bản của con người, vì vậy khi áp dụng đòi hỏi phải đảm bảo tính có căn cứ, đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục mà luật TTHS quy định Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn còn mang tính nghiệp vụ thể hiện thủ thuật, chiến thuật trong điều tra nhưng không được lạm dụng mà yêu cầu tiên quyết vẫn là phải đảm bảo tính pháp lý cho hoạt động này
- Tiến hành các biện pháp điều tra
Sau khi quyết định khởi tố các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt, Cơ quan điều tra sẽ bắt tay vào tiến hành các biện pháp điều tra Tùy tính chất
Trang 2416
từng vụ án và các tình huống xuất hiện khi khởi tố vụ án mà thứ tự các biện pháp điều tra được tiến hành Nhưng nhìn chung tất cả các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt đều phải tiến hành một số biện pháp điều tra sau để thu thập chứng cứ phục vụ quá trình chứng minh làm sáng tỏ vụ án
+ Khám nghiệm hiện trường: Khám nghiệm hiện trường là biện pháp điều tra do Điều tra viên tiến hành tại nơi xảy ra tội phạm hoặc tại nơi phát hiện tội phạm nhằm phát hiện vật chứng, dấu vết của tội phạm và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết VAHS Khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khởi tố VAHS Ngoài việc xác định, thu giữ dấu vết, vật chứng có liên quan đến vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt thì công tác khám nghiệm hiện trường còn phải xác định, ghi nhận những dấu vết phản ánh việc lục soát, chiếm đoạt tài sản, đặc điểm, chủng loại tài sản bị chiếm đoạt…Cá biệt trong những trường hợp kèm theo hành vi chiếm đoạt tài sản còn có thể có những hành vi phạm tội khác như giết người, gây thương tích thì công tác khám nghiệm hiện trường còn phải phát hiện, thu giữ dấu vết, vật chứng phản ánh về những hành vi phạm tội đó, kể cả việc khám nghiệm tử thi (nếu có) Hoạt động khám nghiệm hiện trường phải được thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định tại Điều 150 BLTTHS
+ Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đây là biện pháp điều tra bằng cách triệu tập và hỏi những người này các tình tiết liên quan đến vụ án nhằm làm rõ sự thật của vụ án Việc lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của Điều 133 đến 137 và các quy định khác có liên quan của BLTTHS Lấy lời khai những người tham gia tố tụng này trong vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt phải đặc biệt chú ý làm rõ thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm; số lượng,
Trang 25cơ sở pháp lý cho các hoạt động điều tra và các biện pháp tố tụng khác để xử
lý đối với người phạm tội theo đúng quy định của pháp luật Việc khởi tố bị can phải thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định tại các Điều 126, Điều 127, Điều 128 Bộ luật TTHS
Sau khi có quyết định khởi tố bị can, phải tiến hành hỏi cung bị can Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra bằng cách hỏi trực tiếp người đã bị khởi tố về hình sự với tư cách là bị can Để tiến hành hỏi cung bị can cần tiến hành các thủ tục để triệu tập bị can theo quy định tại các Điều 129, 130 BLTTHS Việc hỏi cung bị can phải tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 131, 132 BLTTHS
+ Đối chất: Đối chất là biện pháp điều tra bằng cách tiến hành hỏi hai người cùng một lúc về cùng một vấn đề có liên quan đến vụ án nhằm làm rõ mâu thuẫn trong các lời khai của họ Việc đối chất có thể tiến hành giữa: Bị can với bị can; Bị can với người bị tình nghi, người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại; Giữa người bị hại với người làm chứng; Giữa những người làm chứng với nhau Hoạt động đối chất phải tiến hành theo đúng quy định Điều 138 BLTTHS
+ Nhận dạng: Nhận dạng là biện pháp điều tra được tiến hành bằng cách đưa người, vật, ảnh để người làm chứng, người bị hại, bị can quan sát nhận xét có đúng là đối tượng có liên quan đến vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt mà họ đã biết trước đây hay không Người nhận dạng có thể là người làm chứng, người bị hại, bị can Đối tượng nhận dạng có thể là người sống (nhận dạng về hình dáng, tiếng nói), tử thi, đồ vật, súc vật, địa điểm, ảnh
Trang 26+ Thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện: Khi cần thiết phải thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện thì CQĐT
ra lệnh thu giữ Lệnh này phải được VKS phê chuẩn trước khi thi hành, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản và sau khi thu giữ phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp biết Việc thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện phải tiến hành theo Điều 144 BLTTHS
+ Xem xét dấu vết trên thân thể: Xem xét dấu vết trên thân thể là biện pháp điều tra bằng cách tiến hành xem xét trên thân thể người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng để phát hiện trên người họ dấu vết của tội phạm hoặc các dấu vết khác có ý nghĩa đối với vụ án Khi tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể, phải thực hiện nghiêm chỉnh quy định tại Điều 152 và các quy định khác có liên quan của BLTTHS
+ Thực nghiệm điều tra: Thực nghiệm điều tra là biện pháp điều tra bằng việc CQĐT tổ chức diễn lại hoặc làm thử một hành vi, sự việc, hiện tượng có liên quan đến việc điều tra làm rõ vụ án trong điều kiện tương tự như lời khai của
bị can, người làm chứng, người bị tạm giữ, người bị hại hay giả thuyết điều tra
Trang 2719
của CQĐT để xem hành vi, sự việc, hiện tượng đó có xảy ra hay không và như thế nào Khi tiến hành thực nghiệm điều tra phải tuân theo các quy định tại Điều
153 và các quy định khác có liên quan của BLTTHS
+ Trưng cầu giám định: Trưng cầu giám định là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm trưng cầu các cơ quan, tổ chức hoặc các nhà chuyên môn sử dụng tri thức khoa học vào việc nghiên cứu, xem xét, đối chiếu để kết luận về các vấn
đề cần kết luận nhằm thu thập chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết VAHS Trong các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt, hoạt động trưng cầu giám định thường là giám định tài sản bị chiếm đoạt Hoạt động trưng cầu giám định và giám định phải được tiến hành theo quy định tại các Điều 155 đến
159 Bộ luật TTHS
- Tạm đình chỉ điều tra và kết thúc điều tra
+ Tạm đình chỉ điều tra: Tạm đình chỉ điều tra là việc CQĐT tạm ngừng việc tiến hành điều tra đối với cả vụ án hoặc đối với một bị can khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của hội động giám định y khoa; khi chưa xác định được bị can hoặc không rõ bị can đang ở đâu hoặc chưa có kết luận giám định khi hết thời hạn điều tra (Điều 160 Bộ luật TTHS)
+ Kết thúc điều tra: Có hai hình thức kết thúc điều tra vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt:
Đình chỉ điều tra: Hình thức này được tiến hành khi trong quá trình điều tra, CQĐT có căn cứ xác định không có sự việc phạm tội xảy ra, hành vi xảy ra không cấu thành tội phạm, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc đã chết, hay hết thời hạn điều tra nhưng không chứng minh được bị can phạm tội Việc đình chỉ điều tra có thể là đình chỉ toàn bộ vụ án hoặc đình chỉ điều tra đối với từng bị can Khi
Trang 28vụ án; Lý do và căn cứ đề nghị truy tố; Lý lịch của các bị can Kết luận điều tra
do Thủ trưởng CQĐT ký, được chuyển cùng hồ sơ cho VKS và gửi cho các bị can.Hồ sơ VAHS được chuyển cho VKS đề nghị truy tố bị can trước pháp luật
Hồ sơ được đánh bút lục từ số 01 đến hết Khi chuyển hồ sơ sang VKS, CQĐT bàn giao cả vật chứng cho VKS và phải lập biên bản bàn giao
1.2 Khái quát về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các
vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.2.1 Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự
1.2.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố
Thuật ngữ “quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980, tiếp đó là Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật TTHS năm 1998, Bộ luật TTHS năm 2003, Luật tổ chức Viện KSND năm
1981, Luật tổ chức Viện KSND năm 1992, Luật tổ chức Viện KSND năm
2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002, Luật tổ chức Viện KSND năm
2014 Tuy nhiên hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước giải thích chính thức về nội dung quyền công tố Chính vì vậy, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố
Theo tác giả Lê Hữu Thể, có tám quan điểm khác nhau về quyền công tố [34, tr.21-34] Sau khi phân tích ưu khuyết điểm của các quan điểm
Trang 29và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [34, tr.40]
Mặc dù quan điểm trên đã nêu được những vấn đề thuộc về bản chất của quyền công tố nhưng thực chất đây là quyền thực hành quyền công tố chứ không phải là quyền công tố Bởi vì quyền công tố là quyền của Nhà nước chứ không phải nhân danh Nhà nước
Có quan điểm đồng nhất quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện KSND, dẫn đến tình trạng mở rộng phạm vi quyền công tố vượt khỏi lĩnh vực TTHS sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế, lao động, hành chính như:
Quyền công tố ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát đưa vụ án ra tòa xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung và lợi ích của công dân được thực hiện trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác [13, tr.7]
Như vậy các quan điểm này đều có hạn chế là không phân định rõ ràng khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Theo
Trang 3022
chúng tôi quyền lực Nhà nước trong lĩnh vực hình sự gắn liền với sự buộc tội nhân danh Nhà nước, hay nói cách khác là nhân danh công quyền, và chỉ phát sinh khi có hành vi phạm tội xảy ra Sự buộc tội nhân danh công quyền này được gọi là quyền công tố và quyền công tố phải thuộc về Nhà nước - tổ chức quyền lực công, đại diện quyền lực công Đồng thời quyền công tố chỉ
có trong lĩnh vực TTHS
Như vậy thực chất: Quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội
Trong lĩnh vực TTHS, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật Để thực hiện quyền công tố, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu TNHS đối với người phạm tội Cơ quan được giao thẩm quyền đưa vụ án ra tòa án được gọi là cơ quan thực hành quyền công tố
và cơ quan này ở mỗi nước là khác nhau tùy thuộc vào bản chất chế độ chính trị, điều kiện và hoàn cảnh của từng nước
Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của pháp luật (từ Hiến pháp
1959, 1981, 1992, 2013 và các Luật tổ chức Viện KSND 1960, 1981, 1992,
2002 và 2014) thì chỉ có Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất thực
hành quyền công tố và quyền công tố trong TTHS là rất lớn: “được áp dụng
các biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội” [28] Ví dụ trong điều tra VAHS, CQĐT có quyền độc lập thu thập
tài liệu, chứng cứ, nhưng những tài liệu, chứng cứ đó có đủ cơ sở để truy tố bị can hay không là thuộc trách nhiệm của VKS Nếu không đủ căn cứ để buộc tội, VKS có quyền yêu cầu CQĐT bổ sung tài liệu chứng cứ, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra, đình chỉ điều tra, yêu cầu xử lý nghiêm minh những người có vi phạm trong hoạt động điều tra Khi có đủ tài liệu, chứng
Trang 3123
cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét thấy cần truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội trước Tòa án thì VKS quyết định truy tố bị can Như vậy, THQCT là chức năng mà không cơ quan nào có thể làm thay VKS Chức năng này được quy định cụ thể tại Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014:
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự [31] Trên cơ sở khái niệm này cũng như những quy định tại Mục 2, Chương
II của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra VAHS, luận văn đưa ra định nghĩa về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra như sau:
Thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự là chức năng tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện quyền của nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội, được thực hiện từ khi khởi tố và trong suốt quá trình điều tra vụ án hình sự cho đến khi kết thúc điều tra
Với những phân tích và định nghĩa nêu trên, có thể xác định đối tượng, nội dung, chủ thể, phạm vi của THQCT trong điều tra VAHS như sau:
- Đối tượng của THQCT chính là tội phạm và người phạm tội
- Nội dung của THQCT là thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự và việc buộc tội đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm
- Chủ thể THQCT là Viện kiểm sát nhân dân
- Phạm vi THQCT bắt đầu từ khi khởi tố VAHS đến khi kết thúc điều tra
Trang 3224
- Trình tự thủ tục THQCT phải tiến hành theo quy định của Bộ luật TTHS
1.2.1.2 Khái niệm kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
Thuật ngữ “kiểm sát các hoạt động tư pháp” được xuất hiện trong các văn kiện của Đảng như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 9, Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và gần đây nhất là Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 Trước khi có Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014 các nhà lập pháp nước ta chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất
về khái niệm “kiểm sát các hoạt động tư pháp” dẫn đến nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về khái niệm này, tựu chung lại có ba nhóm quan điểm: (1) quan điểm giới hạn kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi tố tụng hình sự; (2) quan điểm kiểm sát các hoạt động tư pháp bao gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (tất cả các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và phần tư pháp trong thi hành án; (3) quan điểm kiểm sát tư pháp được hiểu là giám sát tư pháp, là một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Mặc dù mỗi nhóm quan điểm có lập luận riêng nhưng các quan điểm này đều không phủ nhận kiểm sát các hoạt động tư pháp luôn bao gồm việc kiểm sát các hoạt động
tố tụng hình sự trong đó có hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự
Như vậy cần phải khẳng định kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của Viện kiểm sát Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà nước về tư pháp và đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Quan điểm này đã được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp từ
năm 1959 đến năm 2013:“Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố,
kiểm sát các hoạt động tư pháp” [30]
Trang 33tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; Trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; Việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; Các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [31]
Khái niệm này thể hiện đầy đủ bản chất, phạm vi của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung của Viện KSND Trong giai đoạn điều tra các VAHS thì kiểm sát các hoạt động điều tra là sự giám sát trực tiếp các hoạt động
cụ thể của cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được
áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết vụ án Bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các VAHS là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể điều tra và các chủ thể tham gia quá trình TTHS
Như vậy, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là quyền năng tư pháp
của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm tra, giám sát tính hợp pháp của các hành
vi, quyết định tố tụng hình sự của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền điều tra, của những người tham gia tố tụng hình sự kể từ khi khởi tố vụ án hình sự nhằm bảo đảm các hành vi, quyết định đó được chấp hành đúng pháp luật và giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, loại trừ oan sai, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động điều tra
Trang 3426
Từ định nghĩa trên có thể thấy hoạt động này có một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các VAHS là quyền năng hiến định của Viện KSND được quy định và thực hiện trên cơ sở Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan
Thứ hai, đối tượng của các hoạt động kiểm sát của Viện KSND trong giai đoạn điều tra các VAHS là các hành vi, quyết định tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
và các chủ thể khác có liên quan trong quá trình điều tra các VAHS
Thứ ba, phạm vi của hoạt động KSĐT các VAHS được xác định bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và được kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền chuyển cho VKS đề nghị truy tố hoặc khi CQĐT
ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án
Thứ tư, nội dung của KSĐT các VAHS của VKS là giám sát trực tiếp và điều chỉnh mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng và các chủ thể khác có liên quan trong quá trình điều tra các VAHS
1.2.2 Nội dung thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là hai chức năng hiến định của Viện KSND được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử VAHS Nhưng trong giai đoạn điều tra các VAHS, hai chức năng này chỉ được thực hiện từ khi khởi tố đến khi kết thúc điều tra thông qua những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể quy định tại Điều 14, 15 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Điều 23, 112, 113 Bộ luật TTHS Do đó, THQCT và KSĐT các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt được thể hiện qua các nội dung sau:
Trang 35tố VAHS theo quy định tại Điều 106 Bộ Luật TTHS
+ Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật: Khi thấy quyết định khởi tố vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt của các cơ quan
có thẩm quyền không có căn cứ theo quy định tại Điều 100 Bộ luật TTHS thì VKS ra quyết định hủy quyết định khởi tố đó Riêng quyết định khởi tố VAHS của Hội đồng xét xử thì VKS không có quyền hủy, nhưng nếu xác định không có căn cứ thì VKS kháng nghị lên Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa đã khởi tố vụ án Khi xác định quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ quy định tại Điều 107 Bộ luật TTHS thì Viện KSND hủy bỏ quyết định đó
+ Quyết định khởi tố VAHS: VKS ra quyết định khởi tố vụ án XPSH
có tính chất chiếm đoạt trong ba trường hợp sau đây: Khi hủy quyết định không khởi tố của CQĐT; khi Hội đồng xét xử yêu cầu VKS khởi tố vụ án;
Trang 3628
khi xác định hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm (Điều 104 Bộ luật TTHS) Để khởi tố vụ án VKS phải căn cứ vào Điều 100 Bộ luật TTHS Tuy nhiên nếu yêu cầu khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử không có căn cứ khởi tố
và có các căn cứ không được khởi tố VAHS quy định tại Điều 107 Bộ luật TTHS thì VKS có quyền ra quyết định không khởi tố VAHS
Như vậy suy cho cùng việc khởi tố hay không khởi tố vụ án là do cơ quan thực hành quyền công tố (Viện kiểm sát nhân dân) quyết định
- Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong việc quyết định khởi tố bị can + Phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can: Khi nhận được quyết định khởi tố bị can và các tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can, trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can VKS phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho CQĐT (Điều 126 Bộ luật TTHS)
+ Yêu cầu khởi tố bị can: Trong giai đoạn điều tra, nếu thấy ngoài bị can đã bị khởi tố còn có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý vụ án báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng ủy quyền ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với người đó (Điều 126
Bộ luật TTHS)
+ Khởi tố bị can: VKS chỉ ra quyết định khởi tố bị can sau khi nhận
hồ sơ và bản kết luận điều tra mà phát hiện có người khác đã thực hiện hành
vi phạm tội trong vụ án mà chưa bị khởi tố Khi đó Kiểm sát viên báo cáo Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng để xem xét quyết định việc khởi tố bị can theo quy định tại Khoản 5 Điều 126 Bộ luật TTHS Trong thời hạn 24 giờ,
kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Viện KSND phải gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi tiến hành các hoạt động
Trang 3729
điều tra: VKS trực tiếp tiến hành điều tra trong các trường hợp: Khi có yêu cầu của CQĐT hoặc qua kiểm sát việc hỏi cung phát hiện thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước sau không thống nhất; Bị can có khiếu nại việc điều tra; Có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực của lời khai bị can; Trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt nghiêm trọng thì Viện KSND có thể trực tiếp gặp, hỏi cung bị can Kiểm sát viên khi hỏi cung bị can phải thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 131 và 132 Bộ luật TTHS
Để đảm bảo việc xét phê chuẩn các quyết định của CQĐT được chính xác, Kiểm sát viên có thể triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, hỏi cung bị can
Kiểm sát viên chỉ tiến hành đối chất trong trường hợp có yêu cầu của CQĐT hoặc thấy việc đối chất của Điều tra viên chưa làm rõ được mâu thuẫn Khi cần phải đối chất Kiểm sát viên phải thông báo trước với Điều tra viên và thực hiện việc đối chất theo đúng quy định tại Điều 138 Bộ luật TTHS
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn:
+ Phê chuẩn, không phê chuẩn việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của CQĐT: Luật TTHS quy định lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, quyết định gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam và lệnh đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm của CQĐT phải được VKS phê chuẩn Nếu VKS thấy không có căn
cứ hợp pháp và không phê chuẩn thì các biện pháp ngăn chặn đó bị hủy bỏ
+ Quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn thuộc thẩm quyền: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 112 Bộ luật TTHS và Khoản 5 Điều 14 Luật tổ chức Viện KSND năm 2014, trong giai đoạn điều tra Viện kiểm sát có quyền độc lập trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn Như vậy, khi xác định các đối tượng có căn cứ để áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhưng CQĐT
Trang 38- Ngoài ra, Viện KSND còn có nhiệm vụ, quyền hạn khác trong quá trình THQCT đối với các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt
+ Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; Yêu cầu CQĐT truy nã bị can: Yêu cầu điều tra là những yêu cầu về những vấn đề cần điều tra làm rõ, tài liệu chứng cứ cần thu thập liên quan đến các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt Đây chính là quyền năng pháp lý của Cơ quan công tố đối với CQĐT trong quá trình điều tra Việc đề ra yêu cầu điều tra do Kiểm sát viên tiến hành Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều tra bằng lời nói hoặc bằng văn bản Nếu có căn cứ xác định có bị can đang bỏ trốn nhưng chưa bị truy nã thì Viện KSND yêu cầu CQĐT ra quyết định truy nã bị can
+ Phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định tố tụng khác của CQĐT: Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt, VKS ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của CQĐT như lệnh khám xét, quyết định thu giữ thư tín điện tín Đối với các quyết định tố tụng khác, nếu xác định CQĐT ra quyết định không có căn cứ thì VKS có quyền hủy bỏ
+ Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh: Để đảm bảo việc điều
Trang 3931
tra các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt cũng như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn thực hiện đúng thời hạn, pháp luật TTHS trao quyền và trách nhiệm cho VKS quyết định việc gia hạn điều tra và gia hạn tạm giam để điều tra Thời hạn và thẩm quyền gia hạn điều tra, gia hạn tạm giam để điều tra được thực hiện theo quy định tại Điều 120 Bộ luật TTHS
Đối với trường hợp cần chuyển vụ án để điều tra cho đúng thẩm quyền, VKS sẽ xem xét quyết định khi nhận được đề nghị của CQĐT cùng cấp Nếu chuyển vụ án trong phạm vi tỉnh thì VKS cùng cấp sẽ quyết định, nếu chuyển
Trong giai đoạn điều tra nếu có kết luận của Hội đồng giám định y khoa xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì VKS quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị can đó
1.2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện KDND khi kiểm sát điều tra
- Kiểm sát việc khởi tố các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt
Kiểm sát việc khởi tố là việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS trong giai đoạn điều tra các VAHS, thông qua việc thực hiện chức năng này VKS có trách nhiệm bảo đảm quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố VAHS của cơ quan có thẩm quyền phải có căn
cứ và hợp pháp Để đảm bảo kiểm sát việc khởi tố, các quyết định liên quan đến việc khởi tố các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt của CQĐT và các
Trang 4032
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi cho Viện KSND trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm ban hành quyết định đó Trong thời hạn 03 ngày kể từ khi nhận được các quyết định trên, Viện KSND phải cử Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của các quyết định đó
Để thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc khởi tố, VKS phải cùng CQĐT phân loại và xử lý các tố giác, tin báo về tội phạm và giám sát chặt chẽ việc xác minh của CQĐT Việc này sẽ giúp VKS loại trừ ngay từ đầu các vi phạm pháp luật của CQĐT và yêu cầu CQĐT sớm có biện pháp khắc phục kịp thời để hạn chế việc khởi tố tràn lan không có căn cứ hoặc không khởi tố
vụ án không có căn cứ dẫn đến bỏ lọt tội phạm
- Kiểm sát các hoạt động điều tra trong quá trình điều tra các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt
+ Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường:
Khám nghiệm hiện trường đóng vai trò rất quan trọng trong điều tra, xử
lý tội phạm Trong nhiều vụ án, kết quả khám nghiệm hiện trường có tính chất quyết định đối với việc điều tra Chính vì vậy, VKS phải kiểm sát khám nghiệm hiện trường hết sức chặt chẽ nhằm đảm bảo cho hoạt động khám nghiệm hiện trường đúng quy định của Bộ luật TTHS và đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ điều tra, xử lý tội phạm
Khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên cần lưu ý một số vấn đề sau:việc có mặt của Kiểm sát viên tại buổi khám nghiệm là bắt buộc; Kiểm sát viên cần đảm bảo các yêu cầu pháp lý của buổi khám nghiệm như cần có người chứng kiến, các nhà chuyên môn liên quan đến lĩnh vực khám nghiệm…; yêu cầu lực lượng khám nghiệm thực hiện nghiêm túc, tỉ mỉ, phát hiện, thu giữ, đánh giá đầy đủ, chính xác dấu vết, vật chứng phản ánh việc lục soát, chiếm đoạt tài sản, đặc điểm, chủng loại tài sản bị chiếm đoạt; Kiểm sát viên có thể chụp ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường, xem xét tại chỗ dấu vết, đồ vật, tài liệu liên