Đến thời điểm hiện nay, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đã đến lúc cần bổ sung chế định TNHS của pháp nhân để xử lý đối với các trường hợp tổ chức kinh tế pháp nhân vì chạy theo lợi ích
Trang 1đại học quốc gia hà nội
khoa luật
BùI LAN ANH
HìNH Sự HóA TRáCH NHIệM CủA PHáP NHÂN Đối với các tội phạm về chức vụ trong luật hình
sự việt nam
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2015
Trang 2đại học quốc gia hà nội
khoa luật
bùi lan anh
Hình sự hóa trách nhiệm của pháp nhân đối với các tội phạm về chức vụ trong luật hình
Trang 3Năm định hướng lớn trong sửa đổi BLHS lần này là thể chế hóa chủ trương của Đảng về hoàn thiện chính sách hình sự theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân; thể chế hóa về mặt hình
sự chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ và thúc đẩy sự phát triền nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường hợp tác quốc tế; hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự; đổi mới tư duy về tội phạm và hình phạt, về cơ sở trách nhiệm hình sự (TNHS), khắc phục những hạn chế trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới Trong đó, đáng chú ý là sẽ sửa đổi theo hướng hình sự hóa trách nhiệm của pháp nhân
TNHS của pháp nhân không phải là vấn đề mới mà đây là vấn đề đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự quốc gia cũng như các văn bản pháp luật quốc tế Xét ở góc độ pháp luật quốc gia, vấn đề TNHS của pháp nhân đã được quy định trong pháp luật hình sự của nhiều nước trên thế giới, như Anh,
Trang 4Mỹ, Canada, Australia, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Phần Lan, Vương quốc Bỉ, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha và gần đây, một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu như Slovakia, Hungari, Lavia, Estonia, Croatia, v.v Trong khu vực Châu Á, một số quốc gia cũng đã ghi nhận TNHS của pháp nhân như Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Trung Quốc… Dưới góc độ pháp luật quốc
tế, TNHS pháp nhân đã được khẳng định và nhấn mạnh trong nhiều Công ước của Liên Hợp quốcnhư Công ước về trừng trị việc tài trợ cho khủng bố, Công ước quốc về chống tham nhũng, Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia…
Ở Việt Nam, vấn đề TNHS của pháp nhân đã được đưa ra thảo luận và nghiên cứu chính thức trong quá trình xây dựng BLHS năm 1999 Tuy nhiên, tại thời điểm này, vấn đề TNHS của pháp nhân chưa được nghiên cứu sâu về mặt lý luận và thực tiễn, do vậy, vấn đề này vẫn tiếp tục được nghiên cứu Năm 2009, khi sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, vấn đề TNHS của pháp nhân một lần nữa được đưa ra nghiên cứu, thảo luận để quy định bổ sung vào BLHS Nhưng do đây là lần sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, chỉ tập trung sửa đổi, bổ sung một số vấn đề thật sự cấp bách nhất, bức xúc nhất của thực tiễn tại thời điểm đó để tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạmnên vấn đề TNHS của pháp nhân được thống nhất để lại tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng cả
về mặt lý luận và thực tiễn cho lần sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện BLHS
Đến thời điểm hiện nay, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đã đến lúc cần
bổ sung chế định TNHS của pháp nhân để xử lý đối với các trường hợp tổ chức kinh tế (pháp nhân) vì chạy theo lợi ích cục bộ, đã thực hiện nhiều hành
vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, gây hậu quả rất nghiêm trọng cho xã hội, cho nền kinh tế nhưng chỉ xử lý hình sự đối với cá nhân mà trong nhiều trường hợp việc xác định trách nhiệm
Trang 5cá nhân là rất khó khăn Trong khi đó, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp chỉ bị xử
lý bằng các chế tài hành chính, kinh tế, dân sự, không đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa Vì vậy, cần nghiên cứu khả năng bổ sung quy định TNHS của pháp nhân vào BLHS
Trong những năm gần đây ở nước ta thì các tội phạm về chức vụ cũng
có những diễn biến phức tạp Để khắc phục và đẩy lùi tình trạng tham nhũng đang diễn ra trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội hiện nay, nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, các cán bộ, công chức và mỗi công dân về công tác phòng, chống tham nhũng; để đấu tranh chống những biểu biện tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, công chức cũng như những hành vi tiếp tay cho tiêu cực là điều kiện tiên quyết để duy trì sự trong sạch, vững mạnh của bộ máy nhà nước; để đảm bảo hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, Nhà nước Việt Nam thì việc
bổ sung quy định TNHS của pháp nhân đối với một số loại tội trong đó có các tội phạm về chức vụ là cần thiết
Xuất phát từ thực tiễn các pháp nhân ngày càng thực hiện những hành
vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm và vì vấn đề TNHS của pháp nhân là một vấn đề không mới và đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này trên nhiều bình diện chung nên tác giả luận văn quyết định lựa chọn nghiên cứu vấn đề đối với một nhóm tội phạm cụ thể Và đề tài mà tác giả lựa chọn để
nghiên cứu là: “Hình sự hóa trách nhiệm của pháp nhân đối với các tội
phạm về chức vụ trong Luật hình sự Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu
Có thể nói việc nghiên cứu vấn đề TNHS của pháp nhân trong thời gian gần đây đã được các tác giả đặc biệt quan tâm Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học, các bài viết đề cập và nghiên cứu đến vấn đề TNHS của pháp nhân
Trang 6Năm 2011, Tiến sỹ Cao Thị Oanh đã chủ nhiệm công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ với đề tài “Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng TNHS đối với tổ chức” (Viện khoa học pháp lý); trong công trình nghiên cứu này có một số bài viết của các tác giả như: “Quy định về TNHS của tổ chức ở Trung Quốc” của tác giả Đỗ Đức Hồng Hà; “TNHS của pháp nhân tại Mỹ” của tác giả Nguyễn Khắc Hải; “Cơ sở thực tiễn của việc thiết lập chế định TNHS đơn vị pháp nhân ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn; “TNHS của pháp nhân trong luật hình sự một số nước theo truyền thống Common Law”; “TNHS của pháp nhân theo luật hình sự một số nước theo truyền thống châu Âu lục địa” của tác giả Trịnh Quốc Toản…
Một số bài viết về vấn đề TNHS của pháp nhân được đăng trên các báo, tạp chí như bài viết: “TNHS của pháp nhân theo pháp luật hình sự một số nước trên thế giới và lựa chọn cho Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tất Thành trên tạp chí Tòa án nhân dân số 9/2013; “TNHS của pháp nhân theo luật hình
sự một số nước trên thế giới và sự cần thiết phải quy định TNHS pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Lực trên tạp chí Khoa học pháp lý; “TNHS của pháp nhân và mô hình lý luận của nó trong luật hình
sự Việt Nam tương lai” của tác giả Trịnh Quốc Toản trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5/2006; “Vấn đề TNHS của pháp nhân”của tác giả Nguyễn Quý Công trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2010, “Đề xuất, kiến nghị, sửa đổi, bổ sung một số quy định tại phần chung của BLHS” của tác giả Dương Văn Thắng trên tạp chí Kiểm sát số 16/2014…
Ngoài ra còn có một số cuốn sách tham khảo cũng nghiên cứu vấn đề này như cuốn:”TNHS của pháp nhân trong Pháp luật hình sự” của tác giả Trịnh Quốc Toản - nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật; “chuyên đề về Luật hình sự (kỷ yếu hội thảo khoa học do nhà pháp luật Việt – Pháp phối hợp
Trang 7với vụ pháp luật hình sự - hành chính, tổ chức từ ngày 5-7 tháng 10 năm 1995 tại Hà Nội)” – Bộ tư pháp, viện nghiên cứu khoa học pháp lý; “Báo cáo đánh giá quốc gia của Việt Nam (2012), “Đánh giá thực hiện Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng của Việt Nam trong chu trình đánh giá 2011 –
2012 đối với các Điều từ 15-42, chương III “Hình sự hóa và thực thi pháp luật” và các Điều từ 44-50, chương IV “Hợp tác quốc tế” do Li-băng và Italia thực hiện”” – nhà xuất bản Lao động xã hội (2012); Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hải Anh với đề tài “TNHS của pháp nhân – những vẫn đề lý luận
và thực tiễn” (2010)…
Những công trình nghiên cứu khoa học, những bài viết nói trên đã giới thiệu được các quy định về TNHS pháp nhân ở một số nước, phân tích, so sánh các quy định về TNHS của pháp nhân trong pháp luật hình sự một số nước đại diện cho các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới để từ đó đưa
ra những quan điểm về việc thiết lập chế định TNHS của pháp nhân tại Việt Nam Tuy nhiên mỗi công trình chỉ tập trung vào một khía cạnh nhất định nhưng chủ yếu là nghiên cứu vấn đề lý luận TNHS của pháp nhân mà chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung phân tích và chỉ ra sự cần thiết phải quy định TNHS của pháp nhân đối với nhóm tội phạm cụ thể
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những ý kiến đề xuất để hoàn thiện quy định của luật hình sự Việt Nam về các tội phạm chức vụ, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng luật hình sự trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này
Với mục đích nêu trên, đề tài nghiên cứu sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất: Đưa ra các quan điểm, cơ sở quy định TNHS của pháp nhân;
những đặc điểm pháp lý hình sự cơ bản của các tội phạm về chức vụ để từ đó
Trang 8chỉ ra sự cần thiết việc hình sự hóa TNHS của pháp nhân đối với các tội phạm
về chức vụ
Thứ hai: Trình bày nội dung của một số công ước quốc tế mà Việt Nam
là quốc gia thành viên và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới có quy định vấn đề TNHS của pháp nhân nói chung và TNHS của pháp nhân đối với các tội phạm tham nhũng nói riêng để từ đó tổng kết kinh nghiệm cho quá trình lập pháp của Việt Nam
Cuối cùng:Trên cơ sở chỉ ra những hạn chế của luật cũng như những
vướng mắc trong quá trình áp dụng luật hình sự Việt Nam đồng thời nghiên cứu lý luận TNHS của pháp nhân, kinh nghiệm lập pháp và kinh nghiệm áp dụng luật hình sự về vấn đề TNHS của pháp nhân đối với các tội về chức vụ của một số quốc gia trên thế giới đưa ra một số kiến nghị cụ thể về TNHS của pháp nhân đối với tội phạm về chức vụ trong luật hình sự Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm khoa học và những quy định của luật hình sự Việt Nam, các quy định của luật hình sự một số nước trên thế giới về vấn đề TNHS của pháp nhân đối các tội đưa hối hộ và nhận hối lộ, các văn bản pháp lý quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc phê chuẩn có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Hiện nay vấn đề liên quan đến TNHS của pháp nhân nói chung và TNHS của pháp nhân đối với các tội đưa hối lộ và nhận hối lộ nói riêng đang được quan tâm Tuy nhiên tác giả chỉ thực hiện luận văn trong phạm vi những vấn đề được nhìn nhận từ góc độ luật hình sự Đề tài được tiếp cận và được thực hiện dưới góc độ luật hình sự và so sánh luật, chủ yếu trên cơ sở những quy định hiện hành của luật hình sự Việt Nam và một số công ước quốc tế cũng như luật pháp của một số quốc gia có quy định vấn đề TNHS của pháp nhân đối với các tội phạm đưa hối lộ và nhận hối lộ
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách tố tụng hình sự và hình sự, về vấn đề nâng cao chất lượng THQCT trong cải cách tư pháp mà Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của
Bộ Chính trị
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học điều tra hình sự và các phương pháp, kỹ năng khác, như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm ba chương:
- Chương 1:Những vấn đề về TNHS của pháp nhân và cáctội phạm về
chức vụtrong Luật hình sự Việt Nam
- Chương 2:Những đòi hỏi của việc quy địnhTNHS của pháp nhân
đối với các tội phạm chức vụ trong Luật hình sự Việt Nam
- Chương 3: Kiến nghị hình sự hóa trách nhiệm của pháp nhân đối với
các tội phạm về chức vụ trong Luật hình sự Việt Nam
Trang 10Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰCỦA PHÁP NHÂN VÀ CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1 Các quan điểm về trách nhiệm hình sự của pháp nhân
TNHS của pháp nhân là một vấn đề không mới trong khoa học pháp lý hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm pháp lý của pháp nhân mới chỉ được quy định trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, hành chính Trong lĩnh vực hình sự, trách nhiệm của pháp nhân vẫn chưa được quy định Từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX, khoa học hình sự nước
ta mới đưa ra những luận chứng chủ yếu cho sự điều chỉnh về mặt luật pháp chế định TNHS của pháp nhân Tuy chỉ có một số tác giả nghiên cứu về vấn
đề này song đã xuất hiện những quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề này
mà tựu chung lại là hai luồng quan điểm cơ bản Đó là quan điểm ủng hộ việc thiết lập chế định TNHS nhiệm hình sự của pháp nhân và quan điểm phản đối việc thiết lập chế định này Tất cả đều đưa ra những lập luận và lý lẽ riêng để chứng minh và bảo vệ quan điểm của mình
Quan điểm cho rằng chủ thể của tội phạm chỉ có thể là thể nhân chiếm
ưu thế và tồn tại trong một thời gian dài Những nhà hình sự học theo quan điểm này cho rằng việc thiết lập TNHS của pháp nhân đã vi phạm một nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự là nguyên tắc lỗi Theo cách hiểu truyền thống từ trước đến nay, lỗi được hiểu là thái độ tâm lý của người đó đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị Luật hình sự cấm và thái độ đối với hậu quả do hành
vi đó gây ra Do đó lỗi trong pháp luật hình sự về cơ bản chỉ có ở cá nhân người phạm tội Ngay cả trong trường hợp phạm tội dưới hình thức đồng
Trang 11phạm thì mỗi người tham gia với một vai trò khác nhau, họ có thể là người tổ chức, người giúp sức, người thực hành, người xúi giục nên tính chất, mức độ tham gia của mỗi người là khác nhau vì vậy lỗi của họ là khác nhau Lỗi trong trường hợp phạm tội dưới hình thức đồng phạm chỉ đặt ra đối với mỗi người phạm tội chứ không thể quy lỗi chung đối với nhóm đồng phạm đó[1, tr.7] Không thể có lỗi của tập thể con người mặc dù có thể tập thể con người đó có những quan điểm chung về một số vấn đề như trường hợp đồng phạm hay đồng phạm có tổ chức[8, tr 26] Còn pháp nhân là do con người lập ra và hoạt động của nó chỉ có thể được thực hiện thông qua những con người cụ thể nên
nó không thể và không bao giờ có lỗi Pháp nhân chỉ là một thực thể giả tưởng của pháp luật, nó chỉ là cấu trúc pháp lý được thiết lập nhằm phục vụ các lợi ích cá nhân của những thành viên pháp nhân Các nghị quyết, các quyết định của pháp nhân chỉ là kết quả của con số cộng các ý chí cá nhân của các thành viên pháp nhân chứ không phải tự sự mong muốn của chính pháp nhân đó [30,
tr 52].Do vậy không có lỗi nào có thể quy kết cho pháp nhân và theo logic của sự vật và phép biện chứng của triết học - không có lỗi hình sự thì không
có TNHS Trái lại những quan điểm của những nhà hình sự học theo học thuyết truyền thống phản đối việc thiết lập chế định TNHS của pháp nhân, nhưng người ủng hộ thiết lập chế định TNHS của pháp nhân đã đưa ra lập luận phản bác lại những quan điểm trên Họ cho rằng pháp nhân không phải là một trìu tượng pháp lý thuần túy mà nó có những đặc tính không đổi được thừa nhận chung, nó có sự tồn tại thực tế trong mối quan hệ với các thành viên của pháp nhân và tổ chức trên thực tế Ý chí của pháp nhân hoàn toàn độc lập với ý chí của các thành viên trong pháp nhân Trong điều lệ cũng như trong các văn bản của pháp nhân luôn có các quy định về tổ chức, về hoạt động của pháp nhân và pháp nhân có thể tự do tìm kiếm lợi ích riêng của bản thân độc lập với lợi ích cá nhân tạo lên nó [30, tr 54] Pháp nhân bao gồm các cá nhân
Trang 12được hình thành bởi những lợi ích tập trung và được tổ chức thông qua các cấu trúc pháp lý xác định Trong mỗi pháp nhân, những định hướng chủ đạo thể hiện những mục tiêu của chính mỗi tập thể được đưa ra không chỉ hoàn toàn giới hạn bởi tổng số các ý chí riêng của các thành viên pháp nhân mà pháp nhân hoàn toàn có ý chí riêng của mình, có mong muốn riêng của mình, được xử sự tự do và hưởng các quyền tự chủ của chủ thể và vì vậy, nó cũng có điều kiện để có lỗi khi thực hiện tội phạm Pháp nhân có thể được so sánh với con người Denning LJ, một thẩm phán nổi tiếng người Anh trong một phiên tòa xét xử tranh chấp giữa hai công ty tại Anh năm 1957 đã có một nhận định
mà sau này thường được dẫn chứng để nói về tư cách pháp nhân: “Một công
ty dưới góc độ nào đó giống như cơ thể con người Nó có bộ não, có hệ thần kinh trung ương kiểm tra những gì nó làm Nó cũng có tay để cầm công cụ và hành động theo mệnh lệnh của hệ thần kinh trung ương” [40, tr 2] Nếu lỗi của thể nhân là sự tự do ý chí của chủ thể, tự do lựa chọn hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho quan hệ xã hội trong khi có tự do và khả năng lựa chọn hành vi của mình thì pháp nhân cũng vậy, nó cũng có tự do khi lựa chọn hành
vi của nó Do đó những người theo quan điểm ủng hộ TNHS của pháp nhân khẳng định lại việc quy kết TNHS của pháp nhân là trên cơ sở lỗi chứ không
phải quy tội khách quan
Những người theo học thuyết truyền thống chống lại TNHS của pháp nhân ngoài việc đưa ra quan điểm việc thiết lập chế định TNHS của pháp nhân vi phạm nguyên tắc lỗi trong luật hình sự thì theo họ, nó còn vi phạm một nguyên tắc nữa của luật hình sự đó là nguyên tắc cá thể hóa hình phạt Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đòi hỏi khi tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội thì trong từng vụ án cụ thể phải căn cứ vào hành vi, sự tham gia cụ thể của họ vào tội phạm bị truy cứu, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, các yếu tố nhân thân của người phạm tội để đưa ra một bản án phù
Trang 13hợp đối với từng người phạm tội Mỗi người phạm tội sẽ có hình phạt thỏa đáng Trong khi một tội phạm được thực hiện trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân, thì hoặc là toàn bộ các thành viên của pháp nhân đã phạm tội cần phải bị trừng trị có sự phân biệt và tương xứng với lỗi của từng người hoặc là chỉ trừng trị một hoặc một số người trong pháp nhân đã liên hiệp hành động phạm tội Sẽ là đúng, công bằng nếu trừng trị những người đó; sẽ là không công bằng nếu lại trừng trị tất cả những thành viên khác trong pháp nhân chỉ
vì lý do họ thuộc về một tập thể hoặc là họ phụ thuộc vào nó [18, tr 12] Như vậy, rõ ràng trong cả hai trường hợp đều không có nhu cầu trừng trị vào pháp nhân Theo Thomas Hobbes, cái giá thực sự khi áp dụng TNHS, xét đến cùng, chính các pháp nhân không phải chịu mà là những cá nhân cụ thể trong pháp nhân như người góp cổ phần, cổ đông, người lao động… phải chịu Như vậy chế định TNHS của pháp nhân không thể chấp nhận được về phương diện pháp lý cũng như đạo đức [30, tr 53] Về quan điểm cho rằng việc quy kết TNHS và áp dụng hình phạt với pháp nhân sẽ không công bằng và gây hại cho nguyên tắc cá thể hóa hình phạt thì theo quan điểm của hình sự học hiện đại, những người ủng hộ việc thiết lập chế định TNHS của pháp nhân lý giả rằng: Chế tài hình sự buộc phải áp dụng trực tiếp và chỉ đối với chính bản thân chủ thể phạm tội, tức là đòi hỏi việc trừng trị nhằm trực tiếp vào những pháp nhân khi các thực thể này phạm tội Công bằng không có nghĩa là phải trừng trị các
cá nhân này hay cá nhân khác mà công bằng chính là buộc chủ thể thực hiện tội phạm phải chịu hình phạt Không có lý lẽ công bằng nào lại buộc cá nhân những người cấp dưới vốn chẳng có quyền hành gì và các nhà quản lý có trách nhiệm thành những người phải hứng chịu hậu quả thay cho pháp nhân phạm tội [18, tr 18] Cũng không có sự công bằng nào về cùng một hành vi phạm tội lại có những cách đối xử khác nhau Đối với pháp nhân phạm tội cùng loại thì xử lý bằng các biện pháp trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm
Trang 14hành chính Còn đối với cá nhân những người lãnh đạo, người đại diện của pháp nhân phạm tội vì lợi ích hoặc trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân lại bị trừng trị bằng biện pháp TNHS nghiêm khắc hơn nhiều Như vậy bằng việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân là thể hiện nguyên tắc công bằng và bình đẳng Pháp nhân phạm tội thì pháp nhân phải là chủ thể đứng ra chịu TNHS Nếu pháp nhân phạm tội mà bắt thành viên của pháp nhân phạm tội chịu TNHS còn pháp nhân chỉ bị xử lý chế tài phi hình sự là sự không công bằng Bản án kết tội đối với một pháp nhân khác với bản án có thể xảy ra của các thành viên pháp nhân, nó không nhằm vào cá nhân các thành viên của pháp nhân mà chính là pháp nhân – chủ thể chịu TNHS
Tiếp nữa những người theo học thuyết truyền thống không chỉ chống lại TNHS của pháp nhân bằng lý lẽ là pháp nhân không có khả năng phạm tội mà
họ còn cho rằng các chế tài hình sự nói chung không thể áp dụng được cho pháp nhân và nếu có hình phạt nào áp dụng thì cũng không cần thiết và cũng không có hiệu quả Những hình phạt đặc trưng, truyền thống và mang lại hiệu quả trong luật hình sự như tử hình, phạt tù…thị lại không thể áp dụng được cho pháp nhân “Người ta có thể bắt giam như thế nào đối với một thực thể
mà bản chất của nó là vô hình?” [18 Tr 13] Làm thể nào có thể tước mạng sống của một chủ thể giả tưởng mà bản thân của nó là thiếu sự tồn tại của thực thể hữu hình
Như vậy một khi hình phạt không thể được áp dụng thì tất nhiên mục đích của hình phạt cũng không được đặt ra Một số hình phạt khác mặc dù có khả năng áp dụng được cho pháp nhân như phạt tiền, tịch thu tài sản, tước một
số quyền… song nếu áp dụng những hình phạt này sẽ tác động cả những cá nhân là thành viên của pháp nhân không có lỗi, không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Điều này là sự bất công bằng giữa các thành viên trong pháp nhân, gây phá sản cho pháp nhân, làm ảnh hưởng thu nhập, đời sống của họ,
Trang 15dẫn đến bất bình đối với pháp luật, ảnh hưởng xã hội Lúc này mặc dù có thể
áp dụng hình phạt đối với pháp nhân song mục đích của hình phạt không đạt được Mặt khác trong hệ thống pháp luật, trong từng ngành luật tương ứng như luật hành chính, luật dân sự… đã có chế tài pháp lý phi hình sự như chế tài phạt tiền, cấm hoạt động nhất định, giải thể pháp nhân… vì vậy họ cho rằng nếu các chế tài ấy được xây dựng lại một cách khoa học và phù hợp với thực tiễn thì cũng có thể áp dụng đối với pháp nhân chứ không nhất thiết phải ghi nhận các chế tài ấy trong pháp luật hình sự Quan điểm cho rằng các pháp nhân về bản chất là những thực thể vô hình nên không thể áp dụng hình phạt đối với nó, một số hình phạt trong hệ thống hình phạt nước ta rất đa dạng, một
số hình phạt như tử hình hay các hình phạt tước hoặc hạn chế quyền tự do thân thể không thể áp dụng được với pháp nhân song với sự đa dạng trong hệ thống hình phạt rất nhiều hình phạt có thể áp dụng đối với pháp nhân mà tác động đến những quyền và tài sản mà pháp nhân có Những hình phạt này đang dần dần phát triển phù hợp với bản chất pháp nhân phạm tội và mục đích của hình phạt đã đạt được Mặc dù đúng là những hình phạt này đã có trong các chế tài pháp lý phi hình sự song do tính chất phi hình sự mà những chế tài này không đạt được hiệu quả cao khi áp dụng Trên thực tế đã chứng minh điều đó khi các vụ việc do pháp nhân thực hiện gây thiệt hại cho xã hội tăng nhanh cả
về số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng
Tóm lại trong khoa học pháp lý hiện nay vấn đề có nên quy định TNHS của pháp nhân hay không còn là vấn đề đang được tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu pháp lý Đặc biệt là trong thời gian vừa qua khi mà Ban soạn thảo Dựa án BLHS sửa đổi đã tiến hành phiên họp và nhận được nhiều ý kiến trái chiều Tuy nhiên đa số các ý kiến đều tán thành việc quy định TNHS của pháp nhân đối với một nhóm tội, trong đó có các tội phạm về chức vụ Tác giả cũng ủng hộ quan điểm thiết lập chế độ TNHS của pháp nhân đối với một nhóm tội
Trang 16phạm trong đó có các tội phạm về chức vụ bởi vì việc thiết lập TNHS của pháp nhân không vướng bất kỳ nguyên tác nào của luật hình sự, đồng thời còn góp phần không nhỏ vào việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về chức vụ trong giai đoạn hiện nay
1.1.2 Cơ sởcủa việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
*Cơ sở lý luận của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Như chúng ta đã biết, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt Dựa vào khái niêm tội phạm này chúng ta có thể đưa ra những cơ sở lý giải đối với chủ thể của tội phạm là pháp nhân giống như những người ủng hộ quan điểm thiết lập chế định TNHS của pháp nhân lập luận
Trước hết có thể khẳng định pháp nhân là một thực thể có thật Pháp nhân có những đặc tính không đổi được thừa nhận chung, có sự tồn tại thực tế của nó trong mối quan hệ với các thành viên của pháp nhân Thực tế pháp luật
đã ghi nhận nó trên phương diện pháp lý Điều 84 Bộ luật dân sự 2005 của Việt Nam quy định pháp nhân được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh chính mình tham gia vào quan hệ xã hội một cách độc lập
Cũng như thể nhân, pháp nhân cũng có hành vi của mình Tuy nhiên hành vi của pháp nhân khác với thể nhân, hành vi của pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện, người lãnh đạo của pháp nhân Trong các điều
lệ, văn bản về pháp nhân luôn có các quy định về tổ chức, hoạt động của pháp nhân và đó chính là hành vi của pháp nhân Theo quy định của pháp luật, quy chế, điều lệ của pháp nhân thì người lãnh đạo, đại diện được thay mặt pháp nhân ra các quyết định, thực hiện các hành vi thuộc thẩm quyền của pháp
Trang 17nhân, vì lợi ích của pháp nhân Với hậu quả có lợi cũng như bất lợi phát sinh
từ hành vi theo sự lựa chọn trên cơ sở ý chí của người đại diện, người lãnh đạo đều do pháp nhân thụ hưởng hoặc gánh chịu Những hoạt động của pháp nhân thường là những hành vi có lợi cho pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, lợi ích của xã hội nhưng cá biệt cũng có những hoạt động vì lợi ích của mình
mà pháp nhân có thể gây thiệt hại cho xã hội ở những mức độ khác nhau và việc gây thiệt hại ở mức độ đáng kể là rất có thể xảy ra Vì vậy pháp nhân có thể có hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội
Mặt khác, các pháp nhân mặc dù bao gồm các cá nhân nhưng được hình thành bởi những lợi ích tập trung và được pháp luật thông qua các cấu trúc pháp lý xác định Pháp nhân có thể tự quyết định một cách tự do và theo đuổi những mục tiêu cụ thể của mình và độc lập với những lợi ích của các cá nhân tạo nên pháp nhân đó Trong các pháp nhân, những định hướng chủ đạo thể hiện những mục tiêu của chính mỗi tập thể được đưa ra không chỉ hoàn toàn giới hạn bởi tổng số các ý chí riêng của các thành viên tập đoàn Pháp nhân hoàn toàn có ý chí của riêng mình bởi vì nó sinh ra, tồn tại và phát triển bằng
sự gặp gỡ giữa các ý chí cá nhân của thành viên của mình Vì vậy pháp nhân
là một thực thể có ý chí, có mong muốn riêng, được xử sự tự do và hưởng quyền tự chủ của chủ thể và có thể so sánh với quyền tự chủ của cá nhân Vì vậy nó có năng lực thực hiện tội phạm một cách có lỗi và đương nhiên có thể
bị xử lý về hình sự Như đã phân tích ở trên, lỗi trong luật hình sự là thể hiện
tự do ý chí của chủ thể (Tự do lựa chọn hành vi trái pháp luật, gây thiêt hại cho quan hệ xã hội trong khi có tự do và khả năng lựa chọn hành vi hợp pháp) thì pháp nhân cũng hoàn toàn tự do khi lựa chọn hành vi của mình Vì vậy việc quy kết TNHS cho pháp nhân là hoàn toàn hợp lý trên cơ sở lỗi chứ không phải quy tội khách quan Như vậy hành vi của pháp nhân hoàn toàn có
Trang 18thể đáp ứng các đặc điểm của tội phạm theo quy định của BLHS Việt Nam hiện hành
Cuối cùng, việc áp dụng hình phạt cho pháp nhân hoàn toàn có khả năng thực thi Hình phạt là biện pháp tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội và pháp nhân cũng có quyền và lợi ích nhất định, nên về lý thuyết, việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của pháp nhân phạm tội là điều có thể Và khi chúng ta tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của pháp nhân tức là chúng ta đã đạt được mục đích trừng trị, răn đe cũng như phòng ngừa của hình phạt Do đó có thể khẳng định hoàn toàn có thể quy kết TNHS đối với pháp nhân
Như vậy có thể khẳng định về mặt lý luận, khoa học pháp lý hình sự hiện đại đã giải quyết cơ bản TNHS của pháp nhân Việc thiết lập chế định TNHS của pháp nhân không vi phạm bất kỳ dấu hiệu nào của tội phạm cũng như nguyên tắc của Luật hình sự Ngày nay, việc thừa nhận TNHS của pháp nhân là xu hướng phát triển chung trong pháp luật hình sự của nhiều nước và chúng ta hoàn toàn có thể quy định chế định này trong luật hình sự Việt Nam
*Cơ sở thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Qua thực tế thấy rằng, quan điểm coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm
đã có từ lâu và hiện nay nó đã được chính thức thừa nhận ở một số quốc gia trong đó có những quốc gia từ trước tới nay không thừa nhận mà thậm chí còn phê phán TNHS của pháp nhân đã được ghi nhận và trở thành nguyên tắc cơ bản trong Luật hình sự của mỗi nước theo truyền thống Án lệnhư Anh, Mỹ, Canada, Australia, New Zealand…Ở châu Âu lục địa, chế định TNHS cũng đã được thừa nhận trong pháp luật hình sự nhiều quốc gia như Pháp, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha… Vấn đề TNHS của pháp nhân đã được điều chỉnh về
Trang 19mặt lập pháp không chỉ ở các nước theo truyền thống Common Law, châu Âu lục địa mà còn được thừa nhận ở một số nước châu Á như Nhật Bản, Singapo, đặc biệt là Trung Quốc – một nước láng giềng của Việt Nam trong thời gian trước còn phản đối việc chấp nhận TNHS của pháp nhân
Không chỉ được ghi nhận trong pháp luật hình sự các quốc gia mà vấn
đề TNHS của pháp nhân đã chính thức được khuyến nghị trong nhiều văn bản quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Công ước của liên hiệp quốc về chống tham nhũng 2003, Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia… Mặc dù quy định thiết lập TNHS của pháp nhân chỉ là quy định mang tính chất khuyến nghị song trong quyết định phê duyệt thực hiện các Công ước này, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu nghiên cứu bổ sung pháp nhân là chủ thể của hành vi tham nhũng Có thể thấy xu hướng thừa nhận TNHS của pháp nhân đã ngày càng phổ biến trong pháp luật các quốc gia và
là một xu hướng hợp thời đại Việt Nam cần nghiên cứu, xem xét, bổ sung chế định này trong pháp luật quốc gia
Ở Việt Nam, nghiên cứu lịch sử pháp luật hình sự cho thấy trước khi ban hành BLHS, vấn đề TNHS của pháp nhân đã được thiết lập.Trong thời kỳ phong kiến, vấn đề TNHS của pháp nhân cũng được đề cập trong Quốc triều hình luật, Điều 62 chương Tạp luật có quy định: “Những trang trại ven biển
mà đón tiếp thuyền buôn, ngầm dỡ hộ hàng hóa lên bờ, thì bị xử biếm 3 tư, phải phạt gấp ba tang vật để sung công, lấy một phần thưởng cho người tố giác Người chủ trang trại ấy mất chức giám trang” Trước các mạng tháng Tám năm 1945, vấn đề TNHS của pháp nhân cũng được quy định trong pháp luật của chế độ thực dân phong kiến thời kỳ trước cách mạng tháng Tám như Điều 12 Dụ số 45.1088 ngày 03/5/1945 về trừng trị các vi phạm luật lệ hối đoái, quy định: “Đối với trường hợp vi phạm luật lệ hối đoái thì không những giám đốc, quản trị viên, quản lý của pháp nhân bị truy tố mà chính bản thân
Trang 20pháp nhân cũng có thể bị truy tố và bị phạt bạc” Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền chế độ cũ ở vùng tạm chiến của thực dân Pháp và ở miền Nam Việt Nam dưới chế độ Sài Gòn sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 cũng đã ban hành một số văn bản quy định TNHS của pháp nhân như: Điều
33 Dụ số 10 ngày 23/6/1950, Điều 26 Dụ số 33 ngày 16/11/1952… đặc biệt trong BLHS ngày 20/12/1972 của chính quyền Sài Gòn cũ chính thức quy định TNHS của pháp nhân là nguyên tắc chung trong luật hình sự Điều 8 bộ luật này quy định “Luật hình chi phối mọi cá nhân và pháp nhân cứ trú trên lãnh thổ Việt Nam và mọi sự kiện xảy ra trên lãnh thổ này, kể cả không phận
và hải phận” Điều 69 quy định “Cá nhân và pháp nhân đều có thể bị truy cứu TNHS” và Điều 71 quy định “Pháp nhân có thể bị xử phạt giải tán, phạt vạ và tịch thu tài sản” Trong hai lần pháp điển hóa BLHS năm 1985 và 1999, mặc
dù trong kiến giải lập pháp của các tác giả được đưa ra tại Điều 2 BLHS 1985 quy định “Cơ sở của TNHS” với nội dung “Cơ quan, tổ chức, đơn vị (sau đây gọi là tổ chức) phải chịu TNHS về hành vi phạm tội do đại diện của mình thực hiện vì lợi ích của tổ chức đó” Nhưng sau đó trong dự thảo luật lần thứ XI (10/1998) thì kiến giải lập pháp này bị các nhà làm luật Việt Nam loại bỏ Và BLHS hiện hành vẫn chưa chấp nhận nguyên tắc TNHS pháp nhân bên cạnh nguyên tắc TNHS cá nhân
Một thực tiễn đáng buồn là các vi phạm pháp luật có tính chất tội phạm
do pháp nhân thực hiện ở nước ta trong những năm gần đây tăng rất nhanh
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề trên nhưng nguyên nhân căn bản và sâu
sa nhất đó là sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những chính sách kinh tế thông thoáng, hội nhập kinh tế quốc
tế, gia nhập WTO nhằm mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế của nhà nước ta đã tạo điều kiện phát triển mọi mặt, trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế Tuy
Trang 21nhiên bên cạnh những yếu tố tích cực đó đã xuất hiện những hành vi có tính chất tội phạm ngày càng gia tăng cả về quy mô và mức độ nguy hiểm không chỉ do cá nhân mà còn do tổ chức, pháp nhân thực hiện Những vụ gây thiệt hại đáng kể do pháp nhân gây ra không còn là cá biệt mà đã trở thành hiện tượng phổ biến Với chế tài pháp lý hiện nay thì việc chỉ xử lý TNHS đối với người đại diện của pháp nhân còn bản thân pháp nhân sẽ chỉ chịu trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm hành chính Chính điều này là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng các pháp nhân ngày càng phạm tội nhiều hơn Việc áp dụng trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm hành chính đối với pháp nhân phạm tội không còn đạt hiệu quả trong việc ngăn chặn pháp nhân có những hành vi gây thiệt hại, hậu quả pháp lý mà pháp nhân phải gánh chịu không đủ nghiêm khắc để phòng ngừa tái phạm Thêm vào đó việc chỉ truy cứu TNHS đối với cá nhân những người lãnh đạo, người đại diện trong những trường hợp này là thiếu công bằng và không hợp lý Các cá nhân được đó chỉ sử dụng các biện pháp điều hành cụ thể để thực hiện những nhiệm vụ được giao, họ không được làm trái các quyết định đó Một khi những biện pháp đó mà đem lại lợi ích cho pháp nhân thì tất cả những thành viên của pháp nhân được hưởng còn khi những biện pháp mà họ áp dụng vi phạm pháp luật thì chỉ mình bản thân họ gánh chịu trách nhiệm Mặt khác việc truy cứu TNHS cá nhân trong trường hợp này không thể ngăn chặn được pháp nhân tiếp tục thực hiện hành vi trái pháp luật bởi bị khi cá nhân những người đại diện của pháp nhân này bị truy cứu TNHSthì sẽ có cá nhân khác thay thế và tiếp tục thực hiện hành vi tương
tự vì mục đích của pháp nhân
Từ những cơ sở trên đòi hỏi phải quy định TNHS của pháp nhân Chỉ
có TNHS với tính nghiêm khắc của các chế tài mới đủ sức răn đe và có khả năng phòng ngừa hành vi tiếp tục phạm tội của pháp nhân đồng thời, việc áp dụng TNHS đối với pháp nhân mới tương xứng và phù hợp với mức độ nguy
Trang 22hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại do pháp nhân thực hiện Và một lần nữa khẳng định rằng trong điều kiện xã hội hiện nay thật sự cần thiết phải quy định TNHS đối với pháp nhân
1.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ HÌNH SỰ CƠ BẢN CỦA CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.2.1.Sơ lược lịch sử lập pháp hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về các tội phạm chức vụ
Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự về các tội phạm chức vụ
Năm 1946, Sắc lệnh số 223/SL được ban hành ngày 17/11 quy định đưa hối lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ hoặc phù lạm, biển thủ công quỹ Sắc lệnh này tuy chưa mô tả hành vi phạm tội và quy định hình phạt còn cứng nhắc nhưng đã thể hiện sự phân hóa trong xử lý đối với người tự thú, tố giác đồng bọn Sắc lệnh là văn bản quy phạm pháp luật hình sự đầu tiên của nhà nước ta quy định tội phạm về chức vụ Năm 1948, Sắc lệnh số 200/SL ngày 7/8 về trưng tập công chức có quy định tội đào nhiệm Năm 1956, Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6 quy định trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch nhà nước quy định các tội phạm về chức vụ gồm: tội không làm hoặc làm sai công vụ mình phụ trách và tội thiếu tinh thần trách nhiệm làm thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân Năm 1976, Sắc lệnh số 03 được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành ngày 15 tháng 3 quy định thêm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn và quy định tội đưa và nhận hối lộ Năm 1981, pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ được ban hành ngày 20 tháng 5 Pháp lệnh này thay thế các văn bản pháp luật hình sự trước đó về các tội hối lộ Lần đầu tiên trong pháp lệnh, tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ được quy định tại điều
Trang 23luật độc lập, các dấu hiệu pháp lí được điều luật mô tả, các tình tiết tăng nặng
và tăng nặng đặc biệt được quy định trong những điều khoản riêng Pháp lệnh này loại bỏ được những hạn chế của những văn bản pháp luật hình sự trước đây và giúp cho việc phân hóa TNHS và cá thể hóa hình phạt được thuận lợi,
Các quy định của BLHS năm 1999 đối với các tội phạm về tham nhũng, các tội phạm khác về chức vụ đầy đủ hơn, chi tiết hơn, phản ánh được thực trạng công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong thời gian qua, giúp cho việc điều tra, truy tố mà đặc biệt là việc xét xử loại tội phạm này sẽ thuận lợi hơn trước đây
BLHS năm 1999 đi vào cuộc sống đã phát huy vai trò, tác dụng tích cực
và trở thành công cụ pháp lý hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, qua đó góp phần bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; từng bước đáp ứng yêu cầu bảo đảm dân chủ, bảo vệ và lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức; thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế, phục vụ công cuộc đổi mới đất nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ chương, biện pháp nhằm ngăn chặn
và đẩy lùi tệ tham nhũng, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau nên cuộc
Trang 24đấu tranh chống tham nhũng chưa đem lại hiệu quả, tình trạng tham nhũng vẫn rất nghiêm trọng, vẫn là một trong những nguy cơ làm suy yếu chế độ xã hội chủ nghĩa, trực tiếp làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta Ngoài những hành vi tham nhũng thì đi liền với nó là những hành vi
có liên quan đến tham nhũng hoặc có liên quan đến chức vụ, quyền hạn
1.2.2.Khái niệm các tội phạm về chức vụ trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành
Khái niệm tội phạm về chức vụ được các nhà làm luật quy định tại một điều riêng biệt trong BLHS năm 1999 Điều 277 quy định: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức
do những người có chức vụ thực hiện khi thực hiện công vụ” Ngoài ra điều luật cũng giải thích thêm: “Những người có chức vụ nói trên đây là những người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”
Nếu căn cứ vào những quy định trên thì các tội phạm về chức vụ quy định từ Điều 278 đến Điều 291 BLHS có một số trường hợp không thỏa mãn khái niệm mà Điều 277 quy định như: tội đưa hối lộ quy định tại Điều 289, tội làm môi giới hối lộ quy định tại Điều 290 BLHS, không chỉ người có chức vụ thực hiện mà còn bao gồm cả những người không có chức vụ thực hiện, mặc
dù hành vi của họ cũng xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức Ngoài các tội phạm quy định tại Chương XXI BLHS ra, còn nhiều tội phạm khác quy định ở các Chương khác cũng do người có chức vụ thực hiện
và cũng xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, nhưng lại không phải là tội phạm về chức vụ
Việc đưa ta một khái niệm về các tội phạm về chức vụ thật chính xác, thật đặc trưng cho loại tội phạm này về lý luận và thực tiễn vẫn còn nhiều vấn
Trang 25đề phải tiếp tục nghiên cứu Tuy nhiên chúng ta không nên quá câu lệ vào khái niệm hay định nghĩa về loại tội phạm này, vi khi đã là luật thì trước hết mọi cơ quan, tổ chức và mọi người phải tuân theo Vấn đề quan trọng là cần hiểu và nắm chắc các dấu hiệu pháp lý đối với các tội phạm quy định tại
chương XXI BLHS [36, tr 50]
BLHS hiện hành nước ta quy định tội phạm về chức vụ tại chương XXI, trong đó mục A quy định các tội phạm về tham nhũng (từ điều 278 đến Điều 284), mục B quy định các tội khác về chức vụ (từ Điều 285 đến Điều 291) Ngoài các tội phạm được quy định tại chương XXI, các chương khác của BLHS 1999 cũng quy định các tội phạm khác về chức vụ, như tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144), tội cố
ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
Trước hết về chủ thể của tộinhận hối lộ: Theo quan điểm truyền thống của luật hình sự Việt Nam, chỉ những người có chức vụ, quyền hạn mới có thể
là chủ thể của tội này Cũng theo các hiểu được thừa nhận chung trong Luật hình sự Việt Nam, người có chức vụ, quyền hạn là người được giao phụ trách một công vụ nhất định trong các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức và khi thi hành công vụ đó người này có một quyền năng nhất định trong mối quan hệ
Trang 26với những người khác.Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, phạm vi những chủ thể có thể nhận hối lộ khá rộng Ngoài những người đang giữ chức
vụ hoặc có quyền hạn nhất định, một số chủ thể khác cũng có khả năng trở thành đối tượng của hành vi đưa hối lộ Đó có thể là những người có khả năng gây ảnh hưởng tới một hoạt động ban hành quyết định cụ thể trong khi chức
vụ chính thức của họ lại hoàn toàn độc lập với hoạt động đó Đó còn có thể là những người tuy không còn nắm giữ cương vị công tác nữa song vẫn có khả năng gây ảnh hưởng tới hoạt động ra quyết định của một cơ quan nhất định Tác giả đồng tình với quan điểm hiểu khái niệm người có chức vụ, quyền hạn
ở các tội phạm về hối lộ theo nghĩa rộng Nhờ đó luật hình sự có thể bao quát được tất cả những đối tượng có nguy cơ lợi dụng chức trách của mình nhận lợi ích để thực thi chức trách theo hướng có lợi cho người đưa lợi ích
Tiếp theo, về vấn đề các dạng hành vi của tội đưa hối lộ và nhận hối lộ không được bàn luận nhiều trong khoa học luật hình sự Nhìn chung các quan điểm đều thống nhất cho rằng các tội phạm về hối lộ là những tội chỉ cần có một dấu hiệu trong mặt khách quan được phản ánh là hành vi khách quan Hành vi khách quan của tội nhận hối lộ là một trong ba dạng: hành vi nhận lời mời hối lộ, hành vi nhận của hối lộ và hành vi đòi hối lộ “Nhận lời mời hối lộ” là hành vi đồng ý với lời đề nghị hối lộ của người đưa hối lộ Khi người có chức vụ nhận lời mời hối lộ là lúc thỏa thuận giữa người đưa và người hối lộ
đã đạt được “Nhận của hối lộ” là hành vi thực tế tiếp nhận lợi ích từ phía người đưa hối lộ “Đòi hối lộ” là hành vi của người có chức vụ chủ động yêu cầu người khác phải đưa lợi ích cho mình để đổi lấy việc mình thực hiện chức trách theo hướng có lợi cho người đưa lợi ích Tội phạm hoàn thành khi chủ thể thực tế nhận của hối lộ hoặc đạt được sự thỏa thuận với người đưa về việc nhận của hối lộ và chịu ảnh hưởng của người đưa hối lộ trong khi thực hiện
Trang 27nhiệm vụ của mình Các hành vi hối lộ có thể được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào, có thể kín đáo hoặc công khai [29, tr 48]
Cuối cùng về lỗi của người phạm tội về hối lộ là lỗi cố ý Cả người đưa
và người nhận hối lộ đều nhận thức đầy đủ về tính chất sai trái của hành vi mình thực hiện, hơn nữa còn nhận thức được tính không chính đáng của hành
vi mình thực hiện, hơn nữa còn nhận thức được tính không chính đáng của hành vi của những bên còn lại trong quan hệ hối lộ Việc họ vẫn quyết định thực hiện hành vi cho thấy họ đã mong muốn cho những hành vi nguy hiểm cho xã hội đó xảy ra Dù hành vi là hối lộ chủ động hay hối lộ bị động thì việc chủ thể đồng ý thực hiện hành vi đã thể hiện sự tự nguyện trong ý chí của chủ thể
Trang 28Chương 2
NHỮNG ĐÕI HỎI CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1 NHỮNG ĐỒI HỎI CỦA VIỆC HỘI NHẬP QUỐC TẾ THEO CÁC CÔNG ƢỚC QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM LÀ QUỐC GIA THÀNH VIÊN
2.1.1 Công ƣớc Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003
Tham nhũng là hiện tượng tiêu cực ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia trên thế giới Tham nhũng gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực công, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, làm sai lệch công lý, công bằng xã hội, cản trở các nỗ lực giảm nghèo và phát triển bền vững, làm xói mòn lòng tin của người dân vào nhà nước và pháp luật Tham nhũng thường liên kết một cách tinh vi, chặt chẽ với các tội phạm khác, đặc biệt là tội phạm có tổ chức và tội phạm kinh tế, gây ra những hậu quả nguy hại, khó lường, mang tính chất dây chuyền Không nằm ngoài tiến trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, sâu sắc trên mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, tham nhũng đã vượt ra khỏi phạm vi biên giới của mỗi quốc gia và đang trở thành một hiện tượng mang tính khu vực và quốc tế, với tốc độ lây lan nhanh chóng cùng mức độ tàn phá ngày một nặng nề Vì vậy chống tham nhũng đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng, cần thiết, đòi hỏi các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế Trong đó, yêu cầu trước tiên và cơ bản nhất là phải thiết lập được một số công cụ pháp lý toàn diện, có hiệu lực pháp lý cao làm
cơ sở cho việc đẩy mạnh hoạt động phòng, chống tham nhũng tại mỗi quốc gia, trong mỗi khu vực và trên thế giới [25, tr 7]
Trước tình hình đó, việc hình thành một khuôn khổ pháp lý quốc tế để phòng chống tham nhũng giữa các quốc gia trên thế giới là một yêu cầu cấp
Trang 29thiết đặt ra Ngày 04/12/2000, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã ra Nghị quyết
số 55/61 xác định cần phải có một văn kiện pháp lý quốc tế hữu hiệu chống tham nhũng Theo Nghị quyết này, Ủy ban soạn thảo Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng được thành lập Ngày 01/10/2003, tại phiên họp thứ 7, với tinh thần khẩn trương và xây dựng, Công ước đã được thông qua với 8 chương và 71 điều Từ ngày 09 đến ngày 11/12/2003, đã có 95 nước ký Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, trong đó có Việt Nam Hiện tại số thành viên tham gia Công ước tăng lên 173 thành viên Công ước gồm có: Lời nói đầu, 8 Chương, 71 Điều đã thể hiện rõ tính chất nguy hiểm, mức độ nghiêm trọng và những hậu quả tiêu cực của tham nhũng đối với các giá trị dân chủ, đạo đức, công lý, nguyên tắc pháp quyền và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế; đồng thời, khuyến cáo các quốc gia cần quyết tâm phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng bằng
hệ thống các biện pháp toàn diện, đa dạng và hữu hiệu Như vậy, ý chí xóa
bỏ tham nhũng đã trở thành trách nhiệm của các quốc gia và các quốc gia thành viên nhằm tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng thông qua hợp tác điều tra, truy tố, trao đổi thông tin, thu hồi tài sản, trợ giúp
kỹ thuật, hỗ trợ tăng cường năng lực xây dựng thể chế Phạm vi áp dụng của Công ước bao trùm tất cả các lĩnh vực của công tác chống tham nhũng, gồm: phòng ngừa, điều tra, truy tố tham nhũng và việc phong toả, tạm giữ, tịch thu
và hoàn trả tài sản có được do phạm các tội quy định trong Công ước
Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng đã được Việt Nam ký kết vào ngày 10 tháng 12 năm 2003, được Chủ tịch nước phê chuẩn vào ngày 30 tháng 6 năm 2009 và trở thành thành viên chính thức kể từ ngày 18 tháng 9 năm 2009 Đây được coi là sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng thể hiện quyết tâm và cam kết của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế trong công cuộc phòng, chống tham nhũng Vị trí của Công ước trong hệ thống pháp
Trang 30luật của Việt Nam là thấp hơn một bậc so với Hiến pháp và cao hơn một bậc
so với các nguồn luật khác Giống như các điều ước quốc tế khác, Công ước
có thể được áp dụng trực tiếp, toàn bộ hoặc một phần, hoặc thông qua các quy định và pháp luật trong nước Việt Nam đã có tuyên bố khi phê chuẩn
chuẩn Công ước, Việt Nam tuyên bốkhông bị ràng buộc bởi các quy định TNHS của pháp nhân (Điều 26) do pháp luật Việt Nam chưa đáp ứng hoàn toàn quy định này
Điều 26 Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng quy định các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp cần thiết, trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, quy định trách nhiệm của pháp nhân khi thực hiện hoặc tham gia thực hiện các tội phạm quy định tại Công ước Hình thức trách nhiệm cụ thể do các quốc gia tự quyết định, có thể là TNHS, hành chính hoặc dân sự, miễn là ở mức độ tương xứng, thích đáng và có tác dụng ngăn ngừa Cần lưu ý rằng trách nhiệm của pháp nhân không loại trừ TNHS của cá nhân có liên quan
Mặc dù pháp nhân phải chịu trách nhiệm hành chính và dân sự (không phải TNHS) theo quy định của các văn bản pháp luật có liên quan (Điều 93
Bộ luật dân sự và Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính), nhưng trách nhiệm này không áp dụng đối với các tội được quy định trong Công ước Pháp nhân
có thể phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc dân sự theo quy định của luật xử
lý vi phạm hành chính hoặc Bộ luật dân sự hiện hành Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định “tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi hành vi hành chính do mình gây ra” Tuy nhiên, các hành vi tham nhũng của pháp nhân theo quy định của Công ước chưa được coi là hành vi vi phạm hành chính Về trách nhiệm dân sự, theo quy định của Điều 622 Bộ luật Dân
sự, thì pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi
Trang 31thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao Tuy nhiên, cũng giống trách nhiệm hành chính, pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa quy định pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự đối với hành vi vi phạm liên quan đến tham nhũng
Do đó, pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu này của Công ước
Các chuyên gia Việt Nam cho rằng những khó khăn gặp phải về mặt lý luận dẫn đến Việt Nam chưa chấp nhận việc quy định TNHS của pháp nhân đối với các tội phạm tham nhũng nói riêng và với một số tội khác trong BLHS hiện hành nói chung là: Thứ nhất, trong pháp luật hình sự Việt Nam, quan niệm về lỗi là lỗi của cá nhân người phạm tội Pháp nhân là một thực thể giả tưởng của pháp luật Chỉ có các cá nhân cụ thể mà thông qua nó, pháp nhân hành động mới hội tụ đủ các yếu tố cần thiết để quy kết tội phạm và mới có thể bị trừng trị Thứ hai là hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam không
dễ áp dụng được với pháp nhân (đặc biệt là đối với một số hình thức xử phạt như tử hình, tù, cải tạo không giam giữ) và nếu có hình phạt nào áp dụng được thì cũng không cần thiết hoặc cũng không có hiệu quả đối với pháp nhân – một thực thể trìu tượng có bản chất nhân tạo và vô hình Thứ ba là nếu trừng trị pháp nhân về mặt hình sự sẽ vi phạm nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và không đạt được mục đích giáo dục, cải tạo của hình phạt
Nguyên tắc TNHS của pháp nhân đã được áp dụng ở các nước theo truyền thống pháp luật chung (Common Law) và châu Âu lục địa (Continental), trong đó có một số nước châu Á Về thực tiễn, đứng trước tình hình tội phạm do pháp nhân thực hiện ngày càng gia tăng và ngày càng nguy hiểm, dư luận xã hội ủng hộ mạnh mẽ việc truy cứu TNHS của pháp nhân Số các vụ việc tham nhũng có sự dính líu của pháp nhân chiếm một tỷ lệ tương đối cao, đặc biệt là các vụ việc có liên quan đến các giao dịch thương mại hoặc các hoạt động cấp phép… Pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế
Trang 32giới đã quy định TNHS đối với cá nhân phạm các tội về tham nhũng hoặc các tội phạm liên quan Tuy nhiên, việc phát hiện, điều tra, truy tố và xét xử các
vụ việc tham nhũng liên quan đến pháp nhân vẫn gặp nhiều khó khăn, nhiều lúc dẫn đến tình trạng xử lý thiếu triệt để, không hiệu quả Không phải lúc nào
cơ quan có thẩm quyền cũng có thể xác định chính xác người phải chịu TNHS, nhất là trong những tập đoàn lớn, đa quốc gia, có cơ cấu tổ chức phức tạp, hoặc khi việc đưa ra quyết định của pháp nhân mang tính chất tập thể chứ không phải mang tính chất riêng lẻ, cá thể Mặt khác, trong nhiều trường hợp, pháp nhân vẫn tiếp tục dính líu tới các vụ việc tham nhũng, dù các nhân của pháp nhân đó, thậm chí người lãnh đạo, điều hành pháp nhân đã bị truy tố hoặc đưa ra xét xử Điều này đòi hỏi pháp nhân cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý khi tham gia hoặc dính líu tới các vụ việc tham nhũng [24 Tr 45].Chính vì vậy nếu chỉ xử lý về mặt hình sự đối với thể nhân rõ ràng đã bỏ lọt tội phạm, trái với nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự, dẫn đến khó khăn trong cuộc chiến chống tội phạm vì thiếu hiệu quả ngăn ngừa Khi
đó nhà nước sẽ gặp khó khăn trong việc trấn áp và kiểm soát tình hình tội phạm Trước tình hình tội phạm do pháp nhân thực hiện ngày càng gia tăng và phức tạp và do Việt Nam mới bắt đầu bước vào thực hiện nền kinh tế thị trường, rất khó có thể biết cách khắc phục tốt nhất các tồn tại của nền kinh tế thị trường, và Việt Nam cần phải có những quy định phù hợp
Do vậy, để hoàn thành nghĩa vụ của quốc gia thành viên đối với Công ước, kiến nghị được đưa ra là cần xây dựng các quy định về TNHS của pháp nhân đối với các tội phạm về tham nhũng Việt Nam cần coi đây là nội dung
ưu tiên để tránh vấn đề miễn trừ đối với pháp nhân tham gia tội phạm tham nhũng Có như vậy mới cho phép trừng trị tội phạm hiệu quả hơn, bổ sung lỗ hổng trong chính sách pháp luật về hình sự qua đó cũng giúp bảo đảm công bằng hơn trong việc chia trách nhiệm giữa các pháp nhân, tổ chức và cá nhân
Trang 33người phạm tội đã hành động vì lợi ích của các thực thể này Việt Nam đã nỗ lực nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các tội tham nhũng trong BLHS vào lần sửa đổi, bổ sung tiếp theo Dự án BLHS (sửa đổi) đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII và hiện dự thảo BLHS sửa đổi này đang được lấy ý kiến
2.1.2 Công ƣớc của Liên Hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
Trong những năm qua, cộng đồng quốc tế đã chứng kiến sự gia tăng của những hành vi phạm tội do các nhóm tội phạm có tổ chức thực hiện như: khủng bố quốc tế, buôn lậu ma tuý, mua bán người , gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cả về tài chính và con người ở hầu hết các nước trên thế giới Một trong những thách thức toàn cầu, đe doạ đến an ninh, sự ổn định của hầu hết các quốc gia trên thế giới là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia Loại tội phạm này hoành hành khắp thế giới với nhiều loại hình hoạt động Khu vực Đông Nam Á là địa bàn hoạt động khá sôi nổi của các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia Để đấu tranh hiệu quả đối với loại tội phạm nguy hiểm này thì một hoặc vài quốc gia không thể gặt hái thành công mà cần có sự hỗ trợ, hợp tác của cả cộng đồng quốc tế Liên hợp quốc đã xây dựng được công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (công ước TOC) và 3 nghị định thư
bổ sung cho Công ước, bao gồm: Nghị định thư về chống buôn bán người, đặc biệt là PNTE; Nghị định thư về chống đưa người di cư bất hợp pháp và Nghị định thư về chống mua bán bất hợp pháp vũ khí, đạn dược Đây là những cơ
sở pháp lý cho các quốc gia trong việc phòng và chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
Năm 2000, tại Italia, Việt Nam cùng 123 quốc gia khác đã ký chính thức Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và 3 Nghị định thư bổ sung Công ước Tại Việt Nam vào năm 2013, Chủ
Trang 34tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đã ký các Quyết định số 605/QĐ-Ttg ngày
18 tháng 4 năm 2013 phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Công ước phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Đối với nước ta, việc tham gia Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia là một yêu cầu thực tế khi tình hình tội phạm ở nước ta
có xu hướng gia tăng cả về số lượng và tính chất nguy hiểm, đặc biệt là sự phát triển đáng lo ngại của tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia Hệ thống pháp luật của nước ta (Hiến pháp, pháp luật hình sự, dân sự, tố tụng, phòng chống tham nhũng…) về đấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
đã khá đủ điều kiện để vận hành và thực hiện Công ước Bên cạnh đó, các cơ quan tiến hành tố tụng cùng với văn phòng cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol
và Aseanpol) của nước ta đã có những hợp tác hiệu quả trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự có nhận tố nước ngoài
Chính phủ nhận thấy rằng tham nhũng hiện đang là một thách thức lớn đối với Việt Nam Chính phủ Việt Nam đã áp dụng một loạt chính sách và các công cụ pháp lý có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến các nỗ lực phòng chống tham nhũng Cụ thể là Luật Phòng chống tham nhũng được thông qua năm 2005 và có hiệu lực vào tháng 7/2006 (sửa đổi bổ sung năm 2007 và 2012) Năm 2009, Chiến lược Quốc gia về Phòng chống Tham nhũng đến năm 2020 đã được xây dựng và ban hành Hơn nữa, việc Việt Nam phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng và Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đã mang lại lực đẩy mới cho những nỗ lực phòng chống tham nhũng Điều 10 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia quy định trách nhiệm pháp
lý của pháp nhân thực hiện hành vi tham nhũng như sau:“Điều 10: Trách nhiệm pháp lý của pháp nhân: 1 Mỗi Quốc gia thành viên sẽ ban hành những
Trang 35biện pháp cần thiết phù hợp với những nguyên tắc pháp lý của họ, để xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân trong việc tham gia các tội phạm nghiêm trọng liên quan đến nhóm tội phạm có tổ chức và trong việc thực hiện những
hành vi phạm tội được xác định tại điều 5, 6, 8 và 23 của Công ước này.2 Tuỳ
theo những nguyên tắc pháp lý của Quốc gia thành viên, trách nhiệm pháp lý của pháp nhân có thể là hình sự, dân sự hay hành chính.3 Trách nhiệm pháp
lý này không ảnh hưởng đến TNHS của các cá nhân thực hiện các hành vi phạm tội.4 Cụ thể, mỗi Quốc gia thành viên sẽ đảm bảo rằng các pháp nhân chịu trách nhiệm pháp lý theo điều này phải chịu các hình phạt hình sự hay phi hình sự có tính hiệu quả, tương xứng và có tác dụng ngăn ngừa, bao gồm
cả những hình phạt bằng tiền”
Theo đánh giá sơ bộ, về cơ bản pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của công ước Công ước chỉ quy định những vấn đề chung nhất về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia Trong khi đó ở mỗi quốc gia với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau, tội phạm có tổ chức ngoài những nét chung còn có những đặc thù riêng, tội phạm có tổ chức gây ảnh hưởng tới từng quốc gia cũng khác nhau Vì vậy, việc tổ chức nghiên cứu, các quy định trong phòng chống tội phạm có tổ chức phải căn cứ vào đặc điểm riêng cũng như quy mô tổ chức, thủ đoạn hoạt động, tính chất nguy hiểm của loại tội phạm tội phạm này ở mỗi quốc gia Đối với Việt Nam, trong những năm gần đây, thực hiện chính sách đổi mới, nền kinh tế nước ta đã từng bước
ổn định và không ngừng phát triển Các lĩnh vực hành chính, văn hoá… đã từng bước được cải cách, đổi mới, đời sống xã hội không ngừng được cải thiện, thu nhập và đời sống của nhân dân ngày càng được nâng lên Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được thì mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng ngày càng bộc lộ và tác động không nhỏ tới đời sống xã hội, làm cho tình hình an ninh, chính trị có những diễn biến phức tạp Tình hình tội phạm
Trang 36có nhiều diễn biến phức tạp, sự xuất hiện của loại tội phạm có tổ chức với phương thức, thủ đoạn hoạt động mới, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới trật
tự, kỷ cương xã hội, đến tư tưởng và niềm tin của quần chúng nhân dân với đường lối chính sách của Đảng Tội phạm có tổ chức đang có chiều hướng gia tăng, có những dấu hiệu chuyển hoá từ những vấn đề tội phạm hình sự, kinh
tế thông thường ảnh hưởng đến an ninh chính trị Chính vì vậy kiến nghị được đưa ra là cần xây dựng các quy định về TNHS của pháp nhân đối với các tội phạm tham nhũng Việt Nam cần coi đây là nội dung ưu tiên để tránh vấn đề miễn trừ đối với pháp nhân tham gia tội phạm tham nhũng
1.2 Những đòi hỏi của việc hội nhập quốc tế theo kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới
1.2.1 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về chức vụ trong Luật hình sự Anh
Trước cách mạng Pháp năm 1789, TNHS của pháp nhân đã được thừa nhận và lan tỏa khắp châu Âu, sau đó, do các nước xác lập nguyên tắc lỗi và
cá thể hóa hình phạt trong luật hình sự nên dẫn tới hệ quả không chỉ xóa bỏ nguyên tắc TNHS đối với hành vi của người khác mà còn xóa bỏ cả nguyên tắc TNHS của pháp nhân Tuy nhiên, ngay giữa thế kỷ XIX, các Tòa án Anh xuất phát từ chính sách hình sự mềm dẻo và những lý do khá thực dụng đã tái thiết lập TNHS của pháp nhân Và kể từ sau cách mạng Pháp năm 1789, Anh
là nước đầu tiên xác lập chế định TNHS của pháp nhân trong luật hình sự trên
cơ sở các án lệ của tòa án, sau đó TNHS của pháp nhân lan tỏa ra toàn bộ các nước theo truyền thống Common Law như Hoa Kỳ, Canada, ôxtrâylia, Niu Dilân…
Tại nước Anh, vào giữa thế kỷ XIX các công ty, tập đoàn kinh tế lớn đã được thành lập và phát triển cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế Vai trò của các tổ chức này ngày càng lớn mạnh và nó đã khống chế các lĩnh vực