ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- ĐỖ HUY PHÚ THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG TPP: NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA VIỆT NAM Chuyên ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐỖ HUY PHÚ
THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ
XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP): NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐỖ HUY PHÚ
THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP): NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ VĂN HỘI XÁC NHẬN CỦA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các nội dung trong luận văn thạc sĩ này là công trình
nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hà Văn Hội– Trường ĐH
Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội Các số liệu, bảng biểu được sử dụng để nghiên cứu, phân tích, nhận xét, đánh giá trong luận văn đều được lấy từ các nguồn chính thống như đã ghi chú và liệu kê trong các tài liệu tham khảo Bên cạnh đó, đề tài có sử dụng các khái niệm, nhận xét, đánh giá của các tác giả, các cơ quan, tổ chức khác
và đều được ghi rõ trong nội dung cũng như ở phần tài liệu tham khảo của luận văn
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Tác giả luận văn
Đỗ Huy Phú
Trang 4Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHKT - ĐHQGHN), Phòng Đào tạo của trường ĐHKT - ĐHQGHN, các thầy cô trực tiếp tham gia giảng dạy chương trình cao học về Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế, khóa K22, năm học 2013-2015, các cán bộ của Khoa và của Phòng tham gia quản lý và hỗ trợ khóa học
Xin được cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp, các thành viên của lớp Cao học K22 - ĐHKT, ĐHQGHN và những người bạn của tôi, những người đã luôn sát cánh bên tôi, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian qua
Tác giả luận văn
Đỗ Huy Phú
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT I DANH MỤC BẢNG BIỂU II DANH MỤC HÌNH IV DANH MỤC SƠ ĐỒ V
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞLÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA VIỆC THAM GIA TPP .4
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .4
1.1.1 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề Hiệp định thương mại tự do và ngành dệt may Việt Nam .4
1.1.2 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đến kinh tế Việt Nam .7
1.1.3 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương đến ngành dệt may 11
1.1.4 Kết luận 13
1.2 CƠSỞLÝLUẬNVÀTHỰCTIỄNCỦAVIỆCTHAMGIATPP .14
1.2.1 Khái quát về Hiệp định Thương mại tự do .14
1.2.2 Khái quát về Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).………
… 18
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ LUẬN VĂN 26
2.1 QUY TRÌNH PHÂN TÍCH 26
2.2CÁCPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨULUẬNVĂN .28
2.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 28
2.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp .29
2.2.3 Phương pháp kế thừa 30
Trang 62.2.4 Phương pháp nghiên cứu điển hình 31
CHƯƠNG 3 ẢNH HƯỞNG CỦA TPP TỚI XUẤT KHẨUDỆT MAY CỦA VIỆT NAM 33
3.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA VIỆT NAM 33
3.1.1 Khái quát về ngành dệt may của Việt Nam .33
3.1.2 Xuất khẩu dệt may của Việt Nam .35
3.1.3 Tình hình xuất khẩu vào một số thị trường thuộc TPP .45
3.2ẢNHHƯỞNGCỦACÁCĐIỀUKHOẢNTRONGTPPTỚIXUẤTKHẨU DỆTMAYCỦAVIỆTNAM 50
3.2.1 Ảnh hưởng của điều khoản cắt giảm thuế quan .51
3.2.2 Ảnh hưởng của Quy định xuất xứ .57
3.2.3 Ảnh hưởng của điều khoản tự vệ .62
3.2.4 Ảnh hưởng của điều khoản về lao động .63
3.2.5 Ảnh hưởng của điều khoản về môi trường .67
3.2.6 Ảnh hưởng do làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI 71
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP CHO NGÀNH DỆT MAY 75
KHI TPP CÓ HIỆU LỰC 75
4.1 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TỪ TPP ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 75
4.1.1 Cơ hội đối với ngành dệt may Việt Nam 75
4.1.2 Thách thức đối với ngành dệt may Việt Nam .76
4.2 KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM 78
4.3 KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ 82
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Agreement
Hiệp định đối tác kinh tế
Manufacturing
Sản xuất thương hiệu gốc
Trang 817 VCCI Vietnam Chamber of
Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Textile and Garment Group
Tập đoàn Dệt may Việt Nam
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
2 Bảng 3.1 Thị trường và kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
của Việt Nam năm 2014
36
4 Bảng 3.3 Thời gian sản xuất trong ngành may mặc Việt
Nam với một số đối thủ cạnh tranh
7 Bảng 3.6 Thuế suất (kết hợp) của Nhật Bản đối với hàng dệt
may nhập khẩu từ Việt Nam
12 Bảng 3.11 Dự đoán tác động của RoO đối với dệt may 60
13 Bảng 3.12 Dự đoán tác động của tiêu chuẩn lao động cao hơn 76
Trang 10DANH MỤC HÌNH
1 Hình 3.1 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
năm 2014
36
2 Hình 3.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu và tăng trưởng mặt
hàng dệt may (đơn vị: triệu USD)
39
3 Hình 3.3 Thời gian sản xuất điển hình của xuất khẩu
dệt may Việt Nam
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (Trans Pacific Strategic Economic Partnership Agreement - TPP) bản chất là một dạng FTA nhưng có phạm
vi các cam kết mở cửa sâu, rộng chưa có tiền lệ, hứa hẹn sẽ tác động tích cực tới tiến trình hội nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Hiện nay, đàm phán TPP đang diễn ra giữa 12 nước thành viên chính thức gồm Việt Nam, Singapore, Brunei, Malayxia, Australia, New Zealand, Chile, Peru, Canada, Mexico, Nhật Bản và Hoa Kỳ Các nước thành viên đều thể hiện quyết tâm sớm để hoàn tất đàm phán để đi kết ký kết Sau khi hoàn thành ký kết, TPP trở thành một khu vực kinh tế với thị trường hơn 790 triệu dân, tổng GDP là 27000 tỷ USD, đóng góp 40% GDP và chiếm khoảng 1/3 kim ngạch thương mại toàn cầu
Mặc dù hiệp định có tác động tới nhiều lĩnh vực, ngành dệt may của Việt Nam được kỳ vọng sẽ hưởng lợi nhiều nhất Sản phẩm dệt may đứng thứ hai về kim ngạch xuất khẩu chỉ sau hàng điện tử Hoa Kỳ và Nhật Bản là hai thị trường xuất khẩu dệt may lớn của Việt nam và đều thuộc khu vực TPP Việt Nam là nước xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ lớn thứ hai sau Trung Quốc, trong khi Trung Quốc không tham gia vào TPP Thông qua TPP, mức thuế dành cho các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ sẽ giảm từ 17%-20% xuống 0% nếu TPP được ký kết, một bước ngoặt có thể xay ra ngay trong năm 2015 Cơ hội để Việt Nam tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường các nước TPP, đăc biệt là Hoa Kỳ là rất lớn
Hiệp định TPP hứa hẹn sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho xuất khẩu dệt may Việt Nam phát triển khi các rào cản thương mại được dỡ bỏ Tuy nhiên, kèm với các cơ hội cũng tồn tại không ít những thách thứcmà doanh nghiệp và chính phủ Việt Nam cần rất nhiều nỗ lực để có thể vượt qua để tận dụng tối đa những cơ hội và hạn chế các tác động tiêu cực khi Hiệp định TPP được ký kết
Phân tích, đánh giá dự báo một cách thấu đáo những tác động của TPP tới
Trang 13cao hiểu biết, giúp các doanh nghiệp Việt Nam, cơ quan chính quyền có những bước chuẩn bị nhất định cho việc gia nhập
Vì vậy, việc lựa chọn Tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái
Bình Dương (TPP): những ảnh hưởng tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam’
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của bản chính là để đi tìm câu trả lời cho các vấn đề trên
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu : Thông qua việc nghiên cứu những ảnh hưởng đối với
xuất khẩu dệt may khi Việt Nam tham gia TPP, từ đó đề xuất một số giải pháp để ngành dệt may Việt Nam tận dụng những cơ hội và vượt qua thách thức khi TPP có hiệu lực
Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Trình bày được tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, cơ sở
lý luận và thực tiễn của Hiệp định thương mại tự do FTA và Hiệp định thương mại đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP
- Phân tích được các điều khoản trong TPP có ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam, từ đó chỉ ra được các cơ hội và thách thức đối với ngành khi Việt Nam ký kết TPP
- Trên cơ sở cơ hội và thách thức của ngành dệt may khi tham gia TPP, kiến nghị được các giải pháp dành cho doanh nghiệp dệt may và Chính phủ để tận dụng tốt cơ hội và vượt qua các thách thức khi TPP có hiệu lực
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài : Ảnh hưởng của TPP đến xuất khẩu dệt
may của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu :
Trong nghiên cứu này, phạm vi đối tượng được xem xét là xuất khẩu dệt may của Việt Nam với các nước trong TPP, đặc biệt là Hoa Kỳ và Nhật Bản Phạm vi
Trang 14thời gian nghiên cứu, phân tích là từ 2010 đến 2015 và dự báo triển vọng cho giai
đoạn 2015 – 2025
Phạm vi lĩnh vực nghiên cứu : Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các điều khoản
chính trong TPP có ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu dệt may bao gồm các điều
khoản có liên quan đến: cắt giảm thuế quan, quy định xuất xứ, biện pháp tự vệ, lao
động, môi trường và ảnh hưởng do làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Xuất khẩu dệt may của Việt Nam chịu ảnh hưởng như thế nào khi Việt Nam
tham gia TPP ?
- Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang các nước TPP trong thời
gian qua như thế nào ?
- Doanh nghiệp dệt may và chính phủ Việt Nam cần phải làm gì để tham gia
TPP có hiệu quả?
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Đánh giá thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào các nước TPP
- Làm rõ những ảnh hưởng đối với xuất khẩu dệt Amay của Việt Nam khi TPP
có hiệu lực thông qua việc phân tích các điều khoản trong TPP có liên quan tới dệt
may
- Đề xuất một số giải pháp để ngành dệt may Việt Nam tận dụng những cơ hội
và vượt qua thách thức khi TPP có hiệu lực
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 4 chương như sau :
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn của
việc tham gia TPP
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn
Chương 3 Ảnh hưởng của TPP tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam
Chương 4 Giải pháp cho ngành dệt may khi TPP có hiệu lực
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA VIỆC THAM GIA TPP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề Hiệp định thương mại tự do và ngành
dệt may Việt Nam
Tác giả Bùi Thành Nam, Khoa Quốc tế học, Đại học Khoa học xã hội nhân
văn trong bài viết “Những tác động của Hiệp định thương mại tự do” trên Tạp chí
Lý luận Chính trị số 9/2014 đã phân tích tác động tích cực và tiêu cực dưới 2 góc
độ : tác động kinh tế và thương mại và tác động phi kinh tế Đây là bài viết khá đầy
đủ và toàn diện về ảnh hưởng của FTA tới một quốc gia nói chung
Tác giả Trần Thị Mai Thành trong luận văn thạc sỹ „Thực trạng và xu hướng
Hiệp định Thương mại tự do (FTA) trong khu vực ASEAN”đã tóm tắt được cơ sở lý
luận về Hiệp định Thương mại tự do FTA, đồng thời phân tích rất chi tiết xu hướng đàm phán FTA của từng quốc gia trong ASEAN, trong đó có Việt Nam
Nghiên cứu đánh giá tác động của các FTA đối với Việt Nam có giá trị tham
khảo rất tốt cho luận văn như “Phân tích định lượng tác động tiềm ẩn của các
FTA” của David Vanzetti, Đại học Quốc gia Australia, Chuyên gia quốc tế Dự án
MUTRAP; nghiên cứu này kết hợp định tính và định lượng trong đó phân tích định lượng sử dụng mô hình cẩn bằng tổng thể CGE và các mô hình phát triển riêng của
Trang 16và các vấn đề thương mại và phi thương mại quốc tế Thứ năm, bản thân các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá nói chung và hàng dệt may nói riêng cũng chưa được thuận lợi hoá đáng kể Thứ sáu, trong một chừng mực nhất định, chính sách thương mại, đặc biệt là thuế quan của Việt Nam còn hay thay đổi và khó tiên liệu trước Thứ bảy, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt nam còn gặp vấn đề từ quy chế kinh
tế phi thị trường mà các thị trường xuất khẩu chính áp đặt đối với Việt nam Thứ tám, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu các nước có
xu hướng thực thi bảo hộ kiểu mới Thứ chín, hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc sang Hoa Kỳ và EC được dỡ bỏ từ năm 2008 Thứ mười, doanh nghiệp còn chưa có nhiều kinh nghiệm trong xây dựng thương hiệu và bảo vệ thương hiệu của mình trên thị trường nước ngoài Thứ mười một, cơ cấu bảo hộ thực tế theo chuỗi giá trị hiện vẫn ít bảo hộ các sản phẩm dệt mà bảo hộ các sản phẩm may nhiều hơn Thứ 12, rào cản về đầu tư đối với các doanh nghiệp trong ngành dệt may.Thứ 13, bất cập chính sách lao động và tiền lương của Việt Nam Thứ 14, các doanh nghiệp dệt may còn gặp khó khăn do chưa tiếp cận các dịch vụ
hỗ trợ kinh doanh Cho đến nay, TPP có thể xem là một bước ngoặt đối với ngành dệt may Việt Nam thì cơ hội rất lớn kèm theo là không ít khó khăn Báo cáo cũng tổng kết lại một số khuyến nghị cho cơ quan làm chính sách, hiệp hội dệt may cũng như doanh nghiệp để tận dụng các cơ hội do mở cửa hội nhập mang lại
Ngoài ra có nhiều nghiên cứu định lượng khác đánh giá tác động của FTA đến nền kinh tế Việt Nam và khu vực Chẳng hạn, Cassing (2011) phân tích tác động của FTA đến cấp độ ngành của Việt Nam, còn Vanzetti (2010) xem xét tác động của các FTA đến một số yếu tố chính của nền kinh tế Việt Nam như xuất nhập khẩu, thu nhập quốc dân, doanh thu thuế, việc làm và thu nhập Năm 2011 Mutrap cũng đưa ra đánh giá khá đầy đủ về tác động của cam kết mở cửa thị trường trong các hiệp định thương mại tự do đến hoạt động sản xuất, thương mại của Việt Nam
Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh số 28
(2012) từ trang 49-59 có bài viết “Phân tích chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may Việt
Trang 17tài “Tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, kinh nghiệm của một số nước châu Á
và gợi ý đối với Việt Nam” với sự tài trợ của Trung tâm Hỗ trợ Nghiên cứu châu Á – Đại học Quốc gia Hà Nội Đây là bài viết đã phân tích một cách chi tiết chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, đồng thời chỉ ra các giai đoạn cụ thể của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu gồm các giai đoạn như sản xuất nguyên phụ liệu, kéo sợi, dệt vải, nhuộm,
in vải, cắt may và phân phối sản phẩm Bài viết cũng dựa trên cách tiếp cận từ sản phẩm đầu ra để phân tích và làm rõ chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may Bài viết đã chỉ
ra được nguyên nhân giá trị gia tăng hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam còn thấp trong chuỗi giá trị xuất khẩu mặt hàng này
Trong báo cáo “Đánh giá tác động của quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do của Việt Nam của nhóm tác giả Stefano Inama, Hồ Quang Trung, Trần Bá Cường và Phan Sinh thuộc dự án hộ trợ thương mại đa biên Mutrap đã có một đánh giá khá toàn diện và chi tiết về tác động của quy tắc xuất xứ đới với sản phẩm cụ thể từ góc độ Việt Nam Thông qua phân tích chi tiết từng điều khoản trong các hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia như AFTA và Khu vực thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc, khu vực thương mại tự do Úc – New Zealand – Việt Nam, EC – Việt Nam, Ấn Độ - Việt Nam, Hàn Quốc – Việt Nam, Việt Nam – Nhật Bản Nhiều mặt hàng có liên quan đến quy tắc xuất xứ như dệt may, thuỷ sản, da giày, nông phẩm Báo cáo đã xác định lợi ích cần đạt được khi đàm phán, nghĩa là các quy tắc xuất xứ thuận lợi cho xuất khẩu, tính ổn định và minh bạch về quy tắc xuất xứ trong FTA để tăng tính khả dụng Nghiên cứu cũng
đề cập đến một số khía cạnh của các quy định thực hiện quy tắc xuất xứ Các đề xuất đưa ra nhằm cải thiện quy tắc xuất xứ trong các FTA của Việt Nam với các đối tác khác nhau Các đề xuất này liên quan đến cách tính tỷ lệ phần trăm và quan hệ giữa các tiêu chí chung về quy tắc xuất xứ đối với sản phẩm cụ thể Đây là một báo cáo đáng để tham khảo khi quy tắc xuất xứ đang là một trở ngại với quá trình đàm phán gia nhập TPP của Việt Nam, ảnh hưởng rất lớn đến ngành dệt may nước ta
Công ty cổ phần chứng khoán FPT, tháng 4/2014 đã xuất bản “Báo cáo ngành
dệt may” của chuyên viên phân tích Bùi Văn Tốt Báo cáo đã nêu bật được tình
Trang 18hình ngành dệt may thế giới với xu hướng tăng trưởng tốt, xu hướng dịch chuyển gia công sang các nước đang phát triển, mói liên hệ giữa giá trị giá tăng trong các khâu ngành trong chuỗi giá trị ngành dệt may Tiếp đó là tổng quan về ngành dệt may Việt Nam, cụ thể về số lượng công ty, quy mô doanh nghiệp, mục tiêu phát triển ngành dệt may đến năm 2015 định hướng đến năm 2020 Tiếp đó, báo cáo đã nêu khá chi tiết về tình hình xuất nhập khẩu ngành dệt may Việt Nam về các chỉ số giá trị xuất khẩu chung, tỷ lệ xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI, kim ngạch xuất khẩu bình quân tháng trong giai đoạn 2005 – 2013, cơ cấu xuất khẩu vào các thị trường chính cũng như chung lại hàng dệt may xuất khẩu Bên cạnh đó, báo cáo đã chỉ rõ nguyên liệu ngành bao gồm bông và xơ sợi lại chủ yếu được nhập khẩu Báo cáo cũng chỉ ra vị trí các công ty Việt Nam trong chuỗi giá trị ngành dệt may chủ yếu là trong khâu thực hiện các hợp đồng gia công may mặc, đây là khâu có giá trị gia tăng thấp nhấp trong chuỗi giá trị ngành Từ đó, tác giả đã chỉ rõ sự yếu kém và phụ thuộc vào bên ngoài của ngành dệt may Việt Nam thông qua phân tích mô hình Michael Porter với một số kết luận
Công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương và Công ty chứng khoán Bảo việt cũng đưa ra các báo cáo về ngành dệt may Việt Nam, trong đó cũng tập trung vào phân tích những yếu kém của Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may của Việt Nam và đánh giá những thuận lợi và khó khăn của dệt may khi một loạt các Hiệp định thương mại tự do sẽ có hiệu lực trong thời gian sắp tới Cả 2 báo cáo đều có đánh giá ngắn gọn về ảnh hưởng của TPP đến dệt may
1.1.2 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của Hiệp định đối tác xuyên
Thái Bình Dương (TPP) đến kinh tế Việt Nam
GS.TS Hoàng Văn Châu trong cuốn sách “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dương – TPP và vấn đề tham gia của Việt Nam” đã trình bày một cách khá đầy đủ
về TPP, một số kết quả đàm phán, phân tích cơ hội thách thức của VIệt Nam khi tham gia TPP và một số giải pháp với Việt Nam khi tham gia TPP Cuốn sách phân
Trang 19trở ngại nổi bật trong quá trình đàm phán Cuốn sách sử dụng phương pháp thống
kê, phân tích định tính
Ủy ban Tư vấn về Chính sách Thương Mại Quốc tế thuộc VCCi đã có các
báo cáo “TPP – Hiệp định thương mại của thế kỷ 21”, “ Phân tích những lợi ích
Việt nam có thể thu được từ TPP”, “Phân tích những bất lợi tiềm tàng của TPP đối với Việt Nam”, “Việt Nam và TPP- Những suy tính thiệt hơn”, “Cam kết về Đầu tư trong TPP có thể tác động tiêu cực đến môi trường?”, “Sự can dự của Hoa Kỳ vào TPP và lưu ý đối với Việt Nam”, “Những đối tác hiện tại và tương lai của TPP- Lưu ý đối với Việt Nam”… Đây là loạt báo cáo được đăng trong mục Đánh giá tác
động của chuyên đề về TPP của website Trung tâm WTO thuộc VCCI Kết quả các
nghiên cứu thường thể hiện dưới dạng các báo cáo ngắn gọn, xem xét một khía cạnh, một lĩnh vực cụ thể nào đó trong TPP Thông qua phương pháp tổng hợp số liệu, phân tích và tổng hợp để hệ thống các vấn đề nghiên cứu, từ đó làm rõ các lợi ích Việt Nam đạt được ở các ngành như dệt may, thủy hải sản, đồ gỗ, và các vấn
đề về chính sách như thuế suất, đầu tư, chi tiêu chính phủ, sở hữu trí tuệ, vấn đề môi trường v v Đồng thời các báo cáo cũng chỉ ra những vấn đề Việt Nam gặp phải sau khi gia nhập như: thị trường nội địa sẽ bị mất vào tay nước ngoài, sự bất cập của chính sách, sự mất tác dụng của các chính sách bảo hộ v v Trên cơ sở đó các báo cáo đề xuất phương hướng đàm phán cho Việt Nam và các giải pháp cấp thiết trước và sau khi gia nhập TPP
Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 200,tháng 2 năm 2014 đã đăng bài viết
“Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Những kỳ vọng và tác động đối với Việt Nam” của 3 tác giả Đỗ Đức Bình, Nguyễn Tiến Long,
Hồ Trung Thành Bài viết có nội dung khá tương tự với đề tài Nội dung bài viết đã chỉ rõ TPP là một Hiệp định thương mại tự do tiêu chuẩn cao với phạm vi điều chỉnh rộng bao gồm tất cả các lĩnh vực như thương mại hàng hoá, thương mại dịch
vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường, nguồn gốc xuất xứ, mua sắm chính phủ…Các thành viên TPP kỳ vọng rằng, với mẫu hình chất lượng cao (theo kiểu WTO+…), TPP sẽ đem lại lợi ích to lớn và bền vững cho các quốc gia tham gia
Trang 20(trong đó có Việt Nam) đồng thời thúc đẩy nhanh hơn quá trình tự do hoá toàn cầu Bài viết chỉ ra các mức độ sẽ thoả thuận cam kết chủ yếu trong TPP, những kỳ vọng
về tận dụng tốt cơ hội, tác động tích cực và hạn chế những thách thức, tiêu cực khi tham gia TPP đối với Việt Nam Bài viết sử dụng phương pháp thu thập thống kê và
xử lý số liệu, từ đó đưa ra phân tích và dự đoán
Tạp chí Kinh tế và phát triển số 200, tháng 2 năm 2014 đã đăng bài viết “Hiệp
định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP): Những cơ hội và thách thức đặt ra đối với Việt Nam” của 2 tác giả Ngô Tuấn Anh và Đỗ Đức Trung
Bài viết đã phân tích TPP chính là “Hiệp định của thế kỷ 21” hoặc “Hiệp định FTA chất lượng cao”, với tham vọng đi sâu liên kết kinh tế, phân công lao động giữa các quốc gia thành viên, cải cách và nhất thể hóa môi trường đầu tư, kinh doanh và thuận lợi hóa cho doanh nghiệp Từ đó tác giả đánh giá, việc nhận diện những cơ hội, thách thức là cần thiết nhằm tránh những rủi ro trong dài hạn cũng như có những điều chỉnh phù hợp, tận dụng được những cơ hội do TPP mang lại đối với sự phát triển kinh tế bền vững trong tương lai
Tạp chí Kinh tế và phát triển số 203, tháng 05 năm 2014 đã đăng bài viết
“Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương: Cơ hội, thách thức và một số khuyến
nghị chính sách” của 2 tác giả Phí Vĩnh Tường và Phạm Sỹ An đã đánh giá một
cách tổng quát những cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam khi gia nhập TPP Việt Nam đang chuẩn bị tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) Đây là một mốc hội nhập quan trọng, có thể tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế và phát triển, vì thế cần phải phân tích các cơ hội và thách thức của việc gia nhập TPP, làm tiền đề cho những phản ứng chính sách phù hợp Gia nhập TPP mở
ra nhiều cơ hội như mở rộng thị trường xuất khẩu, nhập khẩu công nghệ, thu hút FDI, và cải cách thể chế Tuy nhiên, Chính phủ cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức như sức ép cạnh tranh, hạn chế khả năng điều chỉnh chính sách do các quy định ngặt nghèo của TPP, sự khó thích ứng của các ngành trong nước, và “sa lầy thể chế” Để tận dụng cơ hội và đối mặt với thách thức, cần một số nhóm giải
Trang 21pháp cho doanh nghiệp và Chính phủ, mà đặc biệt quan trọng là khâu chuẩn bị của doanh nghiệp và khâu cải cách thể chế và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng
Một trong những nghiên cứu dày dặn đánh giá tác động của TPP của Peter
A.Petri, Michael G.Plummer và Fan Zhai đã công bố tháng 4/2012 có tựa đề “ The
Trans-Pacific Partnership and Asia-Pacific Intergration: A Quantitative Assessment” Đây là nghiên cứu đánh giá tác động của TPP có tính đến giải thích
các đặc điểm của một hiệp định tiềm năng Thứ nhất, các đàm phán của TPP đang diễn ra trong bối cảnh các hiệp định thương mại khác cũng đang diễn ra tại Châu Á Nghiên cứu này đã phân tích sự tương tác giữa hai con đường đàm phán song hành này - “con đường Xuyên Thái Bình Dương” và “con đường châu Á”- mà trong vòng 15 năm tới, hai con đường này có thể sẽ tiến triển và đi đến cùng một điểm chung Thứ hai, so với những lợi ích nhất thời từ thương mại, cá lợi ích đạt được từ TPP phụ thuộc nhiều hơn vào tác động của nó tới tương lai của hệ thống thương mại Châu Á- Thái Bình Dương, một mô hình hội nhập khu vực chất lượng cao Do vậy, nghiên cứu cố gắng tìm hiểu những tác động của hiệp định này đến các động
cơ của việc mở rộng và các khuôn mẫu sẽ được sử dụng trong các đàm phán sau này Thứ ba, TPP bao gồm nhiều vấn đề khá mới mẻ đòi hỏi nhiều nỗ lực nghiên cứu để giải quyết các vấn đề này Tóm lại, theo kết quả nghiên cứu, cả hai con đường đàm phán nêu trên đều có tính khả thi và có tác động tương hỗ lẫn nhau trong quá trình hội nhập Châu Á- Thái Bình Dương Mỗi con đường cần đạt được những lợi ích quan trọng riêng; đồng thời chúng cũng sẽ kích thích sự phát triển lẫn nhau Hai con đường đàm phán sẽ có những xung đột lẫn nhau (chủ yếu là trong các
mô hình đã được thông qua) nhưng chúng sẽ làm phát sinh những động lực cho sự hợp nhất thành một hiệp định lớn của khu vực Kết quả này thực sự rất quan trọng cho khu vực cũng như cho toàn thế giới Nó mang lại những lợi ích tương tự như những gì đã có thể đạt được nếu như Vòng Doha thành công Chương 2 khái quát lại nguồn gốc của TPP, các mục tiêu của Hoa Kỳ và các quốc gia khác Chương 3 phân tích những điều khoản có thể thực hiện được của hiệp định Chương 4 miêu tả
mô hình, dữ liệu và phương pháp luận của nghiên cứu Chương 5 đề cập về sự thịnh
Trang 22vượng và những két quả thương mại Chương 6 sử dụng một quan điểm chiến lược mang tính lý thuyết phân tích các tình huống cạnh tranh để tìm hiểu lý do các quốc gia có thể đồng ý về các khuôn khổ ban đầu và các phần mở rộng sau này của hiệp định Chương 7 xem xét các kết quả đạt được từ góc nhìn của các quốc gia, phân tích vai trò của các nền kinh tế chủ chốt trong các đàm phán Chương 8 cung cấp
những kết quả nhạy cảm và Chương 9 đưa ra kết luận
Tháng 3/2013 Petri công bố một báo cáo khác: “The Trans-Pacific
Partnership and its impact on Vietnam‟s economy” đánh giá tác động của TPP đối
với riêng Việt Nam Ở báo cáo này, Petri phân tích bối cảnh mới của thương mại thế giới, đặt trọng tâm vào 3 hiệp định siêu quy mô: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tác và Đầu tư thương mại xuyên Đại Tây Dương (TTIP) Theo Petri, đây là các hiệp định mà toàn bộ các bên tham gia đều được hưởng lợi với trị giá lên tới hàng nghìn tỷ USD và TPP đối với Việt Nam là một phương án đặc biệt nhiều hứa hẹn Bằng phương pháp sử dụng mô hình DCGE (cân bằng tổng thể động), Peter A.Petri cùng các công sự đã chỉ ra rằng khi TPP đi vào hiện thực Việt Nam hoàn toàn có thể là quốc gia thành viên được hưởng lợi nhiều nhất Theo đó đến năm 2025 Việt Nam sẽ tăng thu GDP thêm khoảng 26,2 tỷ USD và con số này sẽ là 35,7 tỷ USD nếu Nhật Bản gia nhập TPP trong năm 2013 Tuy nhiên, ông cũng đặc biệt lưu ý quá trình đàm phán cam go vẫn còn ở phía trước với nhiều vấn đề khó như sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, quy tắc xuất xứ
1.1.3 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của Hiệp định đối tác xuyên
Thái Bình Dương đến ngành dệt may
Tạp chí Phát triển kinh tế của Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh số
265 tháng 11 năm 2012 đã đăng bài viết “Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái
Bình Dương: Cơ hội và thách thức đối với ngành dệt may xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ” của tác giả Ngô Thị Hải Xuân Bài viết nhận định TPP được coi là “Hiệp
Trang 23trong nhiều lĩnh vực từ thương mại hàng hoá – dịch vụ, đến quyền sở hữu trí tuệ, lao động và môi trường Do đó, TPP sẽ mang lại nhiều cơ hội cũng như thách thức mới cho nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu sang các thị trường thành viên, trong đó có Hoa Kỳ - một thị trường lớn đầy tiềm năng của Việt Nam đối với nhiều sản phẩm như dệt may, da giày, thuỷ hải sản… Bài viết nghiên cứu một cách tổng quát về TPP trong đó đi sâu vào phân tích, đánh giá cơ hội và thách thức đối với ngành dệt may Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ trong tương lai dưới tác động của TPP
Tạp chí Phát triển kinh tế của trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí
Minh số 0 tháng 1 năm 2015 đã đăng bài viết “Định hướng phát triển ngành dệt
may Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập TPP” của 2 tác giả Võ Thanh Thủ và Ngô
Thị Hải Xuân Bài viết đánh giá dệt may hiện là một trong hai ngành xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu gần 20 tỷ USD/năm Tuy nhiên ngành dệt may Việt Nam lại đang ở vị trí rất thấp trong chuỗi giá trị sản xuất dệt may toàn cầu cho chủ yếu tập trung vào khâu gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc, đa số nguyên liệu phải nhập khẩu từ Trung Quốc Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính: Phân tích số liệu thống kê và logic biện chứng, tác giả đánh giá thực trạng ngành dệt may hiện nay nhận định điểm mạnh, điểm yếu và so sánh thực trạng này với các yêu cầu của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đối với ngành dệt may để đưa ra các dự báo về cơ hội, cũng như thách thức đối với ngành; từ đó đề xuất các định hướng giúp ngành dệt may phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu hội nhập khi TPP được kí kết và có hiệu lực thực thi trong tương lai gần
Báo cáo tham luận của Hiệp hội Dệt may Việt Nam “Đàm phán Hiệp định TPP: Cơ hội và thách thức cho ngành công nghiệp dệt may Việt Nam” là một tài liệu hữu ích Tác giả đã tổng quan về TPP, trình bày về cơ hội và thách thức đối với ngành dệt may Trong đó tập trung chủ yếu nói về ưu đãi thuế suất của TPP cũng như quy tắc xuất xứ nghiêm ngặt mà TPP đặt ra Từ đó, tham luận có đưa ra một số
đề xuất cho doanh nghiệp cũng như Chính phủ
Trang 24Báo cáo tham luận của tác giả Phạm Minh Đức “Báo cáo Ngành dệt may
Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)” tại Hội thảo do VCCI đã tổng hợp được những khó khăn và thách thức của
ngành dệt may khi gia nhập TPP cũng như tổng hợp đưa ra được các kết quả nghiên cứu định lượng của các tác giả khác để có những đánh giá chính xác về những thay đổi với ngành dệt may trong thời gian sắp tới
Tác giả Lê Tiến Trường, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam đã trình bày tham luận “Báo cáo Hiệp định TPP: Quan điểm và cách tiếp cận của Hiệp hội Dệt may Việt Nam” đã đứng dưới góc nhìn của một lãnh đạo trong ngành dệt may, nhìn ra những khó khăn hiện tại của ngành trong việc triển khai thực hiện các biện pháp nhằm tận dụng cơ hội đến từ TPP với dệt may Tác giả đã nêu ra một số kiến nghị khi Việt Nam đàm phán và kiến nghị chính sách cho Chính phủ
1.1.4 Kết luận
Các nghiên cứu trong và ngoài nước bằng nhiều phương pháp khác nhau như định tính và định lượng đã nêu được tầm quan trọng và ảnh hưởng nói chung của các Hiệp định thương mại tự do FTA đến kinh tế Việt Nam, phân tích được vị trí, vai trò cũng như ưu nhược điểm của ngành dệt may Bên cạnh đó cũng đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu phân tích ảnh hưởng của TPP đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng, trong các phân tích này đã chỉ ra được một số điều khoản của TPP sẽ ảnh hưởng tới ngành dệt may
Dù vậy, các nghiên cứu chưa đánh giá được đầy đủ tất cả những điều khoản
có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam khi TPP có hiệu lực Không chỉ điều khoản về thuế quan, quy tắc xuất xứ mà lao động, môi trường, hải quan, …sẽ có những tác động nhất định tới xuất khẩu của ngành
Mặc dù vậy, để có thể nhìn nhận kỹ hơn về những lợi ích và thách thức mà xuất khẩu dệt may Việt nam phải đương đầu khi hiệp định có hiệu lực, nghiên cứu này sẽ tập trung phân tích và đánh giá một số thay đổi sẽ diễn ra và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến triển vọng xuất khẩu dệt may Việt Nam Từ đó bài nghiên
Trang 251.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tham gia TPP
1.2.1 Khái quát về Hiệp định Thương mại tự do
1.2.1.1 Sự hình thành của Hiệp định thương mại tự do
Toàn cầu hoá là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bở mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, xã hội v v trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hoá thương mại hay “tự do thương mại” nói riêng
Các nhân tố dẫn tới tiến trình toàn cầu hoá kinh tế gồm có:
Một là, sự phát triển của lực lượng sản xuất; quá trình chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất và phân công lao động đã vượt khỏi tầm tay của từng nước
Hai là, sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, nhât là sự nhảy vọt về thông tin liên lạc, giao thông, đặc biệt là sự ra đời của công nghệ thông tin
Ba là, nhu cầu mở mang thị trường, xuất khẩu tư bản, sự di cư ồ ạt về lao động
Bốn là, sự hoà hợp và tham gia rộng rãi vào các hoạt động quốc tế của các quốc gia, đặc biệt là các nước thứ ba
Năm là, sự phát triển và phổ cập của kinh tế thị trường và cơ chế thị trường
Sáu là, sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức quốc
tế về thương mại và tài chính, sự hình thành các hệ thống tài chính, ngân hàng quốc tế, tạo ra khối lượng giao dịch tiền tệ, hàng hoá khổng
lồ
Toàn cầu hoá kinh tế khởi nguồn từ trao đổi thương mại, dần dần phát triển sang nhiều lĩnh vực khác như sản xuất, dịch vụ, đầu tư, môi trường, xã hội Nó thu hút tất cả các nền kinh tế của các quốc gia, không phân biệt giàu, nghèo, phát triển
Trang 26hay chưa phát triển, quốc gia lớn và cả quốc gia bé, các nước có chế độ chính trị khác nhau
Toàn cầu hoá kinh tế làm cho các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia gắn
bó với nhau, phụ thuộc vào nhau, tác động lẫn nhau Thông qua toàn cầu hoá mà các nền kinh tế các nước tạo ra những lợi thế mới để thúc đẩy lực lượng sản xuất, khoa học kỹ thuật phát triển để từ đó làm cho nền kinh tế của từng nước có thể vượt qua các yếu thế của mình mà tạo ra lợi thế mới và thế mạnh mới Nhưng ngược lại, toàn cầu hoá cũng có thể làm cho nền kinh tế của từng nước, từ chỗ có lợi thế so sánh, từ chỗ có thế mạnh lại trở thành nền kinh tế yếu kém, không có lợi nếu bỏ lỡ thời cơ
Hội nhập kinh tế quốc tế có quan hệ mật thiết với toàn cầu hoá, ở đâu có toàn cầu hoá diễn ra thì ở đó có quan hệ hội nhập kinh tế Toàn cầu hoá là một tất yếu của kinh tế, xã hội thì hội nhập quốc tế cũng là một đòi hỏi khách quan
Từ những năm đầu của thập niên 1990, song song với quá trình toàn cầu hoá
và hội nhập kinh tế quốc tế, chủ nghĩa khu vực (regionalism) đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về lượng và về chất
Tư tưởng tự do kinh tế, đặc biệt tự do thương mại đã được rất nhiều nhà kinh
tế học từ cổ điển tới hiện đại ủng hộ bởi nó mang lại lợi ích kinh tế - xã hội rất to lớn cho các quốc gia Trong quá trình tham gia tự do thương mại, các quốc gia không thể áp dụng được một mình, không tự nguyện giảm các rào cản thương mại thương mại mà phải thoả thuận cùng nhau cắt giảm các rào cản thương mại, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển tự do thương mại Quá trình thúc đẩy tự do hoá thương mại này dẫn đến việc thành lập các Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreements, viết tắt là FTA)
FTA có thể là song phương (được ký kết giữa 2 nước) hoặc đa phương (ký giữa nhiều nước) Tuy nhiên, dù là song phương hay đa phương, FTA thường đem lại lợi ích rất lớn cho các nước thành viên trong việc thúc đẩy thương mại, tận dụng những lợi thế so sánh của nhau Không những thé, do có phạm vi hợp tác rộng, FTA
Trang 27còn xúc tiến tự do hóa đầu tư, hợp tác chuyển giao công nghệ, hiệu suất hoá thủ tục hải quan và nhiều dịch vụ khác
Động lực chính để các nước đang phát triển đàm phán nhằm ký kết FTA với các nước phát triển là khả năng được hưởng các ưu đãi, miễn trừ nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thị trường các nước phát triển Bên cạnh đó, sự khác biệt giữa cơ cấu hàng xuất khẩu (thường mang tính bổ sung cho nhau) cũng là một lý do quan trọng đưa đến đàm phán FTA giữa hai nhóm nước này Đối với các nước đang phát triển, việc tham gia các FTA tạo điều kiện mở rộng xuất khẩu, đồng thời tạo sức ép
để các nước này tăng cường hiệu quả sản xuất, năng lực cạnh tranh, cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp lý cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế Ngoài ra, FTA còn giúp các nước đang phát triển củng cố quan hệ an ninh chính trị với các nước đối tác, đặc biệt là các nước lớn Mặt khác, việc tham gia nhiều FTA sẽ tạo nên quá nhiều cam kết và quy định đan xen, gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách thương mại quốc gia và tuân thủ, thực thi các cam kết, quy định của FTA FTA ngày càng trở nên phổ biến hơn bởi những lợi ích kinh tế mà nó mang lại, nhất là trong bối cảnh
bế tắc của các vòng đàm phán do WTO chủ trương, khiến cho các nước đã phải chuyển hướng sang hợp tác song phương và liên kết khu vực nhằm tìm giải pháp cho phát triển thương mại hàng hoá và dịch vụ Điều này lại tiếp tục dẫn tới việc những nước không tham gia FTA hoặc tham gia chậm sẽ bị gạt khỏi cuộc chơi, nên dường như FTA trở thành một xu hướng chung
1.2.1.2 Nội dung cơ bản của Hiệp định thương mại tự do
a Tự do hoá thương mại hàng hoá
Về thuế và các rào cản thương mại phi thuế
Trong một FTA điểm nổi bật nhất và luôn được đề cập đầu tiên là cam kết
dỡ bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan với các hàng hoá Mức thuế suất có thể được giảm ngay lập tức về 0% hoặc sẽ giảm từ từ theo lộ trình với hầu hết các mặt hàng và thường quy định cụ thể các danh mục như: Danh mục hàng hoá dỡ bỏ thuế ngay, Danh mục hàng hoá cắt giảm thuế dần dần với lộ trình cắt giảm thuế, Danh mục hàng nhạy cảm, Danh mục loại trừ không đưa vào cắt giảm
Trang 28Hiện nay ngày càng có ít mặt hàng nằm trong danh sách loại trừ chỉ trừ những hàng hoá liên quan đến an ninh, văn hoá, tập tục của các quốc gia Ngoài ra FTA còn đưa ra lộ trình cụ thể để các quốc gia thành viên thực hiện cam kết Lộ trình dựa trên tiềm lực, khả năng tự do hoá từng quốc gia cũng như tính chất riêng của một số mặt hàng Ngày nay FTA còn quy định cả các biện pháp hạn chế định lượng và các rào cản kỹ thuật thương mại khác
Về xuất xứ hàng hoá
Để đảm bảo lợi ích cho các nước thành viên, FTA thường bao gồm quy chế
về xuất xứ hàng hoá Quy chế quy định hàng hoá nhập khẩu vào nước đối tác phải đáp ứng được một tỷ lệ nội địa hoá nhất định mới được hưởng những ưu đãi về thuế hơn so với hàng hoá từ nước thứ ba
Ngoài ra, FTA còn có các quy định về thủ tục hải quan với mục đích đơn giản hoá thủ tục, đảm bảo hài hoà với các tiêu chuẩn quốc té tạo điều kiện thuận lợi cho thông thương hàng hoá
b Tự do hoá thương mại dịch vụ
Ngày nay FTA không chỉ bao gồm về tự do hoá thương mại hàng hoá mà còn mở rộng ra cả thương mại dịch vụ Tuỳ vào phạm vi cũng như độ mở cửa lớn hay nhỏ trong các FTA và các quốc gia tham gia ký kết mà quy định tự do hoá về dịch vụ có độ mở khác nhau Thông thường các FTA có sự tham gia của Hoa Kỳ hay một số nước phát triển khác thì đòi hỏi mức độ tự do hoá dịch vụ rất cao, đôi khi là đòi hỏi mở cửa tuyệt đối
c Tự do hoá đầu tư
Trong các FTA được ký kết gần đây , đặc biệt là FTA có các nước phát triển tham gia thì thường bao gồm các cam kết về tự do hoá đầu tư, với các yêu cầu dỡ
bỏ rào cản đối với nhà đầu tư của nước đối tác, tạo điều kiện thuận lợi cho ký kết hợp tác đầu tư Đôi khi FTA còn yêu cầu nước thành viên mở cửa một số ngành nghề do Nhà nước nắm chủ đạo để nước ngoài vào tham gia đầu tư Các quy định thường bao gồm các quy chế về bảo vệ nhà đầu tư và các hoạt động đầu tư, các biện
Trang 29pháp bồi thường thoả đáng trong trường hợp tài sản bị quốc hữu hoá, đảm bảo tự do lưu chuyển thanh khoản
d.Thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước tham gia ký kết hiệp định
Trong một FTA, một nội dung thường thấy nữa là các thoả thuận hợp tác trong nhiều lĩnh vực nhằm thúc đẩy quan hệ và hợp tác kinh tế giữa các nước đối tác Một số lĩnh vực thường được cam kết hợp tác như: phát triển nguồn nhân lực,
du lịch, nghiên cứu khoa học công nghệ, dịch vụ tài chính, công nghệ thông tin và viễn thông, xúc tiến thương mại và đầu tư, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát thanh truyền hình và các lĩnh vực chia sẻ thông tin khác
e Một số cam kết khác
FTA ngày nay còn bao gồm một số cam kết khác như cam kết về sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, cạnh tranh, môi trường và lao động Đây thường là các FTA có phạm vi và mức độ cam kết tự do rất sâu rộng, đòi hỏi mức mở cửa thị trường rất lớn Các nước đang phát triển với sự minh bạch hoá chưa cao, khả năng quản lý cũng như hệ thống pháp luật chưa đáp ứng được, nếu tham gia các FTA này thường gặp nhiều khó khăn bất lợi, thường phải chịu thiệt thòi
1.2.2 Khái quát về Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) 1.2.2.1 Lịch sử hình thành, phát triển và quá trình đàm phán TPP
Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (“Trans – Pacific Strategic
Economic Partnership Agreement”,viết tắt là “TPP”) là một Hiệp định thương mại
tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương TPP được đánh giálà một thoả thuận thương mại tự do khu vực có phạm vi điều chỉnh khá toàn diện, sâu rộng
và chưa có tiền lệ TPP được khởi xướng với mục đích thúc đẩy các nền kinh tế trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bước sang giai đoạn hợp tác và hội nhập mới TPP tuy không phải là chương trình hợp tác trong khuôn khổ APEC nhưng các thành viên APEC đều có thể gia nhập nếu quan tâm
Ban đầu, TPP được khởi xướng bởi 4 nước là Singapore, Chi Lê, Niuziland và
Trang 30Brunei (vì vậy Hiệp định này còn gọi là P4) và được ký kết năm 2005 Năm 2007, Hoa Kỳ bắt đầu tiếp cận và tham gia thảo luận với các nước P4 Tháng 9/2008, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, bà Schwab thông báo dự định của nước này sẽ tham gia đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do toàn diện với nhóm P4 Sang tháng 11/2008, 4 nước Hoa Kỳ, Australia, Peru và Việt nam thông báo sẽ cùng đàm phán với các quốc gia P4 nhằm đi đến ký kết một Hiệp định thương mại “thế hệ tiếp theo” Tháng 3/2010, vòng đàm phán đầu tiên diễn ra tại Australia gồm các nước: Australia, Chi Lê, Peru, Singapore, Việt Nam, Hoa Kỳ, Bruney và New Zealand Tháng 10/2010, vòng đàm phán thứ ba diễn ra tại Brunei với sự tham gia thêm của Malayxia Tháng 10/2012, Canada chính thức tham gia đàm phán và vào tháng 3/2013 Nhật Bản cũng đồng ý tham gia đàm phán TPP Như vậy đến thời điểm này, TPP gồm 12 nước thành viên: Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malayxia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam và đã trải qua tổng cộng 20 vòng đàm phán Phiên đàm phán gần đây nhất diễn ra vào ngày 1/8/2015 tại Hawaii tuy được kỳ vọng sẽ hoàn tất đàm phán giữa tất cả các nước nhưng cuối cùng đã đổ vỡ, dự kiến các phiên đàm phán sẽ được nối lại trong tháng 9/2015 và ký kết trước khi bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ diễn ra vào năm 2016 Hiệp định TPP được kỳ vọng là một “FTA của thế kỷ XXI” với phạm vi điều chỉnh rộng, với mức độ “tự do” cao hơn nhiều so với các hiệp định thương mại thông thường như WTO, hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, các Hiệp định thương mại và đầu tư trước đây Khác với đàm phán gia nhập WTO trước đây của Việt Nam là đàm phán một chiều, tức các nước đã là thành viên WTO có quyền đặt điều kiện cho nước muốn gia nhập, tới khi nào đồng ý mới cho gia nhập thì trong đàm phán TPP mỗi bên đều có quyền đưa ra đề xuất của mình, chấp nhật hoặc không chấp nhận đề xuất của đối tác (không có một hệ thống quy chuẩn sẵn)
Hiệp định TPP trên cơ sở mở rộng quan hệ giữa các nước thành viên trong khối, phát triển nội khối từng thành viên để từ đó nâng cao sức cạnh tranh, minh bạch chính sách của các nước thành viên
Trang 31vừa và nhỏ” hướng tới một số hội tụ về phương pháp luận
Mục tiêu dự kiến của TPP: trở thành khuôn khổ thương mại toàn diện với chất lượng cao và là “mô hình” của hiệp định thương mại của thế kỷ XXI, bao trùm khu vực châu Á – Thái Bình Dương
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu chủ yếu về TPP
Quốc gia/Số liệu Diện tích
(1000 km2)
Dân số 2012 (triệu người)
GDP 2011 (nghìn tỷ USD)
XK (tỷ USD)
NK (tỷ USD)
Nguồn: World bank
TPP được đánh giá như một hiệp định quan trọng, xét trên tầm vóc và ảnh hưởng của nó Khác với các Hiệp định thương mại tự do (FTA), Hiệp định thương mại song phương (BTA), hiệp định thương mại tự do khu vực hay cam kết WTO, ảnh hưởng của TPP sâu rộng hơn cả về thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ
và đặc biệt là đầu tư và sở hữu trí tuệ
Trang 32Bên cạnh đó, các đàm phán phi thương mại như mua sắm chính phủ, môi trường lao động, Do vậy ảnh hưởng của việc ký kết Hiệp định này đến môi trường kinh doanh và môi trường lao động ở các quốc gia tham gia là rất lớn
So với toàn thế giới, hiện các thành viên tham gia đàm phán TPP chiếm 24,9 % về diện tích, 11,1% về dân số, chiếm 37,7% về GDP; chiếm 1/3 thương mại toàn cầu; chiếm khoảng 19,3% về xuất khẩu, khoảng 21,1% về nhập khẩu
Trong 12 thành viên TPP, Việt Nam đứng thứ 8 về diện tích, thứ tư về dân
số, thứ 11 về GDP, thứ 8 về xuất khẩu, thứ 8 về nhập khẩu Trong 12 nước, có 4 nước nhập siêu, lớn nhất là Hoa Kỳ, có 8 nước xuất siêu trong đó có Việt nam Việt Nam chiếm 0,5% về GDP; 2,2% về tổng kim ngạch xuất khẩu, chiếm gần 2% tổng kim ngạch nhập khẩu của GDP Xuất khẩu của Việt nam vào TPP chiếm khoảng 1% tổng kim ngạch nhập khẩu của các nước thành viên TPP Điều đó chứng tỏ TPP
là thị trường tiềm năng của Việt Nam
1.2.2.2 Các nội dung được đàm phán trong TPP
Đàm phán của TPP có phạm vi rộng hơn nhiều so với WTO Nếu như WTO chỉ đàm phán về thị trường hàng hoá dịch vụ, một số vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, thì trong đàm phán TPP còn đề cập đến cả vấn đề mua sắm chính phủ, vấn đề lao động, môi trường, vấn đề doanh nghiệp nhà nước Theo thoả thuận, các bên tham gia TPP sẽ tiếp tục đàm phán và ký 2 văn kiện quan trọng về đầu tư và dịch vụ tài chính, chậm nhất là sau 2 năm kể từ khi TPP chính thức có hiệu lực
Một số lĩnh vực đàm phán chính trong TPP có thể kể ra như:
- Thương mại hàng hoá:
TPP được xem như một WTO cộng (+) trong đó có nhiều quy định thể hiện tính mở rất cao trên thị trường thương mại hàng hoá +TPP hướng đến tự do hoá toàn diện, xoá bỏ 100% thuế nhập khẩu (trong đó 90% là xoá bỏ ngay khi Hiệp định
có hiệu lực)
Xử lý vấn đề thuế nhập khẩu đối với hàng đã qua sử dụng
Trang 33 Đề xuất mở cửa cho một số chủng loại hàng tân trang
Các quy định chặt chẽ hơn về cấp phép nhập khẩu, cấp phép xuất khẩu; doanh nghiệp độc quyền, đặc quyền xuất nhập khẩu (đầu mối); quá cảnh hàng hoá v v
- Mở cửa thị trường dịch vụ và đầu tư:
Gồm một số nội dung sau:
+ Các điều khoản được dựa trên 6 nhóm nghĩa vụ chính đó là Đối xử tối huệ quốc (MFN), Đối xử quốc gia (NT), Hiện diện tại nước sở tại, Mở cửa thị trường, Xoá bỏ một số điều kiện cấp phép, Yêu cầu hợp lý về nhận sự cao cấp
+ Đàm phán “Danh mục các biện pháp không tương thích”
+ Nước muốn bảo lưu các biện pháp không tương thích với nghĩa vụ tại Hiệp định phải chứng minh sự cần thiết và đàm phán để bảo lưu biện pháp đó (phương pháp chọn bỏ)
+ Chỉ điều chỉnh chính sách theo hướng thuận lợi hơn, tốt hơn
- Mua sắm của chính phủ
Gồm một số nội dung:
+ Đàm phán quy tắc cơ bản theo Hiệp định mua sắm chính phủ của WTO:
Đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia
Về cơ bản là đấu thầu rộng rãi để lựa chọn nhà thầu
Xoá bỏ các điều kiện dự thầu mang tính ưu tiên nội địa (như yêu cầu
sử dụng sản phẩm hoặc nhà cung cấp trong nước), yêu cầu chuyển giao công nghệ, yêu cầu phải có đầu tư hoặc phải có thương mại đối lưu v v
Minh bạch thông tin và thủ tục tại tất cả các khâu
Có quy định để bảo đảm liêm chính và xem xét khiếu nại
+ Có quyền bảo lưu không mở cửa vì lý do an ninh quốc phòng
+ Loại trừ: Mua hoặc thuê đất hoặc bất động sản; mua sắm nhằm mục đích trợ cấp, trợ giá; mua sắm trong khuôn khổ gói kích thích kinh tế (kích cầu); mua
Trang 34sắm dịch vụ liên quan đến phát hành trái phiếu công; mua để viện trợ cho nước khác v v
+ Từng nước có biểu cam kết riêng như Cam kết đại diện cơ quan, Cam kết phạm vi hàng hoá dịch vụ; Cam kết ngưỡng giá trị mà tự đó trở lên phải cho phép các nước TPP tham gia đấu thầu
+ Vấn đề Trung ương và Địa phương
+ Vấn đề Chọn – bỏ và Chọn – cho khi cam kết diện cơ quan và phạm vi hàng hoá dịch vụ
- Chế độ quản lý đầu tư:
+ Xoá bỏ một số yêu cầu cấp phép (TRIMs+, áp dụng cho cả dịch vụ)
+ Việc xoá bỏ một số yêu cầu cấp phép được áp dụng cho cả đầu tư của bên thứ ba
+ Không được yêu cầu phải sử dụng công nghệ nào đó trừ những trường hợp
vì lợi ích công cộng
+ Dành “đói xử tối thiểu theo tập quán quốc tế” cho nhà đầu tư
+ Áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và Nhà nước
+ Minh bạch hoá quá trình giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và Nhà nước
- Doanh nghiệp nhà nước
Với xuất phát điểm là tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng, TPP thừa nhận vai trò phục vụ lợi ích công cộng của doanh nghiêp nhà nước và không yêu cầu xoá bỏ doanh nghiệp nhà nước Theo đó Doanh nghiệp nhà nước khi tham gia TPP có một số nghĩa vụ chính:
+ Khi tham gia cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước cần hoạt động theo tính toán thương mại, phù hợp với nguyên tắc thị trường
+ Minh bạch hoá hoạt động
+ Giảm trợ cấp, giảm can thiệp gây tác động bất lợi cho cạnh tranh
Hiện vấn đề đám phán về doanh nghiệp nhà nước đang rất phức tạp do đây là
Trang 35mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp nhà nước; một số vấn đề phát sinh như gánh nặng thực thi, phân biệt đối xử ngược, chênh lệch trình độ phát triển v v
- Sở hữu trí tuệ:
Lĩnh vực này có pham vi rộng và mức độ cam kết sâu hơn so với WTO Theo đó các quốc gia thành viên cần tuân thủ một số nghĩa vụ:
+ Nâng cao mức độ bảo hộ sáng chế và vấn đề dược phẩm
+ Nâng cao mức độ bảo hộ dữ liệu thử nghiệm cho dược phẩm và nông hoá phẩm
+ Nâng cao mức độ và kéo dài thời hạn bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan
+ Xiết chặt thực thi (bảo vệ) quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là đối với quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường
Đây cũng là một trong những nội dung đàm phán khó nhất
- Thương mại và lao động Gồm một số nội dung:
+ Bảo vệ các quyền cơ bản của người lao động theo Tuyên bố năm 1998 của ILO:
Tự do liên kết và thương lượng tập thể
Cấm sử dụng lao động cưỡng bức, lao động trẻ em
Không phân biệt đối xử người lao động
+ Hoa kỳ yêu cầu áp dụng chế tài trong trường hợp vi phạm cam kết Đàm phán trên lĩnh vực này chủ yếu dựa trên chia sẻ mục tiêu chung nhưng khác nhau về cách làm, và hướng tới hợp tác hơn là chế tài
- Thương mại và môi trường:
Nghĩa vụ chính:
+ Hàng hoá và dịch vụ môi trường
+ Xử lý các loại trở cấp thuỷ sản có khả năng dẫn tới đánh bắt quá mức + Chống khai thác thuỷ sản bất hợp pháp
+ Chống khai thác gõ trái phép, bảo vệ động vật hoang dã
+ Cho phép sự tham gia của cộng đồng vào hoạch định chính sách
Trang 36+ Áp dụng chế tài trong trường hợp vi phạm cam kết
Cũng như đàm phán trong lĩnh vực thương mại và lao động thì trong lĩnh vực này các quốc gia cũng chia sẻ mục tiêu chung nhưng khác nhau về cách làm, hướng tới hợp tác hơn là chế tài
- Thương mại điện tử:
Một số đề xuất chính dược đưa ra như:
+ Đưa ra định nghĩa sản phẩm số
+ Không thu thuế nhập khẩu đối với giao dịch thương mại điện tử
+ Không phân biệt đối xử sản phẩm số
+ Tự do lưu chuyển thông tin
+ Không yêu cầu đặt trang thiết bị tại nước sở tại
+ Hợp tác an ninh mạng
Các quốc gia được quyền bảo lưu các biện pháp:
+ Bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự công cộng, quyền riêng tư
+ Có thể yêu cầu đặt máy chủ tại nước sở tại nếu vì mục đích công cộng
Trang 37CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ LUẬN VĂN 2.1 Quy trình phân tích
Việc phân tích và đánh giá tác động của TPP lên xuất khẩu dệt may của Việt Nam sẽ được thực hiện theo các nội dung sau:
i) Phân tích, đánh giá ngành dệt may Việt Nam so với các ngành khác và các nước xuất khẩu dệt may lớn khác
ii) Phân tích đánh giá các thuận lợi cũng như khó khăn còn tồn tại của ngành dệt may
iii) Phân tích, đánh giá các nhân tố sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may Việt Nam sau khi TPP được ký kết
iv) Đánh giá triển vọng vù xu hướng phát triển xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam trong giai đoạn tới và các kiến nghị cho doanh nghiệp, chính phủ
Khung Logic nghiên cứu của luận văn được thể hiện trong sơ đồ sau
Trang 38Tổng quan ngành dệt may Việt Nam
và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dương TPP
Khoảng trống nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Xác định khung phân tích
Áp dụng các phương pháp nghiên cứu định
Phân tích, đánh giá
cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu dệt may khi TPP có hiệu lực
Kiến nghị một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may của Việt Nam
Trang 392.2 Các phương pháp nghiên cứu luận văn
2.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
Dùng để nghiên cứu cơ sở lý luận, văn bản có liên quan, chủ trương chính sách của đảng và Nhà nước, kinh nghiệm của các nước, thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập và phân tích là dữ liệu tổng quan về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam, tình hình xuất nhập khẩu thành phẩm và nguyên phụ liệu ngành dệt may Việt Nam, thực trạng xuất khẩu dệt may ở các thị trường chính, thực trạng về các điều khoản ảnh hưởng tới xuất khẩu dệt may trước và sau khi TPP được ký kết
Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu như sau:
Bước 1 Thu thập dữ liệu
Liên hệ với các tổ chức cung cấp thông tin và tiến hành sao chép tài liệu Trong đó Bộ Công thương, Trung tâm VCCi thuộc Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam, Tập đoàn dệt may Việt Nam, Hiệp hội bông sợi Việt Nam, Tổng cục Hải quan là các đơn vị được tác giả nghiên cứu tiếp cận và thu thập tài liệu
Ngoài ra, dữ liệu còn được thu thập từ các nguồn thông tin đại chúng Tìm kiếm dữ liệu mới nhât trên các nguồn dễ tiếp cận như sách báo, tạp chí chuyên ngành cả dưới dạng in ấn và trực tuyến Danh mục các tài liệu này được liệt kê trong phần tài liệu tham khảo
Bước 2 Kiểm tra dữ liệu
Dữ liệu thu thập từ các nguồn khác nhau được kiểm tra theo các tiêu thức về tính chính xác, tính thích hợp và tính thời sự Các dữ liệu được đối chiếu và so sánh
để có sự nhất quán bảo đảm nội dung phân tích có được độ tin cậy cao
Bước 3 Phân tích dữ liệu
Tập hợp và phân tích dữ liệu theo mục tiêu đã xác định Sau khi tập hợp và sàng lọc, dữ liệu thứ cấp được sử dụng để hình thành cơ sở lý luận cũng như tìm hiểu kinh nghiệm của các nước về việc thay đổi, thực thi các chính sách để tận dụng
Trang 40lợi ích do Hiệp định thương mại tư do FTA mang lại Dữ liệu thứ cấp cũng là nguồn tài liệu quan trọng để phân tích các nội dung về thực trạng ngành dệt may Việt Nam, thực trạng về xuất nhập khẩu đến các thị trường lớn trong TPP, cũng như dự báo những ảnh hưởng đến xuất khẩu dệt may khi TPP được ký kết Bên cạnh đó, dữ liệu thứ cấp cũng sẽ cung cấp một số thông tin cơ bản cho phần dự báo xu hướng và định hướng chính sách cho ngành dệt may trong thời gian sắp tới
2.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp luận văn sẽ luận giải và làm rõ:
- Thực trạng ngành dệt may Việt Nam về quy mô ngành, vị trí trong chuỗi sản xuất toàn cầu, các sản phẩm xuất khẩu chính và khả năng phát triển sản xuất
- Phân tích những thay đổi của ngành dệt may trong những năm qua khi Việt Nam tiến hành hội nhập
- Phân tích các nhân tố ảnh hướng tới xuất khẩu dệt may
- Phân tích các điều kiện và khả năng để đẩy mạnh xuất khẩu dệt may
Phương pháp phân tích tổng hợp được thực hiện qua các bước như sau:
Bước 1 Xác định vấn đề cần phân tích
Vấn đề cần được phân tích trong Luận văn này là:
- Các quan điểm lý thuyết về tự do hoá thương mại và TPP
- Sự cần thiết về tự do hoá thương mại đối với hoạt động xuất khẩu
- Lợi thế và khó khăn của xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
- Tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam thời gian qua
- Các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu trong môi trường tự do hoá thương mại khi cac FTA được ký kết
- Các kiến nghị cho doanh nghiệp và Chính phủ để tận dụng cơ hội từ TPP
Bước 2 Thu thập các thông tin cần phân tích
Trên cơ sở xác định vấn đề cần phân tích, Luận văn đã tiến hành thu thập các thông tin có lien quan Đó là: