Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không hoạt động đơn lẻ một mình mà nó luôn có mối quan hệ với các nhà đầu tư, các chủ nợ, các cơ quan quản lý nhà nước, các khách hàng,… Tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ này là do tôi nghiên cứu và thực hiện, chưa từng được công bố trên các công trình nghiên cứu nào khác Bản luận văn này được hoàn thành là cả quá trình nghiên cứu nghiêm túc của tôi
cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của TS Lê Kim Sa Các số liệu được
sử dụng trong luận văn này có nguồn gốc đáng tin cậy Luận văn được nghiên cứu dựa trên nền tảng cơ sở lý luận khoa học và trên cơ sở tác nghiệp thực tiễn tại Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của Quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến Quý th ầy cô trường Đại học Kinh tế - Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i, các thầy cô giáo trong Hội đồng khoa học nhà trường đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình ho ̣c tâ ̣p
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Lê Kim Sa đã dành rất nhiều thời
gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của Quý thầy cô và các bạn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Vũ Thái Hằng
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 5
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 8
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại doanh nghiệp 10
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý tài chính tại doanh nghiệp 13
1.2.3 Mục tiêu và nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp 14
1.2.4 Vai trò của quản lý tài chính tại doanh nghiệp 18
1.2.5 Nội dung của QLTC doanh nghiệp 20
1.2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến QLTC 41
1.3 Những kinh nghiệm và bài học rút ra từ việc hoàn thiện QLTC của một số công ty 46
1.3.1 Công tác quản lý tài chính tại công ty cổ phần VICEM thương mại Xi măng 46
1.3.2 Công ty cổ phần bê tông xây dựng Hà Nội 47
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 49
2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 49
2.1.1 Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu định tính 49
Trang 62.1.2 Thiết kế nghiên cứu định tính 50
2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 51
2.2.1 Lý do lựa chọn phương pháp nghiên cứu định lượng 51
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu định lượng 52
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP DẦU KHÍ VIỆT NAM 54
3.1 Khái quát về Tổng công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam 54
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của PVC 54
3.1.2 Cơ cấu tổ chức: 57
3.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của PVC 60
3.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của PVC 60
3.2 Thực trạng tình hình tài chính của PVC 62
3.2.1 Hệ số khả năng thanh toán 63
3.2.2 Phân tích khả năng cân đối vốn: 64
3.3 Công tác QLTC của PVC 66
3.3.1 Đối tượng QLTC của PVC 66
3.3.2 Thực trạng quy trình quản lý tài chính của PVC 83
3.3.3 Phương thức QLTC của PVC 85
3.3.4 Hoạt động kiểm tra, kiểm soát hoạt động QLTC của PVC 86
3.4 Đánh giá chung về công tác QLTC của PVC 87
3.4.1 Những thành tựu đã đạt được 87
3.4.2 Những hạn chế 89
3.5 Nguyên nhân hạn chế 91
3.5.1 Nguyên nhân khách quan 91
3.5.2 Nguyên nhân chủ quan 92
CHƯƠNG 4 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA PVC 95
4.1 Phương hướng phát triển của PVC 95
4.1.1 Bối cảnh kinh tế xã hội 95
Trang 74.1.2 Quan điểm – mục tiêu phát triển của PVC 98
4.2 Phương hướng cơ bản về hoàn thiện QLTC của PVC 99
4.2.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý, quy định quy chế nội bộ 99
4.2.2 Xác định đúng quy trình QLTC, phương thức QLTC phù hợp với PVC 99
4.2.3 Nâng cao năng lực, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, công nghệ quản lý vào QLTC của PVC 105
4.2.4 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ QLTC của PVC 106
4.2.5 Tăng cường thanh tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ bộ máy QLTC của PVC 107
4.2.6 Minh bạch hóa tài chính 109
4.2.7 Kiến nghị 110
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 8i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 BCĐKT Bảng cân đối kế toán
2 BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
3 BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
5 KHĐT Kế hoạch đầu tư
6 KTAT Kỹ thuật an toàn
7 KTTM Kinh tế thương mại
11 SXKD Sản xuất kinh doanh
12 TCC&XLN Tái cơ cấu và Xử lý nợ
13 TCKT Tài chính - Kế toán
14 TCKT-KT Tài chính kế toán kiểm toán
15 TCNS Tổ chức nhân sự
Trang 9ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu từ 2010-2014 của
9 Bảng 3.9 Chi phí giá vốn/doanh thu 2010-2014 78
10 Bảng 3.10 Tiền lương bình quân qua các năm 2010-2014 79
11 Bảng 3.11 Chi phí trích lập dự phòng qua các năm 2010-2014 80
Trang 10iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mô tả việc sử dụng các báo cáo tài
chính phụ vụ cho việc ra quyết định tài chính 35
2 Sơ đồ 3.1 Bộ máy quản lý tài chính của PVC 57
Trang 11iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Tình hình biến động tài sản 2010-2014 75
Trang 121
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các tổ chức cũng như các doanh nghiệp phải đảm bảo sự tồn tại ổn định và phát triển tạo nên hiệu quả kinh tế cao Do vậy, mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận và hơn nữa là gia tăng giá trị của công ty Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không hoạt động đơn lẻ một mình mà nó luôn có mối quan hệ với các nhà đầu tư, các chủ nợ, các cơ quan quản lý nhà nước, các khách hàng,… Trong khi các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vốn vào doanh nghiệp họ sẽ quan tâm đến khả năng sinh lời trên đồng vốn đầu tư và mức độ rủi ro khi đầu tư vốn thì các chủ nợ lại quan tâm đến khả năng trả gốc
và lãi của doanh nghiệp mà họ có quan hệ tín dụng, còn các cơ quan quản lý nhà nước lại quan tâm đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra các chính sách kinh tế - tài chính phù hợp, sao cho các doanh nghiệp phát triển đúng hướng và thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước
Cơ chế thị trường cùng với đường lối, các chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo cho doanh nghiệp nhiều cơ hội mới nhưng cũng không ít khó khăn và thử thách phải vượt qua Sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế là một trong những thử thách to lớn mà các doanh nghiệp phải đối mặt, do đó một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó cũng phải mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội, điều đó có nghĩa là thu nhập phải bù đắp chi phí và có lợi nhuận đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải nhanh chóng đổi mới, hoàn thiện các mặt hoạt động của mình; trong đó đổi mới về quản lý tài chính là một trong các vấn đề được
Trang 132
quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam Bởi lẽ, hoạt động tài chính của doanh nghiệp có quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, và ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu, mạnh hay yếu sẽ có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm các hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó việc thường xuyên, kịp thời đánh giá và phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp cũng như các tác động từ các yếu tố khác trong và ngoài doanh nghiệp lên tình hình tài chính doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết; để làm được điều này doanh nghiệp/nhà quản lý cần phải đánh giá được đầy đủ và chính xác tình hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp, phân tích tình hình thị trường, trên cơ sở đó xác định chính xác nhu cầu vốn, lập kế hoạch tài chính nhằm đề ra biện pháp trong công tác huy động vốn đáp ứng nhu cầu sử dụng, đồng thời đảm bảo sự hợp lý và hiệu quả cao nhất trong việc sử dụng nguồn vốn, qua đó giúp ta chủ động hơn trong việc huy động và sử dụng vốn, cung cấp những tiêu chuẩn cho việc đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp
Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) là đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xây lắp chuyên ngành các công trình Dầu khí với quy mô hoạt động rộng khắp trên địa bàn cả nước, nguồn vốn và nguồn nhân lực lớn Công tác quản lý tài chính được PVC thường xuyên quan tâm, chú trọng Mặc dù vậy, hoạt động quản lý tài chính tại đơn vị hiện vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập; công tác phân tích tài chính vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu: Phân tích tài chính chưa giúp nhà quản lý đánh giá được toàn diện, sát thực tình hình tài chính Công ty, chưa trợ giúp hữu hiệu cho việc ra quyết định tài chính; việc lập kế hoạch tài chính chưa được quan tâm, chú trọng đúng với tầm quan trọng của nó Tình
Trang 143
trạng này sẽ khó được khắc phục nếu công tác quản lý tài chính tại đơn vị không được cải thiện theo hướng hoàn thiện hơn
Qua quá trình nghiên cứu và được sự hướng dẫn nhiệt tình của TS Lê
Kim Sa, tác giả quyết định chọn đề tài “Quản lý tài chính tại Tổng công ty
Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam” để nghiên cứu
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: Phân tích thực trạng công tác QLTC của PVC, từ đó đưa ra
giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại PVC
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài có nhiệm
vụ giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý tài chính doanh nghiệp
- Nghiên cứu và khảo sát thực trạng công tác quản lý tài chính tại Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam thông qua những số liệu của Tổng công ty thu thập được trong 5 năm 2010 - 2014
- Đề xuất giải pháp để hoàn thiện công tác QLTC tại PVC
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Công tác quản lý tài chính tại Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam
3.2 Phạm vi:
Phạm vi không gian: Đơn vị nghiên cứu là một doanh nghiệp cụ thể
ở đây là Công ty Mẹ - Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam
Phạm vi thời gian: 5 năm gần đây (2010 - 2014) và định hướng cho các năm tiếp theo
Nguồn số liệu: Các số liệu được lấy từ báo cáo kế hoạch, báo cáo tài chính và các tài liệu liên quan khác qua các năm: 2010, 2011, 2012,
Trang 154
2013, 2014; kế hoạch 5 năm (2016-2020); chiến lược phát triển đến
2025 và định hướng đến 2035
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài chính tại doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam
Chương 4: Phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý tài chính của PVC
Trang 165
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, đã có không ít các công trình nghiên cứu về lĩnh vực QLTC trong các Tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp dưới góc độ lý thuyết, đánh giá thực tiễn cũng như tổng kết kinh nghiệm trong và ngoài nước, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và không ngừng nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả công tác QLTC
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Ở các nghiên cứu trước đó, hầu hết các tác giả và nhà nghiên cứu tiếp
cận các lĩnh vực cụ thể của QLTC theo các cách thức khác nhau
Sudhindra Bhat (2008) xem xét các lĩnh vực cụ thể của QLTC bao gồm tất cả các hoạt động có liên quan đến các mục trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Các lĩnh vực cụ thể QLTC bao gồm: quản lý vốn lưu động, quản lý tài sản dài hạn, quản lý nguồn tài chính, lập kế hoạch tài chính, lập kế hoạch và đánh giá khả năng sinh lời
Sudhindra Bhat cho rằng nhìn vào bảng cân đối kế toán của một doanh nghiệp ta có thể đưa ra các quyết định quan trọng của QLTC Có nhiều quyết định liên quan đến các mục trên bảng cân đối kế toán, chúng được phân loại thành ba loại chính: các quyết định đầu tư, quyết định tài chính và các quyết
định phân phối lợi nhuận
Quyết định đầu tư: (1) liên quan đến số lượng và thành phần đầu tư của doanh nghiệp trong tài sản ngắn hạn (tiền mặt, cổ phiếu, nợ, ) và tài sản cố định (thiết bị, nhà xưởng, ), và (2) liên quan đến việc cân bằng giữa hai loại tài sản trên
Trang 176
Quyết định tài chính : (1) liên quan đến các loại tài chính sử dụng để mua tài sản, và (2) liên quan đến việc đạt được một sự cân bằng giữa các nguồn ngắn hạn và dài hạn, và giữa nợ và nguồn vốn chủ sở hữu
Quyết định phân phối lợi nhuận: (1) liên quan đến tỷ lệ lợi nhuận thu được nên được giữ lại trong một doanh nghiệp để tài trợ cho phát triển và
tăng trưởng, (2) và tỷ lệ có thể được phân phối cho các chủ sở hữu
Eugene F Brigham, Michael C Ehrhardt (2008) định nghĩa QLTC dựa trên huy động và sử dụng nguồn vốn: QLTC là quan tâm đến việc nâng cao các quỹ cần thiết để tài trợ cho tài sản và hoạt động của doanh nghiệp, việc phân bổ để tài trợ tiền giữa các ứng dụng cạnh tranh, và với việc đảm bảo rằng các khoản tiền được sử dụng hiệu quả và hiệu quả trong việc đạt được
mục tiêu của doanh nghiệp
QLTC hiện đại liên quan đến việc lập kế hoạch, kiểm soát và trách
nhiệm ra quyết định gồm:
1 Các loại và các nguồn tài chính mà một doanh nghiệp có thể sử dụng, làm thế nào có thể được tiếp cận nó, và làm thế nào để lựa chọn các
nguồn tài chính trong số đó
2 Các nhu cầu tài chính có thể được sử dụng trong một doanh nghiệp và làm thế nào để lựa chọn những người có khả năng QLTC sao cho
doanh nghiệp có lợi nhất
3 Các phương tiện khác nhau để đảm bảo rằng tài chính được phân bổ cho các hoạt động cụ thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, dự kiến
phân bổ lợi nhuận doanh nghiệp ra sao
Một số các tác giả khác lại có các cách tiếp cận khác, có tác giả cho rằng lĩnh vực chính của quản lý tài sản là lập kế hoạch (lập kế hoạch và quản
lý tiền mặt, dự báo tài sản bắt buộc, lập kế hoạch lợi nhuận), đòn bẩy tài chính, ra quyết định đầu tư, quản lý vốn hoạt động (quản lý tiền mặt, khoản
Trang 187
phải thu và hàng tồn kho) và các nguồn tài chính (tài chính ngắn hạn và dài hạn, tài chính trung gian) (tác giả Walker và Petty (1978)); có tác giả đưa ra quan điểm coi trọng thực tế hơn lý thuyết, thông qua việc sử dụng các công
cụ phân tích tài chính bao gồm các biện pháp quản lý kinh doanh; xác định khả năng sinh lợi; kiểm soát vốn hoạt động (hoặc khả năng thanh khoản); kiểm soát tài sản cố định, chi phí từ đó đưa ra các quyết định giá và lợi
nhuận, các kế hoạch kinh doanh và ngân sách (tác giả Barrow (1988))
Đối với Meredith (1986), tác giả lại nhấn mạnh vào các hệ thống thông tin như là cơ sở cho việc QLTC bao gồm các hồ sơ và báo cáo QLTC Điều này được xem là rất quan trọng bởi vì chủ doanh nghiệp - các nhà quản lý
hoặc các nhà QLTC thấy khó quyết định nếu họ thiếu thông tin tài chính
Trong khi đó English.J.W (1990) nhấn mạnh các kết quả QLTC bao gồm khả năng thanh khoản, khả năng sinh lợi và tăng trưởng Do vậy, các lĩnh vực cụ thể có liên quan đến QLTC là quản lý khả năng thanh khoản (dự thảo luồng tiền mặt, quản lý vốn hoạt động), quản lý khả năng sinh lợi (phân tích lợi nhuận, lập kế hoạch lợi nhuận) và quản lý tăng trưởng (hoạch định
nguồn vốn và các quyết định)
McMahon (1995) nghiên cứu các lĩnh vực cụ thể của QLTC bao gồm tất cả các lĩnh vực liên quan đến các hạng mục trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Các lĩnh vực cụ thể của QLTC bao gồm quản lý vốn hoạt động, quản lý tài sản dài hạn, quản lý các nguồn tài chính, lập kế hoạch cơ cấu tài chính, lập kế hoạch và đánh giá khả năng sinh lợi
Có thể tổng kết các nội dung của QLTC được các nghiên cứu đề cập
đến như sau:
• Quản lý tài sản lưu động hoặc vốn hoạt động
• Quản lý tài sản cố định hoặc quản lý tài sản dài hạn
• Quản lý quỹ
Trang 198
• Ra quyết định đầu tư
• Lập kế hoạch và dự thảo ngân sách tài chính
• Đòn bẩy và cơ cấu vốn
• Hệ thống thông tin kế toán
• Phân tích tài chính và đánh giá kết quả kinh doanh
• Phân phối lợi nhuận (chính sách lợi tức và lợi nhuận giữ lại)
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Cho đến nay, tại Việt Nam đã có không ít các công trình nghiên cứu về QLTC trong các doanh nghiệp, dưới các mô hình hoạt động khác nhau, đã có một số công trình được xuất bản thành sách/giáo trình như:
“Tập đoàn kinh doanh và cơ chế QLTC trong Tập đoàn kinh doanh” do Nhà xuất bản Tài chính ấn hành năm 2003 của TS Phạm Quang Trung (Đại học kinh tế Quốc dân) Công trình này đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế QLTC trong các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước; đồng thời tác phẩm cũng mô tả, tổng hợp, phân tích toàn cảnh bức tranh áp dụng cơ chế QLTC tại các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước thời gian đầu đi vào hoạt động
“Quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại” do nhà xuất bản Thống kê năm 2009 của tác giá Dương Hữu Hạnh Tác phẩm đã đề cập đến vấn đề QLTC trong các doanh nghiệp hiện đại dưới góc nhìn của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp
Bên cạnh đó, QLTC cũng là đề tài được được rất nhiều các nghiên cứu sinh/học viên đã quan tâm và nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau:
Luận án tiến sỹ “QLTC góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các Tập đoàn kinh tế Việt Nam” – tác giả Vũ Anh Tuấn – năm 2012 Tác giả đã nghiên cứu về tác động của các chủ trương, biện pháp của nhà nước về quản
lý các hoạt động tài chính trong các Tập đoàn kinh tế nhà nước đối với vấn đề
Trang 209
nâng cao năng lực cạnh tranh của các Tập đoàn kinh tế từ góc độ lý thuyết cũng như thực tiễn; đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện QLTC nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam
Luận án tiến sỹ “QLTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn
Hà Nội”- tác giả Nguyễn Thị Minh - năm 2014 Luận án đã nghiên cứu về
công tác QLTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong đó năm yếu tố chính đối với quá trình QLTC nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp được tập trung phân tích qua các số liệu thực tiễn: lựa chọn cơ hội đầu tư, tổ chức huy động vốn, quản lý chi phí và hạch toán chi phí, phân tích tài chính và hoạch định tài chính, phân phối lợi nhuận và tái đầu tư Đối tượng nghiên cứu của tác giả là các doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và các doanh nghiệp tư nhân có ít hơn 300 lao động và tổng vốn dưới 100 tỷ đồng Tác giả đã phân tích dữ liệu và mô tả mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố QLTC đến kết quả QLTC của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung “Hoàn thiện QLTC tại công ty TNHH thương mại và sản xuất Ngọc Diệp” – năm 2012 đã
tiếp cận vấn đề QLTC là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức và thực hiện các quyết định đó đảm bảo sự cân đối, hài hòa các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, phát triển ổn định, làm gia tăng giá trị tài sản của doanh nghiệp, phù hợp với lợi ích của chủ sở hữu
và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Nội dung của QLTC bao gồm quản lý nguồn vốn, quản lý tài sản và quản lý chi phí trong doanh nghiệp
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thanh Phương “Hoàn thiện công tác QLTC tại công ty cổ phần Bê tông xây dựng Hà Nội” – năm 2014 tiếp cận
Trang 2110
QLTC theo hướng: QLTC là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một doanh nghiệp để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nó và lập các kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm tăng lãi cổ tức của cổ đông Tác giả đề cập sâu đến vấn đề QLTC trong công ty cổ phần, do đó tác giả nhấn mạnh đến ba loại quyết định chính của nhà QLTC đó là quyết định đầu tư, quyết định vốn và quyết định phân phối lợi nhuận làm sao cho có lợi nhất cho cổ đông
Dựa trên kết quả nghiên cứu đã đề cập ở trên, chúng ta nhận thấy rằng đề tài “QLTC” đã được rất nhiều các tác giả nghiên cứu, phân trích trên nhiều quan điểm, khía cạnh và phạm vi khác nhau Tuy nhiên vẫn còn một số khoảng trống cần bổ sung nghiên cứu và chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về thực tiễn hoạt động QLTC tại Tổng công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam giai đoạn 2010-
2014
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại doanh nghiệp
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra yếu tố đầu tư nhằm mục đích thu lợi nhuận
Tài chính là một bộ phận cấu thành trong các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp Nó có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại với các hoạt động kinh tế khác Mối quan hệ tác động qua lại này phản ánh và thể hiện sự tác động gắn bó thường xuyên giữa phân phối sản xuất với tiêu thụ sản phẩm
Tài chính doanh nghiệp là tổng thể các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn các nhu cầu, mục tiêu của doanh nghiệp Nó là một khâu của hệ thống tài chính,
Trang 2211
nó phản ánh tổng hợp hoạt động và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Vì tại đây diễn ra quá trình tạo lập và chu chuyển vốn gắn liền với quá trình sản xuất, đầu tư, tiêu thụ và phân phối
Tài chính doanh nghiệp phản ánh quá trình hình thành và sử dụng các của cải trong doanh nghiệp nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích chủ sở hữu Mục đích tối đa hóa lợi ích chủ sở hữu là cơ sở quan trọng trong lý thuyết tài chính doanh nghiệp hiện đại
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động kinh
tế, các mối quan hệ kinh tế thông qua sự vận động của tiền tệ, nói cách khác giá trị được biểu hiện dưới hình thức khác nhau của vốn và tài sản Sự vận động của vốn và tài sản nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận, mở rộng quy mô kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh, đặc biệt là tăng giá trị công ty
Các quan hệ tài chính chủ yếu bao gồm: (1) quan hệ giữa doanh nghiệp và
nhà nước, (2) quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính, (3) quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác, (4) quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Hoạt động tài chính doanh nghiệp luôn gắn liền và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bị chi phối bởi tính chất sở hữu
vốn trong mỗi doanh nghiệp và bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận
Tài chính doanh nghiệp thực chất nghiên cứu ba quyết định chủ yếu đó là: quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn và quyết định phân phối lợi nhuận
Quản lý là quá trình điều khiển và hướng dẫn tất cả các bộ phận trong
một tổ chức, thường là một tổ chức kinh tế thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên, lấy hiệu quả kinh tế là nguyên tắc hoạt động
QLTC là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài chính của doanh nghiệp Nó được thực hiện thông qua việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của doanh nghiệp để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nó và lập các kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sử dụng nguồn tài
Trang 2312
chính, tài sản cố định và các nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm tăng lãi
cổ tức của cổ đông QLTC cũng là việc sử dụng các phương thức, các công cụ quản lý để kiểm soát sự vận động của các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp phục vụ cho mục tiêu hoạt động SXKD của doanh nghiệp
Như vậy khái niệm về QLTC của doanh nghiệp được thể hiện trên hai khía cạnh:
Thứ nhất, là quản lý nguồn tài chính của doanh nghiệp Như đã trao
đổi, về bản chất tài chính doanh nghiệp là luồng chuyển dịch các giá trị, phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm huy động vốn, quản lý và sử dụng nguồn vốn và tài sản; quản lý doanh thu, chi phí, tính toán, xác định giá thành sản phẩm đúng và đủ các yếu tố; phân phối lợi nhuận sao cho đảm bảo lợi ích giữa các bộ phận trong doanh nghiệp và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước Vì vậy QLTC doanh nghiệp là quản lý sự vận động của nguồn vốn, quản lý sử dụng tài sản và quản lý kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp như doanh thu, chi phí, lợi nhuận và các quỹ của doanh nghiệp
Thứ hai, QLTC của doanh nghiệp là sự tác động của nhà quản lý tới
các hoạt động tài chính của doanh nghiệp Ở đây các nhà quản lý doanh nghiệp sử dụng các công cụ tài chính, các phương thức tổ chức quản lý để kiểm soát sự vận động của các nguồn lực tài chính trong doanh nghiệp Việc kiểm soát tài chính, công tác kế toán – kiểm toán là những nội dung quan trọng của QLTC doanh nghiệp
Từ đó, QLTC doanh nghiệp là tổng thể các hình thức, các phương pháp, các nguyên tắc, các công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
Trang 2413
Về bản chất, QLTC là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm của sự vận dụng ý thức của con người trong việc sử dụng các chức năng của tài chính, do vậy QLTC không phải là đại lượng bất biến mà nó luôn luôn được hoàn thiện, bổ sung cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển
1.2.2 Sự cần thiết phải quản lý tài chính tại doanh nghiệp
Vai trò của quản lý tài chính rất quan trọng, nó tồn tại và tuân theo quy luật khách quan, và bị chi phối với các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của công ty Khi bắt tay vào việc xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh, một yếu tố vô cùng quan trọng mà không một doanh nghiệp nào có thể bỏ qua
đó là việc quản lý các yếu tố tài chính như thế nào? một đồng vốn kinh doanh
bỏ ra có hiệu quả ra sao? đồng vốn đó có mang lại lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh như mong muốn hay không?
Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác quản lý doanh nghiệp, luôn giữ vai trò trọng yếu trong hoạt động quản lý Nó quyết định khả năng cạnh tranh, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh
Tại một số các tập đoàn kinh tế lớn như Microsoft, Apple, Vodafone,… công tác quản lý tài chính được tách rời đối với công tác kế toán thống kê Công tác quản lý tài chính tại các doanh nghiệp này là những hoạt động tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng tài chính và đưa ra những quyết định tài chính ngắn hạn cũng như dài hạn
Công tác quản lý tài chính giúp giám đốc điều hành hoạch định chiến lược tài chính ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát, cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp
Quản lý tài chính còn có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục được những khiếm
Trang 2514
khuyết trong các lĩnh vực khác Một quyết định quản lý tài chính không được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên những tổn thất khôn lường cho công ty và cho nền kinh tế
Để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển, việc hoạch định chiến lược kinh doanh, xây dựng và lựa chọn các quyết định đầu tư, huy động, tạo lập, quản lý và sử dụng vốn kinh doanh,… phải được thực hiện một cách khoa học, chính xác và phù hợp với điều kiện kinh tế và khả năng của doanh nghiệp trong từng điều kiện cụ thể Công tác quản lý tài chính nếu được thực hiện tốt sẽ đáp ứng được các yêu cầu nói trên Do đó, công tác quản lý tài chính là rất cần thiết không chỉ với các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Hiện nay, khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng và toàn diện, áp lực cạnh tranh ngày càng cao thì công tác quản lý tài chính càng đỏi hỏi phải được quan tâm, chú trọng, đặc biệt là trong điều kiện, hoàn cảnh khó khăn như Việt Nam hiện nay thì điều này càng quan trọng hơn bao giờ hết
1.2.3 Mục tiêu và nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp
* Mục tiêu QLTC doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, tối thiểu hóa chi phí, phát triển doanh nghiệp, vì sự tồn tại của doanh nghiệp,…
và tại mỗi giai đoạn khác nhau mục tiêu của các doanh nghiệp cũng khác nhau Song tất các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm đến một mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa trị giá tài sản cho các chủ sở hữu hay tối đa hóa tài sản doanh nghiệp Coi tối đa hóa tài sản doanh nghiệp làm mục tiêu QLTC doanh nghiệp có những ưu điểm sau:
Trang 2615
Mục tiêu tối đa hóa tài sản doanh nghiệp có thể khắc phục những hành
vi ngắn hạn trong quá trình theo đuổi lợi nhuận Bởi giá trị doanh nghiệp
không những bị ảnh hưởng bởi giá trị lợi nhuận quá khứ hay hiện tại mà nó còn chịu ảnh hưởng bởi lợi nhuận trong tương lai Do đó, với mục tiêu tối đa hóa tài sản doanh nghiệp, các nhà kinh doanh buộc phải xem xét đến sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp, không ngừng tạo nên sự tăng trưởng lợi nhuận mới trong tương lai
Mục tiêu tối đa hóa tài sản không những xem xét lợi nhuận cao hay thấp mà chú trọng đến lưu lượng vốn nhiều hay ít Xét về sự tồn tại và phát
triển lâu dài của doanh nghiệp, vốn nhiều hay ít quan trọng hơn là lợi nhuận nhiều hay ít (vì không phải lợi nhuận lúc nào cũng đồng nhất với tiền mặt) Chỉ có tăng nhanh lưu lượng tiền mặt đầu vào thì doanh nghiệp mới có thể liên tục phát triển Bên cạnh đó, nhân tố thời gian của tiền vốn góp phần phản ánh hiệu quả doanh nghiệp ngày càng chân thực hơn
Mục tiêu tối đa hóa tài sản có lợi cho việc bảo vệ quyền lợi cơ bản cho nhà đầu tư và cổ đông, có lợi cho sự phát triển doanh nghiệp Muốn làm cho
vốn doanh nghiệp tăng nhanh, doanh nghiệp cần phải giữ được mức doanh lợi tương đối cao nhưng phải là lãi thật Khi lợi nhuận ngắn hạn và lợi nhuận dài hạn có xung đột, nhà kinh doanh phải tính toán và đánh giá tầm quan trọng của 02 loại lợi nhuận này, từ đó lựa chọn phương án có lợi hơn cho việc gia tăng giá trị doanh nghiệp Mục tiêu tối đa hóa tài sản doanh nghiệp sẽ làm cho nhà đầu tư, cổ đông và nhà kinh doanh thận trọng khi lựa chọn những chính sách phân chia có thể giúp công ty được thực lực phát triển lâu dài, đồng thời tránh được các chính sách ngắn hạn “ăn chia hết sạch”
Tóm lại, mục tiêu tối đa hóa tài sản có thể chỉ đạo nhà QLTC cân nhắc
lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, quan tâm đến quyền lợi của nhà đầu tư và của chủ doanh nghiệp
Trang 2716
* Nguyên tắc trong QLTC doanh nghiệp
QLTC doanh nghiệp là một quá trình quản lý mà đối tượng quản lý của
nó là các phạm trù thuộc tài chính doanh nghiệp, do đó phải dựa trên các nguyên tắc quản lý nhất định Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, quy mô tổ chức khác nhau, mô hình hoạt động khác nhau tuy nhiên hoạt động tài chính về cơ bản là thống nhất Tùy thuộc điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mà việc áp dụng các nguyên tắc này sẽ có sự khác biệt và linh hoạt nhất định
Một là, nguyên tắc tôn trọng pháp luật Đây là nguyên tắc áp dụng đối
với mọi loại hình, mọi doanh nghiệp Mục tiêu mà tất cả các doanh nghiệp theo đuổi đó là tối đa hóa lợi nhuận, và để đạt được mục tiêu này các doanh nghiệp có thể không từ bất kỳ một hoạt động nào kể cả hoạt động đó tổn hại cho quốc gia Do đó, sự can thiệp của nhà nước để điều chỉnh nền kinh tế là điều hết sức cần thiết Thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như luật pháp, các chính sách tài chính, tiền tệ,… nhà nước tạo ra môi trường kinh doanh để kích thích các doanh nghiệp đầu tư đồng thời tạo hành lang cho doanh nghiệp hoạt động Hiểu luật để làm đúng luật và tận dụng được các ưu điểm, lợi ích của các chính sách như giảm thuế, tài trợ tín dụng,… để hoạt động của doanh nghiệp hợp pháp và tối đa hóa hiệu quả
Hai là, tôn trọng nguyên tắc hạch toán kinh doanh Đây là nguyên tắc
rất quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Để thực hiện được nguyên tắc này, việc tổ chức công tác tài chính phải hướng vào một số biện pháp như: chủ động tận dụng khai thác các nguồn vốn, bảo toàn và phát huy hiệu quả của đồng vốn, đầu tư vốn phải tuân theo những yêu cầu của thị trường,… Tất
cả các biện pháp này đều nhằm một mục đích là kinh doanh phải có hiệu quả, đây chính là mục tiêu bao trùm và chi phối toàn bộ hoạt động tài chính của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế
Trang 2817
Ba là, nguyên tắc giữ “chữ tín” trong hoạt động tài chính Để làm
được điều này, các doanh nghiệp cần tôn trọng kỷ luật thanh toán các điều khoản, các cam kết,… được quy định trong hợp đồng kinh tế Đồng thời các nhà quản lý cần tỉnh táo đề phòng sự bội tín của đối phương nhằm đảm bảo an toàn về vốn kinh doanh
Bốn là, nguyên tắc an toàn và hiệu quả Trong quá trình hoạt động, nhà
quản lý thường xuyên phải đưa ra nhiều phương án lựa chọn, mỗi phương án đem lại hiệu quả khác nhau với mức rủi ro khác nhau Chính vì thế, để có một quyết định tài chính có hiệu quả, nhà quản lý phải phân tích, nghiên cứu kỹ lưỡng Đôi khi phải chấp nhận một phương án đầu tư đem lại lợi nhuận ở mức vừa phải nhưng an toàn còn hơn là một phương án có lợi nhuận rất cao nhưng đầy phiêu lưu và mạo hiểm Để tăng thêm tính an toàn cho tài chính doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể thiết lập các quỹ dự phòng, mua bảo hiểm hoặc phát hành cổ phiếu,… đây là các biện pháp vừa để tập trung vốn vừa san sẻ rủi ro
Năm là, nguyên tắc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro Trong kinh
doanh nói chung và trong QLTC doanh nghiệp nói riêng, rủi ro và lợi nhuận
kỳ vọng có mối quan hệ tỷ lệ thuận Việc áp dụng nguyên tắc này tại các doanh nghiệp khác nhau là khác nhau, nó thùy thuộc vào nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, tùy thuộc điều kiện/hoàn cảnh thực tế, đồng thời khả năng nắm bắt cơ hội cũng là yếu tố quantrọng trong việc lựa chọn sự đánh đổi này
Sáu là, nguyên tắc giá trị thời gian của tiền Với một lượng tiền nhất
định, tại mỗi thời điểm khác nhau thì giá trị thực tế của nó sẽ không thể như nhau Do đó, để đo lường giá trị tài sản của chủ sở hữu cần sử dụng khái niệm giá trị thời gian của tiền, tức là phải đưa lợi ích và chi phí của dự án về cùng một thời điểm, thường là thời điểm hiện tại
Bảy là, nguyên tắc thị trường có hiệu quả Thị trường có hiệu quả là thị
trường mà ở đó giá trị của các tài sản tại các thời điểm khác nhau đều phản
Trang 2918
ánh đầy đủ các thông tin một cách chính xác và công khai Trong nền kinh tế thị trường phát triển ở mức độ cao thì thông tin sẽ được công khai và mức độ chính xác của thông tin rất cao Do đó sự hoàn hảo của thị trường được đảm bảo khá cao Tuy nhiên vấn đề lại là trái ngược trong nền kinh tế thị trường còn nhiều bất cập, khi đó thông tin dễ bị bưng bít và tính chính xác không cao Sẽ là rất khó để đánh giá giá trị thực tế tài sản của doanh nghiệp cũng như tiềm lực thực tế của doanh nghiệp khi giá cổ phiếu phát hành biến động
Tám là, nguyên tắc gắn kết lợi ích của nhà quản lý với lợi ích của các
cổ đông Nhà quản lý là người chịu trách nhiệm phân tích, đánh giá, kế hoạch
hóa tài chính, quản lý ngân quỹ, chi tiêu cho đầu tư và kiểm soát Các hoạt động và quyết định tài chính của nhà QLTC đưa ra đều vì mục tiêu của doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải lúc nào các quyết định tài chính của nhà quản
lý cũng mang lại sự hài lòng cho các cổ đông cho dù quyết định đó vẫn đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệp Do đó, quyết định của nhà quản lý phải dựa trên hai khía cạnh đó là (1) quyết định của nhà quản lý có sát với mục tiêu của các cổ đông hay không? (2) nhà quản lý liệu có bị sa thải khi không theo đuổi mục tiêu của các cổ đông?
1.2.4 Vai trò của quản lý tài chính tại doanh nghiệp
Tình hình tài chính doanh nghiệp lành mạnh là một trong những điều kiện tiên quyết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách nhịp nhàng, đồng bộ, đạt hiệu quả cao Sự lành mạnh đó có được hay không phụ thuộc phần lớn vào khả năng QLTC của doanh nghiệp
Trong các hoạt động quản lý của doanh nghiệp, QLTC luôn giữ vai trò rất quan trọng Nó quyết định tính độc lập, sự thành công của một doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Đặc biệt trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, thì QLTC lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Bằng các
Trang 3019
chỉ tiêu cũng như sự nhạy bén mà các nhà QLTC có thể chỉ ra những mặt mạnh cũng như những thiếu sót trong kỳ
Ngoài ra, các nhà QLTC còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm: chiến lược tham gia thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất,…
Bên cạnh đó, QLTC còn có một nhiệm vụ quan trọng là xem xét, lựa chọn cơ cấu sử dụng vốn sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất
Đồng thời QLTC còn có vai trò trong việc thiết lập một chính sách phân chia lợi nhuận một cách hợp lý đối với doanh nghiệp, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ doanh nghiệp và cổ đông, vừa đảm bảo được lợi ích hợp pháp, hợp lý cho người lao động; xác định phần lợi nhuận để lại từ sự phân phối này là nguồn quan trọng cho phép doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, sản phẩm mới, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có mức độ tăng trưởng cao và bền vững
QLTC còn có vai trò kiểm soát việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp, tránh tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích Thông qua tình hình tài chính và thực hiện các chỉ tiêu tài chính, các nhà quản lý của doanh nghiệp
có thể đánh giá, tổng hợp và kiểm soát được các hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại hay khó khăn vướng mắc trrong kinh doanh, từ đó đưa ra các quyết định để điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế hoạt động SXKD
QLTC luôn có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt động khác trong doanh nghiệp Nếu chúng ta QLTC tốt có thể khắc phục những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác Công tác QLTC được tổ chức tốt không những đem
Trang 3120
lại hiệu quả hoạt động SXKD cho doanh nghiệp mà còn đem lại lợi ích kinh
tế xã hội trên phạm vi toàn quốc gia Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên tổn thất khôn lường cho công ty
và cho nền kinh tế
1.2.5 Nội dung của QLTC doanh nghiệp
(1) Đối tượng QLTC doanh nghiệp
Thứ Nhất, đó là vốn
Vốn ban đầu của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng, trong quá trình hoạt động bổ sung vốn từ lợi nhuận sau thuế và nguồn vốn khấu hao là nguồn tại trợ nội bộ, được ưu tiên huy động Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì
có thể bổ sung vốn từ lợi nhuận không chia, thực hiện việc tái đầu tư, mở rộng SXKD của doanh nghiệp Tự tài trợ bằng nguồn vốn từ lợi nhuận là phương pháp tạo nguồn quan trọng và khá hấp dẫn trong doanh nghiệp, là nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng
Bên cạnh nguồn vốn tự huy động, nguồn vốn tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Các doanh nghiệp ngoài nguồn vốn tín dụng ngân hàng, hầu như là khai thác tín dụng thương mại (tín dụng của người cung cấp) Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp Trong một số doanh nghiệp nguồn vốn này chiếm tỉ lệ rất cao trong tổng nguồn vốn Đây là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh; mặt khác nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách bền lâu Các điều kiện cụ thể có thể có được ấn định khi hai bên ký kết hợp đồng kinh tế mua bán Tuy nhiên nếu để quy mô tài trợ tín dụng thương mại quá lớn, thì tính chất rủi ro trong hoạt động SXKD cũng tăng cao
Trang 3221
Thứ hai, quản lý doanh thu của doanh nghiệp
Doanh thu, thu nhập của doanh nghiệp là toàn bộ các khoản tiền thu được do hoạt động kinh doanh mang lại Bao gồm doanh thu bán hàng; Doanh thu từ các hoạt động tài chính;Doanh thu từ các hoạt động khác
Doanh thu là một chỉ tiêu tài chính quan trọng trong một doanh nghiệp,
nó nằm trong khấu cuối cùng của quá trình sản xuất, giai đoạn doanh nghiệp thu hồi vốn và tái sản xuất chu kỳ tiếp theo, nó giúp cho việc xác định kết quả kinh doanh
Doanh thu chịu tác động của rất nhiều yếu tố: điều kiện thanh toán, thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán,… và quan trọng hơn cả là yếu tố khách hàng
Thứ ba, quản lý chi phí của doanh nghiệp
Chi phí SXKD của doanh nghiệp là toàn bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm và các khoản tiền thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra
để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình trong một thời kỳ nhất định
Chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí trực tiếp, chi phí tiêu thụ sản phẩm, các khoản phải nộp cho Nhà nước các loại thuế gián thu theo luật định
Ví dụ như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu,…
Do vậy, quản lý chi phí SXKD là vấn đề quan trọng trong mọi doanh nghiệp, vừa tiết kiệm chi phí, vừa đảm bảo việc tính giá thành đầy đủ chính xác để các nhà quản lý nắm được thực chất chi phí đến từng đối tượng để có các quyết sách và phương thức quản lý phù hợp
Thứ tư, quản lý lợi nhuận:
Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là lợi nhuận, lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh tình tình tài chính của doanh nghiệp, là nguồn quan trọng để tái đầu
tư mở rộng sản xuất, là mối quan tâm chủ yếu của chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư
Trang 3322
(2) Bộ máy QLTC
QLTC là hoạt động có tầm quan trọng số một trong hoạt động của doanh nghiệp, do đó bộ máy QLTC phụ thuộc vào quy mô, mô hình và hình thức hoạt động của doanh nghiệp
Trong các doanh nghiệp lớn, các quyết định quan trọng thường do một
ủy ban tài chính đưa ra Còn đối với các doanh nghiệp nhỏ thì chính chủ nhân – giám đốc phụ trách hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý, các doanh nghiệp cần phải hoàn thiện bộ máy quản lý của mình theo hướng đơn giản, gọn nhẹ,
có hiệu lực để đảm bảo cho hệ thống này làm việc tối ưu, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
(3) Phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính sử dụng các phương pháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp
Phân tích tài chính là quá trình tìm hiểu các kết quả của sự quản lý và điều hành tài chính ở doanh nghiệp được phản ánh trên báo cáo tài chính, đồng thời đánh giá những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra trên cơ
sở đó kiến nghị những biện pháp để tận dụng triệt để những điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu
Nội dung cơ bản của phân tích tài chính bao gồm Phân tích khái quát
và Phân tích các thông số tài chính
Đầu tiên, thực hiện phân tích khái quát bao gồm phân tích tình hình
biến động tài sản và kết cấu tài sản của doanh nghiệp; Kết cấu nguồn vốn -
Trang 34xu hướng phát triển của doanh nghiệp
Qua bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các năm, ta có thể sử dụng phương pháp so sánh để thực hiện phân tích:
+ So sánh từng chỉ tiêu trên báo cáo tài chính theo chiều ngang để biết được quy mô, tốc độ tăng, giảm của từng chỉ tiêu, và so sánh liên hệ giữa các chỉ tiêu với nhau để biết được bản chất, tính quy luật trong việc tăng, giảm của từng đối tượng nghiên cứu
+ So sánh theo chiều dọc để biết được kết cấu, tỷ trọng của từng chỉ tiêu trong tổng số, từ đó so sánh theo chiều ngang để biết được mức độ phù hợp của chỉ tiêu theo hoạt động, theo ngành
Qua đó, người phân tích có thể biết bản chất biến động của từng chỉ tiêu và xác định được những nguyên nhân ảnh hưởng, đưa ra các biện pháp nâng cao hoạt động tài chính
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Thông qua phân tích báo cáo tài chính ta tìm hiểu được nhiều thông tin hữu ích như:
+ Hoạt động nào (hoạt động sản xuất – kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính) tạo tiền cho doanh nghiệp, doanh nghiệp đã sử dụng tiền vào những mục đích gì?
Trang 3524
+ Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có ổn định hay không? Nhân tố chính quyết định dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là gì? Nguyên nhân dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cao hơn (thấp hơn) lợi nhuận sau thuế?
+ Doanh nghiệp đang mở rộng đầu từ hay đang nhận tiền đầu tư?
+ Doanh nghiệp đang gia tăng vay vốn hay chủ yếu đang trả các khoản nợ? Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
= (Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu) – Tài sản dài hạn + Vốn lưu động ròng > 0: Chứng tỏ tài sản dài hạn của doanh nghiệp được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn và ổn định Phần thừa còn lại doanh nghiệp sử dụng vào các mục đích ngắn hạn
+ Vốn lưu động ròng < 0: Cho thấy doanh nghiệp đã dùng nợ ngắn hạn
để tài trợ cho tài sản dài hạn, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh và đánh giá khái quát về khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp không đảm bảo, ngoại trừ một số đơn vị có ngành nghề kinh doanh đặc thù (như các doanh nghiệp xây lắp có thể cần phải mua sắm tài sản
cố định, thiết bị thi công… và chưa thể kết luận được tốt hay không mà cần phải phân tích một số chỉ tiêu khác)
Tiếp theo đó, để quá trình phân tích tài chính đạt hiệu quả cần thực hiện phân tích các thông số tài chính dựa trên việc sử dụng các tài liệu sau: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả SXKD; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Các chỉ số tài chính không chỉ có ý nghĩa với các nhà phân tích mà còn rất quan trọng đối với nhà đầu tư cũng như chính bản thân doanh nghiệp và các chủ nợ Các chỉ số tài chính cho phép chúng ta so sánh các mặt khác nhau của các báo cáo tài chính của một doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong toàn ngành, thấy được xu hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như giúp các nhà đầu tư, các chủ nợ kiểm tra được tình hình tài chính của một doanh nghiệp
Trang 3625
Công cụ được sử dụng phổ biến là các thông số tài chính Có bốn nhóm
thông số tài chính như sau:
Thứ nhất, thông số khả năng thanh toán:
Mỗi loại tài sản đều có mức độ thanh khoản không giống nhau, nó phụ
thuộc vào hai yếu tố là: khả năng chuyển đổi thành tiền mặt và giá trị sau khi
chuyển đổi thành tiền Như vậy, một tài sản có tính thanh khoản cao là tài sản
có thể chuyển đổi thành tiền mặt một cách dễ dàng, thuận tiện và giá trị sau
khi chuyển đổi không chênh lệch nhiều với giá trị ghi nhận của tài sản đó
Ngoài ra, cũng có thể nhận biết một tài sản có tính thanh khoản cao thường
đặc trưng bởi số lượng giao dịch lớn
Tính thanh khoản của tài sản có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình hoạt
động của doanh nghiệp, trực tiếp nhất là khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Khi nhắc đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, người ta thường xét đến
năng lực tài chính của doanh nghiệp để thanh toán các khoản nợ phải trả trong
năm (hay còn gọi là nợ ngắn hạn): vay nợ ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn trả,
phải trả người bán… Như vậy, để đánh giá khả năng thanh toán của doanh
nghiệp ta có thể xem xét theo tiêu chí thời gian đáp ứng khoản nợ, gồm các hệ
số chính: Hệ số khả năng thanh toán hiện hành, Hệ số khả năng thanh toán
nhanh, Hệ số khả năng thanh toán tức thời, Hệ số khả năng thanh toán nợ dài
hạn, Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Hê ̣ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn (ĐVT: lần)
Hê ̣ số khả năng thanh toán hiê ̣n hành cho biết mô ̣t đồng ngắn ha ̣n phải
trả của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có thể huy động để
thanh toán Hê ̣ số này càng cao chứng tỏ khả năng thanh toán củ a doanh
Trang 37Tiền và các khoản tương đương tiền + ĐTTC ngắn hạn
+ Khoản phải thu
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán nhanh của các tài sản dễ chuyển đổi
thành tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn
Hê ̣ số khả năng thanh toán tức thời:
= Tiền và tương đương tiền + ĐTTC ngắn hạn
Nợ quá hạn, đến hạn
Hê ̣ số này cho biết doanh nghiê ̣p có khả năng thanh toán ngay bao
nhiêu lần nợ quá hạn, đến hạn bằng các khoản tiền và tương đương tiền hiện
có, đồng thời nó thể hiện việc chấp hành kỷ luật thanh toán của doanh nghiệp
với chủ nợ
Các thông số về khả năng thanh toán kỳ này cao hơn kỳ trước là “dấu
hiệu” tốt và thường không nên nhỏ hơn 1, hệ số càng cao càng thể hiện khả năng
trả nợ tốt tuy nhiên điều này không có nghĩa là hiệu quả nhất Do đó, khi đánh
giá cần phải xem xét đến tính hiệu quả thì mới phản ánh một cách đầy đủ và toàn
diện trong bối cảnh cụ thể tình hình tài chính của doanh nghiệp
Hai là, thông số về khả năng cân đối vốn:
Nhóm chỉ tiêu phân tích khả năng cân đối vốn phản ánh mức độ ổn
định và tự chủ tài chính của doanh nghiệp Thông thường, người ta sử dụng
Trang 38Kinh nghiệm cho thấy, hệ số này nên dao động trong khoảng 30-70% Nếu tỷ số này cao hơn 70% thì doanh nghiệp sẽ có nguy cơ gặp khó khăn lớn
về tài chính khi môi trường kinh doanh bất lợi
Tỷ số cơ cấu tài sản
Tỷ số cơ cấu tài sản = Tài sản ngắn hạn
Tổng tài sản (ĐVT: %)
Tỷ số này tốt/xấu phụ thuộc vào từng loại hình hoạt động SXKD của doanh nghiệp
Tỷ số cơ cấu nguồn vốn
Tỷ số cơ cấu nguồn vốn = Tổng vốn chủ
Tổng nguồn vốn (ĐVT: %)
Trang 3928
Tỷ số này càng cao giúp doanh nghiệp an toàn về tài chính và chứng tỏ khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng lớn Tỷ số này có thể thay đổi tùy theo chính sách tài chính của doanh nghiệp
Ba là, thông số về khả năng hoạt động
Để phân tích các tỷ số khả năng hoạt động của doanh nghiệp, cần so sánh giữa thời kỳ này với thời kỳ khác và số trung bình ngành
Vòng quay toàn bộ vốn:
Vòng quay toàn bộ vốn = Doanh thu thuần
Tổng số vốn bình quân (ĐVT: vòng) Đây là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ, nó phản ánh một đồng vốn doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh mang lại mấy đồng doanh thu
sử dụng vốn lưu động càng tăng và ngược lại Chỉ tiêu này cũng cho biết để tạo ra một đồng doanh thu cần bao nhiêu đồng vốn lưu động
Thời gian 1 vòng luân chuyển càng thấp thì tốc độ luân chuyển càng nhanh và ngược lại
Vòng quay hàng tồn kho:
Hàng tồn kho là toàn bộ số hàng mà doanh nghiệp đang nắm giữ với mục đích kinh doanh thương mại hoặc dự trữ cho việc sản xuất sản phẩm hay
Trang 4029
thực hiện dịch vụ cho khách hàng
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất
kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là những bước đệm
cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Do đó, đánh
giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho có ý nghĩa quan trọng trong phân tích hoạt
động của doanh nghiệp Ta có thể đo lường bằng chỉ tiêu số vòng quy hàng
tồn kho trong một năm hoặc số ngày tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
Số ngày tồn kho = Thời gian của kỳ phân tích
Số vòng quay hàng tồn kho Khi đánh giá chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho, ta chưa thể khẳng định
khả năng quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp tốt hay kém nếu như chưa
xét đến yếu tố ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vì, do quá trình
mua bán hàng hóa diễn ra liên tục đối với những doanh nghiệp thương mại,
nên các doanh nghiệp này thường có vòng quay hàng tồn kho cao; còn đối với
những doanh nghiệp hoạt động mang tính thời vụ,có quy trình sản xuất tốn
nhiều thời gian và đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây
lắp thì vòng quay hàng tồn kho sẽ thấp hơn Như vậy, để đánh giá mức độ
quay vòng hàng tồn kho cao hay thấp cần so sánh các chỉ số này với chỉ số
trung bình ngành
Nếu hệ số vòng quay hàng tồn kho lớn cho thấy tốc độ luân chuyển của
hàng hóa trong kho nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ luân
chuyển hàng tồn kho chậm Trong quá trình phân tích hiệu quả quản lý hàng
tồn kho, cần kết hợp các thông tin phân tích khác trong các trường hợp sau:
- Nếu hệ số vòng quay hàng tồn kho cao có nghĩa là hoạt động sản xuất-
kinh doanh của doanh nghiệp đang được vận hành “trơn tru”, hàng tồn kho