Tuy nhiên, nhìn chung công tác quản lý nhà nước về hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG trong thời gian qua còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn đặt ra về q
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn cao học “Quản lý hoạt động cứu trợ lương
thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn của PGS TS Lê Danh Tốn Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn là trung thực, có xuất sứ rõ ràng
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai Hường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể các thầy, cô giáo đã giảng dạy, Khoa Kinh tế Chính trị và Phòng Đào tạo của trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS TS Lê Danh Tốn đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt
nghiệp với đề tài: “Quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự
trữ Nhà nước”
Xin trân trọng cảm ơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai Hường
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 3.1 Cơ cấu giá trị hàng hóa dự trữ quốc gia tại các bộ, ngành 36 Bảng 3.2 Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn nghiệp vụ năm
2014 39 Bảng 3.3 Tình hình thực hiện cứu trợ khẩn cấp cho Thành phố Đà
Nẵng khắc phục cơn bão số 9 năm 2009 51 Bảng 3.4 Thời gian triển khai cứu đói cho dân bị ảnh hưởng cơn bão
số 15 năm 2013 tại tỉnh Quảng Ngãi 56 Bảng 3.5 Tổng hợp số liệu về lương thực xuất cấp trong giai đoạn
2009 - 2014 63 Bảng 3.6 Tổng hợp số liệu xuất cứu trợ khẩn cấp trong giai đoạn 2009
- 2014 64 Bảng 3.7 Tổng hợp số liệu lương thực xuất cấp hỗ trợ dự án trồng
rừng trong giai đoạn 2009 - 2014 66 Bảng 3.8 Tổng hợp số liệu xuất cấp hỗ trợ học sinh trong giai đoạn
2009 - 2014 68 Bảng 3.9 Tổng hợp số liệu xuất cấp hỗ trợ dân di cư tự do từ
Campuchia về Việt Nam trong năm 2014 69 Bảng 3.10 Tổng hợp số lượt người được hỗ trợ lương thực trong giai
đoạn 2009 - 2014 70
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của Tổng cục Dự trữ Nhà nước 41
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ
SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ LƯƠNG THỰC TỪ NGUỒN DỰ TRỮ QUỐC GIA……… 5 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài……… 5 1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến cứu trợ xã hội nói chung……… 5 1.1.2 Những nghiên cứu về hoạt động dự trữ quốc gia……… 6 1.1.3 Kết quả nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu……… 7 1.2 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn
dự trữ quốc gia……… 8 1.2.1 Một số khái niệm cơ bản……… 8 1.2.1.1 Khái niệm về dự trữ, dự trữ quốc gia, hoạt động dự trữ quốc gia……… 8 1.2.1.2 Khái niệm về cứu trợ lương thực, hoạt động cứu trợ lương thực……… 10 1.2.1.3 Khái niệm về quản lý, quản lý hoạt động cứu trợ……… 12 1.2.2 Nội dung quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia……… 13 1.2.2.1 Xây dựng cơ chế chính sách về cứu trợ lương thực………… 13 1.2.2.2 Tổ chức thực hiện……… 14 1.2.2.3 Kiểm tra, giám sát công tác cứu trợ lương thực……… 16 1.2.3 Tiêu chí đánh giá quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn
dự trữ quốc gia……… 16
Trang 81.2.3.1 Tính xác thực của số liệu thống kê……… 16
1.2.3.2 Mức độ đáp ứng kịp thời……… 17
1.2.3.3 Hiệu quả sử dụng……… 17
1.2.3.4 Mức độ đảm bảo an sinh xã hội……… 17
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia……… 19
1.2.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng cơ chế chính sách 19
1.2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện 20
1.2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm tra, giám sát 22
1.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia và bài học rút ra cho Việt Nam……… 23
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước……… 23
1.3.1.1 Malaysia……… 23
1.3.1.2 Inđônêsia……… 24
1.3.1.3 Trung Quốc……… 25
1.3.2 Bài học rút ra cho Việt Nam……… 26
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 28
2.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu, số liệu……… 28
2.2 Phương pháp thống kê mô tả……… 29
2.3 Phương pháp so sánh……… 29
2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp……… 30
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ LƯƠNG THỰC TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC… 32
3.1 Tổng quan về Tổng cục Dự trữ Nhà nước……… 32
3.1.1 Quá trình hình thành phát triển, chức năng và nhiệm vụ…… 32 3.1.1.1 Quá trình hình thành phát triển của Tổng cục Dự trữ Nhà nước 32
Trang 93.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Tổng cục Dự trữ Nhà nước…… 33
3.1.2 Nguồn lực của Tổng cục Dự trữ Nhà nước……… 35
3.1.2.1 Hàng hóa dự trữ quốc gia……… 35
3.1.2.2 Cơ sở vật chất, kho tàng, phương tiện……… 37
3.1.2.3 Nguồn nhân lực……… 38
3.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý……… 40
3.2 Thực trạng quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia……… 42
3.2.1 Cơ chế chính sách có liên quan……… 42
3.2.2 Tổ chức thực hiện……… 46
3.2.2.1 Điều tra, thống kê đối tượng được cứu trợ……… 47
3.2.2.2 Tổ chức xuất cấp, giao nhận lương thực cứu trợ……… 53
3.2.2.3 Quản lý, sử dụng lương thực cứu trợ……… 59
3.2.3 Tổ chức kiểm tra, giám sát……… 61
3.3 Đánh giá chung về quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước……… 63
3.3.1 Những kết quả chủ yếu………… ……… 63
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân……… 71
3.3.2.1 Hạn chế……… 71
3.3.2.2 Nguyên nhân của các hạn chế………….……… 73
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ LƯƠNG THỰC TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC……… 76
4.1 Bối cảnh mới và định hướng hoàn thiện quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước……… 76
4.1.1 Bối cảnh mới……… 76
4.1.1.1 Bối cảnh quốc tế 76
Trang 104.1.1.2 Bối cảnh trong nước 76 4.1.2 Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2020……… 78 4.1.3 Định hướng hoàn thiện quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước……… 80 4.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước……… 81 4.2.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách……… 81 4.2.2 Nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia đảm bảo hiệu quả 82 4.2.3 Nâng cao trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng lương thực cứu trợ từ nguồn dự trữ quốc gia……… 87
KẾT LUẬN 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu của Dự trữ quốc gia là chủ động phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh trong tình huống đột xuất, cấp bách Trong thực hiện mục tiêu của DTQG thì cứu trợ là một hoạt động quan trọng của Tổng cục DTNN trong việc đảm bảo an sinh xã hội Đặc biệt cứu trợ lương thực cho nhân dân vùng bị thiên tai, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh, mất mùa hoặc điều kiện kinh tế khó khăn mà không thể tự lo liệu được cuộc sống của mình và gia đình trong những lúc giáp hạt, giáp Tết càng có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động DTQG, góp phần bảo đảm an sinh xã hội
Chỉ trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2014, Tổng cục DTNN đã xuất 488.634 tấn gạo từ nguồn DTQG cứu trợ cho nhân dân các địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, cứu đói giáp hạt, giáp Tết Nguyên Đán, hỗ trợ các dự án trồng rừng, hỗ trợ học sinh ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chiếm tỷ lệ trên 80% số lương thực DTQG xuất ra hàng năm của Tổng cục DTNN Cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm ổn định đời sống nhân dân, phát triển sản xuất, bảo đảm trật tự an toàn xã hội
Trong thực hiện cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG thì việc xây dựng
và hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý nhà nước, quy trình cứu trợ, công tác quản lý xuất cấp, sử dụng lương thực cứu trợ từ nguồn DTQG đã có những tiến bộ dần theo thời gian Nhiều cơ chế chính sách được xây dựng ban hành như: Luật DTQG, Pháp lệnh DTQG, Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ trưởng đã tạo khuôn khổ
Trang 12pháp lý ngày càng hoàn chỉnh hơn nhằm quản lý tốt công tác cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG của Tổng cục DTNN
Tuy nhiên, nhìn chung công tác quản lý nhà nước về hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG trong thời gian qua còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn đặt ra về quản lý nhà nước đối với công tác cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp Trong điều kiện nguồn lực ngân sách nhà nước nói chung còn hạn chế và ngân sách nhà nước chi cho DTQG nói riêng còn hạnhẹp, việc quản lý sử dụng nguồn lực lương thực DTQG cho cứu trợ trong thời gian qua đã bộc lộ những thiếu sót tồn tại cả ở cấp vi mô cũng như ở tầm
vĩ mô Đó là sự chưa thống nhất trong quản lý hoạt động cứu trợ về cơ chế chính sách quản lý, quy hoạch kho tàng, nguồn lực, quy trình thực hiện, đối tượng được cứu trợ, quản lý tiếp nhận, sử dụng, hạch toán dẫn đến lãng phí nguồn lực, kém hiệu lực, hiệu quả; làm hạn chế ý nghĩa của công tác cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG Tuy những yếu kém, thiếu sót tồn tại không lớn nhưng hầu như đều có ở các khâu, các bộ phận của quá trình quản lý cứu trợ lương thực trong thời gian qua cần được xem xét, đánh giá để có giải pháp quản lý tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn mới
Đứng trước tình hình hiện nay và trong tương lai thì việc quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG của Tổng cục DTNN trở thành hoạt động quan trọng trong sử dụng nguồn lực DTQG có hiệu quả, bảo đảm an sinh xã hội ngày càng có ý nghĩa quan trọng Vì vậy, cần phải nghiên cứu quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG của Tổng cục DTNN
để đáp ứng đòi hỏi trong giai đoạn mới Đề tài xuất phát từ nhu cầu bức thiết của công tác quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG của Tổng cục DTNN Đề tài tự nó đã hàm chứa ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực
Trang 13Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động cứu trợ
lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước” làm luận văn Thạc sỹ, chuyên
ngành Quản lý kinh tế, chương trình định hướng thực hành
Đề tài đƣợc thực hiện nhằm tìm lời giải đáp cho câu hỏi nghiên cứu:
Những giải pháp nào cần được thực hiện để hoàn thiện quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục DTNN
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục DTNN Chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục DTNN
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục DTNN
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu công tác quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG trong giai đoạn 2009-2014 tại Tổng cục DTNN
4 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 04 chương:
Trang 14Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước
Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ
LƯƠNG THỰC TỪ NGUỒN DỰ TRỮ QUỐC GIA
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến cứu trợ xã hội nói chung
Vấn đề cứu trợ xã hội đã được nhiều người nghiên cứu trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương Trong số các công trình liên quan đến cứu trợ xã hội nói chung có các công trình tiêu biểu sau:
- “Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay” (2012) của
Bùi Thị Thanh Huyền, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn tổng quan và làm rõ hơn cơ s ở lý luận về trợ giúp xã hội thường xuyên Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên (những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế) trên địa bàn tỉnh Thái Bình từ năm 2007 đến năm 2011 Đề xuất những giải pháp để triển khai thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên trong giai đoạn 2010-2020 [26]
- “Hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam” (2011) của
Nguyễn Bích Ngọc, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh
tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và giới thiệu kinh nghiệm quốc tế về trợ giúp xã hội thường xuyên Làm rõ hơn sự cần thiết của hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam và chỉ rõ các vấn đề đặt ra cần được giải quyết Đưa ra một số định hướng và kiến nghị những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh hoạt động trợ giúp thường xuyên ở Việt Nam [31]
Trang 16- “Công tác cứu trợ xã hội ở một tỉnh miền Trung: Kinh nghiệm và khó
khăn” (2008) của Trương Đình Đức đăng trên Tạp chí Lao động - Xã hội số
331 Bài viết về công tác cứu trợ xã hội ở một tỉnh miền Trung; phân tích khó khăn của địa phương trong công tác cứu trợ xã hội, đồng thời rút ra một số kinh nghiệm cho công tác cứu trợ xã hội [21]
- “Pháp luật Việt Nam về cứu trợ xã hội” (2010) của Nguyễn Thị Thu
Hà, Luận văn Thạc sỹ Luật kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động CTXH như khái niệm, bản chất, nội dung, … Từ đó, có cái nhìn tổng quan về CTXH nói riêng và an sinh
xã hội nói chung Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định về CTXH với các nội dung cơ bản như đối tượng CTXH, điều kiện hưởng CTXH, tổ chức thực hiện…Đồng thời, chỉ ra những kết quả đạt được cũng như các nội dung còn hạn chế của pháp luật hiện hành về CTXH cần được hoàn thiện Từ những kết quả rút ra được khi nghiên cứu và phân tích thực trạng về pháp luật CTXH, tác giả đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật quan trọng này [23]
- “Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam”
(2011) của Nguyễn Ngọc Toản, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng Đánh giá thực trạng và nhu cầu trợ giúp của đối tượng cộng đồng ở Việt Nam giai đoạn hiện nay Từ đó, rút ra những vấn đề cần đổi mới và hoàn thiện [43]
1.1.2 Những nghiên cứu về hoạt động DTQG
Các công trình nghiên cứu về hoạt động DTQG có:
- “Đổi mới hoạt động dự trữ quốc gia trong cơ chế thị trường ở Việt
Nam” (2004) của Nguyễn Ngọc Long, Luận án Tiến sỹ kinh tế, trường Đại
học Kinh tế quốc dân Luận án nghiên cứu những vấn đề cơ bản về DTQG và
Trang 17hoạt động DTQG trong nền kinh tế quốc dân; phân tích thực trạng hoạt động DTQG ở Việt Nam; đưa ra phương hướng, giải pháp đổi mới hoạt động DTQG [28]
- “Vai trò của dự trữ quốc gia trong việc bảo đảm an sinh xã hội”
(2009) của Phạm Phan Dũng đăng trên Tạp chí Cộng sản số 799 Bài viết nghiên cứu về vai trò của hoạt động DTQG trong việc bảo đảm an sinh xã hội, cụ thể trong việc xuất cấp hàng DTQG cứu trợ các địa phương cũng như
hỗ trợ các dự án theo chính sách của Nhà nước [18]
- “Hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước về dự trữ quốc gia ở Việt Nam”
(2014) của Trần Quốc Thao, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn hệ thống hoá cơ sở lý luận của sự hình thành DTQG, cơ chế quản lý nhà nước về DTQG; xác định những nội dung cơ bản của DTQG trong cơ chế thị trường, những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động DTQG, cơ chế quản lý nhà nước về DTQG Phân tích toàn diện cơ chế quản lý nhà nước về DTQG, chỉ rõ những ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với DTQG Đề xuất một số quan điểm, phương hướng, giải pháp và điều kiện để góp phầnhoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về DTQG ở Việt Nam [37]
1.1.3 Kết quả nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
* Kết quả nghiên cứu
Các công trình trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn đề cứu trợ xã hội; trong đó tập trung làm rõ vai trò, sự cần thiết và tác động của công tác cứu trợ xã hội đối với Việt Nam và các địa phương trong cả nước; phân tích chính sách về cứu trợ xã hội (trong đó có cứu trợ lương thực), phân tích hiệu quả của công tác cứu trợ xã hội Từ đó, tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác cứu trợ xã hội
Trang 18Một số công trình tập trung phân tích vai trò của DTQG, cơ chế quản lý DTQG và cũng đã tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để đổi mới hoạt động DTQG ở Việt Nam, cũng như hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về DTQG
Đó là nguồn tài liệu quý báu để tôi kế thừa và phát triển
* Khoảng trống nghiên cứu
Vấn đề cứu trợ lương thực và quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục DTNN cho đến nay vẫn còn là khoảng trống nghiên cứu Vì vậy, tôi
lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ
Nhà nước” để thực hiện Luận văn Thạc sỹ, chuyên ngành Quản lý kinh tế
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn
dự trữ quốc gia
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm về dự trữ, dự trữ quốc gia, hoạt động dự trữ quốc gia
*Dự trữ
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Dự trữ là toàn bộ những nguồn vốn hay giá trị mà một chủ thể kinh tế hay Nhà nước dành ra dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ để phòng ngừa và khắc phục có hiệu quả các tổn thất do tai biến bất ngờ gây ra đối với sản xuất, đời sống hoặc để đảm bảo cho sự liên tục không bị gián đoạn trong sản xuất kinh doanh [45] Theo Từ điển Tiếng Việt:
Dự trữ là trữ sẵn để dùng khi cần đến [33]
*Dự trữ quốc gia
Dự trữ quốc gia (hay DTNN) là dự trữ của một đất nước - một quốc gia
mà bất cứ một quốc gia nào cũng phải có Tuy nhiên, dự trữ quốc gia là gì? Cũng có những khái niệm khác nhau:
Dự trữ quốc gia, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam là dự trữ của một nước, do Nhà nước nắm giữ và quản lý, bao gồm dự trữ các vật tư hàng hoá quan trọng nhất, các loại vàng bạc, đá quý, ngoại tệ, tiền chưa phát hành Là
Trang 19quỹ dự trữ lớn nhất, nhằm mục đích khắc phục những tổn thất do thiên tai, địch họa gây ra trên quy mô lớn, trong một thời gian nhất định, dự trữ quốc gia là nguồn tích luỹ của quốc gia, là sức mạnh của đất nước [45]
Giáo trình kinh tế thương mại, trường Đại học Kinh tế quốc dân thì cho rằng: DTQG là một dạng dự trữ đặc biệt của hàng hoá Dự trữ này do Nhà nước quy định bảo đảm các nhu cầu của nền kinh tế quốc dân khi có thiên tai, chiến tranh và có sự biến động của thị trường Hay trong giáo trình về quản lý kinh tế của Khoa Quản lý kinh tế - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Quỹ DTQG là một phần của cải vật chất của Nhà nước được tích lũy thành lực lượng dự phòng chiến lược để sử dụng vào mục đích phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, phục vụ an ninh quốc phòng và thực hiện các nhiệm vụ khác của Chính phủ” mà “hàng hoá đưa vào quỹ DTQG là những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, đời sống và an ninh quốc phòng” Luật dự trữ quốc gia được Quốc hội (Khoá XIII) thông qua ngày
20/11/2012 Điều 4 Khoản 1 ghi rõ: Dự trữ quốc gia là dự trữ vật tư, thiết bị, hàng hóa do Nhà nước quản lý, nắm giữ Mục tiêu của dự trữ quốc gia: Nhà
nước hình thành, sử dụng DTQG nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn,
dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh (Điều 3 Luật dự trữ quốc gia) Tình
huống đột xuất, cấp bách là tình trạng thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch
bệnh có nguy cơ bùng phát trên diện rộng; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; trật
tự an toàn xã hội cần được giải quyết ngay(Điều 4 Luật dự trữ quốc gia) [47]
Như vậy, DTQG trước hết là nguồn dự trữ chiến lược của quốc gia do nhà nước quản lý, nắm giữ nhằm thực hiện những nhiệm vụ có tính chiếnlược đảm bảo cho hoạt động của nền kinh tế - xã hội được bình thường, ổn định và phát triển; tính chiến lược này được thể hiện trên các mặt cơ bản sau:
Một là, đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục
Trang 20hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, đây là nhiệm vụ đầu tiên đáp ứng cả phòng và chống, đảm bảo cho sản xuất và đời sống diễn ra bình thường, không bị gián đoạn
Hai là, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước Nhiệm vụ giữ gìn an
ninh, quốc phòng của đất nước được đặt song song với phát triển kinh tế - xã hội mang tính chiến lược lâu dài mà dự trữ quốc gia phải đảm nhiệm, đảm bảo cơ sở vật chất góp phần phòng ngừa và ngăn chặn bạo loạn, hành vi phá hoại, diễn biến hòa bình, chiến tranh tôn giáo, sắc tộc và gây chiến từ bên ngoài
* Hoạt động dự trữ quốc gia
Hoạt động dự trữ quốc gia là việc xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự toán ngân sách về dự trữ quốc gia; xây dựng hệ thống cơ
sở vật chất - kỹ thuật; quản lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc gia (Điều 4
Luật dự trữ quốc gia) [47]
Như vậy, nội dung của hoạt động DTQG bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến quá trình hình thành, duy trì và sử dụng DTQG như: Dự báo, xây dựng chiến lược, kế hoạch, dự toán ngân sách DTQG; xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật để quản lý DTQG; điều hành nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệ DTQG và quản lý sử dụng có hiệu quả DTQG
1.2.1.2 Khái niệm về cứu trợ lương thực, hoạt động cứu trợ lương thực
* Cứu trợ
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Cứu trợ là sự giúp đỡ của Nhà nước
và xã hội về thu nhập và các điều kiện sống, bằng các hình thức khác nhau cho nhân dân khi bị thiên tai, dịch bệnh hoặc rủi ro, bất hạnh, đói nghèo, không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình [45] Cứu trợ xã hội bao hàm hai nội dung: Cứu tế và trợ giúp
Trang 21- Cứu tế là giúp đỡ bằng tiền mặt hoặc hiện vật, có tính chất khẩn thiết,
“cấp cứu” ở mức tối cần thiết cho những người lâm vào cảnh bần cùng không còn khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày của bản thân và gia đình
- Trợ giúp (hỗ trợ) xã hội là sự giúp đỡ thêm bằng tiền hoặc các điều kiện và phương tiện sinh sống thích hợp để người được giúp đỡ có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình sớm hoà nhập với cộng đồng
*Cứu trợ lương thực
Cứu trợ lương thực là thực hiện cứu trợ trực tiếp bằng hiện vật, trong đó, cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giải quyết kịp thời những khó khăn về nhu cầu ăn để duy trì cuộc sống và tiếp tục hoạt động của nhân dân vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc một bộ phận dân
cư thuộc diện hộ nghèo trong bối cảnh thất bát mùa màng, giáp hạt giúp người dân vượt qua khó khăn, khắc phục những tổn thất và có điều kiện vươn lên ổn định sản xuất, vượt qua nghèo đói
Cứu trợ lương thực gồm 02 hình thức: Cứu trợ thường xuyên và cứu trợ đột xuất
- Cứu trợ thường xuyên là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội dành cho các thành viên trong cộng đồng về lương thực trong thời gian dài Cứu trợ thường xuyên là sự giúp đỡ có tính lâu dài cho các đối tượng khác nhau
- Cứu trợ đột xuất là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội cho các thành viên trong cộng đồng về lương thực khi gặp các rủi ro, khó khăn, bất ngờ khiến cho cuộc sống của họ tạm thời bị đe dọa, nhằm giúp họ nhanh chóng vượt qua
sự hụt hẫng, ổn định cuộc sống và sớm trở lại hòa nhập với cộng đồng
* Hoạt động cứu trợ lương thực
Hoạt động cứu trợ lương thực bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến công tác cứu trợ lương thực: Thực hiện điều tra, thống kê đối tượng được
Trang 22cứu trợ; tổ chức xuất cấp, giao nhận lương thực cứu trợ; quản lý, sử dụng lương thực cứu trợ; kiểm tra, giám sát công tác cứu trợ lương thực
1.2.1.3 Khái niệm về quản lý, quản lý hoạt động cứu trợ
- Dưới góc độ khoa học, khái niệm về “quản lý” có nhiều cách tiếp cận khác nhau Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới những đối tượng quản lý để điều chỉnh chúng vận động và phát triển theo những mục tiêu nhất định đã đề ra
Theo cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức (cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp ) đều có thể được xem như một hệ thống gồm hai phân hệ: Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt động trong môi trường nhất định (khách thể quản lý)
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động
Trang 23* Quản lý hoạt động cứu trợ
Quản lý hoạt động cứu trợ là việc xây dựng các cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động cứu trợ, tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động liên quan đến công tác cứu trợ; kiểm tra, giám sát công tác cứu trợ nhằm đạt mục tiêu đáp ứng yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai,
hỏa hoạn, dịch bệnh, đảm bảo an sinh xã hội
1.2.2 Nội dung quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia
1.2.2.1 Xây dựng cơ chế chính sách về cứu trợ lương thực
Hệ thống chính sách cứu trợ lương thực gồm các chính sách sau:
- Chính sách hỗ trợ gạo cứu đói cho nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán, giáp hạt, hạn hán, bão lụt hàng năm
- Chính sách hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
- Chính sách hỗ trợ gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tự nguyện trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng sản xuất thay thế nương rẫy trong thời gian chưa tự túc được lương thực
- Chính sách hỗ trợ gạo đột xuất cho người dân di cư tự do từ Campuchia
về Việt Nam gặp khó khăn về đời sống
Trang 24- Chính sách hỗ trợ gạo cho các hộ nghèo nằm trong các xã vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh biên giới
* Cơ chế phân cấp trong cứu trợ lương thực
Triển khai hoạt động cứu trợ lương thực được phân cấp rõ đối với từng
cơ quan, đơn vị liên quan; đối với các bộ, ngành được giao nhiệm vụ cứu trợ lương thực và các bộ, ngành tham mưu, đề xuất với Chính phủ về công tác cứu trợ lương thực và đối với các cơ quan tiếp nhận tại địa phương và quan trọng nhất là đối với các đơn vị trực tiếp triển khai thực hiện hoạt động cứu trợ lương thực sẽ giúp công tác này triển khai có hiệu quả
1.2.2.2 Tổ chức thực hiện
* Điều tra, thống kê đối tượng được cứu trợ
Điều tra, thống kê đối tượng được cứu trợ lương thực là bước đầu tiên trong hoạt động cứu trợ lương thực; nhằm tổng hợp số liệu cụ thể đối tượng được cứu trợ bao gồm những ai, được hưởng mức cứu trợ cụ thể ra sao? Bước này thường bắt đầu do các xã, huyện có đối tượng được cứu trợ triển khai thực hiện
Trước và sau khi thiên tai, bão lụt, dịch bệnh xảy ra hoặc thực hiện các chính sách của Nhà nước như: Cứu đói, hỗ trợ trồng rừng, hỗ trợ học sinh, hỗ trợ nhân dân trong dịp Tết nguyên đán, giáp hạt,… Các xã, huyện tổng hợp tình hình thiệt hại và số hộ, số khẩu thiếu đói báo cáo các cơ quan chức năng của tỉnh, thành phố
Căn cứ báo cáo của các xã, huyện, tỉnh giao cơ quan có chức năng theo lĩnh vực (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài chính, Sở Lao động
- Thương binh và xã hội, ) tổng hợp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trung ương có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị xin hỗ trợ phòng, chống thiên tai, khắc phục hậu quả thiệt hại và cứu trợ, cứu đói cho nhân dân
Trang 25* Tổ chức xuất cấp, giao nhận lương thực cứu trợ
Căn cứ vào đề nghị của các tỉnh, thành phố; ý kiến tham gia của các bộ, ngành liên quan, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định giao cho Bộ Tài chính xuất cấp không thu tiền lương thực DTQG cho các tỉnh, thành phố Trên cơ sở quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quyết định giao nhiệm vụ cho Tổng cục DTNN xuất lương thực cứu trợ cho các tỉnh, thành phố
Căn cứ vào quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Tổng cục trưởng Tổng cục DTNN ban hành quyết định giao nhiệm vụ cho các Cục DTNN khu vực triển khai thực hiện, đồng thời ban hành văn bản gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố được cứu trợ thông báo số lượng lương thực được cứu trợ, đơn vị Cục DTNN khu vực thực hiện xuất cấp lương thực, địa điểm giao nhận, thời gian thực hiện và đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phối hợp với các Cục DTNN khu vực để tổ chức việc giao nhận
Sau khi có chỉ đạo của Tổng cục trưởng Tổng cục DTNN, Cục trưởng Cục DTNN khu vực ban hành quyết định giao nhiệm vụ cho Chi cục DTNN trực tiếp tổ chức việc xuất cấp và tìm đơn vị vận tải để ký hợp đồng thuê vận chuyển lương thực giao đến trung tâm huyện lỵ; đồng thời, báo cáo Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh về số lượng lượng thực, địa điểm, thời gian để phối hợp giao nhận dựa trên cơ sở quyết định phân bổ lương thực cứu trợ của Ủy ban nhân dân tỉnh và phối hợp với các cơ quan có chức năng (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Lao động - Thương binh và xã hội) cùng đơn vị tiếp nhận lương thực để ký hợp đồng giao nhận
* Quản lý, sử dụng lương thực cứu trợ
Lương thực DTQG xuất cứu trợ cho các địa phương được giao nhận tại trung tâm huyện lỵ, thị xã Sau khi tiếp nhận lương thực DTQG, các địa phương có trách nhiệm quản lý, sử dụng lương thực cứu trợ đúng mục đích,
Trang 26đúng đối tượng theo quy định của pháp luật, bảo đảm không thất thoát, lãng phí Nghiêm cấm việc bán, đổi lương thực cứu trợ để tạo nguồn bù đắp các chi phí hoặc sử dụng sai mục đích Trường hợp không sử dụng hết số lương thực đã tiếp nhận (sau khi kết thúc việc cứu trợ) phải theo dõi, bảo quản, quản
lý chặt chẽ và chỉ sử dụng vào mục đích để cứu trợ
1.2.2.3 Kiểm tra, giám sát công tác cứu trợ lương thực
Kiểm tra, giám sát là quá trình xem xét tình hình thực tế để đánh giá nhận xét rút kinh nghiệm trong quản lý Công tác kiểm tra, giám sát là hoạt động thiết yếu, thường xuyên của công tác quản lý nhằm đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm phát hiện kịp thời những sơ hở trong cơ chế, kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, có biện pháp khắc phục, phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi, vi phạm pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động quản lý
Đối với công tác cứu trợ lương thực, sau khi tổ chức cấp phát cho dân, căn cứ báo cáo của Ủy ban nhân dân xă, Ủy ban nhân dân huyện thành lập đoàn kiểm tra, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh kết quả kiểm tra tình hình cấp gạo cứu trợ cho dân, mục đích sử dụng Ngoài ra, các bộ, ngành được giao nhiệm vụ cũng thành lập đoàn kiểm tra, giám sát công tác quản lý,
sử dụng hàng cứu trợ tại các địa phương được cứu trợ và báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định
1.2.3 Tiêu chí đánh giá quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia
1.2.3.1 Tính xác thực của số liệu thống kê
Trong quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG, việc thống
kê chính xác danh sách các đối tượng thuộc diện nhận cứu trợ đóng vai trò rất quan trọng Căn cứ vào số liệu tổng hợp của xã, huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ xin được cứu trợ
Trang 27Việc thống kê danh sách phải đảm bảo chính xác, công khai, minh bạch
và đảm bảo đúng theo quy định của nhà nước Nếu số liệu không chính xác sẽ phát sinh nhiều vấn đề trong quá trình cấp phát cho dân gây ảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào chính sách của Nhà nước
1.2.3.2 Mức độ đáp ứng kịp thời
Cứu trợ xã hội được coi như “lưới đỡ - điểm tựa” cho người dân trong lúc khó khăn; cứu trợ xã hội được coi là chế độ bảo đảm cộng đồng, mang tính nhân đạo, nhân văn rất cao, thể hiện tình người rõ rệt Do đó, đánh giá tác động kinh tế, đánh giá hiệu quả của công tác cứu trợ từ nguồn DTQG không thể chỉ đánh giá bằng hiệu quả kinh tế trực tiếp, đơn thuần mà phải đánh giá bằng tác động của nó đối với đời sống và ổn định sản xuất Khi được cứu trợ kịp thời, người dân bị rủi ro bởi thiên tai sẽ có điều kiện để phục hồi, khắc phục hậu quả thiên tai, theo đó, phát triển sản xuất và ổn định được đời sống; tạo ra khả năng phát triển bền vững trong tương lai
1.2.3.3 Hiệu quả sử dụng
Hiệu quả của cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG được đánh giá bằng hiệu quả kinh tế - xã hội, chính trị - xã hội Khi xảy ra thiên tai, lũ lụt gây ra thiệt hại lớn về của cải vật chất và người, bao nhiêu lượt người được cứu trợ lương thực, giúp họ vươn lên giải quyết được khó khăn, ổn định cuộc sống Đánh giá bằng phần trăm hoặc mức độ cứu trợ để giải quyết những khó khăn cho bao nhiêu gia đình, bao nhiêu người, bao nhiêu huyện, bao nhiêu xã và quy mô lớn hơn là vùng hoặc bao nhiêu tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được cứu trợ khi bị rủi ro do thiên tai
1.2.3.4 Mức độ đảm bảo an sinh xã hội
Cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG là việc cấp không thu tiền cho nhân dân vùng bị thiên tai, bị rủi ro và thuộc trách nhiệm chính của Nhà nước Nhà nước có trách nhiệm cao nhất trong việc tổ chức hoạt động cứu trợ; vì vậy,
Trang 28hiệu quả của cứu trợ nói chung, cứu trợ lương thực nói riêng phải được tính bằng việc đảm bảo an sinh cho bao nhiêu hộ, bao nhiêu khẩu và bao nhiêu huyện, tỉnh khắc phục được những tổn thất nặng nề do thiên tai và ổn định sản xuất, đời sống nhân dân trong vùng, ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội Cứu trợ không chỉ có ý nghĩa về mặt bảo đảm an sinh xã hội, không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng
Về kinh tế, cứu trợ từ nguồn DTQG của Nhà nước là điều kiện để nhân dân vượt qua khó khăn, phấn đấu khắc phục hậu quả thiên tai, vươn lên phát triển sản xuất, tăng thu nhập và phát triển kinh tế bền vững, là nhân tố quyết định sự thành công của công cuộc xoá đói, giảm nghèo đối với nhân dân bị thiệt hại do thiên tai
Về chính trị, cứu trợ từ nguồn DTQG nhằm đảm bảo an sinh xã hội Đảm bảo an sinh xã hội là chính sách lớn của Đảng, Nhà nước ta Cứu trợ là điều kiện quan trọng nhằm góp phần giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo; Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện về vật chất để nhân dân giải quyết rủi ro, tự vươn lên hoà nhập cộng đồng
Về an ninh, quốc phòng, các huyện nghèo, xã nghèo chủ yếu thuộc địa bàn các tỉnh giáp biên giới, địa bàn chiến lược, hiểm trở, vùng núi, vùng xa, vùng sâu, điều kiện thời tiết không thuận lợi và thường xuyên bị thiên tai Công tác cứu trợ chủ yếu tập trung cho các địa phương này, do vậy, cứu trợ là điều kiện bảo đảm an sinh xã hội và ổn định dân cư và bảo đảm an ninh, quốc phòng; người dân yên tâm chung sống với bão lụt, bám đất, bám làng giữ vững an ninh, quốc phòng và xây dựng được thế trận “quốc phòng toàn dân
và thế trận an ninh nhân dân”, đây là nhân tố quan trọng để bảo vệ sự an toàn
và an ninh lãnh thổ đất nước trong mọi tình huống
Trang 291.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia
1.2.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng cơ chế chính sách
* Chính sách của Nhà nước
Nhân tố thuộc về cơ chế chính sách của Nhà nước nói chung và chính sách về an sinh xã hội, cứu trợ, xóa đói giảm nghèo, nói riêng có tác động mạnh vào quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG Cụ thể, nó tác động trực tiếp đến số lượng lương thực xuất cấp để thực hiện các chính sách, mục tiêu của Chính phủ; tác động đến các đối tượng được thụ hưởng; các tổ chức, cá nhân có liên quan khi triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước
* Điều kiện kinh tế xã hội
Trong điều kiện nền kinh tế mở với hai xu hướng cơ bản của thế giới là:
Tự do hóa kinh tế và dân chủ hóa (phi tập trung hóa) kinh tế với nhiều sắc thái và nhiều trình độ khác nhau nhằm phát huy động lực của cơ chế thị trường có sự can thiệp chủ quan của Nhà nước vào sự phát triển khách quan của nền kinh tế, DTQG có vai trò quan trọng trong quá trình quốc tế hóa nền kinh tế Đối với mỗi quốc gia, lực lượng dự trữ hùng mạnh, cho phép mở rộng
và chủ động trong các quan hệ quốc tế, bao gồm cả việc viện trợ khẩn cấp cho các nước khi cần thiết
Ở nước ta, nếu không có khối lượng và cơ cấu mặt hàng dự trữ đầy đủ thì khó ứng phó kịp thời tình hình quốc tế hiện nay Như vậy, quan hệ quốc tế có ảnh hưởng lớn đến hoạt động DTQG nói chung và tác động đến công tác cứu trợ xã hội nói riêng Trong điều kiện quan hệ quốc tế rộng mở, khi gặp rủi ro, khó khăn, nguồn lực quốc tế sẽ hỗ trợ, giúp đỡ trong việc khắc phục hậu quả của thiên tai, giúp đỡ người nghèo thông qua việc viện trợ bằng tiền hoặc trực
Trang 30tiếp bằng hiện vật
1.2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện
* Công tác phân cấp, phối hợp
Hiệu quả của việc quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG chịu ảnh hưởng lớn từ công tác phân cấp, phối hợp giữa các cơ quan liên quan
từ Trung ương, tới địa phương, cụ thể: Các bộ, ngành được Thủ tướng Chính phủ giao quản lý hàng DTQG (Bộ Tài chính), thực hiện việc đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ xuất cấp, sử dụng hàng DTQG để khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, phòng chống dịch bệnh và cứu đói (Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn); cơ quan trực tiếp triển khai xuất cấp lương thực cứu trợ (Tổng cục DTNN, Cục DTNN khu vực, Chi cục DTNN); đơn vị tiếp nhận, sử dụng lương thực DTQG (các tỉnh, thành phố được cứu trợ) Nếu các bộ, ngành, cơ quan liên quan được phân cấp
rõ ràng và phối hợp chặt chẽ trong hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG thì đảm bảo công tác này được thực hiện một cách nhanh chóng góp phần ổn định sản xuất và đời sống nhân dân trong các vùng xảy ra bão lụt, dịch bệnh và trong thời kỳ giáp hạt; đồng thời đảm bảo được tính kịp thời trong cứu trợ, giúp nhân dân vượt qua khó khăn, rủi ro
Ngược lại, nếu không có sự phân cấp, phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ, ngành, cơ quan liên quan thì công tác cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG sẽ gặp khó khăn trong nhiều khâu từ khâu đề xuất đến khâu thực hiện (xuất kho, vận chuyển, giao nhận, cấp phát)
*Điều kiện tự nhiên
Đối với nước ta, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng rất lớn tới quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG Những điều kiện tự nhiên đó chủ yếu gồm: Điều kiện về thời tiết khí hậu và điều kiện về địa hình
Trang 31- Về thời tiết khí hậu, Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thì mưa nhiều, mưa to gây ra lũ lụt lớn; mùa khô thì khô quá mức, hạn hán kéo dài; hàng năm phải hứng chịu trung bình từ 4 - 6 cơn bão/năm Đặc biệt trong những năm gần đây, sự đa dạng phức tạp của thời tiết khí hậu, môi trường sinh thái bị biến đổi nảy sinh những tai họa mới về thiên tai, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh với tần suất ngày càng dày, cường độ lớn, diện rộng gây mất mát lớn về người và tài sản Đối tượng phải cứu trợ hàng năm rất lớn và đa dạng Công tác cứu trợ mặc dù luôn coi trọng khâu nắm tình hình để tổ chức thực hiện nhưng trước những diễn biến đó, công tác cứu trợ gặp nhiều khó khăn và thường ở trong tình trạng bị động
- Về địa hình, nước ta với diện tích không lớn nhưng trải dài từ Bắc xuống Nam Địa hình hẹp và tương đối phức tạp, hàng năm đều có thiên tai xảy ra ở nhiều địa phương gây thiệt hại nặng về người, tài sản, mùa màng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân và sự phát triển kinh tế của đất nước Miền Bắc thì có nhiều đồi núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, thường xuyên bị ảnh hưởng lũ quét và sạt lở đất Miền Trung địa hình nhỏ hẹp, đất đai cằn cỗi, hàng năm chịu ảnh hưởng nhiều của bão lũ và hạn hán Miền Nam đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thấp, thường xuyên bị mưa lũ, ngập úng, cơ sở hạ tầng phòng hộ yếu kém Với địa hình như vậy, nên công tác cứu trợ mỗi khi triển khai thường gặp khó khăn trong việc vận chuyển, giao lương thực đến tay người dân thường bị động, không đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhân dân
* Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật mà chủ yếu là hệ thống kho tàng ảnh hưởng rất lớn tới khối lượng, chất lượng hàng hoá dự trữ, trong đó có mặt hàng lương thực Nếu không có đủ kho hoặc chất lượng kho tàng không đảm bảo thì
Trang 32không thể đáp ứng được khối lượng hàng hoá dự trữ lớn, có thể đáp ứng được yêu cầu của Chính phủ và người dân Bởi vậy, chất lượng hệ thống kho luôn phải được quan tâm đầu tư xây dựng, mở rộng đáp ứng đủ sức chứa cho các mặt hàng DTQG
* Năng lực dự trữ lương thực của quốc gia
Hiệu quả quản lý cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG phụ thuộc rất lớn vào năng lực dự trữ lương thực Nếu năng lực dự trữ lương thực đủ mạnh mới
có thể sẵn sàng đáp ứng mọi tình huống khẩn cấp xảy ra Ngược lại, năng lực
dự trữ lương thực quá mỏng khó mà đáp ứng ngay yêu cầu cứu trợ hoặc có đáp ứng được thì chỉ ở mức độ nhất định
1.2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm tra, giám sát
* Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan được giao nhiệm vụ
Nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan thì công tác kiểm tra, giám sát sẽ được triển khai thực hiện một cách hiệu quả, tiết kiệm Khi triển khai thực hiện hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia, công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện ngay từ khâu đầu tiên cho đến khâu cuối cùng dưới sự phối hợp của các bên liên quan sẽ giúp việc quản lý,
sử dụng lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia đảm bảo kịp thời, chính xác, công bằng và hiệu quả nhất
* Phẩm chất, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG
Con người là chủ thể tiến hành các hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG Do vậy, con người đóng vai trò quyết định tới hiệu quả hoạt động cứu trợ lương thực Vì vậy, nếu cán bộ, công chức Tổng cục DTNN nhận thức đúng đắn về vai trò, chức năng của DTNN Họ là những người có
Trang 33trình độ, ý thức trách nhiệm, khi đó sẽ giúp cho việc tổ chức hoạt động cứu trợ lương thực hiệu quả hơn
Như vậy, mọi việc thành công hay thất bại đều do con người Nếu có một đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt thì hiệu quả hoạt động sẽ cao Phẩm chất, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong Tổng cục DTNN được quan tâm đúng mức thì quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG sẽ mang lại hiệu quả cao
1.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia và bài học rút ra cho Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước
Dự trữ nhà nước là tiềm lực vật chất, công cụ sẵn sàng có và cần để ứng cứu trong những trường hợp cần thiết cấp bách, bảo đảm an sinh xã hội khi xảy ra tình huống thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh Vì vậy, trên thế giới hầu như mọi quốc gia đều tổ chức dự trữ nhà nước thành một quỹ để sẵn sàng đối phó với những bất trắc của nền kinh tế Vấn đề an sinh xã hội ngày nay đều được các quốc gia quan tâm, vì có tác động trực tiếp đến ổn định chính trị, xã hội
và phát triển bền vững
1.3.1.1 Malaysia
Chính phủ Malaysia giao cho Công ty Cổ phần Lương thực (Bernas) được độc quyền nhập khẩu lương thực; phân phối cho các doanh nghiệp trong nước bán; duy trì lượng dự trữ gạo trong kho để thực hiện xuất cấp theo chỉ đạo của Chính phủ ứng phó trong trường hợp khẩn cấp như: Thực hiện cứu trợ cho nhân dân khi bị thiên tai, đói kém
Cổ phần của Nhà nước chiếm trong Bernas là 1% nhưng được coi là “cổ phần vàng”, Nhà nước điều chỉnh bằng cách yêu cầu Bernas bán ra theo giá
Trang 34chỉ đạo để thực hiện bình ổn thị trường hoặc thực hiện cứu trợ cho nhân dân vùng bị thiên tai, thiếu đói
Thời gian dự trữ gạo của Malaysia kéo dài từ 5 tháng đến 6 tháng Hiện nay, mức tồn kho dự trữ gạo khoảng 500 ngàn tấn Lực lượng gạo dự trữ do Công ty lương thực Malaysia (Bernas) quản lý luôn luôn sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu của Chính phủ trong việc xuất cấp phục vụ các nhu cầu cho nhân dân như là thực hiện dịch vụ công (không hoàn toàn theo cơ chế thị trường) Các kho chứa lương thực dự trữ của Malaysia được bố trí gần cảng biển, rải khắp các vùng đất nước, thuận tiện cho công việc cứu trợ và nhu cầu của thị trường Khi có nhu cầu cần xuất cấp lương thực từ nguồn DTNN, Chính phủ chỉ đạo Bernas xuất cấp từ lương thực dự trữ trong kho đưa đến tận tay người dân được hỗ trợ Trong trường hợp điều kiện xuất cấp gặp khó khăn về công tác vận chuyển, Chính phủ huy động lực lượng quân đội để thực hiện công tác cứu trợ Kinh nghiệm hoạt động cứu trợ từ DTNN của Malaysia là: Luôn luôn đảm bảo lương thực cho người dân trong mọi tình huống thiên tai, đưa lương thực phân phối đến tận người dân, trong những trường hợp khó khăn huy động lực lượng quân đội thực hiện công tác cứu trợ, Việt Nam cần nghiên cứu vận dụng
1.3.1.2 Inđônêsia
Inđônêsia, đất nước có 17.000 hòn đảo và dân số hơn 250 triệu người, địa lý phức tạp và thiên tai cũng vô cùng khắc nghiệt nên Chính phủ rất coi trọng việc đảm bảo lương thực cho người dân
Hoạt động cứu trợ lương thực được thực hiện tập trung Tổng cục hậu cần Nhà nước Indonesia (Bulog) là thành viên Chính phủ Bulog có hệ thống
tổ chức bộ máy từ Trung ương đến địa phương trong toàn quốc, ở tỉnh gọi là Bulog tỉnh, ở huyện gọi là Subdolog và dưới huyện là các điểm kho Bulog đảm bảo tồn kho thường xuyên là 1,78 triệu tấn gạo, được phân chia ra 2
Trang 35nhóm, nhóm mua vào bán ra ngay, nhóm mua vào đưa vào dự trữ cho dân đủ dùng trong 3 - 4 tháng Cũng như Bernas của Malaysia, Bulog được độc quyền nhập khẩu gạo dể thực hiện hai nhiệm vụ là bình ổn giá và đảm bảo an ninh lương thực
Chính phủ Inđônêsia đặc biệt quan tâm đến dự trữ về lương thực, một phần do dân số đông, một phần do tăng cường dự trữ trước những biến động phức tạp của thiên tai (động đất, sóng thần, bão, núi lửa, cháy rừng,…) và tình hình trên thế giới Hàng năm, nhà nước phải nhập khẩu lương thực để tăng cường lực lượng DTNN Trong những năm gần đây, nhập khẩu gạo của Inđônêsia vẫn ở mức 2 - 3,9 triệu tấn/năm, duy trì mức lương thực DTNN của Inđônêsia khoảng 3 triệu tấn gạo, nhằm phục vụ cho quốc phòng và do tình trạng cháy rừng nghiêm trọng, dân chúng lo lắng nạn đói có thể xảy ra nên cần “tích cốc phòng cơ” Nhờ có DTQG về lương thực đủ mạnh mà Chính phủ Inđônêsia luôn đảm bảo phục hồi kịp thời cuộc sống cho người dân ở các vùng bị ảnh hưởng thiên tai, dịch họa
Khi cần cứu trợ khẩn cấp, Chính phủ Inđônêsia chỉ đạo Bulog xuất lương thực từ kho dự trữ Nhiệm vụ này được ưu tiên hàng đầu Các kho dự trữ của Inđônêsia được bố trí ở các vùng thường xuyên gặp thiên tai để có thể kịp thời xuất cấp cho dân ngay lập tức
Kinh nghiệm hoạt động cứu trợ từ DTNN của Inđônêsia là: Luôn luôn sẵn sàng có đủ lực lượng lương thực và được bố trí phù hợp ở các vùng miền thường bị thiên tai để cứu trợ kịp thời cho dân cư khi bị đói kém, Việt Nam cần nghiên cứu vận dụng
1.3.1.3 Trung Quốc
Trung Quốc có mức DTNN về lương thực đạt 130 triệu tấn, đủ ăn cho dân số cả nước trong 3 tháng Để duy trì lượng lương thực dự trữ, Nhà nước thu mua khoảng 3/4 lượng lương thực đưa ra thị trường
Trang 36Hệ thống quản lý lương thực DTQG của Trung Quốc được xây dựng theo mô hình dự trữ địa phương (tỉnh, thành phố) và dự trữ Trung ương Cục Quản lý dự trữ về lương thực Trung ương có các Chi cục Dự trữ, mỗi Chi cục
có địa bàn hoạt động ở một tỉnh hay một số tỉnh, trực thuộc Chi cục là các Tổng kho dự trữ, thường thì mỗi tỉnh có một Tổng kho dự trữ
Hoạt động DTNN của Trung Quốc luôn luôn sẵn sàng cứu trợ ổn định đời sống nhân dân vùng bị thiên tai, lũ lụt, động đất điều tiết cung - cầu thị trường, bình ổn giá Khi có nhu cầu, Chính phủ sẽ quyết định việc xuất lương thực nhằm khắc phục các tình huống cấp bách xảy ra Trung Quốc có tiềm lực DTNN lớn và dự trữ cả lương thực, thực phẩm đảm bảo cứu trợ cho nhân dân đảm bảo an sinh xã hội trong mọi biến cố thiên tai, bão lụt, động đất, hỏa hoạn, rét lạnh Việt Nam cần nghiên cứu học tập kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc dự trữ thực hiện cứu trợ đảm bảo an sinh xã hội
1.3.2 Bài học rút ra cho Việt Nam
Trước hết, các nước đều đặc biệt quan tâm đến việc tạo dựng một lực
lượng DTNN gồm những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống để sẵn sàng đối phó với những bất trắc xảy ra DTNN được tổ chức thống nhất thành một hệ thống có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Tổ chức này thường được đặt dưới sự lãnh đạo của người đứng đầu Nhà nước Kinh nghiệm của Inđônêsia về đảm bảo an sinh xã hội là: Nhà nước sử dụng DTNN để thực hiện cứu trợ cho dân cư khi đói kém, mất mùa, thiên tai xảy ra Điều rút ra là Nhà nước đặc biệt quan tâm đến DTNN, cái “van an toàn” của đất nước, đảm bảo ổn định sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, chúng ta cần nghiên cứu vận dụng vào hoạt động cứu trợ từ nguồn DTNN ở Việt Nam
Thứ hai, Trung Quốc, một đất nước hơn 1,3 tỷ dân, lại liên tục bị thiên
tai nặng nề và thường xuyên xảy ra các đợt động đất, bão lớn Trung Quốc
Trang 37chuyển từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước rất quan tâm đến DTNN, tổ chức hoạt động DTNN thành hệ thống Sự đầu tư về vốn hàng hoá dự trữ và cơ sở vật chất, kho tàng và công nghệ khá hiện đại Đặcbiệt dự trữ lương thực đạt ở mức rất cao, có vùng dự trữ đủ ăn đến 06 tháng còn thông thường thì 03 tháng Việt Nam cần nghiên cứu để tăng cường lượng lương thực DTNN bố trí ở những địa bàn thường xuyên xảy ra thiên tai như: Khu vực Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
Thứ ba,Malaysia hiện nay tồn kho dự trữ khoảng 500 ngàn tấn Các kho
chứa lương thực dự trữ được bố trí gần cảng biển, rải khắp các vùng đất nước, thuận tiện cho công việc cứu trợ và nhu cầu của thị trường Khi xảy ra thiên tai việc cứu trợ cho dân cư được huy động lực lượng quân đội vận chuyển lương thực để cứu trợ
Việc nghiên cứu DTNN và hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTNN của một số nước trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm, khả năng ứng dụng cho Việt Nam là phải luôn luôn có lực lượng lương thực DTNN, được bố trí ở những địa bàn trọng yếu của đất nước; địa bàn thường xảy ra thiên tai Thực hiện cứu trợ lương thực phải nhanh chóng kịp thời và huy động lực lượng tại chỗ, cả về lương thực, con người, phương tiện phục vụ cho công tác cứu trợ; trong đó, con người và phương tiện của lực lượng quân đội cần được huy động sử dụng đảm bảo nhanh chóng nhất
Trang 38CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu, số liệu
Đề tài sử dụng tài liệu, số liệu thứ cấp Các thông tin, dữ liệu, số liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản quản lý của các cấp, các ngành có liên quan;
từ các công trình khoa học liên quan đến đề tài; từ niên giám thống kê, báo cáo tổng kết của Tổng cục Dự trữ Nhà nước, các cơ quan chức năng, địa phương liên quan đến công tác cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG trong giai đoạn 2009-2014 Phương pháp này được sử dụng ở các Chương 1, 3, 4
Chương 1 của luận văn sử dụng phương pháp thu thập thông tin, tư liệu
để lấy thông tin về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, xây dựng khung phân tích của đề tài, tìm hiểu kinh nghiệm của một số nước liên quan đến nội dung đề tài
Chương 3, các số liệu thu thập được sẽ được xử lý một cách khoa học và chính xác Phương pháp này chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục DTNN Cụ thể, sử dụng phương pháp này để lấy số liệu về tình hình cứu trợ các năm trong giai đoạn
2009 - 2014, cũng như số liệu về số lượng người được cứu trợ trong giai đoạn này Nhằm minh chứng cho các nhận định tại chương 3, luận văn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu, số liệu về hàng hóa DTQG, về nguồn nhân lực,
về số lượng xuất cấp gạo cụ thể tại Thành phố Đà Nẵng trong khắc phục cơn bão số 9 năm 2009, về số xuất cấp gạo cho học sinh, xuất cho dự án trồng rừng và số lượng người được hưởng chính sách hỗ trợ gạo
Chương 4, nhờ phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu về các lĩnh vực liên quan để làm rõ bối cảnh mới, cũng như đề xuất định hướng hoạt động cứu trợ lương thực trong thời gian tới
Trang 39Để thu thập thông tin, dữ liệu, số liệu về hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG, tác giả nghiên cứu, tìm hiểu, tham khảo các Báo cáo tổng kết công tác năm của Tổng cục DTNN từ 2009-2014; các văn bản trao đổi giữa Tổng cục DTNN với các cơ quan, địa phương liên quan đến công tác cứu trợ; các văn bản chỉ đạo, giao nhiệm vụ của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng
Bộ Tài chính, … Qua đó, thu thập tất cả các nguồn thông tin liên quan đến đề tài như: Số lượng lương thực đã xuất cứu trợ trong giai đoạn 2009-2014 Trong đó, cụ thể từng đợt xuất cứu trợ như xuất hỗ trợ dự án trồng rừng, xuất
hỗ trợ học sinh, xuất cứu trợ khắc phục thiên tai, dịch bệnh,…
2.2 Phương pháp thống kê, mô tả
Sau khi thu thập số liệu, dùng phương pháp thống kê, mô tả để tiến hành thống kê, mô tả và tổng hợp các loại chỉ số tuyệt đối, tương đối và số bình quân Trên cơ sở đó, luận văn mô tả quy mô và sự thay đổi của các chỉ tiêu về hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục DTNN Phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong chương 3 của luận văn Trên cơ sở các bảng số liệu thống
kê về hàng hóa, nguồn lực, số lượng hàng xuất cấp, số lượng người được cứu trợ, luận văn đi vào mô tả trực tiếp từng bảng nhằm minh chứng cho các nhận định đưa ra trong khi phân tích thực trạng hoạt động cứu trợ lương thực
từ nguồn DTQG
2.3 Phương pháp so sánh
Ở chương 1, luận văn sử dụng phương pháp so sánh để so sánh kinh nghiệm giữa các nước trong quản lý hoạt động cứu trợ lương thực để thấy được những kinh nghiệm hay của các nước với nhau từ đó áp dụng vào Việt Nam; so sánh giữa các khái niệm được sử dụng trong luận văn để đưa ra khái niệm hiểu đúng nhất, gần nhất với lĩnh vực mà luận văn đề cập đến
Ở chương 3, luận văn dùng phương pháp này để so sánh kết quả hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục DTNN theo thời gian để khẳng định các
Trang 40vấn đề ưu tiên giải quyết, tính hiệu quả trong việc thực thi các chính sách cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG Đồng thời, so sánh số lượng đối tượng được hưởng qua các năm, qua các chính sách hỗ trợ để thấy rõ kết quả đạt được trong hoạt động cứu trợ lương thực
Chương 3 cũng sử dụng phương pháp so sánh để thấy được sự chênh lệch giữa nguồn lực về hàng DTQG hiện nay so với Chiến lược DTQG đặt ra
Từ đó, thấy được thực trạng hàng hóa DTQG để có cơ sở đề xuất giải pháp trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động cứu trợ lương thực
từ nguồn DTQG Phương pháp so sánh được sử dụng để thấy được sự tăng lên về số gạo, số học sinh được hỗ trợ, số tỉnh, thành phố được hỗ trợ gạo qua các năm; số gạo, số lượng được cứu trợ khắc phục hậu quả thiên tai, cũng như cứu đói trong thời gian giáp hạt, tết Nguyên đán Bằng phương pháp so sánh
có thể thấy được thời gian triển khai thực hiện xuất cấp lương thực qua các khâu nhanh chậm ra sao của các cơ quan, đơn vị, địa phương
2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng ở cả 3 chương 1, 3, 4 trong luận văn Tại chương 1, tác giả sử dụng phương pháp này để phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó sử dụng phương pháp tổng hợp rút ra những kết quả nghiên cứu chủ yếu và khoảng trống nghiên cứu
Cũng ở chương 1, luận văn phân tích kinh nghiệm về hoạt động cứu trợ lương thực tại một số nước, trên cơ sở đó tổng hợp lại thành các bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam Đồng thời sử dụng phương pháp này trong phân tích các tiêu chí cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn DTQG
Ở chương 3, luận văn đi từ phân tích thực trạng quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục DTNN, trên cơ sở đó sử dụng phương pháp tổng