1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HỌC PHẦN DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN CÁC BỆNH lây QUA ĐƯỜNG TÌNH dục và HIVAIDS

23 709 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 191,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.Tính cấp thiết – lý do chọn vấn đề.Hiện nay với quá trình toàn cầu hóa và tự do về thương mại dẫn đến sự giao lưu về lối sống không lành mạnh giữa các nước khác nhau, lối sống không lành mạnh tệ nạn mại dâm phổ biến cũng là một yếu tố nguy cơ rất cao của bệnh lây truyền qua đường tình dục. Ở Việt Nam tính đến tháng 112000 đã phát hiện 27.290 người nhiễm HIV ở 6161 tỉnh, thành phố, trong dó 4.461 người chết vì AIDS hơn nữa phụ nữ nước ta trong độ tuổi sinh đẻ mắc nhiều bệnh nhiễm khuẩn phụ khoa những căn bệnh lây nhiễm này làm cho tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh gia tăng nhanh. Vì HIVở trẻ em tiến triển rất nhanh tiến triển thành AIDS. Tỷ lệ phụ nũ này được điều tra ở vùng Thừa thiên – Huế là 20% phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. Tỷ lệ này xấp xỉ tỷ lệ chung của nhiểu nước đang phát triển. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi dẫn đầu về số nhười nhiềm bệnh, thứ nhì là Quảng Ninh, Hà Nội xếp hàng thứ bảy.Tính đến đầu năm 2003, 60% ngàn người nhiễm HIV ,thì 52% là thuộc nhóm tuổi 2029, nó đang hủy hoại chất lượng lực lượng lao động trẻ của nước ta.

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

KHOA XÃ HỘI HỌC

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN

Trang 2

MỞ ĐẦU

I. Tính cấp thiết – lý do chọn vấn đề.

Hiện nay với quá trình toàn cầu hóa và tự do về thương mại dẫn đến sựgiao lưu về lối sống không lành mạnh giữa các nước khác nhau, lối sốngkhông lành mạnh tệ nạn mại dâm phổ biến cũng là một yếu tố nguy cơ rất caocủa bệnh lây truyền qua đường tình dục

Ở Việt Nam tính đến tháng 11-2000 đã phát hiện 27.290 người nhiễmHIV ở 61/61 tỉnh, thành phố, trong dó 4.461 người chết vì AIDS hơn nữa phụ

nữ nước ta trong độ tuổi sinh đẻ mắc nhiều bệnh nhiễm khuẩn phụ khoanhững căn bệnh lây nhiễm này làm cho tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh gia tăngnhanh Vì HIVở trẻ em tiến triển rất nhanh tiến triển thành AIDS Tỷ lệ phụ

nũ này được điều tra ở vùng Thừa thiên – Huế là 20% phụ nữ trong tuổi sinh

đẻ Tỷ lệ này xấp xỉ tỷ lệ chung của nhiểu nước đang phát triển Thành phố

Hồ Chí Minh là nơi dẫn đầu về số nhười nhiềm bệnh, thứ nhì là Quảng Ninh,

Hà Nội xếp hàng thứ bảy.Tính đến đầu năm 2003, 60% ngàn người nhiễmHIV ,thì 52% là thuộc nhóm tuổi 20-29, nó đang hủy hoại chất lượng lựclượng lao động trẻ của nước ta

Da số chi phí để chữa bệnh LNQĐTD rất đắt người bệnh còn phải nghỉlàm việc để chữa bệnh gây thiệt hại về kinh tế là rất lớn

Vể mặt xã hội, những người bệnh cảm thấy xấu hổ, xa lánh mọi người

Ở một số nơi, những người bị mắc bệnh còn bị kì thị và phân biệt đối xử.Người phụ nữ khi đã mắc bệnh có thể bị chổng ly dị Hơn hết nếu bố mẹ bịchết sẽ để lại những đứa trẻ mồ côi với bao khó khăn đau khổ trên con đườngđời Vì vậy những những thông tin và kiến thức về các bệnh LQĐTD cần thiếtvới mọi lứa tuổi nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên đang còn ngồi trên ghế nhàtrường

Trang 3

II Lịch sử nghiên cứu thế giới và Việt Nam.

-Nhằm xác định các vấn đề ưu tiên trong nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS, Cục Phòng, chống HIV/AIDS đã phối hợp với Tổ chức sức khỏe giađình quốc tế (FHI 360), các đơn vị liên quan, các nhà khoa học trong nước vàquốc tế xây dựng dự thảo định hướng nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS tạiViệt Nam giai đoạn 2012-2015

-BS Trương Hữu Khanhnghiên cứu nhiều đề tài gây tiếng vang tronggiới y khoa Khoa nhiễm BV nhi đồng 1, nơi đầu tiên tiếp nhận nhũ nhi nhiễmHIV/AIDS vào năm 1997 và số trẻ nhập viện điều trị HIV cũng ngày mộtnhiều hơn Trong quá trình làm việc, anh nghiệm ra nhiều vấn đề, nếu khônglàm tổng kết số trẻ nhiễm HIV thì khó có thể “đi đường dài” Rồi anh vừađiều trị bệnh vừa thu thập số liệu Đến năm 2001, anh là người đầu tiên đãđưa ra “Nghiên cứu lâm sàng điều trị bệnh nhi HIV/AIDS

- Bác sĩ Lê Thúy Lan Thảo, chuyên viên Văn phòng thường trực Phòngchống AIDS TP HCM Đề tài nghiên cứu mang tên "Sự bùng phát dịch HIV/AIDS tại TP HCM" của chị là một trong số 7 công trình được trao giải thưởngdành cho các nhà nghiên cứu trẻ (dưới 35 tuổi) tại Hội nghị quốc tế lần thứ 14

về HIV/AIDS

-Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội phối hợp với Trung tâm y tếNha Trang, Hội phụ nữ thành phố Nha Trang tiến hành nghiên cứu” Hành vinguy cơ lây nhiễm HIV và các yếu tố liên quan ở phụ nữ thành phố NhaTrang năm 2005”

- bác sĩ Trần Thị Thuỷ Hà, giám đốc Trung tâm Phòng, chốngHIV/AIDS tỉnh Tiền Giang đã dành nhiều công sức nghiên cứu và ứng dụngthành công hơn 10 đề tài khoa học, chỉ đạo tuyến, giám sát dịch tễ các hoạtđộng: truyền thông, tư vấn, chăm sóc người nhiễm, can thiệp giảm tác hại,góp phần tích cực giảm kỳ thị phân biệt đối xử với người có HIV đẩy lùi đạidịch HIV/AIDS Chị còn quản lý, khám, điều trị, tư vấn cho hơn 220 bệnhnhân AIDS, vận động điều hành các dự án hỗ trợ chăm sóc người nhiễm, trẻ

Trang 4

em bị ảnh hưởn bới HIV Bác sỹ Hà đã nhận được bằng khen của Thủ tướng,ngành và địa phương trong dịp đánh giá thành tựu 20 năm phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam.

- Nghiên cứu “Tổng quan tài liệu Truyền thông đại chúng vềHIV/AIDS cho thanh niên”, theo chỉ đạo của Vụ Sức khỏe Sinh sản, Bộ Y tếvới tài trợ của UNAIDS, 2004

-Nghiên cứu đánh giá chương trình hỗ trợ nhóm đồng đẳng trongphòng chống HIV/AIDS cho giới mại dâm TP Hồ Chí Minh (Luận văn thạc

sĩ Công tác xã hội Đại học Philippines, 1995, Nguyễn Thị Xuân Đào)

- Nghiên cứu hành vi tính dục liên quan đến phòng tránh HIV/AIDS ởnam thanh niên chưa có gia đình tại TP Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ Khoahọc xã hội - Sức khỏe, Đại học Mahidol, 1998, Trương Trọng Hoàng) Đã báocáo tại Hội nghị Khoa học toàn quốc về HIV/AIDS lần II năm 2000

- Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV/AIDS của phạm nhân trong Trạigiam K1 Cái T u, tàu, t ỉnh C Mau nàu, t ăm 2009

-Nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu, đào tạo và chuyểngiao công nghệ sinh học (Retib), Công ty cổ phần Traphaco, Bệnh viện BìnhTriệu và cơ sở Thiên Phước TP.HCM vừa hoàn thành công trình nghiên cứukhoa học sử dụng các thuốc có nguồn gốc dược liệu hỗ trợ điều trị bệnh nhânHIV/AIDS Kết quả: công trình đã xây dựng được chế phẩm Daisvan có chứcnăng tăng cường miễn dịch cho các bệnh nhân HIV/AIDS

-Viện nghiên cứu điều trị các bệnh hiểm nghèo ( Radiner ) thành lậpnăm 2002 theo chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ sốA218 ngày 15/1/2002 của Bộ Khoa học và Công nghệ (Tiền thân là Trungtâm Nghiên cứu phát triển dược liệu hoạt động từ 1995 )- đơn vị trực thuộc -Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam -Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuậtViệt Nam hoạt động theo cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm trước phápluật Hội đồng khoa học của Viện Radiner gồm 13 GS,TS trong lĩnh vực y,dược tâm huyết tham gia nghiên cứu khoa học trong 13 năm qua với sự nỗ

Trang 5

lực phấn đấu không quản ngại khó khăn của Ban Lãnh đạo viện, các nhà khoahọc cùng với sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng Nhà nuớc, đặc biệt là BộKhoa học và Công nghệ.Viện Radiner đã tham gia Chủ trì nghiên cứu đề tàikhoa học Độc lập cấp Nhà nước về thuốc hỗ trợ cai nghiện ma tuý và thuốc

hỗ trợ điều trị HIV/AIDS

-Hiệp hội phòng chống AIDS quốc tế đã công bố kết quả một nghiêncứu về điều trị phơi nhiễm HIV cho trẻ sơ sinhmỗi ngày trong suốt 6 thángđầu thì sẽ giảm được hơn 50% nguy cơ lây nhiễm HIV từ người mẹ

III Phương pháp nghiên cứu:

1.Thực trạng.

Bệnh lây qua đường tình dục trước kia được gọi với cái tên là “bệnhphong tình” hay “bệnh hoa liễu” Căn bệnh này nhằm chỉ những người haychơi bời trai gái hoặc những người làm nghề “bán hoa”

Từ khi có những phát hiện sinh học về các bệnh lây truyền qua đườngtình dục đến nay có nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ các bệnh này

Thuật ngữ đầu tiên được sử dụng là các bệnh hoa liễu (tiếng Anh

là Venereal diseases, tiếng Pháp làMaladies vénériénnes) để chỉ các bệnh hoa

liễu cổ điển lây truyền qua quan hệ tình dục (từ Venereal lấy từ nhân vật nữthần Venus- nữ thần sắc đẹp và ái tình trong thần thoại Hy-Lap) Các bệnh đó

là bệnh giang mai, bệnh lậu, hạ cam, hột xoài và u hạt bẹn hoa liễu Từ thậpniên 70 của thế kỷ XX, người ta đã phát hiện thêm các tác nhân gây bệnh mớilây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD), từ đó thuật ngữ bệnh hoa liễu

được thay bằng các bệnh lây truyền qua đường tình dục (Sexually

Transmitted Diseases- STDs) Đến năm 1997, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra

một thuật ngữ mới là các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục

(Sexually Transmitted Infections- STIs).

Trang 6

Vi-rút HerpesTuy nhiên, cần phải phân biệt các tác nhân lây truyền qua đường tìnhdục với các tác nhân có thể lây truyền qua đường tình dục Các tác nhân cóthể lây truyền qua đường tình dục khi các đường lây truyền khác không phảiđường tình dục chiếm ưu thế hoặc chỉ lây truyền qua đường tình dục chủ yếu

ở người trưởng thành, còn ở trẻ em lây qua tiếp xúc Ví dụ như: các vi-rútCMV, HBV, u mềm lây chủ yếu lây truyền qua tình dục ở người trưởng thànhnhưng ở trẻ em thì qua đường khác: qua tiếp xúc trực tiếp da- da, qua truyền

từ mẹ sang con và qua truyền máu Một số tác nhân khác như M hominis,G.

vaginalis, Liên cầu nhóm B, HTLV-II, C albicans cũng không hoàn toàn là

lây truyền qua đường tình dục

Cuối cùng, về thuật ngữ các nhiễm trùng đường sinh sản (Reproductive

Tract Infections-RTIs) cũng cần phân biệt với thuật ngữ được các nhà hô hấp

đặt tên cho các nhiễm trùng đường hô hấp (RTIs- Respiratory Tract

Infections) Các nhiễm trùng đường sinh sản bao gồm các nhiễm trùng nội

sinh (Endogenous Infections) như viêm âm đạo vi khuẩn, nấm men candida

âm đạo; các nhiễm khuẩn do dụng cụ hoặc thủ thuật y tế không vô khuẩn- hay

còn gọi là nhiễm trùng y sinh (Iatrogenic Infections) và các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (Sexually TranCuối cùng, về thuật ngữ các nhiễm

Trang 7

trùng đường sinh sản (Reproductive Tract Infections-RTIs) cũng cần phân biệt

với thuật ngữ được các nhà hô hấp đặt tên cho các nhiễm trùng đường hô hấp

(RTIs- Respiratory Tract Infections) Các nhiễm trùng đường sinh sản bao gồm các nhiễm trùng nội sinh (Endogenous Infections) như viêm âm đạo vi

khuẩn, nấm men candida âm đạo; các nhiễm khuẩn do dụng cụ hoặc thủ thuật

y tế không vô khuẩn- hay còn gọi là nhiễm trùng y sinh (Iatrogenic

Infections) và các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (Sexually Transmitted InfecẢnh hưởng của đại dịch AIDS (Acquired Immunodeficency

Syndrome) càng làm tăng lên sự cần thiết phòng chống và điều trị các bệnhlây truyền qua đường tình dục Các bệnh này có thể lây truyền khi quan hệtình dục không an toàn Khi bị mắc STI, đặc biệt các bệnh gây loét sinh dục(Genital Ulcers Diseases) làm tăng nguy cơ nhiễm HIV Theo các chuyên giacủa Tổ chức Y tế thế giới thì nguy cơ mắc HIV cao gấp 2 đến 5 lần, nếu nhưmột trong hai người bạn tình bị STI; với những người bị các bệnh có loét sinhdục thì nguy cơ lây nhiễm HIV tăng lên đến 9 lần Ở những người nhiễm HIVthì không những họ dễ bị nhiễm STI khi quan hệ tình dục với người bị bệnh

mà việc điều trị các STI cũng trở nên rất khó khăn, bệnh thường ít đáp ứngvới các điều trị thông thường

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có ít nhất 1/10người đang ở tuổi hoạt động tình dục bị một bệnh LTQĐTD Bệnh LTQĐTD

có ảnh hưởng rất quan trọng đến sức khỏe con người, đặc biệt với phụ nữ vàtrẻ sơ sinh Bệnh có thể ảnh hưởng đến thai nhi trong quá trình mang thai nhưgiang mai, nhiễm Cytomegalovirus, nhiễm vi rút Herpes , thai yếu và thaichết lưu, sảy thai, đẻ non Lậu mắt ở trẻ sơ sinh có thể dẫn đến mù vĩnh viễn

Ở phụ nữ không điều trị kịp thời có thể bị nhiều biến chứng do bệnh gây nênnhư viêm hố chậu, vô sinh, chửa ngoài tử cung, ung thư cổ tử cung Ở cácnước đang phát triển thuộc Châu Phi, Châu Á - các bệnh STD là một trongnăm bệnh thường gặp nhất

Số lượng các bệnh STD toàn cầu theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới hàng năm

Trang 8

Ở Việt Nam, số bệnh nhân khám bệnh LTQĐTD theo báo cáo mà Viện

Da liễu nhận được hàng năm trên 130.000 trường hợp Tuy nhiên, theo ướctính của các chuyên gia thì hàng năm có khoảng gần 1 triệu trường hợp mớimắc Đa số bệnh nhân bị bệnh tự mua thuốc điều trị hoặc đến chữa trị tại cácthầy thuốc tư

Để có thể có được bức tranh tổng quát về các bệnh LTQĐTD của ViệtNam, qua các báo cáo thu nhận được từ các địa phương trong toàn quốc,chúng tôi phân tích, đánh giá về bệnh này qua các năm từ 1996 đến 2010

2 Tổng số bệnh nhân mắc nhiễm trùng LTQĐTD trong từng năm

Tổng số bệnh nhân mắc nhiễm trùng LTQĐTD từ năm 1996 đến 2010

Trang 9

Biểu đồ 1 Diễn biến tình hình nhiễm trùng LTQĐTD từ 1996 đên 2010.

Trang 10

Tổng số bệnh nhân mắc nhiễm trùng LTQĐTD được thu thập trong

thời gian từ 1996 đến 2010 qua báo cáo của các địa phương là 2.470.701 bệnhnhân Từ giữa thập kỷ 90, Viện Da liễu đã tổ chức được các lớp đào tạo về

chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng LTQĐTD, các học viên từ các

tỉnh/thành phố được cung cấp tài liệu và xem các hình ảnh dương bản vềSTIs Mục tiêu của các khoá học này là hướng dẫn các học viên kiểm soátSTIs thông qua việc tiếp cận hội chứng Năm 1996, Viện Da liễu phát hànhcuốn hướng dẫn kiểm soát các bệnh LTQĐTD, trong đó cũng nhấn mạnhchẩn đoán và điều trị STIs thông qua tiếp cận hội chứng Tài liệu nhấn mạnhtới 4 hội chứng do 8 căn nguyên gây bệnh thường gặp, đó là:

- Hội chứng tiết dịch niệu đạo gây ra bởi lậu cầu và C trachomatis

- Hội chứng tiết dịch âm đạo gây ra bởi lậu cầu, C trachomatis (gây viêm

cổ tử cung), Trichomonas,Candida albicans, và Gardnerella vaginalis/VK kỵ

khí (gây viêm âm hộ âm đạo)

- Hội chứng đau bụng dưới hoặc là viêm tiểu khung gây ra bởi lậu

cầu, C.trachomatis và vi khuẩn kỵ khí.

- Hội chứng loét sinh dục do xoắn khuẩn giang mai, H.ducrey, vi rút

herpes

Do đó, số bệnh nhân LTQĐTD được phát hiện tăng nhanh từ năm 1996đến năm 1998 Sau đó, số lượng bệnh nhân được phát hiện hàng năm daođộng ở mức cao, trong đó cao nhất là năm 2010 (348.134bệnh nhân)

- HIV là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh Human deficiency Virus (Virusgây suy giảm miễn dịch ở người) HIV có 2 týp làHIV-1 và HIV-2

Immuno-AIDS là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Acquired Immuno Deficiency Syndrom (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) Trước đây,bệnh được gọi là SIDA (viết tắt từ tiếng Pháp: Syndrome d'ImmunoDeficience Acquise), nhưng do tên này trùng với tên của Tổ chức phát triển

Trang 11

quốc tế Thụy Điển SIDA và tên của Tổ chức CIDA (Canađa) cũng gọi là "Siđa" nên thống nhất gọi là AIDS để tránh nhầm lẫn và phù hợp với tên quốc tế.

AIDS là một bệnh mạn tính do HIV gây ra HIV phá huỷ các tế bào của

hệ miễn dịch, khiến cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn

và nấm gây bệnh Do đó bệnh nhân dễ bị một số loại ung thư và nhiễm trùng

cơ hội mà bình thường có thể đề kháng được

Bản thân virus và nhiễm trùng được gọi là HIV Thuật ngữ AIDS đượcdùng để chỉ giai đoạn muộn hơn của bệnh Như vậy, thuật ngữ nhiễmHIV/AIDS được dùng để chỉ những giai đoạn khác nhau của cùng một bệnh

Mặc dù tỉ lệ nhiễm bệnh đang giảm dần do mức tăng dân số và nhiềungười nhiễm bệnh sống lâu hơn nhờ các loại thuốc mới, nhưng thực sự con sốngười nhiễm bệnh lên cao nhất từ trước tới nay Tiến sỹ Peter Piot, Giám đốc

cơ quan UNAIDS cho biết, con số người nhiễm HIV trên thế giới vẫn tiếp tụctăng lên và chưa có xu hướng giảm

Trong một phần tư thế kỷ kể từ khi những trường hợp nhiễm bệnhAIDS đầu tiên được biết đến tại Hoa Kỳ, 25 triệu người đã chết vì căn bệnhnày và ngày nay gần 40 triệu người trên khắp thế giới đang nhiễm virus HIV,một nửa trong số này là phụ nữ

Theo báo cáo này, Sahara là nơi có số người nhiễm HIV cao nhất trênthế giới với gần 2/3 dân số, tiếp đến là châu Á Thái Bình Dương với 8,3 triệungười nhiễm HIV Tuy nhiên, Đông Âu và Trung Á lại là khu vực có tốc độlây nhiễm khủng khiếp nhất thế giới

Quốc gia bị ảnh hưởng nhất là nước Swaziland bé nhỏ nơi một phần bangười lớn bị nhiễm vi rút HIV Tuy nhiên Kenya và Zimbabwe được báo cáo

là con số nhiễm HIV tại đây đã có giảm bớt

Nam Phi vẫn là nước có số người nhiễm HIV cao nhất tại Châu Phi 5,5triệu người lớn mang virus HIV

Ấn Độ đã vượt qua Nam Phi để trở thành quốc gia có nhiều người sốngchung với HIV nhất thế giới Số ca có HIV ở quốc gia đông dân thứ nhì hành

Trang 12

tinh hiện chiếm 2/3 tổng số ca nhiễm loại virus chết người này trên toàn Châu

Á Ước tính đến cuối năm 2005, có 5,7 triệu người Ấn Độ sống chung vớiHIV Tuy nhiên, tỷ lệ số người lớn có HIV ở quốc gia Nam Á này là 0,9%,thấp hơn rất nhiều so với Nam Phi (18,8%)

Ước tính có khoảng 270.000 - 680.000 bệnh nhân AIDS ở Ấn Độ đãchết kể từ khi trường hợp AIDS đầu tiên được phát hiện vào năm 1981 Cácbang ở miền nam Ấn Độ thường là những nơi đại dịch AIDS hoành hànhmạnh nhất Theo Cơ quan phòng chống AIDS của LHQ, hầu hết các trườnghợp mắc bệnh ở nước này đều là do quan hệ tình dục không an toàn

Campuchia và Thái Lan đã giảm tỉ lệ nhiễm bệnh nhưng UNAIDS chobiết Việt Nam, Indonesia và Papua New Guinea đang là những điểm đáng longại

Việc sử dụng ma túy đang là nguyên nhân dẫn tới tình trạng gia tăngngười nhiễm AIDS tại Nga và Ukraina

Việc sử dụng ma túy đang là nguyên nhân dẫn tới tình trạng gia tăngngười nhiễm AIDS tại Nga và Ukraina

HIV và AIDS ở Việt Nam

Số người sống với HIV ở Việt Nam

Số trường hợp nhiễm HIV còn sống tính đến 31/3/2009 144.438

Tỷ lệ nhiễm HIV ước tính ở độ tuổi từ 15-49 0.53 %

Các ca tử vong do AIDS

Các trường hợp tiến triển thành AIDS

Ngày đăng: 29/03/2016, 13:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w