Từ tháng 1 năm 2009 theo Quyết định số: 34 ngày 9/01/2009 của UBND tỉnh Hà Nam Công ty chuyển đổi thành Công ty TNHH nhà nước một thành viên hoạt động theo Luật doanh nghiệp về bản chất
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM TRỌNG DƯƠNG
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY THUỶ LỢI HUYỆN KIM BẢNG, HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM TRỌNG DƯƠNG
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY THUỶ LỢI HUYỆN KIM BẢNG, HÀ NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Trọng Dương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy Cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Với tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, Khoa Kinh tế Chính trị - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội Đặc biệt xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Việt Tiến giảng viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp tại Công ty Khai thác công trình thuỷ lợi huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin cám ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, chia sẻ và động viên tôi
hoàn thành bản luận văn này
Tác giả luận văn
Phạm Trọng Dương
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Khái quát về doanh nghiệp công ích và tài chính doanh nghiệp công ích 8
1.2.1 Doanh nghiệp công ích: Quan niệm, đặc điểm và vai trò .8
1.2.2 Tài chính DNCI: Khái niệm, đặc điểm và vai trò .19
1.3 Những vấn đề cơ bản về quản lý tài chính DNCI .24
1.3.1 Quan niệm về quản lý tài chính DNCI .24
1.3.2 Đối tượng và mục tiêu quản lý 25
1.3.3 Tổ chức thực hiện quản lý tài chính 28
1.3.4 Kiểm tra, giám sát về quản lý tài chính doanh nghiệp công ích 36
1.3.5 Những nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết quản lý tài chính DNCI .37
1.3.6 Tiêu chí đánh giá quản lý tài chính của DNCI thuỷ lợi 44
1.4 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại một số DNCI và bài học kinh nghiệm rút ra cho quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng .45
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại một số DNCI 45
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam .49
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 53
2.1 Cách tiếp cận 53
2.2 Thiết kế nghiên cứu 53
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 53
Trang 62.2.2 Khung nghiên cứu 54
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 55
2.3.1 Các phương pháp luận 55
2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: 55
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin 57
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY THỦY LỢI HUYỆN KIM BẢNG, HÀ NAM 58
3.1 Khái quát về Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam .58
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty thuỷ lợi Kim Bảng, Hà Nam .58
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Công ty .59
3.2 Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam .62 3.2.1 Thực trạng xác định đối tượng và mục tiêu quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam .62
3.2.2 Thực trạng thực hiện quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam .67
3.2.3 Thực trạng kiểm tra, giám sát về quản lý tài chính của Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam .84
3.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam .86
3.3.1 Những thành tựu đạt được 86
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế .90
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY THUỶ LỢI HUYỆN KIM BẢNG, HÀ NAM 97
4.1 Những định hướng làm căn cứ đề xuất phương hướng hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam .97
4.1.1 Chiến lược phát triển của ngành Thuỷ lợi Việt Nam .97
4.1.2 Định hướng của UBND tỉnh Hà Nam với 3 Công ty khai thác công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh .98
4.1.3 Định hướng phát triển của Công ty thuỷ lợi Kim Bảng, Hà Nam 100
Trang 74.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi Kim Bảng, Hà
Nam 101
4.2.1 Hoàn thiện quản lý tài chính phải phù hợp cơ chế quản lý của Nhà nước về loại hình doanh nghiệp này, phù hợp với nguyên tắc của thị trường và phù hợp với nhu cầu của xã hội với sản phẩm, dịch vụ thuỷ lợi của Công ty 101
4.2.2 Hoàn thiện quản lý tài chính phải phù hợp với sự đổi mới mô hình tổ chức sản xuất cung ứng dịch vụ thuỷ lợi 102
4.2.3 Hoàn thiện quản lý tài chính phải đảm bảo tính minh bạch, tăng lòng tin của chủ sở hữu đồng thời nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quản lý tài chính Công ty 104
4.2.4 Hoàn thiện quản lý tài chính phải phát huy được các nguồn lực của Công ty 105
4.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi Kim Bảng, Hà Nam 106 4.3.1 Xác định đúng và thực hiện tốt đối tượng và mục tiêu quản lý tài chính 106 4.3.2 Hoàn thiện quy trình quản lý tài chính 111
4.3.3 Hoàn thiện phương thức quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi Kim Bảng, Hà Nam 113
4.3.4 Nâng cao hiệu lực của bộ máy và trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý tài chính 116
4.3.5 Hoàn thiện các công cụ quản lý tài chính 117
4.3.6 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát tổ chức thực hiện quản lý tài chính tại công ty 120
4.3.7 Tăng cường cơ sở vật chất để thực hiện việc quản lý tài chính có hiệu quả, đúng mục tiêu đề ra 122
4.4 Một số kiến nghị 123
KẾT LUẬN 126
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CBCNV Cán bộ công nhân viên
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 3.1 Nguồn thu theo thanh lý hợp đồng đặt hàng 63
2 Bảng 3.2 Bảng tổng hợp quản lý và phân bổ vốn theo kế hoạch các năm 65
3 Bảng 3.3 Tổng hợp so sánh quản lý phân bổ và sử dụng các quỹ
4 Bảng 3.4 Tổng hợp nguồn thu của công ty qua các năm 70
5 Bảng 3.5 Tổng hợp chi phí của công ty qua các năm 71
6 Bảng 3.6 Bảng định mức hỗ trợ phí điện thoại 73
8 Bảng 3.8 Tổng hợp chênh lệch thu chi tài chính qua các năm 75
9 Bảng 3.9 Chênh lệch thu - chi và trích lập các quỹ qua các năm 76
10 Bảng 3.10 Bảng hệ số lương, phụ cấp CBCNV Công ty 82
11 Bảng 3.11 Kết quả kểm tra thanh tra phát hiện sai phạm qua các năm 84
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 1.1 Sơ đồ quy trình quản lý tài chính Doanh nghiệp công ích 30
2 Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty thuỷ lợi Kim Bảng 62
3 Sơ đồ 3.2 Sơ đồ quy trình quản lý tài chính Công ty thuỷ lợi Kim
4 Sơ đồ 3.3 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính của Công ty thuỷ lợi
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các khoản tiền gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền mặt của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, trong đó, bộ máy kế toán sẽ điều hành toàn bộ hoạt động tài chính doanh nghiệp Chính vì thế vai trò của việc quản lý tài chính rất quan trọng, nó tồn tại và tuân theo quy luật khách quan, và
bị chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong công tác quản
lý công ty, bao gồm lên kế hoạch sử dụng các nguồn vốn, đảm bảo thực hiện các dự
án sản xuất và kinh doanh, theo dõi và đánh giá, điều chỉnh kịp thời kế hoạch tài chính, quản lý công nợ của khách hàng, của các đối tác để từ đó thực hiện báo cáo cho các cấp lãnh đạo… Tất cả những công việc như vậy rất cần cho nhà quản lý trong việc hoạch định nguồn lực tài chính
Như chúng ta đã biết trong thời gian qua, tuy các doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của nước ta, bên cạnh nhiều doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả đóng góp lớn cho ngân sách đất nước, thì còn nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả thậm chí phá sản mà điển hình trong thời gian qua là Tập đoàn Vinashin, Tập đoàn Vinalines, Ngân hàng ACB, lương
“khủng” của một số giám đốc DNCI trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh… Một
trong những nguyên nhân chính là do sự quản lý tài chính yếu kém và lỏng lẻo tại các tập đoàn, các doanh nghiệp nói trên
Doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi là loại hình doanh nghiệp đặc thù khác biệt so với loại hình doanh nghiệp khác như: về sản phẩm, hình thái vật chất, giá trị và giá
cả của nó Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường thì hoạt động của loại doanh nghiệp này gặp rất nhiều khó khăn nguyên nhân chủ yếu
là do hệ thống chính sách quản lý được hình thành từ thời bao cấp Gần đây nhà nước đã ban hành một số chính sách và cơ chế hoạt động cho loại hình doanh
Trang 12nghiệp này như chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ doanh nghiệp công ích sang công ty TNHH một thành viên hoạt động theo luật doanh nghiệp và nguồn thu chủ yếu của doanh nghiệp là TLP cấp bù từ chính sách miễn thu TLP của Chính phủ nhưng về bản chất vẫn là doanh nghiệp vốn nhà nước hoạt động công ích
Công ty TNHH một thành viên khai thác công trình thuỷ lợi huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam viết tắt (Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) Trước năm 2009 là doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích nguồn thu chủ yếu từ thuỷ lợi phí do các hộ dùng nước chi trả Từ tháng 1 năm 2009 theo Quyết định số: 34 ngày 9/01/2009 của UBND tỉnh Hà Nam Công ty chuyển đổi thành Công ty TNHH nhà nước một thành viên hoạt động theo Luật doanh nghiệp về bản chất vẫn là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích với nguồn thu chủ yếu là nguồn kinh phí cấp bù thuỷ lợi phí của nhà nước thông qua việc ký hợp đồng đặt hàng tưới, tiêu toàn bộ diện tích đất canh tác nông nghiệp trong vùng thuỷ lợi của công ty quản lý với nhà nước qua sở NN và PTNT Hà Nam
Trong những năm gần đây quản lý tài chính tại công ty đã mang lại hiệu quả hơn trước, phục vụ tốt hơn cho mặt trận nông nghiệp, công nghiệp, đời sống dân sinh và môi trường sinh thái trên địa bàn Thành công này là do sự đổi mới mô hình
tổ chức sản xuất, mô hình quản lý, các kế hoạch sản xuất kinh doanh, các dự án đầu
tư, kiểm soát tài chính của Công ty đã làm chặt chẽ công khai và dân chủ hơn Hay nói cách khác quản lý tài chính của Công ty về các hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao hơn trước khi chuyển đổi doanh nghiệp
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công nói trên thì quản lý tài chính của Công ty còn nhiều vấn đề cần phải hoàn thiện hơn như: quy trình quản lý tài chính, phương thức quản lý, công cụ quản lý, kiểm tra tài chính… nhằm mục đích đem lại hiệu quả ngày càng cao hơn cho công ty Đây cũng chính là những vấn đề cần đặt
ra và cần phải giải quyết đối với Công ty thủy lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam
Nhằm góp phần nhỏ bé và giải quyết những vấn đề trên, học viên mạnh dạn chọn đề tài sau làm Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế:
“Quản lý tài chính tại Công ty Thuỷ lợi huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam”
Trang 132 Câu hỏi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn tập trung trả lời câu hỏi: Làm thế nào để tăng hiệu quả sử dụng,
tránh thất thoát vốn Nhà nước và sử dụng vốn Nhà nước đúng mục đích tại doanh nghiệp công ích thuỷ lợi?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục tiêu:
- Hệ thống hóa lý luận về quản lý tài chính ở loại hình DNCI
- Khảo sát thực trạng quản lý tài chính tại Công ty thủy lợi huyện Kim Bảng,
Hà Nam
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng , Hà Nam
Đề thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của luận văn là:
- Phân tích vai trò, đặc điểm của các doanh nghiệp công ích, những nét đặc thù của loại hình doanh nghiệp này
- Phân tích nội dung, các nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết quản lý tài chính tại doanh nghiệp công ích Trên cơ sở đó phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi Kim Bảng, rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
- Dựa trên cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi Kim Bảng, luận văn đưa ra hệ thống phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty, qua đó góp phần giải quyết các vấn đề tồn tại trong quản lý tài chính của Công ty
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý tài chính của công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu tình hình thực thi chính sách miễn TLP nông nghiệp từ đó xác định nguồn thu chủ yếu tại công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam và nghiên cứu việc hạch toán thu, chi tài chính của công
Trang 14ty, phân bổ và sử dụng nguồn kinh phí cấp bù TLP và các nguồn thu khác, quyết toán tài chính thực tế hàng năm chỉ ra những thuận lợi và khó khăn, tính ưu việt và tồn tại đưa ra những giải pháp nâng cao quản lý tài chính, điều hành doanh nghiệp
- Phạm vi về không gian: Khảo sát thực tiễn về quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên khai thác công trình thuỷ lợi huyện Kim Bảng viết tắt (Công
ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam)
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2011 đến nay Số liệu thu thập được từ các tài liệu đã công bố quyết toán hàng năm của công ty và số liệu điều tra chủ yếu trong khoảng thời gian năm 2011 – 2014
5 Những đóng góp của luận văn
- Là công trình bước đầu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện quản lý tài chính của doanh nghiệp công ích
- Xác định thực trạng, những nhân tố ảnh hưởng và tính tất yếu khách quan cũng như là sự cần thiết phải hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi huyện Kim Bảng, Hà Nam
- Đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty thuỷ lợi Kim Bảng, Hà Nam
- Luận văn cũng có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, sắp xếp đổi mới doanh nghiệp công ích loại hình KTCT TL nói chung
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục, luận văn kết cấu gồm 4 chương :
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm
thực tiễn về quản lý tài chính tại doanh nghiệp công ích
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu và khung nghiên cứu của luận văn Chương 3 Thực trạng quản lý tài chính tại công ty thuỷ lợi huyện Kim
Bảng, Hà Nam
Chương 4 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại công
ty thuỷ lợi Kim Bảng, Hà Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học đã được công
bố trong lĩnh vực quản lý tài chính doanh nghiệp có thể nêu một số công trình điển hình sau:
- “Quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”
(2013 Học viện Tài Chính) là đề tài nghiên cứu cấp học viện năm 2013 của tập thể tác giả TS Nguyễn Thị Thu Hương chủ nhiệm đề tài và các cộng sự, đề tài đã đánh giá đúng thực trạng hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước về quản trị doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian vừa qua và đề xuất một số giải pháp chủ yếu có căn cứ khoa học và cơ sở thực tiễn nhằm hoàn thiện khung pháp luật về quản trị doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian tới Tuy nhiên đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu
về hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Nam về quản trị doanh nghiệp Nhà nước, đối chiếu hệ thống các văn bản pháp luật của Việt Nam về quản trị doanh nghiệp nhà nước với các cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới và thông lệ kinh tế thị trường chưa nghiên cứu sâu về đặc thù quản lý tài chính của một doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích phục vụ xã hội
- “Pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ công thực trạng và giải pháp” là luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quang Vỹ bảo vệ năm 2013 luận án
nêu bật nên được thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay, tìm ra những điểm bất cập, chưa phù hợp từ đó đề xuất phương hướng và những giải pháp làm cơ sở khoa học cho hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ở Việt Nam Luận án mang tầm vĩ mô đi sâu vào giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dịch vụ công chưa đề cập được kinh nghiệm quản lý ở một doanh nghiệp cụ thể
Trang 16- Ngoài những công trình khoa học lớn trên thì nhóm đề tài khoa học nghiên cứu cụ thể về quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công, doanh nghiệp sau khi cổ
phần có các đề tài: “Hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty cổ phần ô tô Nghệ
An” luận văn Thạc sĩ kinh tế Bùi Công Minh năm 2014, đề tài: “Quản lý tài chính tại Nhà khách Tổng Liên đoàn, thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam” tác giả
luận văn Mai Thị Chung năm 2014, đề tài : “Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư - Xây dựng Hà Nội” tác giả luận
văn Phạm Thị Phương Thuý năm 2013, đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý tài
chính ở Học viện tài chính trong điều kiện thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính” luận văn thạc sĩ Phạm Thanh Hà năm 2013
Nhóm đề tài luận văn thạc sỹ này đã đề cập các vấn đề về quản lý tài chính chung của một doanh nghiệp, của đơn vị sự nghiệp công với một đơn vị cụ thể chưa
cơ sở hoá lý luận quản lý tài chính của doanh nghiệp công ích và chưa đi sâu nghiên cứu các giải pháp quản lý tài chính hay quản lý vốn Nhà nước tại một doanh nghiệp công ích 100% vốn Nhà nước
Một số bài viết của các chuyên gia kinh tế, các nhà khoa học viết về quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước nói chung như:
- Cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, tác giả Nguyễn
Năng Phúc, Tạp chí Kế toán, ngày 5/6/2006
Trong bài viết, tác giả đã phân tích nguyên nhân về cơ chế tài chính khiến các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả Nguyên nhân hàng đầu là do doanh nghiệp nhà nước còn phụ thuộc tài chính vào nhà nước mà thiếu tính chủ động Bài viết phân tích chi tiết khía cạnh về sở hữu và quyền với vốn, tài sản, lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước Dựa trên phân tích đó, bài viết đưa ra một cơ chế mới về quản lý tài chính của các doanh nghiệp nhà nước Cơ chế này tăng tính năng động và chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp nhà nước để tăng tính hiệu quả của các doanh nghiệp này
Bài viết đã chỉ ra được tính tất yếu của việc đổi mới cơ chế tài chính của các doanh nghiệp nhà nước trong thời buổi kinh tế thị trường góp phần xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng của nhà nước Việt Nam
Trang 17- Xây dựng cơ chế quản lý tài chính của tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam, tác giả Nguyễn Anh Thư Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông,
năm 2006
Bài nghiên cứu về Cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (tên viết tắt là VPN) Trong đó bao gồm hai nội dung chính
đó là:
+ Cơ chế quản lý tài chính của VNP đối với các đơn vị thành viên
+ Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với VNP
Bài viết chỉ ra được những bất cập về cơ chế quản lý vốn của Tổng Công ty với các công ty con trong những giai đoạn trước đây trong việc phân cấp và quản lý vốn Bài viết trình bày về sự chuyển đổi cơ chế chủ sở hữu vốn của tổng công ty và các công ty con trong đó nói rõ sự thay đổi cách thức liên kết vốn kéo theo thay đổi trình tự và cách thức liên kết lợi nhuận Trên cơ sở phân tích về cơ chế quản lý mới, bài viết đề xuất hai phương án với nhà nước trên hai khía cạnh VNP là đơn vị kinh doanh và VNP là đơn vị công ích Bài viết đã phân tích và chỉ ra những ưu điểm của
cơ chế mới tuy nhiên do giới hạn về mặt thực tiễn (cơ chế trên mới được ban hành) nên chưa nhìn ra được nhược điểm của cơ chế này
- Quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Thực trạng và những
kiến nghị, tác giả TS Phạm Thị Vân Anh, Tạp chí tài chính bài đăng 27/10/2014
Bài viết đánh giá về thực trạng quản lý, sử dụng vốn tại doanh nghiệp dựa Số liệu báo cáo tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) 2014 - 2015 được tổ chức mới đây cho thấy, tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của các DN có vốn đầu tư nhà nước tương đối ổn định và thấy rằng Các DNNN tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong nền kinh tế; là công cụ quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội…Tuy nhiên, khi nền kinh tế lâm vào khó khăn kéo dài, hoạt động kinh doanh cũng như tình hình tài chính của các Tập đoàn, Tổng công ty đã bộc lộ nhiều hạn chế nguyên nhân chủ yếu
là do cơ chế, chính sách quản lý DNNN còn nhiều bất cập như: hệ thống quản trị nội bộ DN chưa đáp ứng được các yêu cầu quản lý, giám sát hiệu quả sử dụng các
Trang 18nguồn lực được Nhà nước giao; tính tuân thủ pháp luật, chế độ quản lý tài chính, công khai, minh bạch thông tin của các DN chưa được quan tâm đúng mức; sự tách bạch giữa nhiệm vụ kinh doanh với nhiệm vụ công ích của DN chưa rõ ràng; sự phân công, thực thi vai trò đại diện chủ sở hữu trong DNNN còn phân tán, chồng chéo
Bài viết cũng đề ra một số giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn nhà nước đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh tại DN, thúc đẩy nhanh tái cơ cấu DNNN
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết đã đề cập ở những mức độ khác nhau, trên nhiều khía cạnh khác nhau về quản lý tài chính nói chung trong đó có doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp cung ứng hàng hoá dịch vụ công, đơn vị sự nghiệp công Tuy nhiên, các đề tài khoa học đã nghiên cứu
đang còn “khoảng trống” chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ có hệ thống
cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện việc quản lý tài chính ở một DNCI cụ thể hoạt động trong lĩnh vực khai thác các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp và dân sinh Vì vậy đề tài vẫn mang tính cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn
1.2 Khái quát về doanh nghiệp công ích và tài chính doanh nghiệp công ích
1.2.1 Doanh nghiệp công ích: Quan niệm, đặc điểm và vai trò
1.2.1.1 Quan niện về doanh nghiệp công ích
- Khái niệm về hàng hoá công cộng (HHCC)
Với góc độ tiếp cận lý thuyết của kinh tế học hiện đại thế giới và quan niệm HHCC dưới góc độ lý thuyết ở nước ta: HHCC được xem xét như một đối tượng
của quản lý khu vực công cộng Coi "HHCC là những loại hàng hóa mà việc một cá
nhân này đang hưởng thụ lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó"
- Khái niệm và phân loại dịch vụ công
Từ góc độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các HHCC phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối
Trang 19với những hoạt động cung cấp HHCC Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tượng được hưởng HHCC cho rằng đặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do nhà
nước hoặc tư nhân đảm nhiệm Luận văn cho rằng “dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích
chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”
Dựa theo tiêu chí chủ thể cung ứng, dịch vụ công được chia thành ba loại, như sau:
+ Dịch vụ công do cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp
+ Dịch vụ công do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung cấp + Dịch vụ công do tổ chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân
phối hợp thực hiện
Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch
vụ công thành các loại như sau:
+ Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản
lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duy nhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan do nhà nước thành lập được ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công Đây là một phần trong chức năng quản lý nhà nước Để thực hiện chức năng này, nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụ trực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,… Người dân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường, mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan hành chính nhà nước, phần lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước
+ Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội
thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội
+ Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cơ bản,
thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai…chủ yếu do các doanh
Trang 20nghiệp nhà nước thực hiện Có một số hoạt động ở địa bàn cơ sở do khu vực tư nhân đứng ra đảm nhiệm như vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác thải ở một số đô thị nhỏ, cung ứng nước sạch ở một số vùng nông thôn…
- Quan niệm về DNCI
Theo quan điểm lịch sử cụ thể, phù hợp và thống nhất với khoa học kinh tế hiện đại và điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và hội nhập mạnh
mẽ hiện nay Về tên gọi, mặc dù chưa có sự thống nhất nhưng về bản chất ngữ nghĩa của thuật ngữ và quan niệm hoàn toàn không có sự mâu thuẫn, đáp ứng các đòi hỏi của công
cuộc cải cách kinh tế hiện nay có thể khái quát, quan niệm về loại hình DNCI là những
doanh nghiệp chuyên cung cấp “Dịch vụ công ích”, là cung cấp các hàng hoá, dịch vụ
cơ bản, thiết yếu cho người dân sản xuất, không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng rất cần thiết để bảo đảm sự phát triển cân đối của nền kinh tế, đảm bảo các mục tiêu xã hội
Ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay Chính phủ cho rằng: SP, DVCI
là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc đảm bảo quốc phòng, an ninh mà việc sản xuất, cung cấp theo cơ chế thị trường thì khó có khả năng bù đắp chi phí đối với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ này; do đó được Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định hoạt động
chủ yếu “không vì mục tiêu lợi nhuận”
Chính sách của Nhà nước được quy định rõ và cụ thể từng loại hình doanh
nghiệp, phương thức cung ứng SP, DVCI theo thứ tự ưu tiên: Đấu thầu, đặt hàng,
giao kế hoạch
Trên cơ sở tham khảo các quan điểm khác nhau và căn cứ vào nội dung của
pháp luật hiện hành, luận văn xác định: Doanh nghiệp công ích là tổ chức có chức
năng hoạt động kinh tế - xã hội, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký và hoạt động trong lĩnh vực cung ứng hàng hoá, dịch vụ công ích theo quy định của pháp luật
Trang 211.2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp công ích
Mỗi DNCI có các các hình thức cung ứng dịch vụ công và loại hình dịch vụ công khác nhau nên có đặc điểm, tính chất khác nhau, song chúng có những đặc điểm chung cơ bản như sau:
Doanh nghiệp công ích cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường
mà là hàng hóa đặc biệt do Nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng nhu cầu toàn xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật
Việc trao đổi SP, DVCI của DNCI không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước Cũng có những SP, DVCI
mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; song nhà nước vẫn có
trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận
Dưới góc độ kinh tế học, DNCI là các hoạt động cung ứng cho xã hội một loại hàng hoá công cộng Loại hàng hóa này mang lại lợi ích không chỉ cho những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng hóa này Ví dụ giáo dục đào tạo không chỉ đáp ứng nhu cầu của người đi học mà còn góp phần nâng cao mặt bằng dân trí và văn hoá của xã hội
Doanh nghiệp công ích dễ ngây ra tình trạng độc quyền về cung cấp của một
số loại hàng hoá công cộng mang tính chất thiết yếu Kinh nghiệm của nhiều nước những năm qua cho thấy rằng, trong cung ứng dịch vụ công, nhà nước chỉ trực tiếp thực hiện những loại dịch vụ công mà khu vực phi nhà nước không thể làm được và không muốn làm Nếu nhà nước không chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công ở các lĩnh vực thích hợp cho khu vực phi nhà nước và cải cách việc cung ứng dịch vụ công của các cơ quan nhà nước, thì hiệu quả cung ứng dịch vụ công về tổng thể sẽ
bị giảm sút, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người dân và sự phát triển chung của toàn xã hội
Doanh nghiệp công ích cũng có những đặc điểm về kinh tế và pháp lý như các loại hình doanh nghiệp khác: là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân được
Trang 22thành lập một cách hợp pháp, có tài sản riêng và chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản đó, có quyền quyết định độc lập về các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, có quyền nhân danh mình trong các quan hệ pháp luật và DNCI cũng có đặc điểm như DNNN khác là do Nhà nước đầu từ vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước, tài sản của DNCI là một bộ phận của tài sản Nhà nước, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và sử dụng vốn mà Nhà nước giao đúng mục đích
Doanh nghiệp công ích mang tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị
xã hội và bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các SP, DVCI của doanh nghiệp Từng doanh nghiệp công ích cụ thể mang những đặc điểm riêng phụ thuộc vào các tiêu chí của DN như: Tính chất, mục đích, nhiệm vụ, cách thức tổ chức bộ máy quản trị, mức độ chủ động trong cung ứng hàng hóa, dịch vụ công, đối tượng cung ứng hàng hóa, dịch vụ công của doanh nghiệp, đảm nhận việc sản xuất, cung ứng, tiêu thụ và trao đổi hàng hóa trên thị trường Ngoài những đặc điểm riêng của từng loại hình DNCI thì Luận văn thấy rằng tất cả các DNCI có một đặc điểm
chung nhất, nổi bật, cơ bản và quan trọng nhất đó là tính kinh tế, lợi nhuận không
phải là điều kiện tiên quyết chi phối hoạt động của DNCI Vì vậy Luận văn xác
định DNCI là doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư vốn, tổ chức quản lý và kiểm soát,
hoạt động “không nhằm mục tiêu lợi nhuận”, và chính mục tiêu hoạt động “không
vì mục tiêu lợi nhuận” này là đặc điểm quan trọng nhất thể hiện bản chất của nó 1.2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp công ích
Cả lý thuyết và thực tiễn đều khẳng định, trong nền KTTT định hướng XHCN không thể thiếu khu vực kinh tế nhà nước vững mạnh, đủ khả năng đóng vai trò chủ đạo trong nền KTTT định hướng XHCN Trong thành phần kinh tế nhà nước những DNNN giữ các vị trí then chốt của nền kinh tế quốc dân
Vai trò của DNCI là cung cấp HHCC, vai trò của HHCC được thể hiện tập trung trên ba khía cạnh cơ bản sau:
Trang 23Một là, trên thị trường có nhiều "chỗ trống" do tính phi hiệu quả hoặc do sự
cấm đoán của pháp luật trong việc cung ứng các hàng hóa và dịch vụ, DNCI góp phần lấp những chỗ trống này Từ đó nó tham gia vào sự hình thành một môi trường kinh doanh ổn định, đóng góp tích cực và không thể thiếu cho việc nâng cao hệ thống kinh tế - xã hội nói chung Các doanh nghiệp khác không thể có điều kiện kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao nếu thiếu sự cung ứng kịp thời và đầy đủ các hàng hóa và dịch vụ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng và hạ tầng kỹ thuật
Hai là, xét trên phương diện sản xuất xã hội có hai phương thức phân bổ
nguồn lực, phân bổ thị trường áp dụng chủ yếu cho các hàng hóa cá nhân và phân
bổ phi thị trường áp dụng chủ yếu cho các HHCC Nếu như tất cả mọi hàng hóa đều
là hàng hóa cá nhân và mọi nguồn lực đều được phân bổ thông qua thị trường sẽ dẫn tới sự bất bình đẳng, các DNCI góp phần tạo ra sự công bằng Các công dân sinh sống ở các vùng khác nhau, có địa vị xã hội khác nhau, có mức thu nhập khác nhau có thể hưởng thụ một số lợi ích tối thiểu như nhau là minh chứng cho vai trò của loại hình doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận này
Ba là, giá trị của các HHCC thể hiện ở những mặt tích cực của hàng hóa này
mang lại đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, cung cấp HHCC còn góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế vùng, ngành và cân đối sự phát triển kinh
tế của đất nước Tác dụng điều tiết và cân đối thể hiện rõ trong các chương trình đầu
tư vào kết cấu hạ tầng nông thôn, miền núi, các chương trình về giáo dục, nước sạch, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe
Như vậy luận văn cũng rút ra vai trò của của DNCI là: Doanh nghệp công
ích đảm bảo sự phát triển ổn định, bình đẳng, công bằng của các đối tượng thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ công; đảm bảo phát triển chế độ xã hội theo chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước; xây dựng cơ sở hạ tầng cho sự phát triển; góp phần thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh…; là công cụ điều hành của Nhà nước đối với sự phát triển của một số hoạt động, lĩnh vực đặc thù trong quản lý, cũng là những nhu cầu bức thiết của đời sống xã hội
Trang 241.2.1.4 Doanh nghiệp công ích KTCT thuỷ lợi
Doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi là doanh nghiệp hoạt động công ích cung ứng dịch vụ hàng hoá công cộng, khai thác cơ sở kinh tế kỹ thuật hạ tầng phục vụ kinh
tế xã hội dân sinh, có tư cách pháp nhân, tự chủ về tài chính, hoạt động theo phương thức hạch toán kinh tế, được Nhà nước hỗ trợ về mặt tài chính hiện nay nguồn tài chính hoạt động chủ yếu từ nguồn cấp bù TLP theo NĐ 67/2012/NĐ-CP ngày 10/9/2012 trong đó quy định đối tượng miễn thu thuỷ lợi phí và xác định mức thu TLP có nhiệm vụ điều hoà, phân phối nước bảo đảm yêu cầu sản xuất, giữ gìn nguồn nước trong lành, bảo vệ môi trường sinh thái
Vai trò của doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi
Thứ nhất, đối với sản xuất nông nghiệp
Doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi có vai trò quan trọng trong việc chủ động tưới tiêu nước cho diện tích đất canh tác, mở rộng diện tích canh tác, góp phần thay đổi
cơ cấu mùa vụ Chủ động được nước sẽ làm tăng vụ kèm theo là làm tăng diện tích cây trồng trong năm
Thứ hai, đối với công nghiệp giao thông, du lịch
Đối với sản xuất công nghiệp: Trong sản xuất công nghiệp yêu cầu nước
không lớn như trong nông nghiệp nhưng đòi hỏi chất lượng và mức độ bảo đảm cao hơn, khi sự nghiệp công nghiệp hoá càng được đẩy mạnh thì càng phải phát triển thủy lợi tương ứng để khai thác tài nguyên nước phục vụ cho các ngành kinh tế bảo đảm đời sống nhân dân ở các khu công nghiệp và thành thị
Đối với giao thông vận tải, du lịch: Ở nước ta giao thông vận tải đường vẫn là
một trong những phương tiện giao thông vận tải có hiệu quả kinh tế Cả nước có nhiều sông ngòi, kênh rạch thuận lợi cho giao thông phát triển, các hệ thống công trình này gắn với cảnh quan thiên nhiên tạo thêm thẩm mỹ và đã trở thành các khu du lịch, tham quan, nghỉ mát, góp phần phát triển kinh tế du lịch cho một số địa phương
Thứ ba, đối với đời sống dân sinh, cải tạo môi trường sinh thái và phòng chống thiên tai
Trang 25Có thể nói nước trong đời sống con người hầu hết đều có liên quan đến các công trình thuỷ lợi, nước vô cùng cần thiết cho sức khoẻ và đời sống con người, cung cấp nước sạch cho nhu cầu sống của nhân dân Hiện nay tài nguyên nước đang
ô nhiễm, cạn kiệt, suy thoái Việc đảm bảo vệ sinh môi trường cho nhân dân thì công trình thuỷ lợi có một ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng để cải thiện điều kiện khí hậu trong vùng lân cận, cải thiện mực nước ngầm, tạo thuận lợi cho việc trồng cây gây rừng, duy trì dòng chảy trong mùa khô, hạn chế nước mặn xâm nhập quá sâu vào đất liền, từng bước hình thành sự cân bằng mới về môi sinh, hạn chế được lũ lớn của các dòng sông, mặt khác cũng thông qua công trình thủy lợi để cắt
lũ và xả lũ khi có lũ lớn xảy ra, hạn chế thấp nhất mức thiệt hại
Đặc điểm của các doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi
Thứ nhất, hoạt động KTCT TL mang tính hệ thống cao
Hoạt động quản lý khai thác công trình thủy lợi diễn ra trong phạm vi rộng
do công trình mang tính hệ thống, nó bao gồm nhiều loại công trình có liên hệ mật thiết với nhau và yêu cầu đồng bộ Một hệ thống công trình phải bao gồm: công trình đầu mối: hồ, đập, trạm bơm điện, kênh dẫn cấp I, cấp II, cấp III và kênh nội đồng, trên các tuyến kênh có các cống lấy nước cửa đóng mở tuỳ khả năng nguồn nước của từng công trình đầu mối mà quy định phạm vi phục vụ, có thể phục vụ cho 1 xã, 1 huyện hoặc liên huyện, liên tỉnh
Thứ hai, hoạt động của các doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên không hoàn toàn thuận lợi cho sản xuất và đời sống của con người Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người là quá trình đấu tranh cải tạo tự nhiên, vận dụng các quy luật tự nhiên để phục vụ cho đời sống con người Hoạt động khai thác công trình thuỷ lợi là một trong những hoạt động vận dụng các quy luật tự nhiên, cải tạo tự nhiên, khắc phục hậu quả do thiên nhiên gây ra, do đó chịu sự chi phối ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên
Mặt khác điều kiện tự nhiên còn ảnh hưởng đến hoạt động quản lý, chi phối đến chi phí và thu nhập hàng năm của doanh nghiệp Tuy hiện nay các donh nghiệp
Trang 26KTCT thuỷ lợi đang hoạt động dựa trên các định mức kinh tế - kỹ thuật, nhà nước giao kế hoạch sản xuất nhưng do diễn biến thời tiết khá phức tạp, nhất là những năm gần đây nắng hạn kéo dài mưa, lũ lớn vượt tần suất Vào những năm thời tiết như vậy thì chi phí bỏ ra của các doanh nghiệp rất lớn, tài sản máy móc thiết bị công trình bị hỏng hóc Đây là một yếu tố rất quan trọng trong lúc lập kế hoạch sản xuất tài chính hàng năm cần phải được đề cập đến và phải có chủ trương chính sách
dự phòng
Thứ ba, hoạt động KTCT thuỷ lợi mang tính xã hội hoá cao
Do đặc điểm của điều kiện tự nhiện, địa hình nguồn nước mà từ việc quy hoạch thiết kế đến xây dựng công trình thuỷ lợi phải đảm bảo tính hệ thống, tính hệ thống đó nhiều khi vượt khỏi ranh giới một vùng, một địa phương, một đơn vị hành chính, đòi hỏi sự đóng góp xây dựng của một tập thể khá lớn, trên thực tế hầu hết các công trình thuỷ lợi đã đưa vào sử dụng ở nước ta đều có sự đóng góp của nhân dân được thực hiện theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm"
Tính xã hội hoá còn thể hiện trong việc sử dụng các hệ thống công trình, tuỳ theo điều kiện kinh tế từng vùng mà mỗi hệ thống có thể đảm nhận từng phần hay toàn bộ nhiệm vụ: phục vụ sản xuất nông nghiệp thủy điện, thủy sản, giao thông thủy, cấp nước cho sản xuất công nghiệp, cấp nước cho dân cư, chống lũ lụt và bảo
vệ nguồn nước khỏi nhiễm khuẩn Vì vậy mỗi hệ thống đảm nhận một lúc nhiều nhiệm vụ, mỗi nhiệm vụ phục vụ cho một ngành kinh tế nhất định, do đó hoạt động KTCT thuỷ lợi thường phục vụ cho nhiều mục tiêu, nhiều đối tượng khác nhau
Tính xã hội còn thể hiện trong công tác bảo vệ công trình, vì công trình thuỷ lợi
đa số nằm ngoài trời rải rác trong phạm vi rộng trong khi đó lực lượng công nhân của doanh nghiệp chỉ ở mức độ nhất định nên phải có sự tham gia của toàn dân, ở đâu nhân dân có ý thức trách nhiệm cao, thực hiện tốt pháp lệnh bảo vệ công trình thì ở đó công trình thuỷ lợi được an toàn, chi phí trông coi bảo vệ của các doanh nghiệp thấp và ngược lại
Thứ tư, sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi là dịch vụ công ích đặc biệt gắn liền với kết quả sản xuất nông nghiệp
Trang 27Đối tượng phục vụ chủ yếu của các DNKTCT thuỷ lợi là nông nghiệp mà chủ yếu là trồng trọt, việc cung ứng đủ nước cho cây trồng phát triển theo thời vụ từng thời kỳ sinh trưởng Sản phẩm "dịch vụ nước" cũng là hàng hoá vì nó có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng Về giá trị bao gồm 3 bộ phận: một là giá trị tư liệu sản xuất đã hao phí (c), hai là giá trị quỹ lương để trả cho công nhân trực tiếp
và gián tiếp trong doanh nghiệp (v), ba là giá trị thặng dư (m) Về giá trị sử dụng nó cũng thoả mãn nhu cầu cho người dùng nước vào sản xuất và sinh hoạt
"Dịch vụ nước" là hàng hoá nhưng nó là hàng hoá đặc biệt: Quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ, sản xuất đến đâu tiêu thụ đến đấy không tiêu thụ
là bỏ phí vì loại dịch vụ này không lưu kho tích trữ như các hàng hoá khác được
"Dịch vụ nước" của các doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi là duy nhất không thể nhập ngoại và không có hàng thay thế
Sản phẩm thu được của các doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi gắn liền và chịu
ảnh hưởng lớn của sản xuất nông nghiệp Trước đây thủy lợi phí là nguồn thu chủ
yếu được tính bằng % so với sản lượng thu hoạch của nông dân, hiện nay Nhà nước
có chính sách cấp bù TLP cho nông dân nhưng bản chất vẫn tính đơn giá cấp bù trên một đơn vị diện tích (ha) cấp nước nên sản phẩm của doanh nghiệp gắn liền với kết quản sản xuất nông nghiệp
Thứ năm, đối tượng phục vụ chủ yếu là nông dân, nông nghiệp
Nông dân, nông nghiệp và nông thôn là đối tượng thụ hưởng trực tiếp các chủ trương, chính sách của Chính phủ trong đó có chính sách miễn giảm TLP Hiện nay trên toàn quốc các doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi là đơn vị phải làm nhiệm vụ cung cấp nước đúng với nhu cầu dùng nước, cơ cấu mùa vụ của cây trồng theo yêu cầu của các hộ dùng nước trong hệ thống thuỷ lợi mà công ty phụ trách
Thứ sáu, mất cân đối thu – chi trong hoạt động tài chính
Đặc điểm nổi bật trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi
là mất cân đối thu - chi, chi thường lớn hơn thu, số thu ít chủ yếu là TLP cấp bù của Chính phủ gần như được ổn định Nhưng khoản chi lại nhiều, lượng của mỗi khoản chi lớn lại mang tính chất tức khắc như: chi trả tiền điện, mua sắm thiết bị phụ tùng,
Trang 28chi lương cho cán bộ công nhân viên, các khoản chi này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số phải chi Nguyên nhân của chi lớn hơn thu là do ngoài chi phí cho việc cung ứng dịch vụ nước cho các hộ dùng nước có địa chỉ, các DN còn phải chi phí đảm nhận chức năng xã hội không có địa chỉ, đó là chi cho công việc tiêu úng ở các vùng dân cư, vùng phi canh tác Mặt khác còn một số điểm bất hợp lý là: các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như máy móc, phụ tùng nguyên liệu, năng lượng, lương công nhân đều do cơ chế thị trường chi phối và theo chiều hướng tăng nhiều lần, trong khi đó nguồn thu đầu vào ổn định chủ yếu là kinh phí TLP Do đó hoạt động tài chính của các doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi những năm đầu khi thực hiện chính sách miễn giảm TLP thì cơ bản đảm bảo cân đối thu chi càng về sau càng khó khăn trong hoạt động tài chính
Phương thức hoạt động của các doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi
Doanh nghiệp KTCT thuỷ lợi có phương thức hoạt động được quy định tại Nghị định số 130/2013/NĐ-CP của Chính phủ Cụ thể là, việc SX và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích “Quản lý, khai thác hệ thống công trình có quy mô lớn, bao gồm công trình thuỷ lợi liên tỉnh, liên huyện; công trình thuỷ nông kè đá lấn
biển” thực hiện theo phương thức đặt hàng hoặc giao kế hoạch Việc SX và cung
ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích “Quản lý, khai thác hệ thống công trình có quy
mô vừa và nhỏ”, thực hiện theo phương thức đấu thầu hoặc đặt hàng Đối với
những sản phẩm, dịch vụ công ích có thể thực hiện theo hai phương thức, việc lựa chọn phương thức cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau: Đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch
Mặc dù có 3 phương thức trong hoạt động quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, áp dụng chủ yếu trong hoạt động của DN khai thác công trình thuỷ lợi vẫn là phương thức giao kế hoạch, có rất ít địa phương đã triển khai theo phương thức đặt hàng hoặc đấu thầu
Cơ chế hoạt động tài chính thu - chi của các DN khai thác công trình thuỷ lợi tuân thủ theo quy định về quy chế quản lý tài chính đối với DN 100% vốn thuộc sở
Trang 29hữu Nhà nước, quy định tại Thông tư số 11/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính (trước đây là Thông tư liên tịch số 90/1997/TTLT/TC-NN)
1.2.2 Tài chính DNCI: Khái niệm, đặc điểm và vai trò
1.2.2.1 Khái niệm tài chính DNCI
Tài chính là một phạm trù kinh tế Sự ra đời và phát triển của tài chính gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hoá- tiền tệ Tài chính còn là một phạm trù giá trị tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá, là khái niệm dùng để chỉ những quan hệ kinh tế nẩy sinh trong phân phối và chi dùng những của cải bằng tiền giữa con người với nhau, bao gồm quan hệ giữa pháp nhân với pháp nhân , quan hệ giữa pháp nhân với thể nhân, thể nhân với thể nhân
Hay ta có thể hiểu, tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế
Tài chính doanh nghiệp là một mắt xích quan trọng của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh thì bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng tiền tệ nhất định, đó là tiền đề cần thiết
và quan trọng Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng đồng thời là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ Trong quá trình đó đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động đầu tư cũng như mọi hoạt động khác của doanh nghiệp Các luồng tiền bao gồm các luồng tiền tệ đến và ra khỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động của các luồng tài chính trong doanh nghiệp
Tài chính trong doanh nghiệp công ích là một phạm trù kinh tế thực chất là
tài chính doanh nghiệp và có đặc thù cơ bản là không vì mục tiêu lợi nhuận
Tài chính trong doanh nghiệp công ích có những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp công ích với các chủ thể trong nền kinh tế
Trang 30Mối quan hệ giữa Doanh nghiệp hoạt động công ích với Nhà nước là mối quan hệ 2 chiều có tác động qua lại lẫn nhau, DNCI có trách nhiệm, nghĩa vụ sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công cộng theo chỉ tiêu kế hoạch hoặc đặt hàng của Nhà nước
Doanh nghiệp hoạt động công ích phải tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch
vụ theo giá, khung giá hoặc thu phí theo quy định của Nhà nước Doanh nghiệp được sử dụng các khoản thu nhập này để bù đắp các khoản chi phí
Nguồn kinh phí của các DNCI chủ yếu từ nguồn NSNN thông qua đấu thầu, hợp đồng đặt hàng với Nhà nước hay kế hoạch giao của nhà nước, mối quan hệ giữa DNCI với các chủ thể kinh tế khác trong việc cung ứng hàng hóa dịch vụ lẫn nhau theo các quy luật của kinh tế thị trường, như thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường hàng hóa sức lao động… Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động v.v… Các DNCI cung ứng hàng hóa dịch vụ công cho xã hội đảm bảo về số lượng chất lượng; mối quan hệ giữa DNCI và người lao động trong đơn vị được biểu hiện trong việc
hình thành, sử dụng quỹ tiền lương thu nhập của đơn vị
Như vậy, tài chính trong doanh nghiệp công ích là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa các doanh nghiệp công ích với nhà nước và các chủ thể khác trong quá trình hình thành, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm hoàn thành các nhiệm vụ mà nhà nước giao cho các doanh nghiệp công ích và có đặc điểm cơ bản là không vì mục tiêu lợi nhuận 1.2.2.2 Đặc điểm tài chính tại DNCI
Thứ nhất, hoạt động tài chính doanh nghiệp công ích là hoạt động tài chính doanh nghiệp đặc thù gắn liền và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh SP, dịch vụ công ích mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp thực hiện
Hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ cũng cần đến vốn, muốn sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ công ích doanh nghiệp phải bỏ vốn ra để mua nguyên vật liệu, để trả lương cho người lao động, chi trả tiền điện nước, sửa chữa, bảo trì tài sản thường xuyên
….ngoài ra còn phải đầu tư mua trang thiết bị, nhà xưởng mới có thể sản xuất ra sản
Trang 31phẩm, dịch vụ công ích phục vụ xã hội hay một nhóm người trong xã hội…Mà tài chính doanh nghiệp công ích suy cho cùng chính là tiền, là vốn của doanh nghiệp
Doanh nghiệp công ích được đảm bảo toàn bộ, hay một phần kinh phí hoạt động thường xuyên nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ được giao bằng NSNN thông qua đấu thầu, hợp đồng đặt hàng với Nhà nước, hay kế hoạch giao của Nhà nước theo giá, khung giá hoặc phí do nhà nhước quy định vì vậy hoạt động tài chính doanh nghiệp công ích luôn gắn liền và phục vụ cho hoạt động SXKD sản phẩm, dịch vụ công ích của doanh nghiệp
Thứ hai, hoạt động tài chính doanh nghiệp công ích bị chi phối bởi tính chất
sở hữu vốn trong mỗi doanh nghiệp công ích đó là Nhà nước
Nói đến vốn là chúng ta nói đến sở hữu vốn, mà vốn của các DNCI đó là vốn Nhà nước Sở hữu vốn luôn ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh, Nhà nước bỏ vốn ra giao cho DNCI thực hiện SXKD tạo ra SP, dịch vụ công ích phục
vụ xã hội vì vậy trong DNCI Nhà nước chi phối vào quá trình sử dụng vốn thông qua các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp quản lý doanh nghiệp
Thứ ba, hoạt động của tài chính doanh nghiệp công ích luôn bị chi phối bởi mục tiêu chất lượng đầu ra của sản phẩm, dịch vụ công ích với mục đích phi lợi nhuận
Các khoản thu của doanh nghiêp công ích không vì mục đích lợi nhuận nó
mang tính chất bắt buộc và được phân bổ sử dụng hợp lý có hiệu quả trong chi phí
và các quỹ của doanh nghiệp Tài chính DNCI khác cơ bản với tài chính các doanh nghiệp khác là mục tiêu cuối cùng với một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục đích khác nhau nhưng suy cho cùng mục đích bao trùm cuối cùng là tối
đa hóa lợi nhuận nhưng với DNCI mục tiêu cuối cùng là chất lượng sản phẩm dịch
vụ công ích mà DNCI tạo ra để phục vụ xã hội vì vậy có thể nói,hoạt động của tài
chính doanh nghiệp luôn bị chi phối bởi mục tiêu chất lượng đầu ra của sản phẩm, dịch vụ công ích với mục đích phi lợi nhuận
1.2.2.3 Vai trò tài chính DNCI
Tài chính doanh nghiệp công ích là một bộ phận của tài chính doanh nghiệp
là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan trong nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ Sự
Trang 32vận động của nó một mặt phải tuân theo những quy luật kinh tế khách quan, mặt khác do tài chính doanh nghiệp là các quan hệ nằm trong hệ thống những quan hệ kinh tế gắn liền với hoạt động kinh doanh nên tài chính doanh nghiệp còn phải chịu chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của các chủ thể doanh nghiệp Nhưng đến lượt mình, tài chính doanh nghiệp lại có tác động theo hướng thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động kinh doanh Trên góc độ này, tài chính doanh nghiệp được xem là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong quản lý kinh doanh
Vai trò của tài chính doanh nghiệp công ích được biểu hiện qua các mặt sau:
Thứ nhất, xác định và đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp công ích
Trên cơ sở các chính sách pháp luật hiện hành của loại hình doanh nghiệp công ích của từng lĩnh vực công ích của pháp luật quy định DNCI xác định vốn hoạt động của mình từ nguồn NSNN để thực hiện việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công ích cho các đối tượng theo giá, khung giá hay phí do nhà nước quy định Ví dụ như các DNCI hoạt động trong lĩnh vực KTCTTL đầu năm phải lập kế hoạch sản xuất xác định nguồn thu dựa trên các diện tích đất phục vụ sản xuất nông nghiệp, số
vụ trong năm, biện pháp tưới tiêu cho cây trồng và đơn giá cấp bù TLP do Chính phủ quy định để lập dự toán xác định nguồn thu chủ yếu của mình trong một năm
và ký hợp đồng đặt hàng với Nhà nước trên cơ sở đó Nhà nước giao kế hoạch sản xuất trong năm
Nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trên cơ sở các hệ thống văn bản được pháp luật quy định, các chính sách của Nhà nước đã được điều chỉnh quy định cho phù hợp với từng loại hình từng lĩnh vực hoạt động của DNCI, về nội dung định mức thu-chi, thực hiện trích lập các quỹ tại đơn vị đều có hướng dẫn
cụ thể chi tiết Đồng thời Nhà nước cũng đặt lên vai các DNCI trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy tính sáng tạo của từng cá nhân trong tập thể và gắn với việc tự chịu trách nhiệm trong việc ra quyết định, kiểm tra việc thực hiện cơ chế quản
Trang 33lý tài chính của từng DNCI nêu trên Hàng năm cơ quan quản lý Nhà nước kiểm tra việc thực hiện và quyết toán vốn cho hoạt động kinh doanh của DNCI
Thứ hai, tổ chức sử dụng vốn kinh doanh phù hợp, tiết kiệm và hiệu quả thúc đẩy DNCI tăng tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động chuyên môn của mình
Việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp trong đó có DNCI Với DNCI phải tuân thủ theo chế độ hiện hành của Nhà nước Nhà nước chỉ với vai trò quản lý, điều tiết, xây dựng cơ chế nhằm đảm bảo cho các DNCI hoạt động ổn định theo định hướng chung, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các doanh nghiệp Trước sức ép của xã hội hiện nay trong từng thời kỳ cụ thể bắt buộc DNCI phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm công ích, dịch vụ công ích của mình để phục vụ xã hội ngày càng tốt hơn bằng cách sáng tạo, đưa KHCN vào sản xuất, cung ứng dịch vụ nâng cao khả năng sử dụng vốn phù hợp, tiết kiệm, hiệu quả với mục tiêu nâng cao SP, DVCI, tăng năng suất lao động tăng thu nhập cho con người và tăng các quỹ phúc lợi của doanh nghiệp
Thứ ba, giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình tài chính doanh nghiệp là tấm gương phản ánh trung thực mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua các số liệu kế toán, các chỉ tiêu tài chính như hệ số kế toán, hiệu quả sử dụng vốn, cơ cấu các nguồn vốn và cơ cấu phân phối sử dụng vốn… người quản lý có thể dễ dàng nhận biết thực trạng tốt xấu trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình quản lý doanh nghiệp Với khả năng
đó, người quản lý có thể kịp thời phát hiện các khuyết tật và các nguyên nhân của nó để điều chỉnh quá trình kinh doanh nhằm đạt các mực tiêu đã được dự định
Để sử dụng có hiệu quả công cụ kiểm tra tài chính, đòi hỏi nhà quản lý cần
tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán, hạch toán thống kê, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phân tích tài chính và duy trì nề nếp chế độ phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp nhằm hướng tới nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ công ích
Trang 341.3 Những vấn đề cơ bản về quản lý tài chính DNCI
1.3.1 Quan niệm về quản lý tài chính DNCI
Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích đã đề ra
Quản lý tài chính doanh nghiệp công ích hiểu một cách đơn giản là công tác quản lý các vấn đề trong doanh nghiệp có liên quan đến việc tổ chức thực hiện các biện pháp đảm bảo sự cân đối, hài hòa các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả sản phẩm, dịch vụ công ích ngày càng cao
Quản lý tài chính doanh nghiệp công ích là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức và thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp ổn định, mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ công ích phục vụ xã hội với giá trị cốt lõi là không vì lợi nhuận
Quản lý tài chính doanh nghiệp công ích là một quá trình, từ việc phân tích tình hình của doanh nghiệp cũng như môi trường hoạt động của doanh nghiệp, cơ chế quản lý doanh nghiệp của Nhà nước ở thời điểm cụ thể để đưa ra các quyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, đến đảm bảo các quyết định tài chính được thực hiện và phù hợp với mục tiêu của hoạt động tài chính doanh nghiệp cũng như mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp Hiểu theo một cách đơn giản thì quản lý tài chính là việc quản lý làm cách nào để thu hút, xác định vốn Nhà nước ổn định nhất, phân phối và sử dụng nguồn vốn ấy có hiệu quả nhất, đảm bảo cho hoạt động tài chính và hoạt động của doanh nghiệp phát triển ổn định
Như vậy có nhiều quan niệm về quản lý tài chính doanh nghiệp công ích, trong luận văn này tác giả đưa ra quan niệm về quản lý tài chính doanh nghiệp công ích như sau:
Quản lý tài chính doanh nghiệp công ích là quản lý việc thu hút và xác định nguồn vốn của doanh nghiệp và phân bổ, sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định
Trang 351.3.2 Đối tượng và mục tiêu quản lý
1.3.2.1 Đối tượng quản lý
Như chúng ta đã biết nói đến tài chính doanh nghiệp công ích là nói đến 3 vấn đề chính đó là nói đến vấn đề tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ hay nói cách khác là vấn đề thu, chi và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Thu ở đây là các nguồn thu của doanh nghiệp như thu bán hàng hóa dịch vụ công ích cho Nhà nước, thu do các nguồn vốn bổ sung có mục tiêu của Nhà nước, thu do nhượng bán thanh lý tài sản cố định, thu tiền bảo hiểm do các tổ chức bồi thường khi doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, thu tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng kinh tế, thu do lãi tiền gửi ngân hàng Từ các nguồn thu được thì chúng ta phải phân bổ cho các quỹ tiền tệ sử dụng cho các mục đích khác nhau: như chi phục vụ cho sản xuất kinh doanh, chi đầu tư xây dựng hạ tầng, chi trả thuế cho Nhà nước, chi trả tiền lương, BHXH, phân bổ các quỹ như quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ dự phòng tài chính, quỹ phát triển doanh nghiệp
Trên cơ sở đó chúng ta xác định đối tượng quản lý tài chính doanh nghiệp gồm:
Thứ nhất, quản lý các nguồn thu của doanh nghiệp công ích:
Một là, thu từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ công ích với Nhà nước là
thu từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là nguồn thu quan trọng và chủ yếu
để bù đắp các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất kinh doanh, để thanh toán tiền lương, tiền công và tiền thưởng phải trả cho người lao động, thanh toán bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn và các khoản chi làm nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước như: các khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật
Hai là, thu do hoạt động tài chính của doanh nghiệp như: lãi tiền gửi ngân
hàng,, lãi từ việc đầu tư vốn ra ngoài công ty…
Ba là, thu do các nguồn tài chính hỗ trợ vốn có mục tiêu của Nhà nước từ các
chương trình mục tiêu quốc gia
Trang 36Bốn là, các khoản thu khác của doanh nghiệp như thu do nhượng bán, thanh
lý tài sản cố định, thu tiền bảo hiểm do các tổ chức bồi thường khi doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, thu tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng kinh tế…
Thứ hai, quản lý việc phân bổ để hình thành các quỹ của doanh nghiệp: Một là, quản lý việc phân bổ vốn cho sản xuất kinh doanh bao gồm vốn lưu
động và vốn cố định
Phân bổ vốn lưu động là để chi mua nguyên vật liệu, chi trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các khoản dịch vụ mua ngoài như điện nước, các chi phí khác phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Phân bổ vốn cố định là để chi mua sắm trang thiết bị, đầu tư xây dựng cơ bản, sửa chữa lớn tài sản để hình thành nên tài sản cố định của doanh nghiệp đảm bảo năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hai là, chi trả các khoản thuế phải nộp cho ngân sách Nhà nước theo quy
định như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập, thuế môn bài…
Ba là, phân bổ các quỹ của doanh nghiệp như quỹ khen thưởng, phúc lợi,
quỹ dự phòng tài chính, quỹ phát triển doanh nghiệp Các quỹ này hàng năm doanh nghiệp trích lập theo một tỷ lệ % nhất định theo quy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành
Thứ ba, quản lý việc sử dụng các quỹ
Các nguồn thu của doanh nghiệp công ích sau khi đã thu được thì phải phân
bổ cho các quỹ tiền tệ, từng quỹ tiền tệ phải được chi cho đúng mục đích sử dụng như: khi phân bổ cho vốn lưu động thì chỉ được dùng để chi các khoản như nguyên vật liệu, hàng hóa, tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, tiền bảo hiểm y tế, các dịch vụ mua ngoài như điện, nước, điện thoại, internet… ; khi phân bổ cho vốn cố định thì chỉ được dùng để chi các khoản như mua sắm trang thiết bị, đầu tư xây dựng cơ bản, sửa chữa lớn tài sản; khi phân bổ đối với các quỹ thì quỹ khen thưởng chỉ dùng
để khen thưởng, quỹ phúc lợi dùng để chi các khoản trợ cấp khó khăn, chi nghỉ mát, chi các phong trào văn thể cho người lao động…
Trang 371.3.2.2 Mục tiêu quản lý
Thứ nhất, quản lý tài chính doanh nghiệp công ích nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước, tránh thất thoát
Mỗi doanh nghiệp công ích đều có những mục tiêu khác nhau trong từng thời
kỳ phát triển Nhưng mục tiêu bao trùm nhất là nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch
vụ công ích cho xã hội theo trách nhiệm, nghĩa vụ với Nhà nước Nguồn vốn mà DNCI có được bản chất là nguồn vốn Nhà nước những người chủ sở hữu doanh nghiệp công ích muốn nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ thì doanh nghiệp công ích phải áp dụng quản lý tài chính tối ưu nhằm khai thác nguồn lực vốn một cách triệt để, sử dụng vốn đúng mục đích, tiết kiệm có nghĩa là doanh nghiệp phải xác định được thời điểm bỏ vốn, quy mô bỏ vốn sao cho đem lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất từ đó sẽ tác động đến chất lượng đầu ra của sản phẩm Đồng thời quản lý tài chính tốt sẽ giúp doanh nghiệp có chiến lược sản xuất kinh doanh,
có kế hoạch quản lý phân bổ sử dụng vốn một cách hợp lý
Thứ hai, quản lý tài chính doanh nghiệp công ích nhằm sử dụng vốn đúng mục đích
Ngoài mục tiêu nói trên, quản lý tài chính DNCI còn nhằm mục tiêu sử dụng vốn đúng mục đích Nếu sử dụng sai mục đích thì dẫn đến đảo lộn kế hoạch vốn của doanh nghiệp, giảm hiệu quả sử dụng vốn Ví dụ như khi chúng ta phân bổ vốn cố định nhưng doanh nghiệp lại chi dùng cho vốn lưu động thì sẽ dẫn đến hụt vốn cố định không thanh toán đủ cho việc mua sắm trang thiết bị, đầu tư xây dựng cơ bản, sửa chữa lớn tài sản ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư, tiến độ hình thành tài sản cố định doanh nghiệp, làm giảm năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra của sản phẩm, dịch vụ công ích Hay khi dùng vốn lưu động chi trả các khoản chi vốn cố định thì
sẽ hụt vốn lưu động, dẫn đến thiếu vốn để trả tiền lương cho người lao động, mua nguyên liệu vật liệu, mua hàng hóa, chi trả mua dịch vụ ngoài….phục vụ thường xuyên cho sản xuất kinh doanh, làm cho sản xuất kinh doanh bị chậm, đình trệ, sản phầm làm ra không đúng kế hoạch, không đủ số lượng, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
Trang 38quả sản xuất kinh doanh Hoặc khi chúng ta sử dụng vốn đúng mục đích của các quỹ sẽ đem lại hiệu quả cao không những trong sản xuất kinh doanh mà còn hiệu quả gia tăng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Đó là khi dùng đúng mục đích khen thưởng thì sẽ giúp kích thích, phát huy năng lực sáng tạo của người lao động, làm cho năng suất lao động tăng, đẩy nhanh tiến độ công việc, rút ngắn thời gian hoàn thành sản phẩm, giảm giá thành sản phẩm dẫn đến hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh Khi chi đúng mục đích quỹ phúc lợi như chi các khoản trợ cấp khó khăn, chi nghỉ mát, chi các phong trào văn thể cho người lao động, cũng là quan tâm đến người lao động đồng thời gia tăng trách nhiệm xã hội của doanh nghiêp…
1.3.3 Tổ chức thực hiện quản lý tài chính
1.3.3.1 Quy trình quản lý
Quy trình quản lý là cách thức thực hiện một quá trình công việc để tạo hiê ̣u quả cao nhất với một cách thức đơn giản nhất có thể Quy trình quy định rõ: việc gì cần phải làm, kết quả nào phải đạt được, ai làm, làm lúc nào, ở đâu và làm như thế nào Thực hiện công việc theo quy trình sẽ bảo đảm được chất lượng , tiến độ và năng suất , phòng ngừa đươ ̣c rủi ro , dễ thực hiê ̣n Các quy trình còn là cơ sở cho việc cải tiến liên tục
Khi xây dựng quy trình quản lý phải hướng đến các đối tượng qu ản lý cụ thể, các đối tượng quản lý ở đây là thu, chi và sử dụng các quỹ tiền tệ
Quy trình quản lý tài chính doanh nghiệp chính là các bước để thực hiện việc quản lý tài chính của doanh nghiệp đó, gồm các bước sau:
Thứ nhất, xây dựng kế hoạch tài chính của doanh nghiệpcông ích
Sau khi Doanh nghiệp công ích đã có kế hoạch SXKD phù hợp với nhu cầu của xã hội, công việc đầu tiên doanh nghiệp phải làm là xây dựng kế hoạch tài chính Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp công ích cần được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính.Có kế hoạch tài chính tốt thì doanh nghiệp mới có thể đưa ra các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp Kế hoạch tài chính là một bộ phận quan trọng của kế hoạch SXKD nhằm trình bày có hệ thống các dự kiến về xác định nguồn vốn trên cơ sở nguồn
Trang 39vốn đó để thực hiện các hoạt động SXKD nhằm đạt được những kết quả trong tương lai
Kế hoạch tài chính là một công cụ bảo đảm cho sự hoạt động thành công của doanh nghiệp Việc lập kế hoạch tài chính giúp cho người quản lý xác định rõ mục tiêu cần đạt tới; từ đó cân nhắc, xem xét tính khả thi, tính hiệu quả của các quyết định Kế hoạch tài chính là công cụ giúp cho người quản lý thực hiện tốt việc điều hành SXKD, hoạt động tài chính và hơn thế nữa là chủ động ứng phó với những biến động trên thị trường so với dự kiến; từ đó điều chỉnh kịp thời các hoạt động để đạt mục tiêu đề ra
Thứ hai, thực hiện kế hoạch tài chính của doanh nghiệp công ích
Thực chất kế hoạch tài chính của doanh nghiệp là xác định đầy đủ nguồn vốn cho hoạt động SXKD trong từng thời kỳ cụ thể Do vậy, việc quản lý và sử dụng các nguồn vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu chi và bảo đảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp có vai trò quyết định đối với sự thành công của doanh nghiệp
Thứ ba, quyết toán tài chính của doanh nghiệp công ích
Doanh nghiệp lập báo cáo quý, báo cáo quyết toán năm gửi cơ quan quản lý cấp trên theo quy định hiện hành thông qua báo cáo tài chính Báo cáo tài chính của doanh nghiệp phản ánh việc thu và chi tài chính trong niên độ tài chính Nếu khâu lập kế hoạch tài chính là khâu đầu của hoạt động tài chính thì lập báo cáo quyết toán
và phê duyệt quyết toán là khâu cuối cùng của hoạt động tài chính
Quyết toán thu chi là công việc cuối cùng của chu trình quản lý tài chính Là quá trình kiểm tra tổng hợp toàn bộ số liệu về việc chấp hành kế hoạch tài chính trong niên độ tài chính, đây là cơ sở để đánh giá, phân tích kết quả chấp hành kế hoạch tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp, đồng thời rút ra những ưu, khuyết điểm của từng bộ phận, những bài học kinh nghiệm, là
cơ sở cho việc lập kế hoạch tài chính cho các kỳ tiếp theo
Để quyết toán cần phải thực hiện các nội dung sau: Đảm bảo tính chính xác của số liệu quyết toán: Căn cứ vào số liệu trên sổ kế toán, các kế toán doanh nghiệp phải tiến hành rà soát, kiểm tra, đối chiếu số liệu trước khi lập báo cáo tài chính;
Trang 40thực hiện các biểu mẫu bắt buộc theo quy định hiện hành của luật kế toán, luật ngân sách, luật thuế và các chính sách quản lý của Nhà nước gửi các cơ quan có thẩm quyền, cơ quan chủ quản đúng thời hạn đã được quy định; phải xác định được thẩm quyền xét duyệt quyết toán: đối với đơn vị dự toán thì đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt quyết toán của đơn vị cấp dưới
Khái quát quy trình QLTC tại Doanh nghiệp công ích qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quy trình quản lý tài chính Doanh nghiệp công ích
(Nguồn : Tác giả tổng hợp)
1.3.3.2 Phương thức quản lý
Nguyên tắc quản lý tài chính của các doanh nghiệp công ích trước hết phải đảm bảo các nguồn thu theo kế hoạch, đảm bảo thu sát, thu đủ, tổ chức tốt quá trình quản lý thu, đồng thời đề ra các biện pháp tổ chức thu thích hợp Kế hoạch thu do doanh nghiệp xây dựng từ đầu năm dựa trên kết quả đạt được niên độ trước và cơ chế đặc thù của DNCI mà Nhà nước quy định như đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch cho đơn vị theo giá, khung giá hoặc phí do nhà nhước quy định và dự báo những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu trong năm, kế hoạch thu được xây dựng phải đảm bảo thu đủ để bù các khoản chi và các khoản trích các quỹ của doanh nghiệp công ích
Quản lý các khoản chi phải đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm
là một nguyên tắc hàng đầu của quản lý tài chính Nguồn lực luôn có giới hạn nhưng nhu cầu không có giới hạn Do vậy trong quá trình phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm phải tính toán sao cho chi phí thấp nhất, kết quả cao nhất
Để đạt được tiêu chuẩn tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý các khoản chi của doanh nghiệp, cần phải quản lý chặt chẽ từ khâu xây dựng kế hoạch, dự toán, xây dựng định mức, thường xuyên phân tích, đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chi, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp tăng cường quản lý chi hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả
Lập kế hoạch tài
chính
Thực hiện kế hoạch tài chính
Quyết toán Tài chính