Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; xây dựng quy chế quản lý doanh nghiệp .... Tổ chức thực hiện các quy định của p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
PHẠM THỊ THU HÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THỊ THU HÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế với đề tài “Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam” được tác giả viết dưới
sự hướng dẫn của TS Lê Thị Hồng Điệp
Trong quá trình viết luận văn, tác giả có tham khảo, kế thừa và sử dụng
tư liệu như cuốn sách chuyên ngành, luận văn, tài liệu quy hoạch, kế hoạch … theo danh mục tài liệu tham khảo Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình và hoàn toàn chịu trách nhiệm về cam đoan của mình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, được sự nhiệt tình giảng dạy của các thầy, cô trong trường Đại học kinh tế đã trang bị cho tác giả những kiến thức cơ bản về chuyên môn, tạo cho tác giả hành trang vững chắc trong công tác sau này
Trong quá trình nghiên cứu và làm luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, đồng nghiệp và nhà trường Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS Lê Thị Hồng Điệp, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, định hướng và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt thời gian tác giả thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ cung cấp tư liệu, tài liệu hữu ích cho tác giả để phục vụ đề tài nghiên cứu luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 5
1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
1.1.1 Các tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 5
1.1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 9
1.2 Những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh 10
1.2.1 Khái quát về doanh nghiệp 10
1.2.2 Công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp 14
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Phương pháp luận và cách tiếp cận nghiên cứu 30
2.2 Phương pháp thu thập thông tin 30
2.3 Phương pháp xử lý dữ liê ̣u 34
2.3.1 Phương pháp thống kê 34
2.3.2 Phương pháp thống kê mô tả 35
2.3.3 Phương pháp phân tích tổng hợp 35
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 36
Trang 63.1 Một số đặc điểm chung của tỉnh Hà Nam có ảnh hưởng đến sự ra đời
và phát triển doanh nghiệp 36
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Dân số và lao động 36
3.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội 37
3.2 Khái quát tình hình phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam 37
3.2.1 Số lượng và loại hình doanh nghiệp đăng ký kinh doanh 37
3.2.2 Cơ cấu ngành nghề hoạt động và phân bố doanh nghiệp 41
3.2.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 43
3.3 Bộ máy quản lý nhà nước trực tiếp đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam 45
3.3.1 UBND tỉnh 45
3.3.2 Sở Kế hoạch và Đầu tư 45
3.3.3 Cục Thuế tỉnh 46
3.3.4 Thanh tra tỉnh 46
3.3.5 Công an tỉnh 47
3.3.6 UBND các huyện, thành phố 47
3.3.7 Các cơ quan quản lý chuyên ngành khác của tỉnh 48
3.4 Tình hình quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tại tỉnh Hà Nam 48
3.4.1 Việc hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam 48
3.4.2 Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; xây dựng quy chế quản lý doanh nghiệp 53
3.4.3 Việc khuyến khích, hỗ trợ tạo môi trường hoạt động cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam 56
Trang 73.4.4 Công tác kiểm tra, thanh tra, hậu kiểm, giám sát và xử lý vi phạm đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam 60
3.5 Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Hà Nam 66
3.5.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp 66 3.5.2 Những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp 69 3.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp 69
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 72 4.1 Định hướng phát triển doanh nghiệp tỉnh Hà Nam đến năm 2020 72 4.2 Quan điểm, mục tiêu quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian tới 73
4.2.1 Quan điểm về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp 73 4.2.2 Mục tiêu quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp 75
4.3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian tới 75
4.3.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện việc hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam 75 4.3.2 Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật có liên quan đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; hoàn thiện quy chế phối hợp của các cơ quan chức năng để quản lý doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam 77
Trang 84.3.3 Nhóm giải pháp về tăng cường khuyến khích, hỗ trợ pháp lý, tạo môi trường hoạt động cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam 78 4.3.4 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra, thanh tra, hậu kiểm giám sát doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam 80
4.4 Kiến nghị 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 9i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
2 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
3 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
4 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
5 ĐKKD Đăng ký kinh doanh
6 FDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
11 UBND Ủy ban nhân dân
12 PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
13 WTO Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 10ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
2 Bảng 3.1 Doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2010 –
3 Bảng 3.2 Doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động giai
đoạn 2010-2015 của tỉnh Hà Nam 41
4 Bảng 3.3 Phân bố doanh nghiệp tỉnh Hà Nam theo địa
5 Bảng 3.4 Bảng xếp hạng chỉ số PCI tỉnh Hà Nam giai
Trang 11iii
DANH MỤC HÌNH
1 Hình 1.1 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về doanh
4 Hình 3.2 Cơ cấu ngành nghề doanh nghiệp tỉnh Hà
Nam đăng ký hoạt động đến 30/6/2015 42
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp là nhân tố quan trọng, quyết định đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân, là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Có thể nói, doanh nghiệp không những quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn đảm bảo sự ổn định và lành mạnh hoá các vấn đề xã hội của đất nước
Trong những năm qua, doanh nghiệp tỉnh Hà Nam đã có những bước
phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Năm 1997 (tái lập tỉnh
Hà Nam), số lượng doanh nghiệp của tỉnh Hà Nam chỉ có 98 doanh nghiệp thì
đến ngày 30/6/2015, số doanh nghiệp đã đạt 3.629 doanh nghiệp Doanh nghiệp đã có những đóng góp quan trọng vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam
Công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam thời gian qua có nhiều chuyển biến tích cực, kết quả: Thông tin về doanh nghiệp sau khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập đã được cơ quan đăng ký kinh doanh gửi đến cơ quan Công an, Cục thuế, Cục Thống kê, các Sở quản lý chuyên ngành, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp Các doanh nghiệp có vi phạm, nhất là doanh nghiệp bị xử lý thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã được thông báo trên Website của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập Hàng năm, số lượng doanh nghiệp của tỉnh ngày càng gia tăng dẫn đến việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn hơn, đặc biệt là quản lý doanh nghiệp sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Trang 132
Công tác quản lý doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam hiện nay được
thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 (nay được thay thế
bởi Luật Doanh nghiệp năm 2014) và các văn bản hướng dẫn thi hành, quy
định quản lý doanh nghiệp của UBND tỉnh Hà Nam Thực tế ở Hà Nam hiện nay, việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và việc quản lý doanh nghiệp được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau như: UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư và các Sở chuyên ngành, Cục thuế tỉnh, UBND các huyện, thành phố… Việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp chưa được thực hiện thống nhất, giữa các cơ quan còn có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm
vụ Vì vậy, công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa đạt được kết quả như mong muốn Do đó, để góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong
thời gian tới, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
Quá trình nghiên cứu đề tài này nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu của
đề tài:
- Để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam cần đề ra những giải pháp gì ?
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh và phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong giai đoạn 2010 – 2015; luận văn đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tinh Hà Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu như đã nêu trên, tác giả đưa ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
Trang 143
- Khái quát hóa những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam giai đoạn 2010 – 2015; chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến ngày 30 tháng 6 năm 2015
Chủ thể quản lý nhà nước trực tiếp đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong phạm vi luận văn này là UBND tỉnh và các cơ quan
chuyên môn của tỉnh; UBND các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam từ khi bắt đầu đăng ký thành lập và quản lý doanh nghiệp sau khi thành lập
- Về thời gian: Từ năm 2010 đến ngày 30/6/2015
- Về không gian: Việc nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi địa bàn tỉnh Hà Nam
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 165
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN CẤP TỈNH
1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.1.1 Các tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là một chủ đề nghiên cứu có phạm vi tương đối rộng Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
có quan hệ gần với hướng nghiên cứu của đề tài luận văn này, cụ thể:
Công trình nghiên cứu “Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, GS.TSKH Lương Xuân Quỳ (chủ
biên), Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006; công trình đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường; đánh giá thực trạng nền kinh tế thị trường ở nước ta và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, vì
sự phát triển của đất nước
Công trình nghiên cứu “Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước
đối với doanh nghiệp”, Trang Thị Tuyết (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2006; công trình đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với của doanh nghiệp hiện nay; đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản
lý nhà nước đối với doanh nghiệp trong giai đoạn tới
Luận án tiến sỹ luật học năm 2003 của Lê Văn Hưng với đề tài “Cơ sở lý
luận của việc hoàn thiện pháp luật tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay”; đề tài đã làm rõ cơ sở
Trang 176
lý luận về hoạt động và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; đánh giá thực trạng hoạt động và quản lý nhà nước đối với của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay; đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
Luận án tiến sỹ luật học năm 2006 của Lê Văn Trung với đề tài “Đổi
mới quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay”; trong phạm vi luận án, tác giả đã hệ thống các văn bản pháp
luật về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và đề xuất các giải pháp đổi mới quản lý nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị năm 2008 của Phạm Văn Kim với đề
tài “Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện hội
nhập của Việt Nam”; trong phạm vi của luận văn, tác giả đã hệ thống hoá cơ
sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, phân tích thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay
và đề xuất các giải pháp vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn nhằm điều chỉnh, đổi mới và góp phần hoàn thiện phương thức quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện hội nhập của Việt Nam hiện nay
Luận văn thạc sỹ luật học năm 2012 của Đoàn Thị Lan Anh với đề tài
“Một số khía cạnh pháp lý của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà
nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”; tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận
về doanh nghiệp nhà nước, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; đánh giá thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nói chung và thực trạng của việc quản lý nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước nói riêng, từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới
Trang 187
Các công trình nêu trên chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề về quản
lý doanh nghiệp nhà nước ở nhiều góc độ khác nhau và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Trên thực
tế hiện nay không còn tồn tại mô hình doanh nghiệp nhà nước Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá để có cái nhìn toàn diện trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là yêu cầu cần thiết được đặt ra trong bối cảnh hiện nay
Năm 2008, Vũ Mạnh Anh xuất bản cuốn sách “Thực trạng quản lý nhà
nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh tại thành phố Hồ Chí Minh” Công trình nghiên cứu này đã chỉ ra được thực trạng và các giải pháp
để tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhưng mới chỉ
đề cập đến công tác quản lý các doanh nghiệp sau khi thành lập Trong khi đó việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp từ khâu đăng ký thành lập lại chưa được đề cập đến
Công trình nghiên cứu khoa học của Tiến sỹ Trần Tiến Cường “Đổi mới
quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam theo hướng không phân biệt thành phần kinh tế”; Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội,
2005; đề tài đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp theo hướng thống nhất không phân biệt thành phần kinh tế; xác định nội dung của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
và kiến nghị giải pháp giúp hình thành nội dung và cơ chế quản lý nhà nước
chung thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp
Luận văn thạc sỹ ngành kinh tế chính trị năm 2012 của Nguyễn Thị Hải
Yến với đề tài “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Phú Thọ”; tác giả làm rõ những vấn đề lý luận
về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ở địa bàn cấp tỉnh; nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương đã thành công trong
Trang 198
thu hút và sử dụng nguồn vốn trên; phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thời gian qua Dựa trên quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh để
đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới Luận văn thạc sỹ kinh tế năm 2012 của Phạm Thị Ngọc Ánh với đề tài
“Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, tác giả cũng đã có những đánh giá khái quát về thực trạng quản lý nhà
nước đối với doanh nghiệp tư nhân và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đối với doanh nghiệp tư nhân sau đăng ký thành lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Luận văn thạc sỹ luật học năm 2014 với đề tài “Quản lý nhà nước đối
với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội”, tác giả Đỗ Đình Chuyền
cũng đã có những đánh giá khái quát về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp về các nội dung: Thực trạng công tác ban hành và thực thi các quy định pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm đối với doanh nghiệp sau đăng
ký thành lập trên địa bàn thành phố Hà Nội; trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập và tăng cường việc tuân thủ pháp luật, ngăn chặn, giảm thiểu tình trạng vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư đã xây dựng Đề án “Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập” và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2012 Đề án đã cung cấp những thông tin quan trọng về những đổi mới của nước ta trong công tác quản
Trang 209
lý doanh nghiệp, về mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, về khung khổ pháp lý của công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Đặc biệt, những giải pháp trong Đề án mang tính khả thi, hiện nay đang được áp dụng tại các tỉnh, thành phố trong cả nước đã tạo chuyển biến tích cực trong việc quản lý doanh nghiệp sau đăng ký thành lập
Các công trình trên đã nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ở nhiều khía cạnh khác nhau do cá nhân hoặc các tổ chức, cơ quan công bố, với mức độ nghiên cứu khác nhau Có thể nói các tài liệu, công trình nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng, hệ thống khái quát lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, làm rõ vai trò của công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Đồng thời, nêu ra những thuận lợi, khó khăn, những bất cập của công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sao cho hiệu quả
Quá trình nghiên cứu tổng quan lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đã giúp tác giả có cái nhìn khách quan, toàn diện cơ
sở lý luận và thực tiễn về công tác quản ký nhà nước đối với doanh nghiệp, để tìm hiểu, phân tích nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam
1.1.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Xuất phát từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định rằng: Nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là vấn đề không mới; các công trình nghiên cứu đã đưa ra những nội dung có tính khái quát chung
và riêng, những bài học kinh nghiệm có thể trở thành những vấn đề mang tính nguyên lý trong công tác quản lý đối với doanh nghiệp
Nhưng đối với mỗi địa phương, cần áp dụng linh hoạt những hình thức quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sao cho hiệu quả, tạo điều kiện thuận
Trang 211.2 Những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh
1.2.1 Khái quát về doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học Theo
đó, doanh nghiệp như một phương tiện để thực hiện ý tưởng kinh doanh Muốn kinh doanh, doanh nhân phải chọn cho mình một trong số những loại hình doanh nghiệp phù hợp mà pháp luật quy định
Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa về doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang một nội dung nhất định Ở mỗi cách tiếp cận khác nhau sẽ có những quan niệm, định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp
- Về góc độ pháp lý: Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định:
“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”
- Theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải vật chất Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại, có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không thể vượt qua được (Lương Xuân Quỳ, 2006)
Trang 2211
- Theo quan điểm lợi nhuận: Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông qua đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm (Hồ Trọng Viện, 2004)
Ngoài ra, có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau đây:
- Yếu tố tổ chức: Một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính
- Yếu tố sản xuất: Các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin
- Yếu tố trao đổi: Những dịch vụ thương mại, mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra
- Yếu tố phân phối: Thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ Nhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được
Từ cách nhìn nhận trên, trong luận văn này, doanh nghiệp được hiểu là: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội
Trang 2312
Trong đó:
- Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân
Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và xác định Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được Nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với Nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể
- Doanh nghiệp là một tổ chức hoạt động trong nền kinh tế quốc dân, gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại Hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó
- Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó
1.2.1.2 Vai trò của doanh nghiệp
Thứ nhất, doanh nghiệp là nơi trực tiếp tạo ra sản phẩm cho xã hội, đáp
ứng cho nhu cầu của con người trong xã hội Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp đã làm cho nền kinh tế trở nên sôi động, thị trường hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú Đồng thời nó góp phần đẩy nhanh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế, chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
Thứ hai, doanh nghiệp khai thác và huy động tối đa mọi nguồn lực để
đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập trong dân cư
Thứ ba, doanh nghiệp giải quyết nhiều chỗ làm việc mới cho xã hội,
Trang 2413
góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, hạn chế các tệ nạn trong xã hội
Thứ tư, doanh nghiệp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định
và tạo thế mạnh về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ năm, doanh nghiệp phát triển sẽ tạo ra giá trị gia tăng, nộp thuế cho
ngân sách nhà nước để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước
Thứ sáu, doanh nghiệp phát triển sẽ góp phần hình thành một đội ngũ
các nhà doanh nghiệp, doanh nhân năng động, sáng tạo, làm việc có hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước
1.2.1.3 Các loại hình doanh nghiệp
Hiện nay có rất nhiều tiêu chí để phân loại doanh nghiệp
- Phân loại doanh nghiệp theo tính chất sở hữu, gồm:
+ Doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước
+ Doanh nghiệp thuộc kinh tế hợp tác
+ Doanh nghiệp thuộc kinh tế tư bản tư nhân
+ Doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài + Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế hỗn hợp
- Phân loại doanh nghiệp theo ngành nghề sản xuất kinh doanh, gồm: + Doanh nghiệp kinh doanh trong ngành công nghiệp
+ Doanh nghiệp kinh doanh trong ngành nông nghiệp
+ Doanh nghiệp kinh doanh trong ngành dịch vụ
- Phân loại doanh nghiệp theo quy trình sản xuất các sản phẩm, hàng hóa: + Doanh nghiệp hoạt động khai thác, sơ chế, sản xuất ra tư liệu sản xuất + Doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa để bán ra thị trường
Trang 25+ Các doanh nghiệp hoạt động công ích
+ Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
- Phân loại doanh nghiệp theo mức độ đầu tư vốn của một doanh nghiệp vào doanh nghiệp khác, gồm:
+ Công ty mẹ (doanh nghiệp đầu tư)
+ Công ty con (doanh nghiệp nhận đầu tư) và công ty liên kết
- Phân loại doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, gồm: + Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
+ Công ty cổ phần
+ Công ty hợp danh
+ Doanh nghiệp tư nhân
1.2.2 Công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tùy thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
Trang 2615
để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa
- Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp
- Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp Quản lý nhà nước được đề cập trong luận văn này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động
từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật
Quản lý nhà nước là sự tác động của Nhà nước vào toàn bộ hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung, và của doanh nghiệp nói riêng bằng hệ thống luật pháp, chính sách tổ chức, các chế tài về kinh tế - tài chính và các công cụ quản lý để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế, nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, ổn định tình hình chính trị - xã hội của đất
Trang 27Sự tác động có chủ đích, có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước đối với doanh nghiệp được thể hiện thông qua các bước sau:
Bước 1: Hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách phát triển doanh nghiệp
Bước 2: Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật có liên quan đến công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc quản lý doanh nghiệp
Bước 3: Khuyến khích, hỗ trợ tạo môi trường hoạt động cho doanh nghiệp
Bước 4: Tiến hành kiểm tra, thanh tra, hậu kiểm, giám sát và xử lý vi
phạm đối với doanh nghiệp
1.2.2.2 Sự cần thiết khách quan của công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Trong nền kinh tế nói chung, nhu cầu bản thân các doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước Quá trình sản xuất kinh doanh làm nảy sinh mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau Các doanh nghiệp đều có lợi ích riêng của mình và họ luôn tìm mọi cách để tối đa hoá lợi ích đó Họ có thể thấy rõ hoặc không thấy rõ để đạt được mục đích của mình thì họ đã vi phạm đến lợi ích của người khác Từ đó tất yếu nảy sinh ra hiện tượng: lợi ích của
cá nhân hay bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợi ích của cá nhân khác
Trang 2817
xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc dân Biểu hiện về mặt xã hội của
xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo cản trở nhau, sự phân bố nguồn lực không hợp lý, các vấn đề chính trị xã hội phát sinh Bởi vậy phải có một người đứng ra làm trung gian giải quyết, cân bằng mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đóng vai trò quyết định nền kinh tế, góp phần tạo ra tích luỹ, sự phát triển của doanh nghiệp thể hiện
sự phát triển của quan hệ sản xuất, doanh nghiệp đầu tư nguồn vốn, lao động,
áp dụng khoa học công nghệ để tạo ra năng suất chất lượng sản phẩm ngày càng cao, giá thành hạ đáp ứng cho nhu cầu của xã hội
Để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh nhân phải giải quyết hàng loạt các vấn đề, trong đó có những vần đề mà từng doanh nhân riêng biệt không đủ khả năng giải quyết Nhà nước bằng hoạt động của mình giúp các doanh nhân giải quyết các vấn đề sản xuất kinh doanh tầm vĩ mô, tìm
ra những nhu cầu của họ để đáp ứng Tuy nhu cầu được đặt ra có thể rất đa dạng, song suy cho cùng, đó là các vấn đề thuộc về ý chí, tri thức, vốn liếng, phương hướng chính có liên quan đến kinh tế
Các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh tham gia vào môi trường cạnh tranh Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả sản xuất Nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường không thể tách rời môi trường chính trị - xã hội Nếu môi trường chính trị không ổn định, thường xuyên có các xung đột giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội, các quan hệ buôn bán trên thị trường không lành mạnh mang tính chất lừa đảo thì cơ chế thị trường sẽ không phát huy tác dụng Từ đó dẫn đến các sai lệch và những khuyết tật của cơ chế thị trường khó có thể khắc phục được và làm cho xã hội chậm phát triển
Trang 2918
Bởi vậy, đòi hỏi phải có vai trò quản lý của Nhà nước, một doanh nghiệp
dù có lớn đến đâu cũng không thể thay thế được vai trò đó Trong hoạt động thực tế của doanh nghiệp có rất nhiều vấn đề nảy sinh như cơ sở hạ tầng, môi trường… mà bản thân doanh nghiệp cũng không thể giải quyết được Mặt khác, các doanh nghiệp luôn tối đa hoá lợi nhuận làm cạn kiệt tài nguyên môi trường, do đó, cũng cần phải có sự quản lý của Nhà nước
1.2.2.3 Tính chất, đặc điểm của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
* Tính chất của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Trong mối quan hệ quản lý, tiếp cận nghiên cứu từ phía Nhà nước trong việc quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp, phải được thể hiện đồng thời 2 tính chất đó là: Vừa thực hiện quyền lực Nhà nước trong giám sát, kiểm tra doanh nghiệp; vừa phải phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp
- Quản lý mang tính quyền lực nhà nước: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, được thực hiện bằng bộ máy công cụ đồng bộ trong gắn kết phối hợp của nhà nước Các chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước, nói gọn là các cơ quan quản lý nhà nước, phải thực hiện hoạt động quản lý nhà nước bằng quyền lực công cụ và bộ máy của nhà nước
- Quản lý nhà nước phải phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp: Tôn trọng quy luật hoạt động của thị trường; chức năng quản lý của nhà nước chỉ
là tạo môi trường pháp lý, hướng dẫn, điều tiết và xử lý các vi phạm, chứ không làm thay chức năng kinh doanh của doanh nghiệp; tôn trọng và tạo điều kiện cho khả năng tự điều chỉnh của thị trường; phát huy cơ chế tự kiểm tra giữa các chủ thể trong khi giao dịch và cơ chế tự kiểm soát của chính bản thân doanh nghiệp; trong quản lý, hỗ trợ doanh nghiệp, tìm cách tháo gỡ khó khăn là nhiệm vụ chính, chế tài chỉ là bất đắc dĩ; công chức nhà nước phải sâu sát cơ sở sản xuất và thị trường kinh doanh, chịu khó tiếp thu ý kiến, kịp thời
Trang 3019
nghiên cứu, nhanh chóng đề xuất với nhà nước để ban hành kịp thời các cơ chế chính sách phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường (Trần Tiến Cường, 2005)
* Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Một là, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp phải phù hợp với thể
chế kinh tế thị trường, lấy cơ chế thị trường làm nền tảng để định hướng cho việc áp dụng các công cụ quản lý
Hai là, việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp được tiến hành theo
các phương pháp và với những công cụ khác với phương pháp và công cụ quản lý ở giai đoạn trước đó, pháp chế XHCN trong quản lý nhà nước đối với kinh tế được tăng cường
Ba là, khi nước ta đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế
(ASEAN, APEC, WTO …), thì chức năng chính của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là định hướng về mặt chiến lược cho sự phát triển của các doanh nghiệp được thực hiện gián tiếp qua các công cụ chính sách kinh tế vĩ
mô, công cụ pháp luật; hình thành môi trường hoạt động cho các doanh nghiệp mà cơ bản là môi trường pháp lý và thể chế; hỗ trợ và điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp bằng các công cụ kinh tế vĩ mô; kiểm tra giám sát
sự tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp; tham gia khắc phục những khuyết tật của thị trường Nhà nước phải đặc biệt coi trọng và thực hiện tốt chức năng
hỗ trợ công dân lập thân, lập nghiệp về kinh tế, coi đó là một trong những nét đặc thù của sự đổi mới chức năng quản lý nhà nước về kinh tế so với trước thời kỳ đổi mới (Trần Tiến Cường, 2005)
1.2.2.4 Bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
* Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước và thực thi pháp luật về doanh nghiệp
Trang 3120
Công cụ quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp chủ yếu là hệ thống pháp luật, bộ máy quản lý nhà nước dần thích nghi với những yêu cầu đổi mới mục tiêu và nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Cơ chế vận hành của các cơ quan quản lý nhà nước đã có nhiều thay đổi, từng bước hoàn thiện theo yêu cầu của đối tượng quản lý và vì sự phát triển của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp được quy định tương đối rõ ràng Cụ thể:
- Quốc hội ban hành và sửa đổi các luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp xét xử và kiểm soát việc tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý nhà nước Chính phủ thống nhất thực hiện các chức năng quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở phân công, phân cấp quản lý Chính phủ trực tiếp ban hành các Nghị định và chính sách cụ thể liên quan đến doanh nghiệp
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trong phạm vi ngành, lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình, ban hành các văn bản hướng dẫn quy phạm pháp luật theo thẩm quyền
- UBND cấp tỉnh và các cơ quan chuyên môn của tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ở địa phương, tổ chức thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp theo ngành, lĩnh vực trên địa bàn theo thẩm quyền
- UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn theo thẩm quyền phân cấp hành chính và từng lĩnh vực cụ thể có liên quan
Như vậy, trong lĩnh vực quản lý hành chính, UBND các cấp, các cơ quan chuyên môn của tỉnh là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước
có quan hệ trực tiếp hàng ngày đối với mọi loại hình doanh nghiệp
Trang 3221
Quốc hội Chính phủ
Ban hành Quyết định, Thông tư
Kiểm tra, giám sát
trực tiếp theo địa bàn,
lĩnh vực kinh doanh
Cơ bản thực hiện quản lý gián tiếp
Hình 1.1: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2011
Ngoài cách tiếp cận hệ thống bộ máy quản lý nhà nước theo phân cấp về hành chính, đứng trên góc độ hệ thống các cơ quan Nhà nước liên quan trực
tiếp đến “vòng đời” của doanh nghiệp (từ khi đăng ký thành lập doanh nghiệp
đến khi giải thể, phá sản doanh nghiệp), hệ thống này có thể khái quát theo
Hình 1.2
Trang 33Tòa án
Các cơ quan quản lý chuyên ngành: lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, môi trường, lao động, xuất nhập khẩu, an ninh trật tự
Doanh nghiệp đã hoạt động sản xuất – kinh doanh
DN đăng ký
thành lập
Hình 1.2: Sơ đồ cơ quan quản lý nhà nước theo vòng đời doanh nghiệp
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2011
Như vậy, liên quan trực tiếp đến “vòng đời” của doanh nghiệp, có một số
cơ quan đầu mối quan trọng trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp như: cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, cơ quan quản lý chuyên ngành… Trong đó, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế đóng vai trò trung tâm, đầu mối theo dõi thông tin chung về hoạt động của doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh
* Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thông qua cơ chế phối hợp của các cơ quan chức năng
- Ở cấp địa phương (tỉnh, thành phố):
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp liên quan trực tiếp và đồng thời đến chức năng của nhiều cơ quan khác nhau Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, việc xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố là rất quan trọng
Trang 3423
- Ở Trung ương:
Để nâng cao hiệu quả phối hợp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp,
từ năm 2006, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính phối hợp để triển khai chủ trương hợp nhất mã số đăng ký thuế và mã số đăng
ký kinh doanh thành một mã số duy nhất (gọi là mã số doanh nghiệp) nhằm
trao đổi thông tin giữa hai ngành thuế và đăng ký kinh doanh để hướng tới mục tiêu xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia lưu trữ thông tin về các doanh nghiệp đã đăng ký thành lập Thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn việc thiết lập cơ chế “một cửa liên thông” để trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp giữa cơ
quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và Cục Thuế
1.2.2.5 Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Một là, hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách
phát triển doanh nghiệp
Mục tiêu phát triển doanh nghiệp là cơ sở để đề ra các chính sách quản
lý kinh tế và cơ cấu nhiệm vụ của bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Việc hoạch định chiến lược là nhằm đề ra các hướng ưu tiên trong phát triển các ngành mũi nhọn
Hệ thống các quy hoạch, kế hoạch phát triển doanh nghiệp là những tư tưởng chỉ đạo, các mục tiêu, chỉ tiêu, các mô hình, giải pháp ngắn hạn và dài
hạn để định hướng phát triển các thành phần kinh tế (gồm: kinh tế nhà nước,
kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân…) phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương
Để phát triển doanh nghiệp, trên cơ sở những cơ chế chính sách chung theo quy định của nhà nước, mỗi địa phương cần có những cơ chế, chính sách đặc thù và phù hợp với điều kiện của tỉnh để thu hút các doanh nghiệp về đầu
tư, mở rộng quy mô phát triển sản xuất kinh doanh tại tỉnh
Trang 3524
Hai là, tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật có liên quan đến
công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc quản lý doanh nghiệp
Pháp luật là công cụ pháp lý chủ yếu khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Cho đến nay, hệ thống pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp đã tương đối đầy đủ và tạo lập được khung khổ pháp lý
để quản lý các loại hình doanh nghiệp khác nhau, trong đó mọi loại hình doanh nghiệp đều được đảm bảo quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp và bình đẳng trước pháp luật
Hệ thống pháp luật về doanh nghiệp là tổng hợp các quy định liên quan đến mọi lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm đăng ký thành lập, tổ chức quản lý, nguyên tắc hoạt động, tổ chức lại, chuyển đổi, giải thể và phá sản doanh nghiệp Hiện nay, hệ thống văn bản liên quan đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp bao gồm:
- Các văn bản điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp đến những nội dung quản lý nhà nước có sự phân biệt nhất định theo loại hình, nguồn vốn sở hữu
hoặc lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp (như: Luật Doanh nghiệp, Luật
Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Luật sư, Luật Các tổ chức tín dụng…);
- Các văn bản điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp đến những nội dung quản lý nhà nước được áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp Đây là
hệ thống văn bản pháp lý có phạm vi và đối tượng điều chỉnh rất rộng, có tác dụng tạo ra một môi trường kinh doanh chung cho mọi hình thức doanh nghiệp, gồm: Các quy định về chế độ tài chính, kế toán đối với doanh nghiệp
(như: Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Kế toán và Thống kê ); các quy định về phá sản, cạnh tranh, đấu thầu, bảo hộ
nhãn hiệu, các thị trường đầu vào (như: Luật Phá sản, Luật Cạnh tranh, Luật
Trang 3625
Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai… ); các quy
định về điều kiện kinh doanh (điều kiện có giấy phép hoặc không cần giấy
phép); các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính đối
với doanh nghiệp (như: Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Luật Thanh tra
và các Nghị định hướng dẫn thi hành theo từng lĩnh vực cụ thể )
Hệ thống văn bản pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ, nhất là giai đoạn từ năm
2006 đến nay Bên cạnh đó, chất lượng của hệ thống văn bản pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp cũng ngày được nâng cao, tiếp cận
dần với thông lệ quốc tế, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Để tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật có liên quan đến công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, mỗi địa phương cần phải xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng sao cho phù hợp và thông qua quy chế để tổ chức quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh về các nội dung: ngành nghề kinh doanh có điều kiện; tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm doanh nghiệp Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp liên quan trực tiếp và đồng thời đến chức năng của nhiều cơ quan khác nhau Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, việc xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng thuộc UBND cấp tỉnh là rất quan trọng và cần thiết
Quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc quản lý đối với doanh nghiệp trên địa bàn cấp tỉnh được tập trung vào một số nội dung chủ yếu như: Xác lập cơ chế phối hợp kiểm tra, báo cáo của UBND các huyện, thành phố với các Sở, ngành chức năng của tỉnh; thiết lập cơ chế trao đổi thông tin giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh và các cơ quan chức năng; xác lập cơ chế phối hợp để thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp theo hướng tránh chồng chéo, gây phiền hà cho doanh nghiệp
Trang 3726
Ba là, khuyến khích, hỗ trợ tạo môi trường hoạt động cho doanh nghiệp
Cải cách hành chính là một trong những nội dung quan trọng trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp sớm gia nhập thị trường, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Cải cách hành chính là việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp sớm đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp: Tổ chức tuyên truyền các văn bản pháp luật của Nhà nước cho doanh nghiệp nhằm giúp cho doanh nghiệp nâng cao nhận thức tự giác chấp hành pháp luật của Nhà nước cũng như của địa phương
Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đào tạo nhân lực: Các cơ quan quản lý nhà
hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đào tạo nghề cho người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động tại doanh nghiệp; hỗ trợ mở các lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý doanh nghiệp, kiến thức về chuyên ngành cho đối tượng là cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp
Ngoài ra, các cơ quan quản lý nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường, khoa học và công nghệ cho doanh
nghiệp; thực hiện các chính sách ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp (như: giãn,
hoãn, gia hạn nộp thuế , lệ phí trước bạ, chậm nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
…); thực hiện đối thoại với doanh nghiệp
Bốn là, tiến hành kiểm tra, thanh tra, hậu kiểm, giám sát và xử lý vi
phạm đối với doanh nghiệp
Căn cứ các quy định pháp luật hiện hành, các cơ quan quản lý chuyên ngành trên cơ sở nhiệm vụ được phân công phối hợp tiến hành thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm, giám sát đối với doanh nghiệp về các nội dung như: việc chấp hành quy định về thành lập doanh nghiệp, chấp hành quy định về đăng ký trụ
sở chnihs của doanh nghiệp, chấp hành quy định về việc đăng ký góp vốn của các thành viên trong công ty theo quy định; kiểm tra việc chấp hành quy định
Trang 3827
về quản lý doanh nghiệp, chấp hành quy định về điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp, chấp hành chế độ báo cáo của doanh nghiệp,… Trong trường hợp doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý theo quy định
Hoạt động của doanh nghiệp ngoài sự quản lý của nhà nước còn có sự tham gia giám sát từ phía xã hội Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng không chỉ đóng vai trò là người tiêu dùng những sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra mà còn đóng vai trò là người tham gia giám sát các hoạt động của doanh nghiệp Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có các đối thủ cạnh tranh trên thương trường Nếu loại bỏ những thủ thuật bất hợp pháp để loại trừ nhau trong kinh doanh thì đây cũng là một kênh giám sát hoạt động của các doanh nghiệp Ngoài ra, công luận cũng là một kênh thông tin để giám sát hoạt động của doanh nghiệp Công luận là phương thức cung cấp thông tin nhanh nhất về doanh nghiệp đến công chúng
1.2.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
* Nhân tố khách quan
Thứ nhất, môi trường pháp lý là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến công
tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp hiện nay
Trong quá trình quản lý, các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản, quy định về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Thứ hai, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương tác động
đến công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu cần đạt được trong một thời gian dài Việc phát triển doanh nghiệp và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp phải tuân theo các quan điểm, đường lối trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt được mục tiêu chung của tỉnh Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đề ra
Trang 3928
định hướng để từ đó xây dựng các các chính sách về phát triển doanh nghiệp
và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp phải đồng bộ nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Thứ ba, sự phát triển của công nghệ thông tin cũng là nhân tố ảnh
hưởng không nhỏ đến công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại Với sự phát triển của công nghệ thông tin như ngày nay, việc trao đổi thông tin diễn ra một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, con người có nhiều điều kiện tiếp cận với công nghệ tiên tiến hơn Hầu hết các ngành nghề, các lĩnh vực hay hoạt động trong xã hội hiện đại cũng cần tới sự góp mặt của công nghệ thông tin Do vậy, ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là rất cần thiết và phải hướng đến yêu cầu của quá trình hội nhập, bắt kịp với công nghệ tiên tiến của thế giới, xây dựng một
hệ thống thông tin đồng bộ, hiện đại
* Nhân tố chủ quan:
Thứ nhất, trong quá trình thực thi công việc liên quan đến doanh nghiệp,
năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức cũng ảnh hưởng đến chất lượng của công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý liên quan đến doanh nghiệp là những người trực tiếp tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về quản lý doanh nghiệp Năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng các văn bản pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Thứ hai, trình độ phát triển và ý thức chấp hành pháp luật của doanh
nghiệp cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý doanh nghiệp
Trang 4029
Tóm lại, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là nội dung rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước đối với nền kinh tế Công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ở nước ta hiện nay dựa trên một hệ thống khung khổ pháp lý tương đối chặt chẽ Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần quan trọng trong việc thiết lập một khung pháp lý mới trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp