Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định thời kỳ ổn định ngân sách giữa các cấp ở địa phương; - Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LƯU THỊ THÖY QUỲNH
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI QUẬN TÂY HỒ, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PGS.TS Hoàng Văn Hải PGS.TS Phạm Văn Dũng
HÀ NỘI - 2015
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt……… i
Danh mục các bảng, biểu, sơ đồ ……….ii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Khoảng trống nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Câu hỏi nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 4
7 Kết cấu của Luận văn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH 5
1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 5
1.2 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TỔ CHỨC HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 7
1.2.1 Khái quát về ngân sách nhà nước 7
1.2.2 Vai trò của ngân sách nhà nước 9
1.2.3 Hệ thống ngân sách nhà nước 12
1.3 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP QUẬN, HUYỆN 16
1.3.1 Nguồn thu của ngân sách quận, huyện 16
1.3.2 Chi của ngân sách quận, huyện 17
1.4 QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP QUẬN, HUYỆN 17
1.4.1 Yêu cầu quản lý ngân sách nhà nước cấp quận, huyện 17
1.4.2 Nội dung quản lý NSNN cấp quận, huyện 19
1.4.3 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước cấp quận, huyện 28 1.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP QUẬN, HUYỆN 29
1.5.1 Nền kinh tế thị trường và định hướng của Đảng và Nhà nước 29
1.5.2 Bộ máy và chính sách quản lý 29
1.5.3 Ý thức chấp hành luật pháp 30
1.5.4 Trình độ và phương pháp quản lý 30
1.5.5 Các nhân tố khác 30
1.6 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN 30
1.6.1 Địa lý hành chính, kinh tế, xã hội của Quận Hoàng Mai 30
Trang 41.6.2 Phương pháp và kết quả nghiên cứu quản lý ngân sách tại quận Hoàng
Mai 31
1.6.3 Những phát hiện ra từ nghiên cứu quản lý ngân sách nhà nước tại quận Hoàng Mai 34
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu 36
2.1.2 Quy trình nghiên cứu 37
2.2 NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC 38
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 38
2.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả quản lý ngân sách cấp Quận, Huyện 38
2.2.3 Công cụ thu thập dữ liệu – Bảng câu hỏi 39
2.2.4 Quy trình thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu 40
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH TẠI QUẬN TÂY HỒ 41
3.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ NGÂN SÁCH QUẬN TÂY HỒ 41
3.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 41
3.1.2 Tình hình quản lý thu, chi ngân sách 44
3.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUẬN TÂY HỒ 45
3.2.1 Kết quả mẫu nghiên cứu 45
3.2.2 Kết quả quản lý thu ngân sách nhà nước Quận Tây Hồ 46
3.2.3 Kết quả quản lý chi ngân sách nhà nước tại Quận Tây Hồ 53
3.3.4 Kết quả công tác quản lý ngân sách tại Quận Tây Hồ 64
3.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI QUẬN TÂY HỒ GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 68
3.3.1 Kết quả đạt được 68
3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý ngân sách quận Tây Hồ 71
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH GẮN VỚI TĂNG NGUỒN THU NGÂN SÁCH QUẬN TÂY HỒ 77
4.1 ĐỊNH HƯỚNG CHUNG 77
4.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của quận Tây Hồ đến năm 2020 77
4.1.2 Phương hướng quản lý ngân sách quận 78
4.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH GẮN VỚI TĂNG NGUỒN THU TẠI QUẬN TÂY HỒ 80
4.2.1 Tăng cường, chấn chỉnh quản lý thu, bồi dưỡng nguồn thu, khuyến khích tăng thu 80
Trang 54.2.2 Quản lý nguồn thu tập trung vào ngân sách nhà nước 81
4.2.3 Hoàn thiện định mức phân bổ dự toán ngân sách 82
4.2.4 Nâng cao chất lượng lập dự toán 83
4.2.5 Nâng cao chất lượng công tác kế toán và quyết toán 84
4.2.6 Phân cấp quản lý trong xây dựng và kiểm soát thanh toán 85
4.2.7 Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán 87
4.2.8 Đẩy mạnh công khai tài chính 88
4.2.9 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC
Trang 6i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7
ii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 3.4 Kết quả đánh giá về công tác quản lý thu ngân sách tại
Bảng 3.9 Kết quả đánh giá về công tác quản lý chi ngân sách tại
Biểu 3.1 Thu ngân sách trên địa bàn quận trong giai đoạn
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường ngân sách nhà nước trở thành công cụ quan trọng giúp nhà nước điều hành nền kinh tế xã hội Hoạt động của ngân sách nhà nước nằm trong sự vận động của thị trường Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước phải gắn với mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế, các khoản chi của ngân sách nhà nước phải gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Do đó, việc quản lý ngân sách nhà nước là rất cần thiết Đặc biệt, Việt Nam đang trong công cuộc đổi mới đất nước, sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
xu hướng mở cửa, hội nhập quốc tế việc quản lý ngân sách hiệu quả sẽ góp phần phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; đẩy mạnh cải cách hành chính, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hiện nay, phục vụ tốt hơn nhu cầu của tổ chức và lợi ích của nhân dân
Quản lý nhà nước đối với NSNN là quá trình tác động của Nhà nước đến các mối quan hệ của NSNN, nhằm hướng NSNN tác động vào các hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội phục vụ cho mục tiêu, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ nhất định Đồng thời là quá trình sử dụng NSNN như là công cụ
để quản lý và điều hành nền kinh tế, hướng các quan hệ kinh tế phát triển theo ý đồ của Nhà nước
Quản lý nhà nước về NSNN là làm cho các hoạt động của NSNN theo đúng pháp luật nhà nước, mặt khác kích thích kinh tế phát triển, tạo lập, bồi dưỡng nguồn thu cho ngân sách và sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm các khoản chi ngân sách, bảo đảm sự cân đối tích cực thu - chi ngân sách, giảm bội chi ngân sách Mục tiêu tổng quát trong quản lý và sử dụng ngân sách là phải tạo sự cân đối tích cực, ổn định NSNN tạo môi trường tài chính thuận lợi cho sự ổn định và phát triển, nâng cao hiệu quả của NSNN thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Nhà nước là chủ thể quản lý; các quan hệ, các bộ phận của của ngân sách là đối tượng, khách thể quản lý Vai trò quản lý của Nhà nước đối với ngân sách là một tất yếu bởi vì:
Trang 92
Thứ nhất: NSNN thể hiện bản chất của Nhà nước, của chế độ và phục vụ nhà
nước, tác động đến mọi hoạt động mặt đời sống xã hội, sản xuất kinh doanh, là công
cụ của nhà nước để kích thích kinh tế phát triển, có vai trò chi phối toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia, là bộ phận quan trọng nhất trong chính sách tài chính quốc gia
Thứ hai: Xuất phát từ vai trò tài chính Nhà nước, NSNN là công cụ quan trọng
trong quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng Nhà nước định ra Luật NSNN, các Luật Thuế và các Luật liên quan, các chính sách ưu đãi đầu tư, khuyến khích đầu tư, chính sách xã hội, nguồn chi từ NSNN nhà nước là rất lớn tác động nền kinh tế, đồng thời thực hiện kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực mang lại hiệu quả
Thứ ba, các vấn đề liên quan đến NSNN ở tầm vĩ mô chỉ có Nhà nước mới có
khả năng chi phối, quy định thực hiện, tác động mọi hoạt động trong đời sống kinh tế
xã hội Quản lý vừa mang tính bắt buộc vừa tạo điều kiện cho các các hoạt động trong nền kinh tế phát triển
Do đòi hỏi về nhu cầu cầu chi ngân sách ngày càng tăng lên Chính phủ cũng như chính quyền các cấp luôn quan tâm làm sao để tăng nguồn thu ngân sách nhằm cân đối thu chi ngân sách hiệu quả, hợp lý
Tăng nguồn thu ngân sách ngoài việc quản lý tốt việc thu nộp các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí….trên nguyên tắc cơ bản thu đúng, thu đủ còn phải khai thác tối đa các nguồn thu tiền tàng của địa phương và bồi dưỡng các nguồn thu thông qua hiệu quả đầu tư vốn NS
Quận Tây Hồ là một quận đang trong quá trình đô thị hóa việc cân đối thu chi ngân sách càng trở lên cấp thiết Quản lý thu ngân sách để tạo được nguồn thu ổn định, bền vững, các nhiệm vụ chi trong ngắn hạn, trung hạn được sắp xếp thứ tự ưu tiên căn
cứ vào khả năng thu của ngân sách quận là những vấn đề mà Quận ủy – HĐND – UBND quận Tây Hồ luôn quan tâm, tập trung chỉ đạo sát sao trong quá trình điều hành ngân sách Xuất phát từ thực tiễn nêu trên việc nghiên cứu về quản lý ngân sách nhà nước gắn với tăng nguồn thu là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực cần được quan tâm nghiên cứu và triển khai ứng dụng tại các Quận, Huyện trong cả nước nói chung và tại quận Tây Hồ nói riêng
Trang 103
2 Khoảng trống nghiên cứu
Dựa trên các nghiên cứu có liên quan đến đề tài có thể nhận thấy các đề tài nghiên cứu trước đây đề cập đến vấn đề thuế, đổi mới quản lý ngân sách nhà nước, quản lý ngân sách nhà nước hoặc xây dựng chính sách quản lý ngân sách nhà nước Những nghiên cứu này có đề cập đến công tác quản lý ngán sách tuy nhiên phạm vi nghiên cứu khác nhau Công tác quản lý ngân sách tại mỗi Quận, Huyện do các đặc trưng riêng của mỗi Quận, Huyện khác nhau do đối tượng, phạm vi, số lượng đơn vị kinh doanh trên địa bàn nên kết quả nghiên cứu sẽ khác nhau Công tác quản lý ngân sách hiện nay đối với việc phát triển kinh tế của Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng Hiệu quả của công tác quản lý ngân sách nhà nước ở mỗi Quận, Huyện đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý ngân sách nhà nước nói chung, đồng thời góp phần tăng làm nguồn thu ngân sách của nhà nước Do vậy, việc nghiên cứu tăng cường quản
lý ngân sách nhà nước gắn với tăng nguồn thu tại Quận Tây Hồ đáp ứng khoảng trống nghiên cứu và có tính ứng dụng trong thực tế cao
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích chính của Luận văn là đề xuất được các giải pháp nhằm quản lý ngân sách nhà nước gắn với tăng nguồn thu trên địa bàn quận Tây Hồ
3.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý ngân sách
- Đánh giá tình hình quản lý ngân sách tại quận Tây Hồ giai đoạn 2011-2015, phân tích các ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện
- Nêu ra phương hướng và giải pháp quản lý ngân sách gắn với tăng nguồn thu tại cấp quận
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Đề tài nghiên cứu quản lý ngân sách nhà nước gắn với tăng nguồn thu tại quận Tây Hồ
- Phạm vi: Quận Tây Hồ
- Luận văn nghiên cứu các số liệu tổng hợp giai đoạn 2011 - 2015
5 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn tập trung trả lời câu hỏi nghiên cứu chính sau :
Trang 114
- Giải pháp nào nhằm quản lý ngân sách nhà nước gắn với tăng nguồn thu tại Quận Tây Hồ?
6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Về khoa học: Nghiên cứu làm rõ thêm lý luận về quản lý NSNN
- Về thực tiễn: Qua phân tích thực trạng quản lý NSNN trên địa bàn quận Tây
Hồ, đánh giá những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và đề ra được một số kiến nghị, giải pháp để quản lý ngân sách nhà nước gắn với tăng nguồn thu tại Quận Tây Hồ
7 Kết cấu của Luận văn
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách nhà nước
Chương 2 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng quản lý ngân sách tại quận Tây Hồ giai đoạn 2011-2015 Chương 4 Đề xuất và kiến nghị về quản lý ngân sách gắn với tăng nguồn thu tại quận Tây Hồ, giai đoạn 2016-2020
Kết luận
Trang 125
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Ngân sách nhà nước luôn chiếm vị trí quan trọng trong nền tài chính của mỗi quốc gia từ khi ra đời, do vậy vấn đề nghiên cứu quản lý ngân sách nhà nước được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đặc biệt khi nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-
2015 gặp rất nhiều khó khăn việc quản lý ngân sách nhà nước gắn với tăng nguồn thu
là một trong những vấn đề được các chuyên gia kinh tế quan tâm tuy nhiên để có một cách nhìn đúng đắn và đầy đủ thì chúng ta cần xem xét một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam trước đây để rút kinh nghiệm như:
Tác phẩm “Thuế- công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế” của PGS Quách Đức Pháp do NXB Xây dựng, Hà Nội, xuất bản năm 1999 Tác phẩm này đã nghiên cứu và
hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về thuế; giới thiệu một số hệ thống thuế của nước ngoài để làm cơ sở tham khảo khi nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở Việt Nam; đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới nhằm phát huy vai trò công cụ thuế trong điều tiết vĩ mô kinh tế Các giải pháp này có ảnh hưởng tác động đến nguồn thu của ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương khi thực hiện và được nghiên cứu ở tầm vĩ mô
Tác phẩm "Đổi mới ngân sách nhà nước" của Tào Hữu Phùng và Nguyễn Công Nghiệp, do NXB Thống kê, Hà Nội, xuất bản năm 1992 Nội dung chính của tác phẩm này là khái quát những nhận thức chung về NSNN, đánh giá những chính sách NSNN hiện hành và đề xuất giải pháp đổi mới NSNN để sử dụng có hiệu quả trong tiến trình đổi mới nền kinh tế đất nước Đến nay có những giải pháp đã được triển khai ứng dụng hiệu quả trong thực tế
Luận án Phó tiến sỹ kinh tế "Ngân sách nhà nước trong sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay" của tác giả Trần Văn Ngọc năm 1997, đã phân tích nhiều nội dung liên quan đến NSNN gắn với phát triển hàng hóa ở nước ta trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới Vấn đề nổi bật của luận án này là xem xét mối liên hệ giữa NSNN và phát triển hàng hóa, trình bày các nhân tố qui định qui mô NSNN, giới hạn lợi ích giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong thu, chi NSNN Nội
Trang 136
dung luận án đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích cho việc nghiên cứu giải quyết những vấn đề phát triển hàng hóa
Tác phẩm "Chính sách tài chính của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế"
do PGS.TS Vũ Thu Giang làm chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, xuất bản năm 2000 Nội dung cơ bản của tác phẩm này đề cập tới những thuận lợi và thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; thực trạng chính sách tài chính của nước ta trong quá trình hội nhập, bao gồm: chính sách thuế, chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài, chính sách tỷ giá hối đoái và chính sách lãi suất trong tiến trình hội nhập, mặt tích cực và những hạn chế của chính sách; những yêu cầu đặt ra với chính sách tài chính trong quá trình hội nhập; những kiến nghị và những giải pháp chính cải cách chính sách tài chính để Việt Nam tham gia hội nhập thành công, đồng thời đặt ra những điều kiện chủ yếu để hội nhập thành công Tác phẩm này phần nào làm rõ thêm về sự ảnh hưởng tới nguồn thu và nhu cầu chi tiêu ngân sách nhà nước khi nước ta tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tập trung, quản lý các khoản thu NSNN và kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước trên địa bàn TP Hồ Chí Minh -
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành của TS Nguyễn Thanh Dương, Kho bạc Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành tháng 3/2001 Đề tài đã đánh giá thực trạng, đề xuất những giải pháp nhằm hướng đến hoàn thiện cơ chế quản lý quĩ NSNN trên địa bàn và quĩ NSNN nói chung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn Tuy nhiên, năm 2002 Việt Nam đã thông qua Luật Ngân sách sửa đổi, nên rất cần có những nghiên cứu khảo sát thực tế kịp thời, làm cơ sở cho những điều chỉnh, định hướng trong xây dựng chính sách và chỉ đạo điều hành thực tiễn
Hoàn thiện quản lý thu NSNN qua KBNN trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Đặng Văn Hiền - năm 2004 Luận văn đã làm rõ thực trạng và
đề xuất một số giải pháp để quản lý tốt nguồn thu NSNN trên địa bàn thành phố Hà Nội Tuy nhiên, đề tài cũng mới chỉ khảo sát trên địa bàn Hà Nội, chưa có phân tích, đánh giá một cách tổng thể trên bình diện cả nước, chưa có sự so sánh cần thiết giữa các địa phương, khu vực để rút ra những đặc điểm chung làm cơ sở đề xuất các giải pháp toàn diện
Phát huy vai trò của ngân sách nhà nước- góp phần phát triển kinh tế Việt Nam- Luận án Tiến sỹ của Nguyễn Ngọc Thao - Hà nội 2007 Luận án đã làm rõ vai trò của
Trang 147
ngân sách nhà nước; đề xuất những đổi mới trong việc gắn vai trò ngân sách với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa
Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp thu NSNN giữa các Cơ quan Thuế, Hải quan - Kho bạc Nhà nước Nguyễn Hữu Hiệp, Tạp chí quản lý Ngân quĩ Quốc gia, số
33 tháng 3/2005 Bài viết đã đề cập đến việc phối hợp công tác thu NSNN giữa các cơ quan thu với KBNN Tuy nhiên những vấn đề về phối hợp ở mức cao hơn như qua mạng diện rộng, hợp nhất kế toán thu NSNN, cũng chưa được đề cập có hệ thống
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Trần quốc Vinh năm 2009“ Đổi mới quản lý ngân sách địa phương các tỉnh vùng Đồng Bằng Sông Hồng”; Luận án đã hệ thống được những vấn đề cơ bản về quản lý ngân sách địa phương Thực trạng quản lý ngân sách địa phương các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng Giải pháp đổi mới quản lý ngân sách địa phương các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Tô Thiện Hiền năm 2012 “ Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn năm 2020” đã làm sáng tỏ về mặt lý luận về hiệu quả quản lý NSNN và quản lý NSNN tỉnh
An Giang Phân tích thực trạng các hình thức thu, chi NSNN tỉnh trong giai đọan
2006 - 2010 Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý NSNN tỉnh An Giang đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của địa phương với tầm nhìn đến năm 2020
1.2 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TỔ CHỨC HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái quát về ngân sách nhà nước
Từ “ Ngân sách” được lấy ra từ thuật ngữ “ budget” một từ tiếng anh thời Trung
cổ, dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua trong đó chứa những khoản tiền cần thiết cho những khoản chi tiêu công cộng Cho đến nay khi nói về ngân sách Nhà nước, có nhiều cách định nghĩa khác nhau như:
Từ điển Bách Khoa Toàn Thư của Liên Xô (cũ) (1971) cho rằng: “Ngân sách là bảng liệt kê các khoản thu và chi bằng tiền của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định; là mọi kế hoạch thu chi bằng tiền của bất kỳ một xí nghiệp, cơ quan hoặc cá nhân nào trong một giai đoạn nhất định”
Trang 158
Từ điển Bách Khoa Toàn Thư về kinh tế của Pháp định nghĩa: “Ngân sách là văn kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các nghiệp vụ tài chính (thu, chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyền, địa phương, đơn vị công hoặc tư (doanh nghiệp, hiệp hội ) được dự kiến và cho phép”
Từ điển kinh tế thị trường của Trung Quốc định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là
kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”
Từ điển thuật ngữ tài chính tín dụng (1996) của Viện Nghiên cứu Tài chính cho rằng: “Ngân sách được hiểu là dự toán và thực hiện mọi khoản thu nhập (tiền thu vào)
và chi tiêu (tiền xuất ra) của bất kỳ một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, gia đình hoặc cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
Từ điển tiếng Việt thông dụng, “ Ngân sách: tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định” (Như ý, 1996)
Trong thực tiễn, thuật ngữ ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong một khoảng thời gian nhất định Một bảng tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là ngân sách nhà nước
Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm khá tương đồng với định nghĩa của các nước và được quy định tại Điều 1 của Luật NSNN được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2 năm 2002: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Năm ngân sách (hay còn gọi là năm tài chính hay năm tài khóa) là giai đoạn mà trong đó dự toán thu - chi tài chính đã được Quốc Hội phê chuẩn, có hiệu lực thi hành
Ở hầu hết các nước, năm ngân sách có thời hạn bằng 1 năm dương lịch, nhưng thời
Trang 169
điểm bắt đầu và kết thúc năm ngân sách ở mỗi nước có khác nhau Ở đa số các nước (trong đó có Việt Nam) năm ngân sách trùng với năm dương lịch (bắt đầu 01/01, kết thúc 31/12) như Pháp, Bỉ, Hà Lan, Trung Quốc Một số nước như Anh, Nhật năm ngân sách bắt đầu từ 1/4 năm trước và kết thúc vào 31/3 năm sau Úc thì từ 1/7 năm trước đến 30/6 năm sau; Mỹ thì từ 1/10 năm trước đến 30/9 năm sau Việc quy định năm ngân sách hoàn toàn là do ý chí chủ quan của từng nước
Về bản chất, NSNN là hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước Các quan hệ đó được biểu hiện thông qua các nội dung thu, chi của NSNN, phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội và nhiệm vụ của Nhà nước trong mỗi thời kỳ nhất định
Nhà nước ra đời tồn tại và phát triển trước hết cần có nguồn tài chính để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy đồng thời đảm bảo các nhiệm vụ chi nhằm phát triển kinh tế - xã hội phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực Nguồn tài chính của NSNN hình thành chủ yếu qua các khoản thu của Nhà nước, giữa thu và chi ngân sách có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ nhau mang tính cân đối, nên NSNN thực hiện hai chức năng cơ bản
Chức năng NSNN được xuất phát từ bản chất của NSNN và xuất phát từ nguồn gốc ra đời của NSNN Nhà nước ra đời tồn tại và phát triển trước hết cần có nguồn tài chính để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy đồng thời đảm bảo các nhiệm vụ chi nhằm phát triển kinh tế - xã hội phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực Nguồn tài chính của NSNN hình thành chủ yếu qua các khoản thu của Nhà nước, giữa thu và chi ngân sách có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ nhau mang tính cân đối, nên NSNN thực hiện hai chức năng
cơ bản
Chức năng phân phối: Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước sử dụng các
công cụ, các biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết
Chức năng giám đốc: Thực hiện chức năng này, Nhà nước thông qua NSNN để
biết được nguồn thu - chi nào là cơ bản của từng thời kỳ, từng giai đoạn và do đó có những giải pháp để làm tốt thu - chi Nhà nước định ra cơ cấu thu- chi hợp lý; theo dõi các phát sinh và những nhân tố ảnh hưởng đến thu- chi
1.2.2 Vai trò của ngân sách nhà nước
Trang 1710
Sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế là một thực tế, đồng thời mang tính nguyên lý đã được thừa nhận rộng rãi Chính phủ có thể dùng chính sách tài khóa để
can thiệp vào nền kinh tế, thông qua hoạt động thu, chi NSNN
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế -
xã hội, an ninh - quốc phòng và đối ngoại của mỗi quốc gia Vai trò của NSNN luôn gắn liền với chức năng của Nhà nước ở từng thời kỳ nhất định Vai trò của NSNN được thể hiện chủ yếu qua cách thức nhà nước sử dụng NSNN trong điều hành vĩ mô nền kinh tế
- Ngân sách nhà nước - công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước:
Đây là vai trò lịch sử của NSNN, mà trong bất kỳ cơ chế nào, thời đại nào, NSNN cũng phải đảm nhiệm Vai trò này của NSNN được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của NSNN Hoạt động quản lý của Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính bảo đảm để chi tiêu cho những mục tiêu xác định Các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước phải được thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế
- Ngân sách nhà nước - công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội của Nhà nước: Khi đề cập đến các công cụ tài chính trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
- xã hội, nhà nước không thể không sử dụng một công cụ rất quan trọng, đó là NSNN Bởi lẽ, phạm vi phát huy chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Hay nói cách khác, do cơ chế thị trường cần thiết phải có sự điều chỉnh vĩ mô từ phía nhà nước, đặc biệt là đối với cơ chế thị trường định hướng XHCN ở nước ta Mặt khác, Nhà nước cũng chỉ có thể thực hiện điều chỉnh thành công khi có nguồn tài chính đảm bảo, tức là khi sử dụng triệt để và có hiệu quả vai trò công cụ huy động nguồn tài chính của NSNN Vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội của NSNN có thể được khái quát hóa trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và thị trường như sau:
Trang 18+ Hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong những trường hợp cần thiết đảm bảo cho sự ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị chuyển đổi sang cơ cấu mới cao hơn
+ Thông qua các khoản thuế và chính sách thuế sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh
+ Các nguồn vay nợ từ nước ngoài và trong nước sẽ tạo thêm nguồn vốn cho nền kinh tế Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn vay nợ của nhà nước cũng là một vấn đề cần phải xem xét thận trọng khi quyết định thực hiện các biện pháp huy động tiền vay
* Về mặt xã hội:
+ Đầu tư của ngân sách để thực hiện các chính sách xã hội: chi cho Giáo Đào tạo, y tế, phòng chống dịch bệnh, kế hoạch hóa gia đình, văn hóa, thể thao, truyền thanh, đảm bảo an sinh xã hội, trợ giá mặt hàng, vệ sinh an toàn thực phẩm
dục-+ Thông qua thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm điều tiết thu nhập để phân phối lại cho các đối tượng có thu nhập thấp thông qua trợ cấp xã hội
+ Thông qua thuế gián thu nhằm định hướng tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm Tuy nhiên, vấn đề sử dụng công cụ NSNN để điều chỉnh các vấn đề xã hội không đơn giản, đòi hỏi phải được nghiên cứu đầy đủ và phải có sự thống nhất giữa chính sách và biện pháp
* Về mặt thị trường:
Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách
về ổn định giá cả thị trường và chống lạm phát, chống đầu cơ, làm phát sinh các thất bại của thị trường
Trang 19Khi đồng vốn ngân sách được sử dụng hợp lý và có hiệu quả, quay vòng nhanh thì tác dụng tích cực của nó rất lớn và ngược lại sẽ gây ra bất ổn định trên thị trường, một mặt làm trì trệ một số luồng tiền mặt, mặt khác thúc đẩy lạm phát tăng lên Phát hành thêm tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách là một trong số các nguyên nhân trực tiếp của tình trạng lạm phát gia tăng
Mặt khác, NSNN có cân bằng hay không sẽ tác động sâu sắc đến sự cân bằng của cán cân thanh toán quốc tế, vởi vì cân bằng của ngân sách tác động trực tiếp đến sự cân bằng của cán cân thương mại; cân bằng của ngân sách thực hiện được hay không nói lên khả năng trả nợ đến hạn các khoản vay nước ngoài có thực hiện được hay không
1.2.3 Hệ thống ngân sách nhà nước
Từ khi có nhà nước và NSNN, các quốc gia trên thế giới đều có phương thức riêng để sử dụng NSNN như một công cụ điều tiết vĩ mô, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước NSNN luôn gắn với sự ra đời của Nhà nước, phù hợp với mô hình
tổ chức nhà nước và hiến pháp, pháp luật Các quốc gia đều có sự phân chia ngân sách thành NSTW và ngân sách cấp địa phương (cấp dưới) Sự phân định NSTW và ngân sách địa phương ở một số nước như sau: ở (Pháp, Ý, Nhật, Anh) hệ thống NSNN được
tổ chức thành hai cấp: ngân sách trung ương và ngân sách của các chính quyền địa phương Ở Mỹ, Đức, Canada, Thụy Sỹ hệ thống NSNN được tổ chức thành ba cấp: Ngân sách liên bang; Ngân sách bang; Ngân sách địa phương
Cộng hoà Pháp được phân thành 4 cấp phù hợp với cơ cấu tổ chức hành chính là: NSNN (ngân sách TW), ngân sách vùng, ngân sách tỉnh, và ngân sách xã Tuy các cấp ngân sách có tính độc lập tương đối nhưng về giác độ quản lý thu, chi đều phải chấp hành một cơ chế thống nhất theo quy định của luật
Ở Trung Quốc thực hiện qui định mỗi cấp chính quyền là một cấp ngân sách, xây dựng hệ thống tổ chức NSNN gồm 5 cấp: Trung ương; tỉnh (khu tự trị, thành phố trực
Trang 20Ngân sách các cấp tại các quốc gia đều do chính phủ tại các quốc gia và các cấp chính quyền cơ sở điều hành theo phân cấp Tương ứng với mỗi cấp đều có các cơ quan chuyên môn trực thuộc chính phủ và chính quyền cơ sở tham gia quản lý theo chức năng nhiệm vụ quy định, các cơ quan này có tổ chức bộ máy riêng và có những thẩm quyền nhất định Các cơ quan này có trách nhiệm tham mưu với chính quyền các cấp về các chiến lược trong dài hạn và các chính sách chế độ có liên quan phục vụ cho công tác quản lý Đồng thời cũng là các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm triển khai, thực thi các chiến lược và chính sách khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt Theo mô hình này, ở trung ương thường có các Bộ, ở địa phương thường có các cơ quan cấp bang, vùng, tỉnh, huyện và xã
Ở Việt Nam, tổ chức hệ thống NSNN cũng phù hợp với tổ chức bộ máy nhà nước Theo hiến pháp, mỗi cấp hành chính có một cấp ngân sách riêng cung cấp phương tiện vật chất cho chính quyền đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ Hệ thống NSNN Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung - dân chủ, thể hiện:
- Tính thống nhất: đòi hỏi các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thành một thể thống nhất, biểu hiện các cấp ngân sách có cùng nguồn thu, cùng định mức chi tiêu
và cùng thực hiện một quá trình ngân sách
- Tính tập trung: thể hiện ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng Ngân sách cấp dưới chịu sự chi phối của ngân sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo cân đối của ngân sách cấp mình
- Tính dân chủ: Dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngân sách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyền chi
phối ngân sách cấp mình
Trang 21Ngân sách địa phương bao gồm: Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là NS tỉnh); Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là NS huyện); Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã) Như vậy, NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách trung gian của ngân sách địa phương, là bộ phận của NSNN, nguồn tài chính tập trung quan trọng trong hệ thống NSNN
Sơ đồ 1.1: Hệ thống ngân sách của Việt Nam
Mối quan hệ giữa các cấp ngân sách trong hệ thống NSNN:
- Tính độc lập tương đối giữa ngân sách các cấp: Nguồn thu của ngân sách cấp nào thì cấp đó sử dụng; nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào thì cấp đó phải đảm nhận
- Tính phụ thuộc giữa ngân sách cấp dưới và ngân sách cấp trên: Ngân sách cấp trên có thể chi bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới để địa phương hoàn thànhnhiệm vụ; ngân sách cấp trên có thể chi bổ sung có mục tiêu để địa phương có thể thực hiện được chính sách mới
Quan hệ giữa ngân sách các cấp thực hiện theo các nguyên tắc sau:
Ngân sách nhà nước
Ngân sách tỉnh
Ngân sách quận, huyện
Ngân sách xã phường
Trang 2215
- Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng và phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Số bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới;
- Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5 năm (gọi chung là thời
kỳ ổn định ngân sách) Chính phủ trình Quốc hội quyết định thời kỳ ổn định ngân sách giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định thời kỳ ổn định ngân sách giữa các cấp ở địa phương;
- Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; Trường hợp cần ban hành chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách sau khi dự toán đã được cấp có thẩm quyền quyết định thì phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp;
- Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu ngân sách hàng năm (phần ngân sách địa phương được hưởng) để chi cho các nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung
từ ngân sách cấp trên (đối với địa phương nhận bổ sung từ ngân sách cấp trên) hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên (đối với những địa phương có điều tiết về ngân sách cấp trên);
- Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;
- Ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp sau: Uỷ ban nhân dân các cấp được sử dụng ngân sách cấp mình để hỗ trợ cho các đơn vị do cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong trường hợp khi xảy ra thiên tai và các trường hợp cấp thiết khác mà địa phương cần khẩn trương huy động lực lượng để bảo đảm ổn định tình hình kinh tế - xã hội; các đơn vị do cấp trên quản lý khi thực hiện chức năng của mình, kết hợp thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp dưới
Trang 2316
1.3 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP QUẬN, HUYỆN
Ngân sách quận, huyện là toàn bộ các khoản thu - chi được quy định đưa vào
dự toán trong một năm do HĐND quận, huyện quyết định và giao cho UBND quận, huyện tổ chức chấp hành, nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp quận, huyện Quan niệm trên có thể giúp chúng ta hình dung được ngân sách quận, huyện, cơ quan quyết định và cơ quan chấp hành ngân sách quận, huyện Tuy nhiên quan điểm trên chưa phản ánh được các mối quan hệ tiền
tệ mà thực chất là quan hệ lợi ích kinh tế chứa đựng trong ngân sách quận, huyện Bản chất ngân sách quận, huyện vừa là một kế hoạch tài chính, vừa là quỹ tiền tệ tập trung của quận, huyện được hình thành bằng các nguồn thu và các khoản chi của quận, huyện đồng thời nó cũng phản ánh những mối quan hệ một bên là chính quyền cấp quận, huyện với một bên là các chủ thể khác, thông qua sự vận động của các nguồn tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền quận, huyện
1.3.1 Nguồn thu của ngân sách quận, huyện
* Các khoản thu ngân sách quận, huyện, thị xã hưởng 100% là các khoản thu thuế, thu phí lệ phí, thu đóng góp tự nguyện, viện trợ của các tổ chức,cá nhân trong và ngoài nước… huyện được để lại toàn bộ để cân đối nhiệm vụ cho chi tại cấp huyện;
* Các khoản thu của ngân sách quận, huyện, thị xã hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) là các khoản thu thuế, thu phí lệ phí … huyện được hưởng một phần theo quy định về tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu giữa các cấp gân sách;
* Các khoản thu để lại chi quản lý qua NSNN là phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; Thu từ hoạt động dịch vụ; Thu từ hoạt động sự nghiệp; Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng;
* Thu kết dư ngân sách năm trước;
* Thu chuyển nguồn ngân sách năm trước;
* Thu từ bổ sung ngân sách cấp trên;
* Thu nộp từ ngân sách cấp dưới;
Trang 2417
1.3.2 Chi của ngân sách quận, huyện
Chi NSĐP là quá trình phân bổ sử dụng quỹ NSĐP nhằm duy trì các hoạt động của chính quyền địa phương, góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương Chi NSĐP bao gồm:
* Chi đầu tư phát triển
Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội do địa phương quản lý;
Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
* Chi thường xuyên
Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý;
Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao cho địa phương); Hoạt động của các cơ quan nhà nước , cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương;
Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật;
Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản
lý
Chương trình quốc gia do chính phủ giao cho địa phương quản lý;
Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
* Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới;
* Chi từ nguồn thu để lại quản lý qua ngân sách nhà nước;
* Chi chuyển nguồn sang năm sau;
* Chi nộp ngân sách cấp trên
1.4 QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP QUẬN, HUYỆN
1.4.1 Yêu cầu quản lý ngân sách nhà nước cấp quận, huyện
Ngân sách cấp quận, huyện là công cụ quan trọng của chính quyền cấp quận, huyện trong việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Ngân sách quận,
Trang 2518
huyện là quỹ tiền tệ tập trung của huyện được hình thành từ các nguồn thu để đảm bảo các khoản chi của quận, huyện Vì vậy ngân sách quận, huyện nhất thiết phải được quản lý và sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả và đúng chế độ quy định của Nhà nước Để thực hiện tốt vấn đề này, cần thiết phải có sự quản lý chặt chẽ của các cấp chính quyền trong việc thực hiện thu, chi ngân sách cấp quận, huyện
Công tác quản lý NSNN nói chung và quản lý NSNN cấp quận, huyện nói riêng phải đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản như sau:
Thứ nhất, Quản lý NSNN cấp quận, huyện phải được thực hiện một cách thường
xuyên, liên tục và toàn diện, từ khâu lập dự toán, chấp hành đến quyết toán ngân sách Việc lập dự toán ngân sách phải thể hiện đầy đủ các quan điểm chủ yếu của chính sách tài chính quốc gia như: Cơ cấu động viên các nguồn thu, bố trí các nội dung chi Tổ chức thực hiện tốt dự toán đã được phê duyệt Kiểm soát chặt chẽ các khoản thu chi ngân sách huyện, các báo cáo quyết toán Trong năm ngân sách, phải quản lý tốt đồng thời cả ba khâu: chấp hành ngân sách của chu trình hiện tại, quyết toán ngân sách của chu trình trước, lập dự toán ngân sách cho chu trình tiếp theo và cứ lặp đi, lặp lại như vậy
Thứ hai, Quản lý ngân sách quận, huyện phải được quản lý thống nhất theo
nguyên tắc tập trung, dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm
Thứ ba, Quản lý ngân sách quận, huyện phải tuân theo pháp luật Phải thu đúng,
thu đủ; chi ngân sách phải đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu theo quy định của Nhà nước Mọi khoản thu, chi NSNN phải được hạch toán đầy đủ vào NSNN qua kho bạc nhà nước
Thứ tư, Giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích: Lợi ích nhà nước, lợi ích nhân dân
theo hướng chú trọng lợi ích nhân dân trên cơ sở đáp ứng mục tiêu của nhà nước
Thứ năm, Giải quyết tốt mối quan hệ trước mắt và lâu dài theo hướng có sự
chuẩn bị nguồn tài chính lâu dài, xây dựng và nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài để có cơ
sở bảo đảm phát triển vững chắc phù hợp với xu thế vận động của nền kinh tế - xã hội trên cơ sở không ngừng đầu tư cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Quản lý ngân sách quận, huyện phải bảo đảm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, rút ngắn dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa miền
Trang 2619
xuôi và miền ngược, giành tỷ lệ thoả đáng cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo đảm nguồn tài chính để giải quyết những nhiệm vụ trọng yếu của chính quyền cấp huyện và cấp xã trong từng thời kỳ; bảo đảm cân đối tích cực trên cơ sở nguồn thu được phân cấp, không được bội chi
Với công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế hiện nay, NSNN giữ vai trò trọng yếu trong phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách huyện giữ vai trò quan trọng trong tiến trình đổi mới tại địa phương, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển chung của các tỉnh, thành phố và sự phát triển của đất nước Ngân sách quận, huyện đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại và phát triển của bộ máy chính quyền cơ sở, giúp hoàn thành chức năng quản lý ngân sách và chính sách chế độ
1.4.2 Nội dung quản lý NSNN cấp quận, huyện
1.4.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách quận, huyện
Tại các quận, huyện, bộ máy quản lý ngân sách quận, huyện bao gồm: Ủy ban nhân dân quận, huyện; Phòng Tài chính-Kế hoạch; Kho bạc nhà nước quận, huyện; Chi cục thuế quận, huyện và các đơn vị sử dụng ngân sách cấp quận, huyện;
* Ủy ban nhân dân quận, huyện: do Hội đồng nhân dân quận, huyện bầu ra, là cơ
quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp quận, huyện chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên Trong lĩnh vực tài chính-ngân sách, UBND quận huyện có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Ủy ban nhân dân quận, huyện chỉ đạo việc xây dựng và lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương, phương án phân bổ
dự toán ngân sách cấp mình; quyết toán ngân sách địa phương; lập dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết trình Hội đồng nhân dân huyện quyết định và báo cáo Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;
- Uỷ ban nhân dân quận, huyện chỉ đạo việc tổ chức thực hiện ngân sách địa phương; hướng dẫn, kiểm tra Uỷ ban nhân dân xã xây dựng và thực hiện ngân sách và kiểm tra nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã về thực hiện ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật;
- Phòng Tài chính-Kế hoạch quận, huyện: là đơn vị chuyên môn trực thuộc
UBND quận huyện, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính, tài sản; kế hoạch và đầu tư; đăng ký
Trang 2720
kinh doanh; tổng hợp, thống nhất quản lý về kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân theo quy định của pháp luật
Về lĩnh vực quản lý tài chính, ngân sách: Phòng Tài chính - Kế hoạch có trách
nhiệm trình Uỷ ban nhân dân quận huyện ban hành các quyết định, chỉ thị; quy hoạch,
kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm về lĩnh vực tài chính; tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn các cơ quan, đơn vị dự toán thuộc quận, Uỷ ban nhân dân các xã phường xây dựng dự toán ngân sách hàng năm; xây dựng trình Uỷ ban nhân dân quận, huyện dự toán ngân sách quận, huyện và tổng hợp
dự toán ngân sách quận, huyện theo hướng dẫn của Sở Tài chính; lập dự toán thu ngân sách nhà nước đối với những khoản thu được phân cấp quản lý, dự toán chi ngân sách quận, huyện và tổng hợp dự toán ngân sách xã phường, phương án phân
bổ ngân sách quận trình Uỷ ban nhân dân quận, huyện; phối hợp với cơ quan có liên quan trong việc quản lý công tác thu ngân sách nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật; thẩm tra quyết toán các dự án đầu tư do quận, huyện quản lý; thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã, phường; lập quyết toán thu, chi ngân sách quận; tổng hợp, lập báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn quận, huyện và quyết toán thu, chi ngân sách quận, huyện (bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách cấp quận, huyện và quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã, phường) báo cáo
Uỷ ban nhân dân quận để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn; tổ chức thẩm tra, trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện phê duyệt quyết toán đối với
dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định
Về lĩnh vực kế hoạch và đầu tư: Phòng Tài chính Kế hoạch chịu trách nhiệm
tham mưu UBND Quận huyện quy hoạch, kế hoạch 5 năm và hàng năm của quận huyện; đề án; chương trình phát triển kinh tế - xã hội, cải cách hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư trên địa bàn quận huyện; dự thảo các quyết định, chỉ thị, văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật và các quy định của Uỷ ban nhân dân quận huyện, Sở Kế hoạch và đầu tư về công tác kế hoạch và đầu tư trên địa bàn; trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận huyện các chương trình, danh mục, dự án đầu tư trên địa bàn; thẩm định và chịu trách nhiệm về dự án, kế hoạch đầu tư trên địa bàn thuộc thẩm quyền quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận huyện; thẩm
Trang 2821
định và chịu trách nhiệm về kế hoạch đấu thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu các dự án hoặc gói thầu thuộc thẩm quyền quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận huyện;
tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách các quy hoạch,
kế hoạch, chương trình, dự án, đề án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực kế hoạch và đầu tư trên địa bàn
và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định
- Kho bạc nhà nước quận huyện: là đơn vị ngành dọc thuộc Kho bạc nhà nước
tỉnh, đóng trên địa bàn làm nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN trên địa bàn quận huyện, có chức năng tập trung các khoản thu ngân sách trên địa bàn quận huyện, hạch toán, kế toán các khoản thu cho các cấp ngân sách Thực hiện chi ngân sách nhà nước, kiểm soát thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách trên địa bàn quận huyện theo quy định của pháp luật Quản lý, điều hòa tồn ngân quỹ Kho bạc nhà nước theo hướng dẫn của KBNN cấp trên, thực hiện tạm ứng tồn ngân Kho bạc nhà nước cho ngân sách địa phương theo quy định Quản lý các quỹ ngân sách được giao quản lý, quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu, ký quỹ, ký cược thế chấp theo quyết định của cấp có thẩm quyền Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán bằng tiền mặt, chuyển khoản, chuyển khoản đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có quan hệ giao dịch với KBNN quận Thực hiện công tác hạch toán kế toán về thu, chi NSNN, các quỹ do KBNN quản lý Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo về thu, chi NSNN và các quỹ tài chính do KBNN huyện quản lý, xác nhận số liệu thu, chi NSNN phát sinh qua KBNN quận huyện Quyết toán các hoạt động nghiệp vụ phát sinh tại KBNN và trên toàn địa bàn, thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định
- Chi cục thuế quận huyện: là tổ chức trực thuộc Cục Thuế, có chức năng tổ
chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của Ngân
sách nhà nước trên địa bàn quận huyện theo quy định của pháp luật Chi cục Thuế
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo qui định của Luật Quản lý thuế,
các luật thuế, các qui định pháp luật khác có liên quan: Tổ chức triển khai thực hiện
thống nhất các văn bản qui phạm pháp luật về thuế, quy trình nghiệp vụ quản lý
thuế trên địa bàn; Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm; phân tích, đánh giá
công tác quản lý thuế, tham mưu UBND quận về lập và thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước; phối hợp với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn quận huyện để thực hiện nhiệm vụ được giao; Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người
Trang 2922
nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế: đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử
lý hồ sơ khai thuế, tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ thuế, tiền phạt,
lập sổ thuế, thông báo thuế, phát hành các lệnh thu thuế và thu khác theo qui định
của pháp luật thuế; đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước Thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính sách thuế, hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy
định của pháp luật; Kiểm tra việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế,
nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật thuế đối với người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế; xử lý và kiến nghị xử lý đối với trường hợp vi phạm pháp luật thuế; giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế theo thẩm quyền và thực hiện các nhiệm vụ khác được giao;
- Các đơn vị sử dụng ngân sách cấp quận, huyện: Bao gồm UBND các xã,
phường, thị trấn, các đơn vị trực thuộc UBND quận, huyện và các đơn vị sự nghiệp, các đơn vị hiệp quản
* Hội đồng nhân dân quận, huyện có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
- Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao và tình hình thực
tế tại địa phương, quyết định:
+ Dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, bao gồm thu nội địa, thu từ hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu, thu viện trợ không hoàn lại;
+ Dự toán thu ngân sách địa phương, bao gồm các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%, phần ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%), thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;
+ Dự toán chi ngân sách địa phương, bao gồm chi ngân sách cấp mình và chi ngân sách địa phương cấp dưới, chi tiết theo các lĩnh vực chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách Trong chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên có mức chi cụ thể cho các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ;
- Quyết định phân bổ dự toán ngân sách cấp mình:
+ Tổng số và mức chi từng lĩnh vực;
+ Dự toán chi ngân sách của từng cơ quan, đơn vị thuộc cấp mình theo từng lĩnh vực;
Trang 3023
+ Mức bổ sung cho ngân sách từng địa phương cấp dưới, gồm bổ sung cân đối, bổ sung có mục tiêu;
- Phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương;
- Quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương;
- Quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết;
- Giám sát việc thực hiện ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định;
- Bãi bỏ những văn bản quy phạm pháp luật về tài chính - ngân sách của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên;
1.4.2.2 Lập dự toán ngân sách cấp quận, huyện
Dự toán ngân sách cấp quận, huyện hàng năm được lập căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng – an ninh Một dự toán NSNN đúng đắn, có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như tạo tiền đề cho việc quản lý chặt chẽ, có hiệu quả các khoản thu, chi NSNN sau này nói riêng
Lập dự toán ngân sách phải đáp ứng các yêu cầu:
+ Các khoản thu trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu có liên quan và các quy định của pháp luật về thu ngân sách
+ Các khoản chi trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Đối với chi đầu tư phát triển, việc lập dự toán phải căn cứ vào quy hoạch, chương trình, dự án đầu tư đã có quyết định của cấp có thẩm quyền, ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai thực hiện các chương trình, dự án Đối với chi thường xuyên, việc lập dự toán phải tuân theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
+ Dự toán ngân sách nhà nước được tổ chức xây dựng, tổng hợp từ cơ quan thu, đơn vị sử dụng ngân sách, bảo đảm đúng thời gian và biểu mẫu quy định
+ Đúng trình tự thời gian quy định
Trang 3124
Quy trình lập dự toán ngân sách huyện được thực hiện qua 3 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: hướng dẫn lập dự toán ngân sách nhà nước của quận, huyện và thông báo số kiểm tra
+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán NSNN cho các đơn vị trực thuộc và UBND cấp quận, huyện
+ Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán NSNN cho các đơn vị trực thuộc và UBND cấp xã, phường
- Giai đoạn 2: Lập và thảo luận dự toán NSNN:
+ Các đơn vị trên cơ sở các văn bản hướng dẫn và số kiểm tra tiến hành lập dự toán thu - chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp kèm theo bản thuyết minh chi tiết căn cứ tính toán từng khoản thu, chi
+ Cơ quan Tài chính tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán thu - chi ngân sách với cơ quan, đơn vị cùng cấp và UBND quận huyện, cơ quan Tài chính cấp dưới (đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách); Cơ quan đơn vị cấp trên phải tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán với các đơn vị dự toán trực thuộc trong quá trình lập dự toán
- Giai đoạn 3: Quyết định, phân bổ, giao dự toán thu - chi ngân sách:
+ Trước ngày 10/12, HĐND cấp tỉnh quyết định dự toán chi ngân sách địa phương, phương án phân bổ dự toán chi ngân sách cấp tỉnh, dự toán chi ngân sách và mức bổ sung cho ngân sách cấp huyện HĐND cấp huyện quyết định dự toán chi ngân sách địa phương, phân bổ chi ngân sách năm sau của cấp mình chậm nhất là 10 ngày,
kể từ ngày HĐND cấp tỉnh trực tiếp quyết định dự toán và phân bổ chi ngân sách + Căn cứ Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, Sở Tài chính trình UBND cấp tỉnh quyết định giao dự toán thu - chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh;
Dự toán thu – chi, mức bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho từng huyện
+ Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ chi ngân sách của UBND cấp tỉnh, UBND huyện trình HĐND huyện quyết định dự toán ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán thu - chi ngân sách cấp mình, bảo đảm dự toán thu - chi ngân sách cấp xã được quyết định trước ngày 31/12 năm trước
1.4.2.3 Chấp hành NSNN cấp quận, huyện
* Công tác phân bổ dự toán:
Trang 3225
Sau khi được Uỷ ban nhân dân Tỉnh giao dự toán ngân sách, UBND quận, huyện tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo các nguyên tắc được quy định của Luật ngân sách và các văn bản hướng dẫn Luật Việc phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm trước,
* Công tác điều hành ngân sách:
Về thu ngân sách, trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán thu ngân sách quý chi tiết theo khu vực kinh tế, địa bàn và đối tượng thu chủ yếu, gửi cơ quan tài chính cùng cấp trước ngày 20 tháng cuối quý trước Về chi ngân sách, trên cơ sở dự toán chi cả năm được giao và yêu cầu nhiệm vụ phải chi trong quý, các đơn vị sử dụng ngân sách lập nhu cầu chi ngân sách quý (có chia ra tháng), chi tiết theo các nhóm mục chi quy định, gửi Kho bạc nhà nước nơi giao dịch và cơ quan quản lý cấp trên trước ngày 20 của tháng cuối của quý trước Cơ quan tài chính căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhu cầu chi trong quý, lập phương án điều hành ngân sách quý của ngân sách cấp mình, bảo đảm nguồn để đáp ứng nhu cầu chi trong dự toán, đúng chế độ của các đơn vị sử dụng ngân sách
* Thực hiện thu, chi ngân sách:
Về thu ngân sách, cơ quan thuế chịu trách nhiệm phối hợp với các ngành, các cấp
tổ chức thực hiện các khoản thu, nộp bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào NSNN Cơ quan kho bạc căn cứ tỷ lệ điều tiết các khoản thu theo quy định của các cấp ngân sách để hạch toán tiền thu vào tài khoản thu ngân sách của từng cấp ngân
sách theo quy định
Về chi ngân sách: Căn cứ vào dự toán chi ngân sách nhà nước hàng năm được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi của đơn vị theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thực hiện chi trả, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước theo nguyên tắc thanh toán trực tiếp từ Kho bạc nhà nước cho người hưởng lương, người cung cấp hàng hoá, dịch vụ và người nhận thầu Cơ quan kho bạc nhà nước chịu trách nhiệm kiểm soát, quản lý tất cả các khoản chi ngân sách của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách, tiền, tài sản của nhà nước theo đúng quy định, chính sách hiện hành
Trang 3326
1.4.2.4 Quyết toán NSNN cấp quận, huyện
Quyết toán ngân sách quận, huyện là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách Đó là việc tổng hợp lại quá trình thực hiện dự toán chi ngân sách khi năm ngân sách kết thúc nhằm đánh giá kết quả toàn bộ hoạt động của một năm ngân sách, từ đó rút ra ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm cần thiết trong việc điều hành NSNN trong những chu trình ngân sách tiếp theo
Ngoài kết quả quyết toán NSNN, công tác quyết toán còn giúp UBND quận, huyện đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn và có những điều chỉnh phù hợp, kịp thời
Năm ngân sách kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm, các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, nộp ngân sách nhà nước, sử dụng vốn, kinh phí ngân sách nhà nước và quản lý các khoản thu, chi tài chính phải tổ chức hạch toán kế toán, lập báo cáo kế toán
và quyết toán các khoản thu, chi của ngân sách nhà nước và các khoản thu, chi tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán, thông kê theo chế độ kế toán và mục lục ngân sách nhà nước Kho bạc Nhà nước tổ chức thực hiện hạch toán kế toán thu, chi ngân sách nhà nước; định kỳ hàng tháng, quý, năm báo cáo việc thực hiện dự toán thu, chi ngân sách cho cơ quan Tài chính cùng cấp; Kho bạc Nhà nước huyện lập báo cáo thu, chi ngân sách của từng xã, phường, thị trấn gửi Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn; thực hiện chế độ báo cáo thường xuyên hoặc đột xuất cho cơ quan Tài chính theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Cơ quan Tài chính căn cứ các quy định hiện hành của Nhà nước, phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát các nguồn thu vào NSNN, tỷ lệ điều tiết của từng cấp ngân sách, thẩm tra tình hình sử dụng NSNN đã giao cho các đơn vị quản lý, sử dụng, tổng hợp báo cáo quyết toán NSNN hàng năm theo nguyên tắc mọi khoản thu phải theo đúng quy định, mọi khoản chi phải có trong dự toán được phê duyệt, theo đúng chế độ, chính sách nhà nước quy định, sau đó cơ quan Tài chính các cấp trình UBND thông qua và trình HĐND cùng cấp phê chuẩn Căn cứ số liệu quyết toán NSNN của các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Tài chính thẩm định, xét duyệt theo quy định, tổng hợp trình Chính phủ thông qua và trình Quốc hội phê chuẩn quyết toán NSNN hàng năm
* Lập báo cáo quyết toán năm cần tôn trọng các nguyên tắc, quy định sau:
Về số liệu: phải chính xác, trung thực, đầy đủ
Trang 3427
Về nội dung: Báo cáo quyết toán ngân sách phải theo đúng mục lục NSNN Báo
cáo quyết toán của các đơn vị dự toán và ngân sách các cấp chính quyền địa phương không được quyết toán chi lớn hơn thu
Về trách nhiệm: Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của báo cáo quyết toán, chịu trách nhiệm về những khoản thu chi sai chế độ
Lập quyết toán ngân sách thường được thực hiện theo phương pháp lập từ cơ sở, tổng hợp từ dưới lên, phương pháp này cho phép công tác lập quyết toán ngân sách được thực hiện toàn diện, đầy đủ, chính xác, khách quan và phản ánh trung thực tình hình hoạt động thu chi ngân sách cấp huyện
Về xét duyệt quyết toán ngân sách quận huyện, phòng Tài chính có trách nhiệm xét duyệt báo cáo quyết toán năm của các đơn vị trực thuộc ngân sách quận huyện Sau đó tổng hợp thành báo cáo thu, chi ngân sách trên địa bàn để gửi HĐND và UBND quận huyện đồng thời gửi Sở Tài chính
1.4.2.5 Kiểm soát ngân sách nhà nước cấp quận, huyện
Công tác kiểm soát NSNN nhằm bảo đảm việc thực hiện ngân sách đúng pháp luật và được thực hiện bởi nhiều cơ quan Trong đó chịu trách nhiệm chính và trước hết là thủ trưởng các đơn vị dự toán phải thường xuyên tự kiểm tra, đối chiếu với chính sách chế độ về quản lý ngân sách nhà nước để bảo đảm việc thu chi đúng chính sách, chế độ quy định Cơ quan tài chính, cơ quan thu ngân sách, có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, định kỳ đối với đơn vị, cá nhân có nghĩa
vụ nộp ngân sách nhà nước, đơn vị sử dụng ngân sách các cấp
Cơ quan tài chính các cấp: Gồm Sở Tài chính và phòng Tài chính quận huyện, có trách nhiệm kiểm tra Kiểm tra trước (ngay từ khi đơn vị lập dự toán thu – chi ngân sách), trong (trong quá trình các đơn vị dự toán sử dụng kinh phí ngân sách, cán bộ chuyên quản phụ trách đơn vị phải có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra tình hình quản lý và công tác hạch toán kế toán ngân sách của đơn vị) và sau (cơ quan tài chính
có trách nhiệm thẩm tra, xét duyệt quyết toán tài chính năm của các đơn vị dự toán trực thuộc và ngân sách cấp dưới)
Cơ quan Kho bạc nhà nước quận, huyện có trách nhiệm kiểm soát các khoản thu chi ngân sách phát sinh của các đơn vị và ngân sách cùng cấp theo đúng quy định Cơ quan Kiểm toán nhà nước có chức năng kiểm toán quyết toán ngân sách các cấp
Trang 3528
Các tổ chức thanh tra bao gồm: thanh tra Sở Tài chính hàng năm tiến hành thanh tra toàn diện công tác quản lý ngân sách huyện, ngành và đơn vị dự toán Thanh tra thuế chủ yếu kiểm tra, thanh tra nghĩa vụ nộp thuế của các đơn vị, cá nhân, thanh tra công tác quản lý thu thuế của chi cục thuế Thanh tra tỉnh, hàng năm tiến hành thanh tra công tác quản lý ngân sách một số huyện, ngành và đơn vị dự toán dưới hình thức kiểm tra Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng viên, về hoạt động nghiệp vụ
1.4.3 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước cấp quận, huyện Căn cứ Luật ngân sách số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả quản lý ngân sách cấp quận, huyện được điều chỉnh và xây dựng dựa trên các nội dung chủ yếu của công tác quản lý ngân sách cấp quận, huyện Trong đó, một số chỉ tiêu cơ bản được sử dụng để đánh giá là nguồn ngân sách được thu đủ, thu đúng theo quy định của pháp luật, quyết toán ngân sách đúng thời hạn, lập
kế hoạch và chi ngân sách hợp lý theo đúng quy định của pháp luật, công tác kiểm tra giám sát thường xuyên và hiệu quả Cụ thể bảng tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả quản lý ngân sách được cụ thể hóa thành các tiêu chuẩn như ở bảng 1
Bảng 1 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước
I Thu ngân sách
1 Tất cả nguồn thu ngân sách tại địa bàn quận đều được xác lập
2 Các nguồn thu ngân sách tại địa bàn quận được quản lý, tập trung vào ngân sách
3 Công tác kiểm tra các nguồn thu được tiến hành thường xuyên
4 Việc lập dự toán thu ngân sách tiến hành đúng quy trình
5 Thời hạn lập dự toán thu ngân sách đúng tiến độ về thời gian
6 Thu ngân sách được phê duyệt và phân bổ đúng thời gian
7 Các khoản thu ngân sách được nộp đủ
8 Các khoản thu ngân sách được nộp đúng thời gian
9 Thất thoát nguồn thu ngân sách do công tác xác lập nguồn thu
10 Thất thoát nguồn thu ngân sách do công tác thực hiện thu ngân sách
II Chi ngân sách
1 Các khoản chi ngân sách nằm trong kế hoạch được phê duyệt
Trang 3629
2 Các khoản chi ngân sách theo đúng chế độ, tiêu chuẩn định mức
3 Các khoản chi ngân sách theo đúng tiến độ thời gian
4 Các khoản chi ngân sách được kiểm tra, giám sát thường xuyên
5 Chi xây dựng cơ bản không nợ đầu tư công
6 Chi ngân sách thường xuyên đảm bảo các hoạt động kinh tế - xã hội
7 Không vượt chi ngân sách do khoản chi phát sinh
8 Thất thoát chi ngân sách do công tác thực hiện tổ chức
9 Thất thoát chi ngân sách do việc kiểm tra chưa đúng quy trình
III Tổ chức quản lý ngân sách
1 Bộ máy quản lý ngân sách quá cồng kềnh
2 Chi phí quản lý bộ máy quản lý ngân sách lớn
3 Quy trình tổ chức, quản lý ngân sách chưa hiệu quả
4 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả quản lý ngân sách rõ ràng
5 Công tác đánh giá quản lý ngân sách theo chu kỳ (tháng, quý, năm)
6 Công tác đánh giá hiệu quả quản lý ngân sách khách quan
1.5.2 Bộ máy và chính sách quản lý
Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới của đất nước, các cơ quan trong
hệ thống tài chính đã có sự đổi mới tiến bộ về nhiều mặt trong công tác quản lý,
Trang 3730
chuyên môn Chất lượng cán bộ làm công tác tài chính, kế toán, thuế, Kho bạc nhà nước, quỹ hỗ trợ đầu tư đã không ngừng được nâng cao, bộ máy tổ chức đang từng bước được điều chỉnh hợp lý, phát huy tốt hiệu quả Bộ Tài chính tham mưu với Chính phủ trình Quốc hội ban hành nhiệu bộ Luật có liên quan đến Thu ngân sách nhà nước, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Doanh nghiệp đồng thời có nhiều hướng dẫn cụ thể, kịp thời triển khai thực hiện trong thực tiễn
1.5.3 Ý thức chấp hành luật pháp
Đây là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý NSNN Nếu ý thức tự giác trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, đóng góp các khoản thu cho NSNN hoặc sử dụng kinh phí từ NSNN một cách đúng chế độ được nâng cao thì sai phạm, vi phạm trong thu-chi ngân sách sẽ giảm và việc quản lý NSNN sẽ hiệu quả hơn
1.5.4 Trình độ và phương pháp quản lý
Trình độ và phương pháp quản lý có tác động rất lớn đến hiệu quả của công tác quản lý nói chung và hiệu quả quản lý chi NSNN nói riêng Nếu trình độ quản lý tốt và phương pháp quản lý khoa học thì hiệu quả quản lý chi NSNN sẽ rất cao và ngược lại
1.5.5 Các nhân tố khác
Ngoài các nhân tố trên, phải chú ý đến sự phối hợp giữa các cơ quan của hệ thống tài chính trong việc thực hiện quản lý NSNN nói chung và quản lý chi NSNN Bên cạnh đó, cần chú trọng đến sự phối hợp của các cấp, các ngành trong thực hiện chỉ đạo và tham gia quản lý NSNN
1.6 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
Tác giả đã nghiên cứu điển hình quản lý ngân sách tại Quận Hoàng Mai và rút ra một số bài học và hướng nghiên cứu cho quận Tây Hồ
1.6.1 Địa lý hành chính, kinh tế, xã hội của Quận Hoàng Mai
Quận Hoàng Mai nằm ở phía Nam thủ đô Hà Nội Phía Bắc giáp quận Hai Bà Trưng, phía Nam và phía Tây giáp quận Thanh Xuân và huyện Thanh Trì, phía Đông giáp với sông Hồng với bờ bên kia là quận Long Biên, huyện Gia Lâm Quận được thành lập theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 của Chính phủ và chính thức hoạt động từ ngày 01/01/2004 Quận Hoàng Mai có 14 đơn vị hành chính cấp phường Tổng diện tích tự nhiên của quận là 4.032,3878 ha (theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010) Dân số tại thời điểm thành lập Quận là 212.612 người, năm 2005 là
Trang 3831
244.928 người, năm 2008 là 273.434 người và sau 9 năm thành lập, năm 2012 dân số
toàn quận theo kết quả tổng điều tra dân số là 363.600 người
Với lợi thế là cửa ngõ phía Nam Thành phố Hà Nội, trên địa bàn quận theo hướng Bắc – Nam có đường quốc lộ 1A (đường Giải Phóng), đường Tam Trinh, đường Lĩnh Nam, nối giữa Đông - Tây có đường vành đai 3, cầu Thanh Trì chạy qua Ở đây có các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt nối thủ đô với các địa phương khác trong cả nước Thêm vào đó, sông Hồng ở phía Đông cũng là một điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường thuỷ với các Thành phố vùng đồng bằng sông Hồng và vùng trung du miền Bắc Vị trí địa lý thuận lợi này của quận chính là điều kiện để mở rộng giao lưu, lưu thông hàng hoá và dịch vụ, tạo tiền đề để phát triển kinh tế, văn hoá
và xã hội của quận trong tương lai
1.6.2 Phương pháp và kết quả nghiên cứu quản lý ngân sách tại quận Hoàng Mai
Với mục đích đánh giá về thực trạng quản lý ngân sách nhà nước tại quận Hoàng Mai Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, báo cáo và phân tích thực trạng quản lý ngân sách của quận Hoàng Mai thông qua nguồn dữ liệu thứ cấp là các báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước từ năm 2011 đến 2014 Nội dung nghiên cứu quản lý ngân sách tại quận, huyện Hoàng Mai tập trung vào việc quản lý ngân sách nhà nước tại quận Hoàng Mai, cụ thể vào ba mảng nội dung chính là thu ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước và bộ máy quản lý ngân sách nhà nước
Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý ngân sách tại quận Hoàng Mai thông qua dữ liệu thứ cấp đã chỉ ra rằng: Việc quản lý ngân sách của quận Hoàng Mai áp dụng theo hướng dẫn của Luật ngân sách và các văn bản hướng dẫn luật đơn vị của các cơ quan quản lý có liên quan Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc quản lý ngân sách nhà nước tại quận Hoàng Mai đáp ứng được đầy đủ các nội dung cơ bản của việc quản lý ngân sách như lập dự toán ngân sách, chấp hành ngân sách và kiểm tra, kiểm toán ngân sách
Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý ngân sách tại quận Hoàng Mai cũng chỉ ra được một số kết quả như:
Thứ nhất, công tác lập và giao dự toán ngân sách tại quận Hoàng Mai Nhìn chung
công tác lập và giao dự toán ngân sách tại quận Hoàng Mai tương đối rõ ràng Việc xây dựng dự toán thu ngân sách trên địa bàn quận được dựa trên cơ sở dự báo tăng trưởng kinh tế đối với từng ngành, từng lĩnh vực thu để tính đúng, tính đủ từng sắc thuế theo
Trang 3932
đúng các luật thuế và chế độ thu ngân sách Việc phân bổ và giao dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn được thực hiện theo đúng Luật Ngân sách nhà nước, các Luật Thuế, chế độ thu và đảm bảo không thấp hơn dự toán thu NSNN Thành phố giao cho Quận đối với từng lĩnh vực, đồng thời khai thác thêm các nguồn thu có lợi thế của địa phương (đất đai, thu từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản của phường, đấu giá đất xen kẹt ) Dự toán thu giao cho các Phường theo phân cấp quản lý và trên cơ sở thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, sản xuất kinh doanh của từng phường, gắn với lợi thế của địa phương
Chi đầu tư xây dựng cơ bản nhìn chung đã đảm bảo bố trí vốn tập trung cho các lĩnh vực: Phát triển kinh tế, các công trình về giáo dục, kiên cố hoá trường học; đầu tư cho xây dựng trường chuẩn quốc gia; tiếp tục đầu tư hạ tầng kỹ thuật, các công trình giao thông; các dự án xây dựng nhà tái định cư, các dự án xây dựng nhà tái định cư; các công trình dân sinh bức xúc, cấp thoát nước Đã bố trí đủ vốn thanh toán cho các công trình đã hoàn thành, các công trình chuyển tiếp Việc xây dựng dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước của quận Hoàng Mai trên cơ sở quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách, định mức phân bổ của Thành phố theo từng lĩnh vực Phân bổ kinh phí đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách đảm bảo xã hội,
an sinh xã hội, các chính sách đối với người có công, phục vụ các nhiệm vụ chính trị của các cấp, các ngành Quận đã chú ý bố trí không thấp hơn mức dự toán UBND Thành phố giao cho lĩnh vực Giáo dục - đào tạo; sự nghiệp môi trường, dành nguồn để thực hiện cải cách tiền lương theo đúng quy định; Tính toán đầy đủ các nhu cầu chi thực hiện chính sách chế độ, nhiệm vụ mới phát sinh; Bố trí nguồn dự phòng ngân sách theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước để chủ động đối phó với thiên tai, dịch bệnh và thực hiện những nhiệm vụ quan trọng đột xuất, cấp bách phát sinh ngoài
dự toán
Thứ hai, công tác chấp hành ngân sách tại quận Hoàng Mai
Việc phân bổ dự toán: Phân bổ dự toán thu ngân sách cho các cơ quan thu đảm
bảo về tổng mức và chi tiết các sắc thuế, khoản thu cho các đơn vị thực hiện, không thấp hơn dự toán Thành phố giao Chi ngân sách được phân bổ đảm bảo theo Nghị quyết HĐND quận thông qua (đảm bảo định mức, chính sách, chế độ và thực hiện nghiêm túc việc tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương theo quy định)
Công tác điều hành dự toán: Dự toán thu ngân sách được điều hành theo hướng
Trang 4033
tích cực, bám sát các chỉ tiêu và nhiệm vụ do Thành phố giao và Hội đồng nhân dân quận quyết nghị Dự toán thu ngân sách trên địa bàn quận các năm đều đạt và vượt dự toán, góp phần tích cực đảm bảo nguồn cân đối ngân sách Công tác quản lý thu hàng năm nhìn chung đã đi vào nề nếp, một số khoản thu thường xuyên bị thất thu (xây dựng tư nhân, thuế nhà trọ ) từ năm 2011 bắt đầu được quận đưa vào quản lý và đã có kết quả tốt; công tác kiểm tra thuế được thực hiện thường xuyên, việc quản lý, đôn đốc
nợ thuế từng bước được thực hiện có hiệu quả đã góp phần làm giảm nợ đọng thuế, tăng thu cho ngân sách nhà nước
Dự toán chi ngân sách được điều hành linh hoạt, chủ động đáp ứng các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của quận Chi đầu tư xây dựng cơ bản nhìn chung được điều hành phù hợp với yêu cầu phát triển của quận, tập trung vốn cho các dự án dân sinh, bức xúc, các dự án phát triển kinh tế trên địa bàn quận Chi thường xuyên được điều hành linh hoạt, chủ động đáp ứng các nhiệm vụ chính trị, các hoạt động nghiệp vụ, chuyên môn của các đơn vị Trong năm ngân sách, UBND Quận Hoàng Mai đã chủ động sử dụng nguồn dự phòng ngân sách để đảm bảo kinh phí cho các khoản chi đột xuất, cấp bách phát sinh ngoài dự toán (phòng chống dịch bệnh, thiên tai ) Việc thực hiện tiết kiệm chi tiêu, chống lãng phí, chủ động sắp xếp nhiệm vụ chi thường xuyên được thực hiện có tiến bộ, bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách
an sinh, xã hội và thực hiện cải cách tiền lương theo quy định
Thứ ba, công tác quyết toán ngân sách tại quận Hoàng Mai
Công tác quyết toán ngân sách tại quận Hoàng Mai được thực hiện theo quy trình
từ khâu lập và gửi báo cáo quyết toán ngân sách quận hàng năm cho Sở Tài chính Việc quyết toán ngân sách tại quận Hoàng Mai luôn đúng thời gian quy định, đảm bảo các mẫu biểu quyết toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước
Thực hiện thu ngân sách được đảm bảo tốt, đồng bộ, quyết liệt của các cơ quan thu Các chỉ tiêu thu NSNN đều đạt và vượt so với dự toán ngân sách Thành phố Hà Nội giao và Hội động nhân dân quận quyết nghị Cơ cấu nguồn thu đảm bảo, tập trung vào các khoản thu quận có lợi thế Quyết toán thu ngân sách phù hợp với quy định của Luật NSNN, đảm bảo nguồn thu để thực hiện các nhiệm vụ chi cần thiết, quan trọng của quận, cân đối ngân sách quận được giữ vững
Quyết toán chi ngân sách cơ bản theo các quy định hiện hành Chi ngân sách quận được điều hành linh hoạt, chủ động, đáp ứng kịp thời các khoản chi theo dự toán