1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 1

20 1,5K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 437,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc dạy học giải toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành, với những yêu cầu được thực hiện một cách đa dạng, phong phú

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – tự do – Hạnh phúc

RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN

CHO HỌC SINH LỚP 1

1 Họ và tên tác giả: TRẦN THỊ DIÊN

2 Chức vụ: Giáo viên

3 Đơn vị công tác: Trường tiểu học Đinh Trang Hòa II

4 Lý do chọn đề tài:

Toán học có vị trí rất quan trọng với cuộc sống thực tiễn đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức thế giới xung quanh,

để hoạt động có hiệu quả trong đời sống thực tiễn Đặc biệt trong đời sống và khoa học kĩ thuật hiện đại, nó góp phần đào tạo học sinh trở thành con người phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo, đáp ứng được mọi nhu cầu phát triển của khoa học công nghệ trong xã hội thời kì đổi mới Việc dạy học giải toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành, với những yêu cầu được thực hiện một cách đa dạng, phong phú Nhờ việc dạy học giúp học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phẩm chất con người lao động mới

Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn Toán vấn đề đặt ra là người dạy phải làm thế nào để giờ dạy – học Toán có hiệu quả cao, học sinh được phát triển tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức Toán học Trong dạy học giải toán thì giải toán có lời văn là dạng toán riêng biệt, là biểu hiện của đặc trưng trí tuệ Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 là loại toán khó

Do vậy việc dạy loại toán này đạt kết quả chưa cao Vậy giáo viên phải có phương pháp dạy học như thế nào để có thể truyền đạt kiến thức và khả năng học bộ môn này tới học sinh tiểu học?

Theo tôi các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vị trí mục đích và nhiệm vụ mục tiêu giáo dục của môn toán nói chung và trong giờ học toán nói riêng Nó không chỉ là cách thức truyền thụ kiến thức toán học, rèn kĩ năng giải toán mà là phương tiện tinh vi để tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, độc lập và giáo dục phong cách làm việc khoa học, hiệu quả cho học sinh tức là dạy cách học

Vì vậy giáo viên phải đổi mới phương pháp và các hình thức dạy học để nâng cao hiệu quả dạy – học

Giải toán có lời văn ở bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng là một trong những dạng toán điển hình Nó quy tụ đầy đủ các kiến thức và kỹ năng của học sinh, bao gồm cả kỹ năng của môn Tiếng Việt và kĩ năng của môn Toán học. Bởi vậy một học sinh thực hành giải đúng một bài toán có lời văn thì đòi hỏi phải đảm bảo được kỹ năng: đọc, phân tích, diễn giải, tính toán… và trình bày bài toán

Trang 2

Trong quá trình trực tiếp đứng lớp, tôi nhận thấy việc hướng dẫn học sinh đọc

để hiểu đề bài toán có lời văn và giải được bài toán quả là khó khăn, vất vả Vốn từ ngữ, vốn kiến thức liên quan đến đời sống thực tế của học sinh lớp 1 còn nhiều hạn chế, tư duy của học sinh mang nặng yếu tố hình ảnh, cụ thể Nhưng may mắn là tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 1 nhiều năm liên tục nên bản thân đã có thời gian tích lũy kinh nghiệm về giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 Vậy nên

tôi xin được chia sẻ với bạn bè, đồng nghiệp và các em học sinh đề tài: Rèn kĩ

năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1

5 Nội dung giải pháp hữu ích:

5.1 Khó khăn, thuận lợi và sự cần thiết của đề tài:

5.1.1 Khó khăn:

Do học sinh mới lần đầu làm quen với dạng toán này, tư duy của các em còn mang tính trực quan là chủ yếu Mặt khác ở giai đoạn này các em chưa đọc thông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài toán rồi nhưng các em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những em đọc đi đọc lại nhiều lần nhưng vẫn chưa hiểu bài toán Vì vậy học sinh không làm đúng cũng là điều dễ hiểu, còn một số học sinh khác thì nắm một cách lơ mơ hoặc không nắm được cách giải một cách chắc chắn chính xác

Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp 1, tôi nhận thấy hầu như giáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn ở lớp 1 Học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí viết sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số Những tiết đầu tiên của phần giải toán có lời văn ở mỗi lớp chỉ có khoảng 20% số HS biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được, nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại lại không biết để trả lời Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn Giáo viên phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phần này

Trường chúng tôi thuộc địa bàn vùng sâu, gần 100% học sinh là con gia đình thuần nông, trình độ dân trí hạn hẹp, kinh tế khó khăn Cha mẹ học sinh ít quan tâm đến việc học hành của con em, đa số phụ huynh thường khoán trắng cho thầy

cô giáo

Học sinh lớp 1 còn nhỏ, các em còn ham chơi, khả năng tập trung còn hạn chế Vào những dịp mùa màng, một em thường nghỉ học để lên rẫy giúp gia đình hoặc do cha mẹ quá bận rộn không có thời gian chở con đi học nên việc vận động các em tới trường, tới lớp là một vấn đề đáng quan tâm và không dễ dàng gì

Tình hình học sinh: Gần 1/3 số học sinh trong lớp là người dân tộc thiểu số, khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt còn hạn chế, các em còn nhút nhát, ít phát biểu, chưa tự tin trong học tập

Giáo viên ít có tài liệu tham khảo để mở mang tầm nhìn, kiến thức

Trang 3

Hình thức đánh giá học sinh ở lớp 1 có sự thay đổi Trước kia chúng ta thường đánh giá cho điểm kết hợp với nhận xét nhưng từ tháng 10 năm 2013 Sở GD & ĐT Lâm Đồng đã gửi công văn 1657/SGDĐT-GDTH ngày 16/10/2013, yêu cầu các trường áp dụng hình thức đánh giá không cho điểm đối với học sinh lớp 1 Từ khi thực hiện công văn này, các giáo viên trong tổ 1 đều rất lúng túng, đặc biệt là đối với môn Toán: Không cho điểm thì đánh giá như thế nào, nhận xét bài làm của học sinh ra sao, sửa lỗi hoặc hướng dẫn học sinh tự sửa lỗi như thế nào là phù hợp, làm thế nào để không chấm điểm vẫn có thể thúc đẩy học sinh cố gắng rèn luyện để nâng cao chất lượng học Toán của mình,

Những đặc điểm nêu trên là nguyên nhân dẫn đến chất lượng học tập của những giờ học có nội dung liên quan đến phần giải toán có lời văn còn thấp, học sinh ngại học môn Toán và không có hứng thú học Toán

5.1.2 Thuận lợi:

Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục hiện nay, đội ngũ giáo viên đã và đang ra sức tự học, tự bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao dần trình

độ nghiệp vụ cũng như tay nghề

Ban Giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến học sinh lớp 1, các em được học ở môi trường khang trang sạch sẽ, ngồi học bàn ghế chuẩn đối với lứa tuổi của các

em Được sự quan tâm của phụ huynh học sinh, các em có đủ sách vở, đồ dùng học tập theo yêu cầu

Phòng thư viện cung cấp đủ đồ dùng: như bộ đồ dùng để học toán dành cho học sinh, bộ đồ dùng để dạy toán có kích cỡ lớn hơn dành cho giáo viên

Hệ thống máy tính, máy chiếu có kết nối mạng mà nhà trường trang bị cho các

tổ chuyên môn tương đối đầy đủ, phục vụ có hiệu quả cao cho việc dạy và học tập môn Toán, đặc biệt là việc phục vụ hiệu quả cho các tiết học có ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học Toán

Trong những năm học gần đây, các em học sinh lớp 1 của trường tôi được học

2 buổi/ngày nên giáo viên có nhiều thời gian để quan tâm, giáo dục các em Từ đó giúp các em nắm kiến thức sâu hơn và có kĩ năng thực hành tính toán và giải toán tốt hơn

Những thuận lợi trên là đòn bẩy thúc đẩy chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng môn Toán nói riêng của học sinh lớp 1 trong trường

5.1.3 Sự cần thiết của đề tài:

Bước vào độ tuổi 6 tuổi các em đồng thời bước vào lớp 1 Lứa tuổi này có những biến đổi cực kì quan trọng trong các điều kiện sống và hoạt động của trẻ Nhờ việc thực hiện hoạt động học và các loại hình hoạt động khác, học sinh có sự phát triển tâm lí đạt đến trình độ mới so với giai đoạn trước đó, một trình độ phát triển mà nếu không qua nhà trường sẽ rất khó đạt được

Trang 4

Học sinh lớp 1 nằm trong giai đoạn đầu của bậc tiểu học Các em thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi ở nhà trường mầm non sang hoạt động học với

tư cách là hoạt động chủ đạo Nhiều học sinh phải mất rất nhiều thời gian mới thích nghi được với hoạt động này Chính điều đó gây trở ngại nhiều cho hoạt động dạy của giáo viên

Chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu bền vững dễ bị phân tán bởi

âm thanh và các sự kiện khác ngoài hoạt động học

Tri giác của các em mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định Trí tưởng tượng của các em đã phát triển phong phú hơn học sinh mầm non Khi bước vào lớp 1 các em được làm quen với một dạng ngôn ngữ mới đó là ngôn ngữ viết

Khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến thức của học sinh Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng vào giải toán kết hợp với kiến thức Tiếng Việt để giải quyết vấn đề trong toán học Từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa ra cho học sinh đọc - hiểu và biết hướng giải bài toán: đưa ra phép tính kèm câu lời giải và đáp số của bài toán

Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năng diễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh tiểu học

Đối với trẻ là học sinh lớp 1, môn toán tuy có dễ nhưng để học sinh đọc -hiểu bài toán có lời văn quả không dễ dàng, vả lại việc viết lên một câu lời giải phù hợp với câu hỏi của bài toán cũng là vấn đề không đơn giản Bởi vậy nỗi băn khoăn của giáo viên là hoàn toàn chính đáng Vậy làm thế nào để giáo viên nói - học sinh hiểu, học sinh thực hành - diễn đạt đúng yêu cầu của bài toán? Đó là nguyên nhân chính mà tôi chọn đề tài nghiên cứu: Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1

5.2 Phạm vi áp dụng của giải pháp hữu ích:

Giải pháp hữu ích này được áp dụng cho học sinh khối 1 của trường TH Đinh Trang Hòa 2 trong năm học 2012-2013 và sẽ tiếp tục được áp dụng trong năm học này, năm 2013-2014

5.3 Thời gian áp dụng:

Giải pháp hữu ích này được áp dụng trong năm học 2012-2013, năm

2013-2014 và sẽ tiếp tục được áp dụng trong các năm học tiếp theo

5.4 Giải pháp thực hiện:

5.4.1 Tính mới của giải pháp hữu ích:

Thông thường, khi dạy nội dung giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1, giáo viên chỉ bắt đầu quan tâm, hướng dẫn và rèn cho học sinh hiểu và giải quyết vấn đề này khi bắt đầu học tiết “Bài toán có lời văn” ở tuần 21 của chương trình Chính vì

Trang 5

vậy mà các tiết học này rất căng thẳng, các em phải lĩnh hội một lượng kiến thức lớn và rất mới lạ, giáo viên làm nhiều cách để giúp các em hiểu vấn đề nhưng hiệu quả thì rất thấp

Vậy để hình thành cho học sinh thói quen và kỹ năng thực hành giải toán của mình và giúp các em vận dụng các kĩ năng ấy một cách thành thạo và bền vững, giúp các em duy trì và áp dụng trong các lớp học cao hơn, tôi đã tiến hành cho học sinh làm quen với dạng bài này ngay từ tuần học thứ 6 của chương trình thông qua

dạng bài “Nhìn hình vẽ, viết phép tính thích hợp” rồi sau đó nâng dần lên cho các

em thông qua dạng bài “Dựa vào tóm tắt, viết phép tính thích hợp” rồi mới đến việc làm quen với “Bài toán có lời văn”, sau đó mới rèn kĩ năng “Giải toán có lời

văn” cho các em

Từ kinh nghiệm của bản thân và sự tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi, tôi đã áp dụng rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 thông qua 4 mức độ sau đây:

Mức độ 1: Hình thành khái niệm ban đầu về bài toán có lời văn thông qua dạng bài: Nhìn hình vẽ, viết phép tính thích hợp.

Đối với dạng bài này: Giáo viên cần tiến hành như sau:

* Bước 1: Chuẩn bị tranh, ảnh; mẫu vật hoặc ứng dụng công nghệ thông tin để

trình chiếu các hình vẽ giống trong sách giáo khoa hoặc tương tự để học sinh quan sát

* Bước 2: Yêu cầu học sinh quan sát tranh vẽ rồi đặt một đề toán phù hợp với

tranh

* Bước 3: Giáo viên đặt câu hỏi để hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài toán vừa

đặt Cần lưu ý hướng dẫn học sinh cách trả lời câu hỏi của cô một cách khái quát, tránh trả lời cụ thể Ví dụ khi giáo viên hỏi: Muốn biết trên cành cây có tất cả mấy con chim thì em làm thế nào? Học sinh trả lời khái quát là: Em lấy số con chim đậu trên cành cây cộng với số con chim bay đến, tránh để học sinh trả lời cụ thể là:

Em lấy 3 cộng với 2 hoặc em lấy 3 con chim cộng với 2 con chim,

* Bước 4: Yêu cầu học sinh viết phép tính thích hợp Ở bước này, giáo viên cần

khuyến khích học sinh viết 2 phép tính khác nhau (ở những phép tính cộng) Ví dụ:

2 + 3 = 5 và 3 + 2 = 5, để bước đầu giúp học sinh thấy được tính chất của phép tính cộng, từ đó giúp học sinh biết vận dụng tính chất giao hoán của phép cộng để thực hiện các phép tính cho nhanh mà lại không bị sai, không bị nhầm lẫn Như vậy, vừa tiết kiệm được thời gian, vừa giúp học sinh làm quen và biết cách vận dụng tính chất giao hoán này trong tính toán, nó là một bước đệm vững chắc cho việc học Toán ở các lớp trên

Ví dụ : Bài: Phép cộng trong phạm vi 4 (Bài 4, trang 47)

Bài 4: Viết phép tính thích hợp:

Trang 6

Một số gợi ý của giáo viên để hình thành khái niệm thông qua việc hướng dẫn học sinh làm bài tập:

Bước 1: GV chiếu hình ảnh bức tranh trên cho học

sinh quan sát Vì đây là bài toán học sinh mới được

làm quen nên giáo viên kết hợp với trao đổi với hoc

sinh (với các bài sau thì có thể yêu cầu các em thảo

luận nhóm đôi) :

+ Lúc đầu trên cành cây có mấy con chim?

+ Sau đó có mấy con chim bay đến ?

Bước 2: Yêu cầu học sinh nhìn tranh vẽ để nêu một

đề toán

+ Giáo viên chú ý chỉnh sửa bổ sung để học sinh

nêu được một đề toán đầy đủ: Lúc đầu trên cành

cây có 2 con chim, sau đó có 2 con chim nữa bay

đến Hỏi trên cành cây có tất cả mấy con chim?

Bước 3: GV hướng dẫn học sinh cách làm

+ Để biết được trên cành có tất cả bao nhiêu con

chim thì em làm thế nào?

+ Lúc này giáo viên cần hướng dẫn học sinh câu trả

lời là: lấy số con chim đang đậu trên cành cộng với

số con chim bay đến Vì làm như thế sẽ phát huy

được tính chủ động, sáng tạo của học sinh, học sinh

sẽ phải suy nghĩ là số con chim đang đậu trên cành

là mấy con, số con chim bay đến là mấy con? và

cũng tránh được tình trạng học sinh yếu coppy bài

của các bạn vừa trả lời

Bước 4: Yêu cầu học sinh viết phép tính

+ Học sinh chú ý quan sát

và trao đổi thông tin với giáo viên

+ Lúc đầu trên cành cây có

2 con chim

+ Sau đó có 2 con chim bay đến

+ HS nêu + Một, hai học sinh nhắc lại đề bài toán (đối với các tiết học sau thì học sinh không cần nhắc lại)

+ Lấy 2 + 2 = 4

+ HS có thể trả lời hoặc viết phép tính vào sách

Trang 7

Ghi chú:

Trên đây là những bước gợi ý để hình thành khái niệm ban đầu về một bài toán có lời văn Bởi bản chất của dạng bài tập Nhìn hình vẽ, viết phép tính thích hợp nó cũng là một bài toán có lời văn Do khả năng đọc, viết của học sinh còn hạn chế nên được hình thành dưới dạng kênh hình thay cho kênh chữ

Song trong dạy học, giáo viên cần phải dựa vào đặc điểm của đối tượng học

để vận dụng mức độ hình thành khái niệm ban đầu về giải toán có lời văn

Khi thực thi vận dụng vào các bài tập dạng này ở những tiết đầu thường dễ mất thời gian và có thể gây quá tải cho học sinh, nhưng ở các tiết học sau đó thì các em sẽ quen và rất hứng thú, các em sẽ tự trao đổi với nhau để tìm ra cách làm chính xác nhất và nhanh nhất

Đối với các phép cộng 2 số khác nhau, giáo viên nên khuyến khích học sinh viết 2 phép tính khác nhau nhưng vẫn đúng với nội dung tranh Ví dụ:

Mức độ 2: Tiếp tục hình thành khái niệm về bài toán có lời văn thông qua dạng bài: Dựa vào tóm tắt, viết phép tính thích hợp.

Ở cuối học kì 1, học sinh được làm quen với dạng bài: Dựa vào tóm tắt, viết phép tính thích hợp Trong quá trình dạy học toán thì có rất nhiều dạng tóm tắt, nhưng ở đây các em mới bắt đầu làm quen với dạng tóm tắt bằng lời

Ví dụ : Bài: Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10 (Bài 3b, trang 87)

Bài 3b: Viết phép tính thích hợp:

Có : 10 quả bóng

Cho : 3 quả bóng

Còn : quả bóng?

Để hướng dẫn học sinh làm dạng bài này, giáo viên cũng tiến hành các bước như trên mức độ 1 đã nêu, tuy nhiên ở bước 1 cần thay việc đọc tóm tắt bài toán cho việc quan sát tranh vẽ

Học sinh từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, học sinh dần dần thoát

ly khỏi hình ảnh trực quan và từng bước tiếp cận đề bài toán Yêu cầu học sinh phải đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt đề bài và lời giải bài toán bằng lời, chọn phép tính thích hợp nhưng chưa cần viết lời giải

Tuy không yêu cầu cao, tránh tình trạng quá tải với học sinh, nhưng có thể động viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách, có nhiều cách diễn đạt từ một hình vẽ hay một tình huống trong sách giáo khoa

Mức độ 3: Giúp học sinh hiểu: Bài toán có lời văn là như thế nào?

Trang 8

Tư duy HS từ hình ảnh phát triển thành ngôn ngữ, thành chữ viết Trước kia, các em nhìn hình ảnh, nhìn tóm tắt để nêu một đề toán, thì dạng bài này các em phải đọc, phải suy nghĩ và kết hợp với tranh để nêu một đề bài phù hợp Tuy chỉ có một tiết học, nhưng các em phải hiểu được: Một bài toán có lời văn gồm 2 phần: Phần bài toán cho biết và phần bài toán hỏi

Ví dụ: Bài: Bài toán có lời văn ( bài 3, trang 116)

Bài 3: Viết tiếp câu hỏi để có bài toán:

Bài toán: Có 1 gà mẹ và 7 gà con

Hỏi ?

Một số gợi ý của giáo viên để hình thành khái niệm một bài toán có lời văn thông qua việc hướng dẫn học sinh làm bài tập:

Bước 1: Gọi học sinh nêu yêu cầu của bài tập 3

+ Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu yêu cầu

của bài tập: Bài toán này chưa hoàn chỉnh, các

em phải viết thêm câu hỏi vào để được một bài

toán có lời văn hoàn chỉnh

Bước 2: GV chiếu hình ảnh bức tranh trên cho

học sinh quan sát Giáo viên kết hợp trao đổi với

hoc sinh:

+ Tranh vẽ con gì?

+ Trong bức tranh có mấy con gà mẹ và có mấy

con gà con?

Bước 3: GV hướng dẫn học sinh cách làm

+ Bài toán đã cho biết gì?

+ Lúc này giáo viên yêu cầu học sinh nêu câu hỏi

của bài toán theo nhóm đôi Giáo viên không nên

hướng dẫn học sinh vào lúc này, vì như vậy sẽ

giúp học sinh phát huy được tích tích cực, chủ

+ 1 học sinh nêu yêu cầu + Theo dõi và lắng nghe

+ Học sinh chú ý quan sát và trao đổi thông tin với giáo viên

+Tranh vẽ một đàn gà + Trong bức tranh có một gà

mẹ và 7 gà con

+ Có một gà mẹ và 7 gà con + Học sinh sẽ tự nêu:

- Hỏi có mấy con gà?

- Hỏi đàn gà có mấy con?

- Hỏi cả gà mẹ và gà con có tất

Trang 9

động của mình, các em vận dụng kiến thức đã

học ở các mức độ trước để áp dụng vào làm bài

+ Giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh lựa chọn các

câu hỏi phù hợp và đầy dủ nhất để trả lời như:

- Hỏi cả gà mẹ và gà con có tất cả bao nhiêu

con?

- Hỏi đàn gà có tất cả bao nhiêu con?

- Hỏi đàn gà có tất cả mấy con?

Bước 4: Hướng dẫn học sinh hiểu cấu tạo của bài

toán có lời văn

Bài toán: Có 1 gà mẹ và 7 gà con Hỏi đàn gà có

tất cả bao nhiêu con?

+ Bài toán cho biết gì?

+ Bài toán hỏi gì?

+ Bài toán gồm có mấy phần, đó là những phần

nào?

+ Kết luận: Bài toán có lời văn gồm có 2 phần:

- Phần đã cho (giả thiết của bài toán)

- Phần phải tìm (kết luận của bài toán)

Bước 5: Hướng dẫn học sinh nhận dạng đặc diểm

của câu hỏi trong bài toán có lời văn:

Trong các câu hỏi đều phải có :

- Từ “ Hỏi” ở đầu câu.

- Trong câu hỏi của bài toán này nên có từ tất

cả.

- Viết dấu ? ở cuối câu.

cả bao nhiêu con?

- Hỏi đàn gà có tất cả bao nhiêu con?

- Hỏi đàn gà có tất cả mấy con?

+ Học sinh đọc lại bài toán đã hoàn chỉnh + Bài toán cho biết là: có 1 gà

mẹ và 7 gà con + Bài toán hỏi là: Hỏi đàn gà

có tất cả bao nhiêu con?

+ Trao đổi với giáo viên để cùng rút ra chú ý khi viết câu hỏi cho bài toán có lời văn

Mức độ 4: Hình thành kiến thức kỹ năng giải toán có lời văn theo quy trình và cách trình bày bài giải (Hình thành khi dạy giải toán có lời văn)

Trước hết, tôi hướng dẫn học sinh đọc đề và phân tích đề bài Nội dung bài toán có lời văn ở lớp 1 được bắt nguồn từ những kiến thức thực tế liên quan đến đời sống Bài toán được xây dựng thông qua những câu văn nói về những mối tương quan và phụ thuộc có liên quan tới cuộc sống hàng ngày thường xảy ra

Vì vậy, khi học sinh đọc xong đề bài, tôi hướng dẫn học sinh nêu lại đề bài một cách tóm tắt, lược bỏ hết những lời văn không cần thiết, chỉ nêu ra những yếu

tố có mối liên quan đến nhau giữa các đại lượng có chứa yếu tố toán học Sau đó, tôi hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán, dựa vào tóm tắt để nêu phép tính thích hợp

Cụ thể, tôi đã tiến hành như sau:

1 Đọc và tìm hiểu nội dung bài toán

Trang 10

Hướng dẫn cho học sinh hiểu mỗi bài toán có lời văn bao giờ cũng có hai phần

đó là:

- Phần đã cho (giả thiết của bài toán)

- Phần phải tìm (kết luận của bài toán)

Tìm ra được mối quan hệ giữa phần đã cho và phần phải tìm (mối liên quan, phụ thuộc giữa giả thiết và kết luận) Nếu trong bài toán có các từ mới, từ khó hiểu, thì tôi giải nghĩa để học sinh hiểu

2 Quy trình giải bài toán.

Bước 1: Phân tích đề bài toán để nắm được đề bài cho biết gì và bài toán hỏi

gì để tóm tắt bài toán

Để thực hiện bước này, giáo viên yêu cầu học sinh đọc đề bài toán, tìm hiểu bài toán, tự nêu được hoặc viết tóm tắt bài toán, học sinh có thể nêu tóm tắt bài toán bằng lời Không nhất thiết học sinh phải viết tóm tắt bài toán vào bài giải, tuy nhiên việc cho học sinh phải biết tóm tắt bài toán là không thể thiếu và rất cần thiết

Hướng dẫn cho học sinh có 3 dạng chính tóm tắt bài toán, để học sinh lựa chọn cho phù hợp với từng bài toán cụ thể mà học sinh gặp trong quá trình học tập

Cách 1: Tóm tắt dưới dạng các câu văn ngắn gọn.

Cách 2: Tóm tắt dưới dạng các sơ đồ đoạn thẳng.

Cách 3: Tóm tắt dưới dạng các hình vẽ.

Bước 2 : Tìm mối quan hệ giữa cái đã cho với cái phải tìm để đưa ra cách giải

bài toán

Để giúp học sinh tìm ra được mối quan hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm thì đòi hỏi giáo viên phải có hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp học sinh tìm được Ở lớp

1 các bài toán có lời văn chủ yếu được thực hiện bởi 2 phép tính cơ bản là phép cộng hoặc trừ

Bước 3: Trình bày bài giải bài toán

Diễn đạt bằng lời nói hoặc viết câu văn lời giải, phép tính và đáp số

+ Diễn đạt lời giải: Giáo viên cần kiên trì để học sinh diễn đạt câu trả lời sau đó

mới cho HS tập viết câu lời giải Có thể ban đầu học sinh còn lúng túng trong việc diễn đạt lời giải, nhưng cũng có thể chấp nhận những câu diễn đạt đúng ý nghĩa của bài toán, đúng văn phạm tiếng Việt Nên tập cho học sinh trình bày lời giải theo các hướng khác nhau

Ví dụ : Số kẹo Lan có là, hay Lan có số kẹo là hoặc những câu đơn giản như: Có tất cả là; Lan có là

Để học sinh có được câu lời giải của chính mình, cũng như tạo ra được nhiều lời giải khác nhau của một phép tính thì đòi hỏi giáo viên phải tạo ra các câu gợi ý

Ngày đăng: 29/03/2016, 09:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w