Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình’’, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục SKSS trong học đƣờng nói riêng và cộng đồng nói chung. Hơn nữa, các SV của trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình sẽ là những thầy, cô giáo tƣơng lai, đó là cầu nối quan trọng để truyền đạt kiến thức về chăm sóc SKSS đến thanh thiếu niên. 2. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng hiểu biết về SKSS của SV trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình. - Thiết kế và đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp giúp nâng cao nhận thức về SKSS cho SV trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình. Từ đó, phát triển, hoàn thiện các giải pháp và nhân rộng các mô hình tuyên truyền kiến thức về SKSS trong học đƣờng nói riêng, cộng đồng nói chung. 3. Nhiệm vụ của đề tài Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình - Điều tra thực trạng hiểu biết về SKSS của SV. - Tiến hành can thiệp bằng biện pháp giảng dạy nội dung về SKSS trên đối tƣợng SV năm I. - Đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp, trên cơ sở đó phát triển các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về SKSS. Đề tài: Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tạ i trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình 4 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu là SV năm I, năm II và năm III, từ 19 đến 21 tuổi, đang học tập tại trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình. - Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá thực trạng hiểu biết về SKSS, tiến hành giải pháp can thiệp (giảng dạy nội dung về SKSS), đánh giá hiệu quả của giải pháp, từ đó phát triển, hoàn thiện các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về SKSS cho SV trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Các chỉ số đƣợc nghiên cứu bằng các phƣơng pháp: phỏng vấn bằng phiếu, thiết kế bài giảng và hoạt động, kiểm tra đánh giá (các mẫu phiếu sử dụng đƣợc thiết kế sẵn). Đề tài Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình Kết quả nghiên cứu đƣợc phân tích và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, SPSS 16.0 và Epidata 6.0. 6. Những đóng góp của đề tài Là đề tài đầu tiên thực hiện trên đối tƣợng SV ở địa bàn tỉnh Thái Bình về điều tra nhận thức SKSS và tác động giải pháp can thiệp. Đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp, trên cơ sở đó phát triển, hoàn thiện các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về SKSS cho SV trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Thái Bình nói riêng và trong trƣờng học nói chung. Các số liệu trong luận văn góp phần bổ sung số liệu cho việc nghiên cứu, đánh giá về sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên. Đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, giảng dạy ở các trƣờng trung học cơ sở (THCS), THPT và đại học (ĐH). NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Đề tài: Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tạ i trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình 5 1.1. Cơ sở lý luận chung 1.1.1. Sức khỏe sinh sản 1.1.1.1. Khái niệm sức khỏe sinh sản Theo chƣơng trình hành động của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển (Hội nghị Cairo – 1994), “SKSS là một tình trạng hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật hay tàn phế trong tất cả các vấn đề liên quan đến tình dục và hệ thống sinh sản của con ngƣời, những chức năng và quá trình hoạt động của nó” [6, 7, 57, 58, 60]. Qua đó, có thể khẳng định việc chăm sóc SKSS là tổng thể các biện pháp kĩ thuật, dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe, hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về SKSS. Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tƣ, chứ không chỉ là việc tƣ vấn, chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bệnh LTQĐTD. SKSS không chỉ là trạng thái không có bệnh tật hoặc các vấn đề sức khỏe khác, mà SKSS phải đƣợc hiểu trong khuôn khổ của các mối quan hệ giữa sự thực hiện và rủi ro; cơ hội có đứa con mong muốn hoặc ngƣợc lại, tránh mang thai ngoài ý muốn và không an toàn. SKSS góp phần rất lớn cho nguồn an ủi về thể chất, về tâm lý xã hội và sự gần gũi, sự trƣởng thành cá nhân và xã hội. SKSS kém đi liền với bệnh tật, lạm dụng, mang thai ngoài ý muốn và tử vong [6, 7]. SKSS bao gồm các nội dung: KHHGĐ (tƣ vấn, thông tin, giáo dục truyền thông, dịch vụ KHHGĐ); sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh; bệnh viêm nhiễm và ung thƣ đƣờng sinh dục; bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục và HIV/AIDS; tình dục (thông tin và tƣ vấn về tình dục); SKSS vị thành niên; bình đẳng giới (bạo lực giới và phân biệt đối xử với phụ nữ); trách nhiệm của nam giới; phá thai (những tai biến, hậu quả phá thai không an toàn, ngăn ngừa và quản lý phá thai không an toàn); vô sinh (ngăn chặn và điều trị vô sinh); mãn kinh và tuổi già [57, 58]. Đề tài: Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tạ i trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình 6 1.1.1.2. Khái niệm chăm sóc sức khỏe sinh sản Chăm sóc SKSS đề cập đến các biện pháp, kĩ thuật, dịch vụ góp phần cải thiện SKSS và phúc lợi bằng cách ngăn ngừa, giải quyết các vấn đề có hại đối với SKSS. Chăm sóc SKSS bao gồm chăm sóc sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lƣợng cuộc sống và các mối quan hệ cá nhân liên quan đến SKSS chứ không chỉ đơn thuần là khám, điều trị các bệnh liên quan đến sinh sản và LTQĐTD [15, 40, 57, 58]. 1.1.1.3. Nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản Nội dung chăm sóc SKSS gồm: Thông tin, giáo dục truyền thông về chăm sóc SKSS; thực hiện tốt KHHGĐ; làm mẹ an toàn; phòng tránh thai, phá thai an toàn; phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh sản; phòng chống các bệnh LTQĐTD; giáo dục SKSS VTN; phòng chống nguyên nhân gây vô sinh; phòng chống ung thƣ vú và ung thƣ sinh dục; giáo dục về tình dục, sức khỏe ngƣời cao tuổi và bình đẳng giới. Ở Việt Nam, theo chiến lƣợc chăm sóc SKSS giai đoạn 2001 – 2010, Ủy ban dân số quốc gia đã nêu ra bảy nội dung cụ thể đƣợc ƣu tiên gồm: Quyền sinh sản: Là quyền cơ bản của tất cả các cặp vợ chồng, cá nhân trong việc tự do quyết định và có trách nhiệm về sinh, khoảng cách, thời điểm sinh con, quyền có đƣợc thông tin và phƣơng tiện để làm đƣợc điều này, cũng nhƣ quyền có đƣợc những chuẩn mực cao nhất về sức khỏe tình dục và SKSS. Quyền sinh sản còn bao gồm quyền của nam, nữ quyết định vấn đề sinh sản mà không bị phân biệt đối xử, ép buộc hay cƣỡng bức. Khi thực hiện quyền lợi này cả nam và nữ đều phải cân nhắc nhu cầu cuộc sống của bản thân và con cái sau này, cũng nhƣ trách nhiệm của họ đối với cộng đồng, xã hội (Hội nghị Quốc tế và Phát triển tại Cairo, Ai Cập, 1994). Kế hoạch hóa gia đình bao gồm: Sử dụng tốt, rộng rãi và đa dạng các biện pháp tránh thai (BPTT); mỗi gia đình chỉ có từ một đến hai con dù trai hay gái; khoảng cách giữa các lần sinh con từ 3 đến 5 năm; tuổi đẻ lần đầu là Đề tài: Thực trạng và giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tạ i trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình 7 22, lần cuối là dƣới 35; không sinh con đầu lòng trƣớc 20 tuổi và con cuối cùng sau 35 tuổi; vai trò và trách nhiệm của nam giới trong KHHGĐ; lợi ích của việc thực hiện tốt công tác KHHGĐ (Khống chế sự gia tăng dân số, giảm tai biến sản khoa, đảm bảo sức khoẻ phụ nữ, nâng cao chất lƣợng cuộc sống). Làm mẹ an toàn: Là những biện pháp đƣợc áp dụng để đảm bảo sự an toàn cho cả ngƣời mẹ và thai nhi, để làm giảm tỉ lệ tử vong và bệnh tật từ khi ngƣời mẹ mang thai, trong khi sinh và suốt thời kì hậu sản (42 ngày sau đẻ). Phòng tránh thai, phá thai an toàn: Để phòng tránh thai, quan trọng nhất là áp dụng rộng rãi các BPTT. Nếu phá thai, cần phá thai an toàn, đó là thực hiện việc phá thai thật tốt để đảm bảo sức khoẻ cho ngƣời phụ nữ. Chỉ phá thai khi chắc chắn đã có thai bằng xét nghiệm thai sớm hoặc siêu âm, việc này chỉ đƣợc thực hiện ở các cơ sở y tế đƣợc phép phá thai, do những cán bộ đã đƣợc đào tạo chu đáo về các phƣơng pháp phá thai. Phải làm tốt công tác tƣ vấn trƣớc và sau phá thai, không phá thai chui. Thực hiện tốt những lời dặn dò của thầy thuốc sau phá thai về sử dụng thuốc, vệ sinh, sinh hoạt tình dục… Phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, LTQĐTD và HIV/AIDS: vệ sinh thân thể, vệ sinh kinh nguyệt, vệ sinh thai nghén, vệ sinh sinh hoạt tình dục, vệ sinh sau đẻ, sẩy, phá thai; phòng và điều trị sớm những bệnh viêm nhiễm đƣờng sinh sản cho cả nam và nữ; cung cấp kiến thức chung, đặc biệt là đƣờng lây truyền của các bệnh LTQĐTD, gồm cả HIV/AIDS và hậu quả của các bệnh LTQĐTD; không dùng chung các dụng cụ bị nhiễm dịch cơ thể của ngƣời khác; sống thuỷ chung một vợ một chồng; sử dụng rộng rãi và đúng cách bao cao su (BCS). Chăm sóc SKSS VTN: Giáo dục sinh lý kinh nguyệt; giáo dục sinh lý thụ thai và các BPTT, những điều kiện và các dấu hiệu có thai; giáo dục vệ sinh cho VTN nữ, vệ sinh kinh nguyệt; giáo dục tình bạn, tình yêu lành mạnh, những nguy cơ do thai nghén, nguy cơ có thai ngoài ý muốn; giáo dục về sức khoẻ tình dục và tình dục an toàn.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HOÀNG THỊ LOAN THANH
THùC TR¹NG Vµ GI¶I PH¸P
N¢NG CAO NHËN THøC VÒ SøC KHáE SINH S¶N CñA SINH VI£N
T¹I TR¦êNG CAO §¼NG S¦ PH¹M TH¸I B×NH, TØNH TH¸I B×NH
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Thị Anh Đào
HÀ NỘI, 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên, TS Dương Thị Anh Đào,
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học, Ban chủ nhiệm và các thầy, cô giáo trong bộ môn Sinh lý người - động vật, khoa Sinh học, trường ĐH Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo và các em sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình, cùng gia đình và bạn bè
đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Học viên
Hoàng Thị Loan Thanh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì công trình nào khác
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Học viên
Hoàng Thị Loan Thanh
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
HIV/AIDS Human immunodeficiency virus infection/Acquired
immuno deficiency syndrome (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
LTQĐTD Lây truyền qua đường tình dục
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ của đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp của đề tài 4
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận chung 5
1.1.1 Sức khỏe sinh sản 5
1.1.1.1 Khái niệm sức khỏe sinh sản 5
1.1.1.2 Khái niệm chăm sóc sức khỏe sinh sản 6
1.1.1.3 Nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản 6
1.1.2 Sức khỏe sinh sản vị thành niên 8
1.1.2.1 Khái niệm vị thành niên, thanh niên 8
1.1.2.2 Khái niệm sức khỏe sinh sản vị thành niên 9
1.1.3 Cơ sở lý luận của các biện pháp nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản 12
1.1.3.1 Vai trò của giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên 12
1.1.3.2 Tình hình chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên 15
1.2 Lược sử quá trình nghiên cứu 26
1.2.1 Lược sử nghiên cứu trên thế giới 26
1.2.2 Lược sử nghiên cứu ở Việt Nam 30
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
Trang 62.2.1 Thiết kế nghiên cứu: chia thành 2 giai đoạn 36
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số 37
2.2.2.1 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu 37
2.2.2.2 Phương pháp thiết kế bài giảng, hoạt động 37
2.2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 38
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 38
2.3.1 Địa điểm 38
2.3.2 Thời gian 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 38
3.1 Nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình 38
3.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 38
3.1.2 Hiểu biết về sự dậy thì 40
3.1.2.1 Hiểu biết về sự thay đổi thể chất, sinh lý và tâm lý ở tuổi dậy thì 40
3.1.2.2 Sự chia sẻ sinh viên nhận được trước những thay đổi ở tuổi dậy thì 45
3.1.3 Hiểu biết về một số vấn đề liên quan đến quan hệ tình dục 47
3.1.3.1 Hiểu biết về quan hệ tình dục 47
3.1.3.2 Hiểu biết về các biện pháp tránh thai 49
3.1.3.3 Hiểu biết về nạo, phá thai 53
3.1.4 Hiểu biết về sinh sản và kế hoạch hóa gia đình 55
3.1.5 Hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục 57
3.1.5.1 Nhận biết bệnh lây truyền qua đường tình dục 57
3.1.5.2 Hiểu biết về các con đường lây truyền các bệnh lây truyền qua đường tình dục 59
3.1.5.3 Hiểu biết về cách phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục 61
Trang 73.1.6 Điều tra sinh viên về vấn đề giáo dục tình dục cho vị thành niên, thanh niên và tích hợp kiến thức sức khỏe sinh sản trong chương trình giáo dục đại
học 63
3.1.6.1 Vấn đề giáo dục tình dục cho vị thành niên, thanh niên 63
3.1.6.2 Vấn đề tích hợp kiến thức sức khỏe sinh sản trong chương trình giáo dục đại học 65
3.2 Kết quả can thiệp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản 68
3.2.1 Kết quả đánh giá bài kiểm tra kiến thức sức khỏe sinh sản 68
3.2.2 Kết quả đánh giá hiểu biết về các biện pháp tránh thai 69
3.2.3 Kết quả đánh giá hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS 72
3.2.4 Hiểu biết về kế hoạch hóa gia đình và bình đẳng giới 74
3.3 Giải pháp nâng cao nhận thức về SKSS cho SV trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình 76
3.3.1 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức SKSS cho đội ngũ cán bộ, giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình 76
3.3.2 Tăng cường sự chỉ đạo, cải tiến trong nội dung và quản lý công tác giáo dục SKSS trong trường học 76
3.3.3 Tăng cường tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, hoạt động ngoại khóa, xây dựng các mô hình tác động 77
3.3.4 Động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện để SV tham gia nghiên cứu khoa học với các đề tài có liên quan đến giáo dục SKSS 78
3.3.5 Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra 79
3.3.6 Phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường với gia đình, cộng đồng, xã hội và sự tự giáo dục của cá nhân SV 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.2 Hiểu biết về sự thay đổi thể chất, sinh lý và tâm lý ở tuổi dậy thì 41
Bảng 3.3 Sự chia sẻ sinh viên nhận được khi bước vào tuổi dậy thì 45
Bảng 3.4 Hiểu biết về quan hệ tình dục của đối tượng nghiên cứu 47
Bảng 3.5 Hiểu biết về các biện pháp tránh thai 50
Bảng 3.6 Hiểu biết về nạo, phá thai của đối tượng nghiên cứu 54
Bảng 3.7 Hiểu biết về sinh sản và kế hoạch hóa gia đình 55
Bảng 3.8 Hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục 58
Bảng 3.9 Các con đường lây truyền các bệnh LTQĐTD 59
Bảng 3.10 Hiểu biết về cách phòng tránh các bệnh LTQĐTD 62
Bảng 3.11 Nhận thức về vấn đề giáo dục tình dục cho vị thành niên, thanh niên 65
Bảng 3.12 Hiểu biết về vấn đề tích hợp kiến thức SKSS ở trường chuyên nghiệp 66
Bảng 3.13 Xếp hạng kết quả bài kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức kiến thức SKSS 68
Bảng 3.14 Hiểu biết về các biện pháp tránh thai của đối tượng nghiên cứu 69
Bảng 3.15 Hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS 72
Bảng 3.16 Ý kiến về vấn đề kế hoạch hóa gia đình và bình đẳng giới của đối tượng nghiên cứu 74
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Hình 3.1 Hiểu biết về các dấu hiệu thay đổi thể chất và sinh lý của sinh viên 42
Hình 3.2 Hiểu biết về các dấu hiệu thay đổi tâm lý của sinh viên 43
Hình 3.3 Hiểu biết về từng nhóm dấu hiệu thay đổi khi bước vào tuổi dậy thì của SV 44
Hình 3.4 Tỉ lệ hiểu biết về các BPTT của sinh viên 51
Hình 3.5 Lý do không sử dụng biện pháp tránh thai 52
Hình 3.6 Khoảng cách sinh con thích hợp 57
Hình 3.7 Mức độ nhận biết các bệnh LTQĐTD của sinh viên 59
Hình 3.8 Mức độ nhận thức về SKSS của nhóm ĐC và TN 69
SƠ ĐỒ 3.1 MÔ HÌNH TÁC ĐỘNG TỔNG HỢP CỦA CÁC GIẢI PHÁP 81
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đảm bảo dân số ổn
định, phát triển kinh tế – xã hội là mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với mọi dân
tộc, mọi đất nước, nhất là trong thời kì hội nhập Trong đó, đẩy mạnh giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản (SKSS) trong trường phổ thông là phần không thể thiếu Bởi vì, giáo dục dân số, SKSS được thực hiện tốt thì chất lượng cuộc sống của cá nhân, gia đình và toàn xã hội được nâng lên góp phần thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia
Thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay đang sống trong môi trường hội nhập, có nhiều cơ hội để phát triển song cũng có không ít nguy cơ và thách thức, đặc biệt
là những nguy cơ về SKSS Do đó, chăm sóc SKSS cho thanh thiếu niên có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách công dân, đảm bảo cho việc đạt được mục tiêu chính sách dân số quốc gia bền vững [9, 10] Hiện nay, tại các trường trung học phổ thông (THPT) cũng như các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, nội dung giáo dục SKSS được lồng ghép vào một số môn học là Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân Tuy nhiên, với chương trình học quá nặng, việc lồng ghép nội dung SKSS còn gặp nhiều khó khăn, không mang tính chất bắt buộc và phụ thuộc vào thời lượng dư của mỗi môn học Do
đó, kiến thức của học sinh, sinh viên (HS, SV) về SKSS còn hạn chế, dẫn đến tăng khả năng lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; quan hệ tình dục sớm, không an toàn; mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai tiền hôn nhân để lại hậu quả nghiêm trọng về khả năng phát triển năng lực, thể chất và tâm lý cho các em [9, 10]
Theo điều tra quốc gia về vị thành niên (VTN) và thanh niên Việt Nam lần thứ 2 (SAVY 2) năm 2009, tỉ lệ nạo phá thai ở VTN trên tổng số ca đẻ ước tính khoảng 20%, cao hơn nhiều so với số liệu của Bệnh viện Phụ sản
Trang 11Trung ương và Bệnh viện Từ Dũ Vì thế, theo các chuyên gia sự chênh lệch này phản ánh mảng tối trong việc phá thai không an toàn hiện nay [8] Thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam cho thấy, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15 – 19, trong
đó 60 – 70% là HS, SV Theo Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình (DS
– KHHGĐ), mặc dù tỉ lệ phá thai ở Việt Nam trong 10 năm gần đây giảm,
nhưng tỉ lệ nạo phá thai ở trẻ VTN, thanh niên lại có dấu hiệu gia tăng, chiếm hơn 20% các trường hợp nạo phá thai Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy,
độ tuổi quan hệ tình dục (QHTD) lần đầu ở VTN Việt Nam ngày càng sớm Tuy nhiên, kiến thức của VTN về phòng tránh thai, HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) khác vẫn còn rất hạn chế, chỉ có khoảng 20,7% sử dụng biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên [41] Với con số mang thai và nạo hút thai ở VTN như trên, Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ nạo phá thai tuổi VTN cao trên thế giới Đây không chỉ là một gánh nặng, thách thức lớn cho công tác dân số, mà đáng lưu tâm hơn là để lại những hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ trẻ Nguyên nhân của thực trạng trên được các chuyên gia dân số lý giải là do tình trạng tảo hôn và QHTD trước hôn nhân; các dịch vụ chăm sóc SKSS, tình dục còn chưa được phổ biến rộng rãi; giới trẻ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính; tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS, sức khỏe tình dục không dễ dàng, đặc biệt là VTN, thanh niên sống ở nông thôn và miền núi [51]
Như vậy, có thể thấy hiểu biết của VTN, thanh niên về các biện pháp tránh thai còn khá thấp Đa số các em có nghe nói về HIV/AIDS và các bệnh LTQĐTD, nhưng hiểu biết còn hạn chế, rất ít VTN biết rõ nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng tránh các bệnh này [35] Nguồn cung cấp chính các thông tin về SKSS cho VTN là phương tiện thông tin đại chúng (đài, ti vi, báo chí, sách), gia đình và nhà trường Tuy nhiên, nhà trường cũng chỉ mới cung cấp được rất ít thông tin về SKSS cho VTN và cũng có rất ít bậc cha mẹ nói
Trang 12chuyện với con mình về SKSS Do hàng rào ngăn cản là những quan niệm truyền thống về giới tính, tình dục, tình yêu Những số liệu trên phần nào cho thấy, giáo dục dân số trong đó có vấn đề giáo dục SKSS, giáo dục giới tính, giáo dục đời sống gia đình chưa thật sâu và bền vững
Trong thời gian qua, đã có khá nhiều hoạt động nhằm giáo dục và cải thiện thực trạng hiểu biết về SKSS cho HS, SV được triển khai ở các địa phương Tuy nhiên, chất lượng hoạt động chưa cao, mới chỉ mang tính phong trào, chưa đáp ứng các nhu cầu về chăm sóc SKSS cho HS, SV
Từ những thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và
giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của sinh viên tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình’’, nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục SKSS trong học đường nói riêng và cộng đồng nói chung Hơn nữa, các SV của trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình sẽ là những thầy, cô giáo tương lai, đó là cầu nối quan trọng để truyền đạt kiến thức về chăm sóc SKSS đến thanh thiếu niên
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng hiểu biết về SKSS của SV trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
- Thiết kế và đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp giúp nâng cao nhận thức về SKSS cho SV trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình Từ đó, phát triển, hoàn thiện các giải pháp và nhân rộng các mô hình tuyên truyền kiến thức về SKSS trong học đường nói riêng, cộng đồng nói chung
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Điều tra thực trạng hiểu biết về SKSS của SV
- Tiến hành can thiệp bằng biện pháp giảng dạy nội dung về SKSS trên đối tượng SV năm I
- Đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp, trên cơ sở đó phát triển các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về SKSS
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là SV năm I, năm II và năm III, từ 19 đến 21 tuổi, đang học tập tại trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá thực trạng hiểu biết về SKSS, tiến hành giải pháp can thiệp (giảng dạy nội dung về SKSS), đánh giá hiệu quả của giải pháp, từ đó phát triển, hoàn thiện các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức
về SKSS cho SV trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
5 Phương pháp nghiên cứu
Các chỉ số được nghiên cứu bằng các phương pháp: phỏng vấn bằng phiếu, thiết kế bài giảng và hoạt động, kiểm tra đánh giá (các mẫu phiếu sử dụng được thiết kế sẵn)
Kết quả nghiên cứu được phân tích và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, SPSS 16.0 và Epidata 6.0
6 Những đóng góp của đề tài
Là đề tài đầu tiên thực hiện trên đối tượng SV ở địa bàn tỉnh Thái Bình
về điều tra nhận thức SKSS và tác động giải pháp can thiệp
Đánh giá hiệu quả của giải pháp can thiệp, trên cơ sở đó phát triển, hoàn thiện các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về SKSS cho SV trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình nói riêng và trong trường học nói chung
Các số liệu trong luận văn góp phần bổ sung số liệu cho việc nghiên cứu, đánh giá về sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên Đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, giảng dạy ở các trường trung học cơ sở (THCS), THPT và đại học (ĐH)
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Trang 141.1 Cơ sở lý luận chung
1.1.1 Sức khỏe sinh sản
1.1.1.1 Khái niệm sức khỏe sinh sản
Theo chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển (Hội nghị Cairo – 1994), “SKSS là một tình trạng hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật hay tàn phế trong tất cả các vấn đề liên quan đến tình dục và hệ thống sinh sản của con người, những chức năng và quá trình hoạt động của nó” [6, 7, 57, 58, 60] Qua đó, có thể khẳng định việc chăm sóc SKSS là tổng thể các biện pháp kĩ thuật, dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe, hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về SKSS Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, chứ không chỉ là việc tư vấn, chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bệnh LTQĐTD SKSS không chỉ là trạng thái không có bệnh tật hoặc các vấn đề sức khỏe khác, mà SKSS phải được hiểu trong khuôn khổ của các mối quan
hệ giữa sự thực hiện và rủi ro; cơ hội có đứa con mong muốn hoặc ngược lại, tránh mang thai ngoài ý muốn và không an toàn SKSS góp phần rất lớn cho nguồn an ủi về thể chất, về tâm lý xã hội và sự gần gũi, sự trưởng thành cá nhân và xã hội SKSS kém đi liền với bệnh tật, lạm dụng, mang thai ngoài ý muốn và tử vong [6, 7]
SKSS bao gồm các nội dung: KHHGĐ (tư vấn, thông tin, giáo dục truyền thông, dịch vụ KHHGĐ); sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh; bệnh viêm nhiễm và ung thư đường sinh dục; bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS; tình dục (thông tin và tư vấn về tình dục); SKSS vị thành niên; bình đẳng giới (bạo lực giới và phân biệt đối xử với phụ nữ); trách nhiệm của nam giới; phá thai (những tai biến, hậu quả phá thai không an toàn, ngăn ngừa
và quản lý phá thai không an toàn); vô sinh (ngăn chặn và điều trị vô sinh); mãn kinh và tuổi già [57, 58]
Trang 151.1.1.2 Khái niệm chăm sóc sức khỏe sinh sản
Chăm sóc SKSS đề cập đến các biện pháp, kĩ thuật, dịch vụ góp phần cải thiện SKSS và phúc lợi bằng cách ngăn ngừa, giải quyết các vấn đề có hại đối với SKSS Chăm sóc SKSS bao gồm chăm sóc sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và các mối quan hệ cá nhân liên quan đến SKSS chứ không chỉ đơn thuần là khám, điều trị các bệnh liên quan đến sinh sản và LTQĐTD [15, 40, 57, 58]
1.1.1.3 Nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản
Nội dung chăm sóc SKSS gồm: Thông tin, giáo dục truyền thông về chăm sóc SKSS; thực hiện tốt KHHGĐ; làm mẹ an toàn; phòng tránh thai, phá thai an toàn; phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản; phòng chống các bệnh LTQĐTD; giáo dục SKSS VTN; phòng chống nguyên nhân gây vô sinh; phòng chống ung thư vú và ung thư sinh dục; giáo dục về tình dục, sức khỏe người cao tuổi và bình đẳng giới
Ở Việt Nam, theo chiến lược chăm sóc SKSS giai đoạn 2001 – 2010, Ủy ban dân số quốc gia đã nêu ra bảy nội dung cụ thể được ưu tiên gồm:
Quyền sinh sản: Là quyền cơ bản của tất cả các cặp vợ chồng, cá nhân
trong việc tự do quyết định và có trách nhiệm về sinh, khoảng cách, thời điểm sinh con, quyền có được thông tin và phương tiện để làm được điều này, cũng như quyền có được những chuẩn mực cao nhất về sức khỏe tình dục và SKSS Quyền sinh sản còn bao gồm quyền của nam, nữ quyết định vấn đề sinh sản
mà không bị phân biệt đối xử, ép buộc hay cưỡng bức Khi thực hiện quyền lợi này cả nam và nữ đều phải cân nhắc nhu cầu cuộc sống của bản thân và con cái sau này, cũng như trách nhiệm của họ đối với cộng đồng, xã hội (Hội nghị Quốc tế và Phát triển tại Cairo, Ai Cập, 1994)
Kế hoạch hóa gia đình bao gồm: Sử dụng tốt, rộng rãi và đa dạng các
biện pháp tránh thai (BPTT); mỗi gia đình chỉ có từ một đến hai con dù trai hay gái; khoảng cách giữa các lần sinh con từ 3 đến 5 năm; tuổi đẻ lần đầu là
Trang 1622, lần cuối là dưới 35; không sinh con đầu lòng trước 20 tuổi và con cuối cùng sau 35 tuổi; vai trò và trách nhiệm của nam giới trong KHHGĐ; lợi ích của việc thực hiện tốt công tác KHHGĐ (Khống chế sự gia tăng dân số, giảm tai biến sản khoa, đảm bảo sức khoẻ phụ nữ, nâng cao chất lượng cuộc sống)
Làm mẹ an toàn: Là những biện pháp được áp dụng để đảm bảo sự an
toàn cho cả người mẹ và thai nhi, để làm giảm tỉ lệ tử vong và bệnh tật từ khi người mẹ mang thai, trong khi sinh và suốt thời kì hậu sản (42 ngày sau đẻ)
Phòng tránh thai, phá thai an toàn: Để phòng tránh thai, quan trọng
nhất là áp dụng rộng rãi các BPTT Nếu phá thai, cần phá thai an toàn, đó là thực hiện việc phá thai thật tốt để đảm bảo sức khoẻ cho người phụ nữ Chỉ phá thai khi chắc chắn đã có thai bằng xét nghiệm thai sớm hoặc siêu âm, việc này chỉ được thực hiện ở các cơ sở y tế được phép phá thai, do những cán bộ
đã được đào tạo chu đáo về các phương pháp phá thai Phải làm tốt công tác
tư vấn trước và sau phá thai, không phá thai chui Thực hiện tốt những lời dặn
dò của thầy thuốc sau phá thai về sử dụng thuốc, vệ sinh, sinh hoạt tình dục…
Phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, LTQĐTD và HIV/AIDS: vệ sinh thân thể, vệ sinh kinh nguyệt, vệ sinh thai nghén, vệ sinh
sinh hoạt tình dục, vệ sinh sau đẻ, sẩy, phá thai; phòng và điều trị sớm những bệnh viêm nhiễm đường sinh sản cho cả nam và nữ; cung cấp kiến thức chung, đặc biệt là đường lây truyền của các bệnh LTQĐTD, gồm cả HIV/AIDS và hậu quả của các bệnh LTQĐTD; không dùng chung các dụng
cụ bị nhiễm dịch cơ thể của người khác; sống thuỷ chung một vợ một chồng;
sử dụng rộng rãi và đúng cách bao cao su (BCS)
Chăm sóc SKSS VTN: Giáo dục sinh lý kinh nguyệt; giáo dục sinh lý
thụ thai và các BPTT, những điều kiện và các dấu hiệu có thai; giáo dục vệ sinh cho VTN nữ, vệ sinh kinh nguyệt; giáo dục tình bạn, tình yêu lành mạnh, những nguy cơ do thai nghén, nguy cơ có thai ngoài ý muốn; giáo dục về sức khoẻ tình dục và tình dục an toàn
Trang 17Bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS: Bình đẳng giới trong gia đình và
xã hội, đặc biệt trong việc lựa chọn các BPTT nhằm đạt mục tiêu tình dục an toàn và lành mạnh
Như vậy, chúng ta không chỉ quan tâm đến vấn đề KHHGĐ, mà còn phải bảo vệ và chăm sóc SKSS cho nhân dân, đặc biệt là VTN, thanh niên và phụ nữ Điều này được thể hiện rất rõ trong quyền chăm sóc SKSS, đó là quyền được thông tin về chăm sóc SKSS; quyền được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp; quyền được lựa chọn các BPTT; quyền được đảm bảo
an toàn; quyền được đảm bảo kín đáo; quyền được giữ bí mật; quyền được tôn trọng; quyền được thông cảm, thoải mái; quyền được tiếp cận sử dụng dịch vụ và quyền được bày tỏ ý kiến [6, 7, 57, 58]
1.1.2 Sức khỏe sinh sản vị thành niên
1.1.2.1 Khái niệm vị thành niên, thanh niên
VTN là giai đoạn phát triển chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn, được đặc trưng bởi sự phát triển mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tinh thần, tình cảm và khả năng hòa nhập cộng đồng Tuổi VTN kéo dài trong khoảng 9 – 10 năm, căn cứ vào mức độ phát triển thể chất, tâm sinh lý người ta chia VTN thành 3 giai đoạn: VTN sớm (10 – 14 tuổi); VTN trung bình (15 – 17 tuổi) và VTN muộn (18 – 19 tuổi) [58]
Điều 1 Luật Thanh niên năm 2005 quy định, thanh niên không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội đặc thù, có độ tuổi nhất định từ 16 đến
30 tuổi, có những đặc điểm về tâm lý, sinh lý, có tâm tư nguyện vọng; có nhu cầu và hoài bão, khát vọng theo lứa tuổi và giới; có mặt trong tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội và 54 dân tộc anh em; có mặt và giữ vai trò quan trọng
trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước [20]
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tuổi VTN dùng để chỉ những người từ
10 đến 19 tuổi, tuổi thanh niên là những người từ 15 đến 24 tuổi Ở Việt Nam những người từ 10 đến 24 tuổi gọi chung là thanh thiếu niên Thanh thiếu niên là
Trang 18giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn, do đó đòi hỏi mỗi cá nhân phải
có những thay đổi mới để thích nghi Tuổi dậy thì nằm trong tuổi VTN, thanh niên và là thời kì phát triển đặc trưng của VTN, thanh niên Tuổi dậy thì có nhiều thay đổi lớn về thể chất, sinh lý, tâm lý và tình cảm [56, 57, 58, 60]
Ở Việt Nam, theo số liệu mới nhất của cuộc Điều tra biến động DS – KHHGĐ giai đoạn 2007 – 2012, số người ở tuổi VTN (từ 10 đến 19 tuổi) chiếm 16,4%, độ tuổi thanh niên (từ 20 đến 24 tuổi) chiếm 8,4% dân số cả nước [48]
Như vậy có thế thấy, nhóm dân số trẻ từ 10 đến 24 tuổi của Việt Nam chiếm gần 25% dân số cả nước Đây là thời điểm, là cơ hội để chúng ta có thể xây dựng kế hoạch cho thời kì chuyển đổi dân số này, đồng thời tận dụng thời
kì này giúp phát triển kinh tế – xã hội mà một số quốc gia khác ở châu Á đã thành công bằng việc đảm bảo rằng tất cả các nhóm dân số đều được quan tâm, mỗi thanh thiếu niên đều được giáo dục và hỗ trợ để phát triển hết tiềm năng của mình
1.1.2.2 Khái niệm sức khỏe sinh sản vị thành niên
SKSS VTN là những nội dung về SKSS liên quan, tương ứng với lứa tuổi VTN, đó là một trạng thái hoàn hảo của VTN về thể chất, tinh thần và
xã hội trong mọi khía cạnh liên quan đến bộ máy sinh sản cũng như quá trình và chức năng của nó chứ không phải chỉ có bệnh tật hay khuyết tật của bộ máy đó [6, 7, 60]
Tất cả những vấn đề về sức khỏe trong thời kì thanh thiếu niên đều liên quan đến sự phát triển tự nhiên của thể chất và tinh thần, về giới tính, nó tác động một cách sâu sắc và mạnh mẽ tới sự phát triển của cá thể trong giai đoạn tiếp theo hình thành một con người hoàn thiện với các chức năng đầy đủ, đặc biệt là các chức năng về tình dục, sinh sản và các lĩnh vực tâm sinh lý
1.1.2.3 Những đặc điểm giải phẫu, tâm sinh lý trong thời kì thanh thiếu niên
Tuổi thanh thiếu niên là thời kì phát triển đặc biệt – thời kì xảy ra đồng
Trang 19thời hàng loạt những biến đổi nhanh chóng cả về cơ thể cũng như sự biến đổi tâm lý và các mối quan hệ xã hội Cần hiểu rõ về các đặc điểm tâm sinh lý và những thay đổi trong độ tuổi này thì mới có thể tiếp cận, tư vấn, cung cấp
dịch vụ cho các em một cách phù hợp, thân thiện và hiệu quả
* Những thay đổi về thể chất và sinh lý
Sự phát triển cơ thể rõ rệt và dễ nhận thấy nhất là các dấu hiệu dậy thì Tuổi dậy thì ở các em nữ thường bắt đầu sớm hơn và trong khoảng từ 10 – 15 tuổi, các em nam trong khoảng từ 12 – 17 tuổi Trong giai đoạn dậy thì, các nội tiết tố sinh dục (estrogen và tetosteron) tăng dần, cơ quan sinh dục phát triển, cơ thể chuẩn bị sẵn sàng cho hoạt động sinh sản Biểu hiện rõ rệt ở các
em nữ là hiện tượng kinh nguyệt và ở em nam là hiện tượng xuất tinh
Một số đặc điểm dậy thì ở các em nữ: phát triển núm vú, quầng vú; mọc
lông sinh dục (lông mu, lông nách); tử cung, âm đạo, buồng trứng phát triển
to ra; xương hông nở ra, phát triển chiều cao nhanh chóng; xuất hiện kinh nguyệt; các tuyến bã hoạt động mạnh, xuất hiện trứng cá
Một số đặc điểm dậy thì ở các em nam: tinh hoàn và dương vật to lên, da
tinh hoàn sẫm màu lại; thanh quản mở rộng, vỡ tiếng, yết hầu lộ ra; tăng trưởng nhanh chóng về chiều cao, các xương dài phát triển, cơ bắp ở vai, ngực, cánh tay to ra; xuất hiện lông mu, ria mép; xuất tinh (thường là mộng tinh hay còn gọi là “giấc mơ ướt”); các tuyến bã hoạt động mạnh, có trứng cá [12, 14, 26, 33, 34, 39, 44, 50, 59, 61]
* Những biến đổi về tâm lý: Tùy theo từng giai đoạn phát triển, có
những biến đổi về tâm lý khác nhau
Thời kì VTN sớm, VTN bắt đầu ý thức mình không còn là trẻ con, muốn
được độc lập; muốn được tôn trọng, được đối xử bình đẳng như người lớn; chú trọng đến các mối quan hệ bạn bè; quan tâm đến hình thức bên ngoài và những thay đổi của cơ thể; tò mò, thích khám phá, thử nghiệm; bắt đầu phát triển tư duy trừu tượng; có những hành vi mang tính thử nghiệm, bốc đồng
Trang 20Thời kì VTN giữa, VTN tiếp tục quan tâm nhiều hơn đến hình dáng cơ
thể; tỏ ra độc lập hơn, thích tự mình quyết định, có xu hướng tách ra khỏi sự kiểm soát của gia đình; phát triển mạnh cá tính, sở thích cá nhân; chịu ảnh hưởng nhiều của bạn bè đồng trang lứa; quan tâm đến bạn khác giới, dễ ngộ nhận tình bạn khác giới với tình yêu; tiếp tục phát triển tư duy trừu tượng; phát triển kỹ năng phân tích, bắt đầu nhận biết hậu quả của hành vi; bắt đầu thử thách các quy định, các giới hạn mà gia đình hay xã hội đặt ra
Thời kì VTN muộn, VTN muốn khẳng định sự độc lập và tạo dựng hình
ảnh bản thân tương đối ổn định; khả năng đánh giá và giải quyết vấn đề tốt hơn; cách suy nghĩ, nhận xét và ứng xử chín chắn hơn; ảnh hưởng của nhóm bạn bè giảm dần, quay lại chú trọng mối quan hệ gia đình; chú trọng tới mối quan hệ riêng tư, tin cậy giữa hai người hơn quan hệ theo nhóm; định hướng cuộc sống, nghề nghiệp rõ ràng hơn; biết phân biệt tình bạn và tình yêu, cách nhìn nhận tình yêu mang tính thực tế hơn [12, 22, 23, 50]
Tóm lại, thời kì thanh thiếu niên được đặc trưng bởi sự phát triển rất nhanh cả về trí tuệ và thể lực, thời kì này không dài nhưng lại có nhiều biến động về thể chất, sinh lý và tâm lý Các hiện tượng tâm lý trong giai đoạn này
có đặc điểm biến động nhanh, mạnh, có tình trạng mất cân đối Tuổi thanh thiếu niên thường có những hành vi, những thử nghiệm biểu hiện sự hào phóng, có khi có nguy cơ gây hại cho bản thân và xã hội Đây cũng là lứa tuổi đang phát triển hình thành nhân cách, nhiều yếu tố tâm lý đang được hình thành vững chắc, quan điểm sống và thế giới quan chưa rõ ràng Đặc trưng cơ bản là sự mâu thuẫn trong nội dung tâm lý, giữa một bên là tính chất quá độ không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải là người lớn với một bên là ý thức
về bản thân phát triển mạnh mẽ [17, 23, 24] Mặt khác, ở độ tuổi này thanh thiếu niên chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về SKSS, làm mẹ an toàn nên
dễ xảy ra các tai biến sản khoa trong quá trình sinh đẻ Vì vậy, nếu mang thai
và sinh con ở độ tuổi này sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển
Trang 21theo quy luật tự nhiên và ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của người mẹ Người mẹ thiếu kiến thức về chăm sóc và nuôi dạy con làm ảnh hưởng đến chất lượng dân số Do đó, cần có sự nỗ lực của bản thân các em, sự quan tâm, định hướng của nhà trường, gia đình và xã hội để các em phát triển nhân cách đúng hướng, tránh các sai lệch không đáng có Cần có biện pháp giáo dục về giới tính, về SKSS, về hôn nhân gia đình, về tránh thai an toàn…tạo điều kiện cho các em vượt qua giai đoạn khủng hoảng của tuổi dậy thì để trở thành người lớn với đúng nghĩa của nó
1.1.3 Cơ sở lý luận của các biện pháp nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản
1.1.3.1 Vai trò của giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
Giáo dục sức khỏe sinh sản VTN là 1 trong 10 nội dung của “Chiến lược
quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản” Nội dung này được thực hiện chủ
yếu trong các nhà trường cùng với sự phối hợp của ngành y tế, các đoàn thể,
các tổ chức xã hội và gia đình
Đối tượng của giáo dục SKSS VTN là thanh thiếu niên trong độ tuổi VTN, thanh niên Đây là lứa tuổi chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang người lớn, là giai đoạn phát triển mạnh mẽ và phức tạp nhất của cuộc đời mỗi con người Biểu hiện của nó là xảy ra đồng thời những thay đổi bao gồm sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội, bước đầu hình thành nhân cách nên nẩy sinh nhiều rắc rối về tâm lý hơn các lứa tuổi khác VTN phát triển qua các thời kì chuyển tiếp đầy tiềm năng nhưng cũng rất mỏng manh, vì vậy cần được nuôi dưỡng chăm sóc trong một môi trường an toàn, thân thiện để có thể lớn lên và trưởng thành Trẻ em bước vào tuổi VTN bằng những dấu hiệu của tuổi dậy thì (đó là lần đầu tiên có kinh nguyệt đối với nữ và xuất tinh đối với nam) Tuổi dậy thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố: dân tộc (châu Á thường sớm hơn châu Âu), nơi sinh sống (thành thị sớm hơn nông thôn), mức sống (hiện nay sớm hơn ngày trước)… Tuổi dậy thì là tuổi
Trang 22bắt đầu có khả năng sinh sản, nhưng cơ thể các em vẫn còn đang ở giai đoạn hoàn thiện, cần phải giúp các em vượt qua được những khủng hoảng của tuổi dậy thì mới trở thành người lớn thực sự
Giáo dục SKSS VTN là khái niệm đã rất quen thuộc trong các nhà trường, tuy vậy nó vẫn còn là vấn đề tế nhị hoặc bị coi là đơn giản (đến khi trưởng thành thì ai cũng biết, nói chi nhiều…), lại có phần ảnh hưởng của tập quán, truyền thống văn hóa, xã hội, do đó nếu chỉ có tác động từ nhà trường
mà không có sự kết hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội, thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong giáo dục SKSS VTN
VTN và thanh niên là nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước trong tương lai Nếu được quan tâm chăm sóc để bắt đầu một cuộc sống tốt đẹp, là đã tạo cho các em cơ hội và ý chí để cống hiến tốt nhất; ngược lại nếu để mắc phải những sai lầm trong thời kì này thì các em sẽ bị tổn thương về tinh thần (hoặc thậm chí cả về thể xác) khó mà hồi phục được Ngày nay, điều kiện dinh dưỡng và môi trường sống làm cho tuổi VTN thực tế có thể kéo dài hơn (dậy thì đến sớm hơn, lấy vợ lấy chồng muộn hơn) nên tình trạng QHTD trước hôn nhân, sống thử…ngày càng phổ biến Số VTN trong học đường ngày càng tăng, tình yêu ở tuổi học đường có thể dẫn tới QHTD trước hôn nhân, nếu không có kiến thức để tự bảo vệ, dễ dẫn đến có thai ngoài ý muốn, làm cho
HS nữ phải bỏ học để kết hôn sớm hoặc phải nạo phá thai, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe hoặc để lại hậu quả không tốt cho cả cuộc đời Kết hôn sớm trong điều kiện chưa có việc làm cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến SKSS VTN…đó là chưa nói đến các quan niệm lệch lạc biểu hiện ở nhận thức thẩm mỹ, lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay
Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề và trách nhiệm của mình, ngành giáo dục đã quyết tâm đưa nội dung giáo dục SKSS VTN vào trong các nhà trường Hàng ngàn tập tài liệu chuyên đề SKSS VTN được cấp phát đến tận tay từng giáo viên các cấp, nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng giáo viên được mở
Trang 23ra thường xuyên trong hè mỗi năm học, các câu lạc bộ của HS, các hội thi, các buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp xung quanh các chủ đề về SKSS VTN đã mang lại những kết quả đáng phấn khởi Đặc biệt trong quá trình đổi mới giáo dục phổ thông theo Nghị quyết 40 của Quốc hội khóa X, một chương trình sách giáo dục phổ thông mới được xây dựng Trong đó, lượng kiến thức thích hợp về SKSS VTN cũng đã được chính thức đưa vào chương trình, thể hiện qua các bài học trong sách giáo khoa của các bộ môn Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Chẳng hạn, trong chương trình Sinh học lớp 8, các em được học về cấu tạo, vai trò của cơ quan sinh dục nam và nữ, những thay đổi về hình thái và sinh lý cơ thể trong tuổi dậy thì, cơ sở khoa học của các BPTT, các bệnh LTQĐTD… Môn Sinh học lớp 9 giúp các em hiểu được cơ sở khoa học của Luật Hôn nhân và Gia đình qua việc cấm kết hôn gần (giao phối cận huyết), cũng như nhiều vấn đề về tác hại của virut, đột biến, bệnh di truyền, vệ sinh cơ thể, hay môi trường sinh thái… Môn Giáo dục công dân giúp các em hiểu được giá trị nền tảng văn hóa xã hội và gia đình truyền thống của Việt Nam, có quan niệm đúng về tình bạn, tình yêu và hôn nhân, biết tôn trọng luật pháp và thực hiện hành vi một cách tự giác, tự chủ bản thân, từng bước đấu tranh với những thói hư tật xấu,
tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà trường
Đến nay, có thể khẳng định các nội dung giáo dục SKSS VTN đã được
tổ chức nghiêm túc, khoa học, với phương pháp sáng tạo, hình thức phong phú Điều đó đã góp phần trang bị cho các em kiến thức tương đối đầy đủ, xây dựng cho mình nếp sống lành mạnh, có quan niệm về tình dục, tình yêu
rõ ràng dứt khoát, từng bước xóa bỏ quan niệm lạc hậu là “vẽ đường cho hươu chạy”
Ngày nay, VTN tiếp xúc rất sớm các thông tin có lợi và bất lợi từ sách báo, truyền hình, điện ảnh, internet hay trò chơi điện tử cùng nhiều khía cạnh khác của hiện thực xã hội, gia đình… Vì vậy, vấn đề giáo dục SKSS VTN
Trang 24phải được xem xét trong một bối cảnh mới, với phương pháp và hình thức mới Nội dung giáo dục SKSS VTN phải toàn diện, phương pháp phải tổng lực, hình thức phải phong phú, chủ thể phải tích cực, dạy ít nhưng học nhiều Kiến thức về giáo dục SKSS VTN không phải loại tri thức khó hay khô khan,
do vậy giáo viên cần tạo điều kiện để các em chủ động chiếm lĩnh tri thức, từ
đó biến thành vốn sống của mình để từng HS luôn vững vàng, làm chủ được bản thân trong mọi tình huống [6, 7, 12, 16, 19, 29, 58]
1.1.3.2 Tình hình chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên
* Thực trạng công tác chăm sóc SKSS trên thế giới
Nền kinh tế, xã hội của các nước trên thế giới phát triển rất khác nhau nên tình hình chăm sóc SKSS cũng rất khác nhau Chăm sóc SKSS cho lứa tuổi VTN đã được quan tâm, song các nước vẫn xác nhận VTN là nhóm dễ bị tổn thương nhất Ở nhiều nước Châu Âu, Bắc Mĩ, Nhật Bản…các cá nhân, các cặp vợ chồng đã có thể làm chủ khả năng sinh sản của mình, nghĩa là họ chủ động được việc sinh con khi nào và sinh mấy con Thực tế trong vòng 35 năm trong độ tuổi sinh đẻ (15 đến 49 tuổi) họ chỉ mất 5 – 6 năm cho việc chửa đẻ và nuôi con, phần thời gian còn lại họ quan tâm đến chăm sóc sức khoẻ mà đặc biệt là sức khoẻ tình dục
Một trong những vấn đề quan tâm lớn của xã hội đối với SKSS VTN là vấn
đề QHTD sớm dẫn đến mang thai ngoài ý muốn VTN QHTD sớm là vấn đề xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới Do tác động của nhiều yếu tố: đô thị hoá, phim ảnh, phương tiện thông tin…và trào lưu xã hội làm cho tỉ lệ VTN có hoạt động tình dục sớm ngày càng tăng trên toàn thế giới, trong khi đó hiểu biết về thời điểm có thai của VTN rất thấp Vấn đề cần quan tâm cùng với việc QHTD sớm và sự thiếu hiểu biết của VTN về các bệnh LTQĐTD là các BPTT Một nghiên cứu ở Nigeria cho thấy 80% nữ VTN dưới 19 tuổi được hỏi đã từng có QHTD và một nghiên cứu khác nhận được quan niệm của các đối tượng về các bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS là không thể tránh được [28, 101]
Trang 25Những thách thức về SKSS trên toàn thế giới:
Vấn đề thai nghén, sinh đẻ và sức khoẻ trẻ sơ sinh: Hàng năm có khoảng
8 triệu trong số 210 triệu phụ nữ có thai bị các biến chứng liên quan đến thai nghén đe doạ đến cuộc sống của họ, nhiều trường hợp bị tàn phế thậm chí tử vong Năm 2000, có khoảng 529.000 bà mẹ chết trong khi mang thai và trong khi sinh mà nguyên nhân có thể phòng tránh được nếu quan tâm hơn về kiến thức chăm sóc SKSS cho các bà mẹ Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong mẹ đã thay đổi theo chiều hướng tích cực trong những năm gần đây do làm tốt công tác chăm sóc SKSS [28]
Vấn đề KHHGĐ: Việc sử dụng các BPTT đã tăng ổn định ở các nước
phát triển và các nước đang phát triển Một số nghiên cứu cũng cho biết hoạt động tình dục của VTN và người lớn chưa xây dựng gia đình cũng chưa được đáp ứng nhu cầu về phương tiện tránh thai, khoảng 80 triệu phụ nữ hàng năm
có thai ngoài ý muốn, nhiều trường hợp trong số này có thai do không thành công trong sử dụng BPTT [28]
Nạo thai không an toàn: Hàng năm có khoảng 19 triệu trường hợp phá
thai không an toàn, trong đó có khoảng 40% ở độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi Việc nạo phá thai không an toàn đã làm tử vong ước tính 68.000 phụ nữ Bên cạnh
đó nạo phá thai không an toàn còn để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng khác như: nhiễm trùng đường sinh sản, thủng tử cung, vô sinh…[28]
Bệnh LTQĐTD, HIV/AIDS: Hàng năm có khoảng 340 triệu người mắc
bệnh LTQĐTD, hầu hết các bệnh đều có thể điều trị được Tuy nhiên, rất nhiều trường hợp không được điều trị, do không được chẩn đoán bởi thiếu các dịch vụ HIV/AIDS là căn bệnh hàng năm có tới 5 triệu ca nhiễm mới, trong
đó có 600.000 trường hợp là trẻ sơ sinh Hàng năm có trên 100 triệu trường hợp mắc các bệnh LTQĐTD, những trường hợp này thường ở lứa tuổi 15 đến
24 Sự lây nhiễm này lan tràn cùng với HIV, ước tính 50% các trường hợp nhiễm mới HIV xuất hiện ở người trẻ Nhiễm trùng đường sinh dục có thể dẫn
Trang 26tới hậu quả đáng tiếc đó là vô sinh, khoảng 60 triệu đến 80 triệu cặp vợ chồng
vô sinh trên thế giới, nguyên nhân thông thường là do tắc ống dẫn trứng sau viêm đường sinh dục không được điều trị tích cực [95]
* Thực trạng chăm sóc SKSS ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nhiệm vụ chăm sóc SKSS được Chính phủ giao cho Bộ Y
tế và Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Các hoạt động chăm sóc SKSS ở nước ta đã đạt được những thành quả tốt đẹp như: dịch vụ làm mẹ an toàn đang phát triển thành một mạng lưới rộng khắp trong toàn quốc từ thành thị đến nông thôn; Bộ Y tế có Vụ bảo vệ bà mẹ trẻ em và KHHGĐ; các Sở Y tế có Trung tâm chăm sóc SKSS; các huyện, thành phố, thị xã có các Đội KHHGĐ thường xuyên tổ chức các đợt xuống cơ sở, phối hợp với các Trạm y tế xã thực hiện tuyên truyền vận động, cung cấp kiến thức về chăm sóc SKSS, hỗ trợ các trạm y tế thực hiện các BPTT lâm sàng cho phụ nữ;… Hàng năm, Uỷ ban Dân
số, Gia đình và Trẻ em phối hợp với ngành Y tế và các đoàn thể tổ chức từ 2 đến 3 đợt chiến dịch truyền thông, vận động, lồng ghép dịch vụ chăm sóc SKSS và KHHGĐ để vận động đối tượng thực hiện 3 gói dịch vụ: KHHGĐ, làm mẹ an toàn và phòng chống viêm nhiễm đường sinh sản Các đợt chiến dịch hàng năm đã vận động được trên 70% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh
đẻ thực hiện các BPTT hiện đại góp phần quan trọng để cả nước có tỉ suất sinh giảm từ 3,8 con (năm 1989) xuống còn 1,92 con (năm 2006) [4]
Theo tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam là một trong những nước triển khai các chương trình chăm sóc SKSS sớm và có hiệu quả Bao gồm các chương trình Y tế Quốc gia như: chương trình làm mẹ an toàn, chương trình DS – KHHGĐ, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống nhiễm khuẩn…đều được triển khai có hiệu quả, sức khoẻ của bà mẹ và trẻ em được cải thiện đáng kể [59]
Theo số liệu báo cáo kết quả về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001 – 2010
được đề cập đến trong “Nội dung chủ yếu về chiến lược dân số và sức khỏe
Trang 27sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020”, công tác chăm sóc SKSS đã được
cải thiện rõ rệt Tỉ suất chết mẹ giảm từ 100/100.000 (năm 2000) xuống 69/100.000 trẻ sinh sống (năm 2009); tỉ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm mạnh ở tất cả các vùng, bình quân cả nước giảm từ 36,7 ‰ xuống 16 ‰; nhận thức, thái độ, hành vi về DS và SKSS của các nhóm đối tượng đã có chuyển biến tích cực, hiểu biết và thực hành về KHHGĐ, SKSS trong các tầng lớp nhân dân được nâng lên rõ rệt; mạng lưới dịch vụ chăm sóc SKSS, KHHGĐ được củng cố và phát triển Tất cả các tỉnh, thành phố đều có Trung tâm chăm sóc SKSS, hầu hết các trung tâm y tế huyện đều có khoa SKSS; 98,6% xã có trạm y tế; các thôn, bản, tổ dân phố có cộng tác viên dân số Các giải pháp khác được thực hiện và đạt kết quả tốt, nhiều văn bản chính sách, hướng dẫn chuyên môn kĩ thuật về DS và SKSS được ban hành Kinh phí đầu
tư cho các chương trình DS và SKSS được nâng lên Việc xã hội hóa công tác
DS, SKSS đã được chú trọng và chuyển biến tích cực Hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành DS – KHHGĐ được cải tiến, bước đầu phục vụ yêu cầu quản lý, điều hành chương trình, xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở cấp cơ sở
Những kết quả đạt được này đã, đang và sẽ tác động toàn diện, tích cực đối với sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước [46, 47, 53, 59]
Tuy nhiên, ở những vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa công tác giáo dục dân số SKSS còn gặp rất nhiều khó khăn Nhiều vấn đề về KHHGĐ, chăm sóc SKSS chưa được giải quyết tốt như chăm sóc SKSS cho VTN, thanh niên, đồng bào vùng sâu, vùng xa, đồng bào vùng dân tộc ít người Chất lượng dịch
vụ KHHGĐ còn thấp, vẫn còn sự cách biệt lớn giữa các vùng về tỉ suất chết
mẹ, tỉ suất chết trẻ em và tỉ lệ suy dinh dưỡng Tử vong sơ sinh vẫn còn khá cao, chiếm tới 70% tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và 50% tử vong trẻ em dưới 5 tuổi Tình trạng phá thai vẫn còn nhiều, ở mức 29 ca phá thai trên 100 trẻ sinh
Trang 28sống, trong đó vẫn còn nhiều trường hợp phá thai nhiều lần Thông tin, số liệu
và nghiên cứu khoa học về DS và SKSS chưa đáp ứng nhu cầu quản lý, xây dựng kế hoạch và chính sách Cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn, đội ngũ cán bộ còn chưa đủ ở tuyến xã, vẫn còn xã chưa có nữ hộ sinh và y sĩ sản nhi, việc quản lý thai nghén còn nhiều hạn chế, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số [47, 53, 59]
Công tác chăm sóc SKSS cho thanh thiếu niên chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, tình trạng mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai còn ở mức cao Theo thống kê của Trung tâm Tư vấn SKSS – KHHGĐ của Bệnh viện Phụ sản Trung ương, trong 5 năm từ 2008 đến 2012, mỗi năm có khoảng
80 – 100 ca đẻ/nạo, phá thai ở độ tuổi VTN Tỉ lệ mang thai VTN trong tổng
số ca nạo phá thai ở bệnh viện này chiếm 1 – 3% Tại Bệnh viện Từ Dũ, cũng trong giai đoạn này, tỉ lệ đẻ/phá thai ở độ tuổi VTN cũng chiếm khoảng 2,2 – 3,4% tổng số ca đẻ/phá thai ở bệnh viện Tuy nhiên, trong năm 2011 và 2012,
tỉ lệ phá thai VTN ở Bệnh viện Từ Dũ tăng cao đột biến lên 6,8% Theo các
chuyên gia, việc gia tăng này có thể xuất phát từ hai lý do: thứ nhất, thực sự
do số ca nạo phá thai tăng lên; thứ hai, do các em nhận thức tốt hơn về phá
thai an toàn nên đến các bệnh viện chuyên khoa, có trang thiết bị, tay nghề bác sĩ tốt [41]
Theo Vụ Sức khỏe Bà mẹ – Trẻ em (Bộ Y tế), tỉ lệ VTN có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm: 2,9% (2010); 3,1% (2011); 3,2% (2012), tỉ lệ phá thai ở lứa tuổi này là 2,2% (2010); 2,4% (2011)
và 2,3% (2012) [41]
Theo điều tra quốc gia về VTN và thanh niên Việt Nam lần thứ 2 (SAVY 2) năm 2009, tỉ lệ nạo phá thai ở VTN trên tổng số ca đẻ ước tính khoảng 20%, cao hơn nhiều so với số liệu của Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Từ Dũ Vì thế, theo các chuyên gia sự chênh lệch này phản ánh mảng tối trong việc phá thai không an toàn hiện nay [8]
Trang 29Thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam cho thấy, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 300.000 ca nạo hút thai ở độ tuổi 15 – 19, trong đó
60 – 70% là HS, SV Theo Tổng cục DS – KHHGĐ, mặc dù tỉ lệ phá thai ở Việt Nam trong 10 năm gần đây giảm, nhưng tỉ lệ nạo phá thai ở trẻ VTN, thanh niên lại có dấu hiệu gia tăng, chiếm hơn 20% các trường hợp nạo phá thai
Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, độ tuổi QHTD lần đầu ở VTN Việt Nam ngày càng sớm Tuy nhiên, kiến thức của VTN về phòng tránh thai, HIV và các bệnh LTQĐTD khác vẫn còn rất hạn chế, chỉ có khoảng 20,7% sử dụng biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên
Với con số mang thai và nạo hút thai ở VTN như trên, Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ nạo phá thai tuổi VTN cao trên thế giới Đây không chỉ là một gánh nặng, thách thức lớn cho công tác dân số, mà đáng lưu tâm hơn là để lại những hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ trẻ Nguyên nhân của thực trạng trên được các chuyên gia dân số lý giải đó là do tình trạng tảo hôn
và QHTD trước hôn nhân; các dịch vụ chăm sóc SKSS, tình dục còn chưa được phổ biến rộng rãi; giới trẻ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính; tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS, sức khỏe tình dục không dễ dàng, đặc biệt là VTN, thanh niên sống ở nông thôn và miền núi [41, 51] Bên cạnh đó, việc cung cấp thông tin và kiến thức về chăm sóc SKSS cho lứa tuổi VTN, thanh niên còn nhiều hạn chế Khi hỏi về QHTD trước hôn nhân có 12,8% VTN được hỏi cho rằng có thể chấp nhận được; 3,4% cho là không thành vấn đề và 20,4% cho rằng chấp nhận được vấn đề có thai trước hôn nhân Trong khi đó 16% VTN được phỏng vấn không biết một BPTT nào
và không biết phòng tránh bệnh LTQĐTD Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu dân số và sức khoẻ nông thôn cho thấy, khoảng 1/3 số VTN không biết một dấu hiệu nào khi dậy thì và không hiểu biết về QHTD [59]
Thách thức lớn trong việc chăm sóc sức khoẻ VTN ở nước ta hiện nay là vấn đề chưa được nhận thức đầy đủ, đúng mức về SKSS VTN của toàn xã
Trang 30hội Nhiều nhà lãnh đạo chính quyền và nhà hoạch định chính sách vẫn coi vấn đề sức khoẻ, SKSS VTN chỉ thuần tuý là vấn đề xã hội, liên quan đến tập quán, lối sống Nhận thức về SKSS VTN của các bậc cha mẹ còn nhiều lệch lạc, phong kiến, coi VTN là trẻ con, chưa có sự trao đổi cởi mở, bình đẳng và hướng dẫn cần thiết cho VTN
Trong “Chiến lược DS và SKSS Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” đã
nêu ra 8 vấn đề cơ bản về SKSS cần quan tâm đặc biệt: chăm sóc sức khỏe
bà mẹ trẻ em; việc cung ứng các phương tiện tránh thai; tình trạng phá thai
và vô sinh; nhiễm khuẩn đường sinh sản; SKSS, sức khỏe tình dục ở các nhóm đối tượng đặc thù; SKSS và sức khỏe tình dục cho thanh thiếu niên (Tình trạng QHTD trước hôn nhân, tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và phá thai, nguy cơ tăng mắc các bệnh nhiễm khuẩn LTQĐTD); dịch vụ chăm sóc SKSS nam giới, người cao tuổi, người di cư; vấn đề tình dục, tình dục an toàn [47]
Chiến lược DS và SKSS Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 cũng đã nêu ra
10 mục tiêu cơ bản, trong đó một số mục tiêu về SKSS như: 1 Nâng cao sức khỏe, giảm bệnh, tật và tử vong ở trẻ em, thu hẹp sự khác biệt về các chỉ báo sức khỏe trẻ em giữa các vùng, miền; 2 Nâng cao sức khỏe bà mẹ, thu hẹp sự khác biệt về chỉ báo sức khỏe bà mẹ giữa các vùng, miền; 3 Giảm tỉ lệ phá thai, cơ bản loại trừ phá thai không an toàn; 4 Giảm nhiễm khuẩn đường sinh sản, nhiễm khuẩn LTQĐTD; chủ động phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm ung thư đường sinh sản, chú trọng sàng lọc ung thư đường sinh sản ở phụ nữ trong độ tuổi từ 30 – 54; 5 Cải thiện SKSS của VTN và thanh niên; 6 Cải thiện SKSS cho các nhóm DS đặc thù (người di cư, người khuyết tật, người nhiễm HIV, người dân thuộc dân tộc có nguy cơ suy thoái về chất lượng giống nòi); đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc SKSS cho người là nạn nhân của bạo lực [47]
1.1.3.3 Phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản
Trong cuộc sống, con người – đặc biệt là VTN luôn phải đối mặt với
Trang 31những vấn đề có liên quan đến SKSS Do vậy, các em cần có kĩ năng sống nhằm đảm bảo tác động tích cực lên cuộc sống của các em Khi những kĩ năng này của VTN được phát triển thì các em sẽ có đủ tự tin cũng như sẽ có được những hành vi đúng đắn Muốn đạt được điều đó, trong công tác giáo dục SKSS phải đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần nâng cao vai trò tích cực chủ động của người học, thông qua hoạt động các em có thể tự khám phá và chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng mới
Một số phương pháp dạy học cơ bản có thể sử dụng trong giảng dạy các nội dung về giáo dục SKSS cho HS, SV:
* Phương pháp động não
Là phương pháp giúp người học trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về vấn đề nào đó Đây là phương pháp có ích để thu nhận, chiếm lĩnh được thông tin Giáo viên (GV) có thể tiến hành theo các bước: nêu câu hỏi hoặc vấn đề cần tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm; khích lệ HS phát biểu ý kiến (càng nhiều càng tốt); liệt kê tất cả các ý kiến lên bảng hoặc giấy A0, không loại trừ ý kiến nào, trừ những ý kiến trùng lặp; phân loại ý kiến; làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng; tổng hợp ý kiến của HS, xem còn ý kiến gì thắc mắc, chưa rõ cần bổ sung hay không?
Ví dụ: Để tìm hiểu quan niệm tình yêu, GV có thể sử dụng phương pháp
động não, nêu câu hỏi “Tình yêu là gì?” GV yêu cầu HS đưa ra quan niệm
của mình hoặc những quan niệm mà các em biết về tình yêu Các ý kiến của
HS được liệt kê và tìm ra ý kiến chung Cuối cùng GV kết luận và đưa ra quan niệm chính xác về tình yêu như trong sách giáo khoa
Lưu ý: Phương pháp động não có thể được sử dụng để khai thác một vấn
đề bất kì nhưng đặc biệt phù hợp với những vấn đề đã quen thuộc trong thực
tế cuộc sống của HS Tất cả các ý kiến của HS cần được GV chấp nhận, khuyến khích, không nên phê phán, nhận định đúng, sai ngay Cuối giờ GV cần đưa ra kết luận là kết quả chung của tất cả các HS
Trang 32* Phương pháp thảo luận nhóm
Là phương pháp đặt HS vào môi trường học tập (nghiên cứu, thảo luận…) theo các nhóm HS Phương pháp này được sử dụng rộng rãi nhằm giúp HS tham gia một cách tích cực, chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết vấn
đề có liên quan đến nội dung bài học GV nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo luận cho mỗi nhóm, quy định thời gian thảo luận
và phân công vị trí ngồi thảo luận cho mỗi nhóm; các nhóm tiến hành thảo luận Sau đó, đại diện mỗi nhóm trình bày kết quả, các nhóm khác lắng nghe, trao đổi, bổ sung ý kiến; cuối cùng, GV tổng kết các ý kiến
Ví dụ: Trong bài “Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân” – Sách giáo khoa Giáo dục công dân 9 (Nxb Giáo dục – 2008), GV có thể tổ
chức cho HS thảo luận nhóm về các vấn đề như: “Thế nào là tình yêu?”,
“Tuổi kết hôn là bao nhiêu?”, “Trách nhiệm của vợ hoặc chồng trong đời sống gia đình?”
Lưu ý: Có nhiều cách để chia nhóm, quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ, tùy theo vấn đề thảo luận Nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau GV cần quy định rõ thời gian thảo luận, thời gian trình bày kết quả thảo luận của các nhóm Kết quả thảo luận có thể trình bày dưới nhiều hình thức
* Phương pháp đóng vai
Là phương pháp để HS thực hành một hoặc một số nhiệm vụ hay cách ứng xử nào đó trong một môi trường được quan sát bởi nhiều người, theo một tình huống nhằm tạo ra những vấn đề cho thảo luận GV sẽ nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai cho mỗi nhóm Các nhóm thảo luận, lên kịch bản đóng vai và tiến hành thực hiện đóng vai Sau đó cả lớp thảo luận và đưa ra nhận xét, cuối cùng GV kết luận
Trang 33Ví dụ: Tổ chức cho HS đóng vai theo các tình huống như: Ứng xử khi bạn bè rủ rê hút thuốc lá, sử dụng ma túy…; ứng xử với người bị nhiễm HIV/AIDS; ứng xử khi mang thai ngoài ý muốn; ứng xử khi bị người khác giới có ý quấy rối tình dục…
Lưu ý: Tình huống đóng vai đưa ra phải phù hợp với chủ đề giáo dục SKSS VTN, phù hợp với lứa tuổi, trình độ người học… Tình huống nên để
mở, không cho trước “kịch bản”, lời thoại, phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị; người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai Nên khích lệ những HS nhút nhát cùng tham gia; có hóa trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn
* Phương pháp thuyết trình
Là phương pháp dạy học phổ biến nhất thường được GV vận dụng trong quá trình dạy học, phương pháp này được hiểu là GV trình bày bài giảng trên lớp bằng cách giới thiệu khái quát bài học, giải thích những vấn đề chính của bài và giao bài tập cho HS GV cần thu hút sự chú ý của HS; giới thiệu chủ
đề, mục tiêu để HS biết được ý nghĩa nội dung của bài; trình bày chủ đề một cách rõ ràng, súc tích; sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu; soạn ra những câu hỏi gợi ý nhằm chỉ dẫn cho HS cách tiếp thu kiến thức mới; khuyến khích HS đưa ra câu hỏi; chuẩn bị và sử dụng đồ dùng dạy học để hỗ trợ cho việc trình bày bài giảng được rõ ràng và sinh động
Lưu ý: Phải dành cho HS đủ thời gian để suy nghĩ, vận dụng những điều vừa nghe giảng, đồng thời để GV trả lời các câu hỏi của HS
* Phương pháp trò chơi
Là phương pháp tổ chức cho HS tự tìm hiểu một vấn đề, biểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm thông qua trò chơi nào đó Qua trò chơi, HS không những phát triển về trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ mà còn hình thành nhiều phẩm chất và hành vi tích cực, đồng thời có cơ hội trải nghiệm những thái độ, hành vi HS sẽ hình thành được những năng lực quan sát, rèn luyện kĩ năng
Trang 34quan sát, nhận xét và đánh giá hành vi Thông qua trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan, nhàm chán Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa HS với HS, GV với HS
Ví dụ: Khi dạy về nguy cơ lây nhiễm HIV, có thể tổ chức trò chơi cho
HS như sau:
Phát cho 2 HS trong lớp phiếu màu đỏ; 3 HS phiếu màu vàng; 5 HS phiếu màu xanh; còn lại phiếu màu trắng Yêu cầu HS có phiếu màu đỏ, xanh, vàng tìm 3 bạn trong lớp, viết tên mình lên phiếu của bạn và yêu cầu bạn viết tên bạn lên phiếu của mình Những HS có phiếu màu trắng không viết tên mình lên phiếu của ai và cũng không cho ai viết tên lên phiếu của mình Sau đó HS
có phiếu màu đỏ đứng dậy đọc tên các bạn có tên trong phiếu của mình Những bạn được đọc tên phải đứng dậy và đọc tên những bạn khác có tên trong phiếu của mình… Cứ như vậy cho đến khi không còn ai đứng dậy nữa
Tiếp đó GV phát biểu: Giả sử việc viết tên cho nhau là “đã có QHTD”
và những bạn mang phiếu màu đỏ là “những người nhiễm HIV”, mang phiếu màu xanh là luôn sử dụng BCS, mang phiếu màu trắng là những người không
có QHTD Vậy ai trong số “chúng ta” đã bị lây nhiễm HIV?
Qua đó, HS sẽ thấy trừ những bạn mang phiếu màu trắng và màu xanh, còn lại hầu hết đã bị lây nhiễm HIV Cuối cùng HS sẽ nhận thấy được sự lây nhiễm HIV qua đường tình dục nguy hiểm như thế nào
Lưu ý: Trò chơi phải dễ tổ chức và dễ thực hiện; HS phải nắm được các quy tắc chơi và tôn trọng luật chơi; quy định rõ thời gian và địa điểm chơi Trò chơi phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện cho HS tham gia tổ chức, điều khiển tất các khâu (chuẩn bị, tiến hành trò chơi
và đánh giá sau khi chơi) Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lý để không gây nhàm chán cho HS Sau khi chơi, GV cần cho HS thảo luận để nhận ra ý nghĩa giáo dục của trò chơi
*Phương pháp nghiên cứu tình huống
Trang 35Là phương pháp nghiên cứu một câu chuyện, video hay băng catset nhằm tạo ra một tình huống thật để chứng minh một vấn đề hay một loạt vấn
đề Đầu tiên, GV tiến hành cho HS đọc (nghe, xem) tình huống thực tế, suy nghĩ về tình huống; GV cùng HS có thể đưa ra một hay nhiều câu hỏi liên quan đến tình huống; các HS thảo luận về tình huống thực tế với các vấn đề đưa ra xoay quanh tình huống
Ví dụ: Khi dạy về luật Hôn nhân gia đình, có thể đưa ra tình huống:
“Hồng là cô gái dịu dàng, nết na, chăm chỉ nhưng vì điều kiện gia đình khó khăn nên cô không thể tiếp tục đi học mà phải ở nhà phụ giúp bố mẹ kiếm tiền nuôi các em Năm 16 tuổi, bố mẹ cô đã ép gả cô cho một người giàu có ở
xã bên, Hồng không đồng ý nên đã bị bố mẹ đánh và cứ tổ chức đám cưới” Theo em việc làm của bố mẹ Hồng đúng hay sai, tại sao?; Cuộc hôn nhân này
có được pháp luật thừa nhận không, tại sao?
Lưu ý: Tình huống có thể dài hay ngắn tùy nội dung vấn đề; tình huống phải được kết thúc bằng một loạt các vấn đề hoặc câu hỏi [2, 3, 25, 27, 52]
1.2 Lược sử quá trình nghiên cứu
1.2.1 Lược sử nghiên cứu trên thế giới
* Kiến thức về tình dục, SKSS, QHTD lần đầu, tình dục trước hôn nhân
Nghiên cứu ở các nước đang phát triển cho thấy, hầu hết VTN thiếu hụt kiến thức về tình dục và SKSS Nguồn thông tin về tình dục và SKSS chủ yếu với VTN là từ sách báo, phim ảnh, bạn đồng lứa Giáo dục tình dục, SKSS trong nhà trường và giao tiếp bố mẹ với VTN về tình dục, SKSS rất hạn chế
Số liệu điều tra quốc gia về VTN Mỹ (2006) cho thấy 42% VTN nhóm
13 – 15 tuổi và 69% nhóm 16 – 18 tuổi đã QHTD Kết nối với nhà trường là yếu tố giảm QHTD ở VTN và yếu tố liên quan tăng QHTD ở VTN là sử dụng chất gây nghiện [38]
Nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kì (2008) thấy rằng tuổi QHTD lần đầu là 16 tuổi
Trang 36ở nam và 17 tuổi ở nữ VTN (tương tự với tuổi trung bình QHTD lần đầu của VTN một số nước Châu Âu là 17 tuổi) và tỉ lệ VTN có QHTD có xu hướng tăng lên [69] Ở Thụy Điển, xã hội cởi mở về tình dục và kiến thức tình dục, SKSS được giảng dạy trong trường phổ thông Tuổi được đồng ý QHTD là 15 tuổi, nhiều dịch vụ chăm sóc SKSS được miễn phí [73]
Điều tra quốc gia ở Croatia (2007) với học sinh phổ thông 15 – 19 tuổi cho thấy 28% nam, 17% nữ có QHTD trước 16 tuổi QHTD sớm ở nam có liên quan với việc đã từng sử dụng chất gây nghiện, đánh nhau, trêu chọc bạn bè [86]
Ở một số nước Châu Phi, VTN có QHTD sớm và quan hệ nhiều bạn tình
là phổ biến, ảnh hưởng của bạn đồng lứa có vai trò quan trọng tới QHTD ở VTN [70, 71] Nghiên cứu ở Nigeria (2006) thấy rằng 19% nam và 6% nữ VTN học sinh phổ thông trung học đã QHTD Tuổi trung bình QHTD lần đầu
ở nam là 15,7 tuổi và ở nữ là 16,1 tuổi Khoảng 1/4 VTN có sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất và 25% VTN QHTD lần đầu là không tự nguyện Tuổi VTN càng thấp càng thiếu kiến thức về tình dục, SKSS [64] Nghiên cứu với nữ VTN 12 – 19 tuổi ở một số nước châu Phi cho thấy tỉ lệ QHTD lần đầu không mong muốn là 38% ở Malawi, 30% ở Ghana, 23% ở Uganda và 15% ở Burkina Faso [63, 70, 79, 82]
Nghiên cứu ở một số nước Châu Á, Châu Phi (2002) thấy tỉ lệ QHTD trước hôn nhân khá cao: 23% (Triều tiên); 49,5% (Philippines); 81,4% (Thái Lan); 14,8% (Việt Nam) và 71% (Nigeria) Điều này phản ánh nhu cầu tư vấn
về tình dục an toàn và dịch vụ chăm sóc SKSS thích hợp cho thanh thiếu niên
ở các nước đang phát triển rất cao [38] Tỉ lệ QHTD trong 3 tháng trước điều tra ở VTN đang là học sinh THPT tại Trung Quốc (2009) là 4,5% với nam và 1,8% với nữ [89] Nghiên cứu ở Iran (2006) với VTN 15 – 18 tuổi cho thấy 28% VTN đã QHTD, yếu tố liên quan với QHTD gồm tuổi cao hơn, thái độ đồng tình với QHTD trước kết hôn, sử dụng rượu bia [93, 94]
* Có thai, nạo phá thai
Trang 37Nghiên cứu ở Châu Phi (2001) cho thấy, có thai ở VTN liên quan tới tần suất QHTD, không sẵn có BPTT, QHTD lần đầu bị ép buộc, không thảo luận với bạn trai về tình dục Nhiều VTN không biết có thể có thai trong lần QHTD đầu tiên, VTN nhận thức được về BPTT nhưng tỉ lệ QHTD không an toàn vẫn cao do không chủ động và bạn tình từ chối sử dụng BPTT [106] Một số nghiên cứu ở các nước đang phát triển thấy rằng, VTN có thai thường nạo phá thai tại các cơ sở y tế tư nhân mặc dù chất lượng dịch vụ kém [68, 79, 100]
Ở khu vực Tiểu sa mạc Sahara (Châu Phi), VTN QHTD sớm, có thai, nạo phá thai, nhiễm HIV gia tăng là vấn đề được quan tâm, VTN nữ thường được coi là “con mồi” khai thác tình dục của nam giới nhiều tuổi hơn và đã kết hôn Nghiên cứu tại Kenia (2003), so sánh nhóm VTN có thai lần đầu và
có thai lặp lại thấy trên 50% số VTN mang thai là khi chưa kết hôn, nhóm VTN lần đầu mang thai có xu hướng là mang thai không mong muốn [104] Nghiên cứu ở Mỹ (2005) với VTN có thai để tìm hiểu về QHTD và các yếu tố liên quan thấy rằng 2/3 VTN hài lòng vì không có thai, số còn lại là thất vọng và hầu hết cho rằng bạn tình của họ thất vọng hơn [72] Nhóm VTN
có thai sớm, nạo phá thai sớm bị nhiều ảnh hưởng tiêu cực hơn các nhóm khác Nữ VTN thường không muốn có thai nhưng một bộ phận nữ VTN thụ động, không có kĩ năng, động lực về phòng tránh có thai ngoài ý muốn [67] Nghiên cứu về nạo phá thai tuổi VTN ở Thụy Điển (2005) thấy rằng, VTN đồng tình với nạo phá thai, nhưng thiếu kiến thức về nạo phá thai VTN ngại
sử dụng BPTT và QHTD khi sử dụng bia rượu là yếu tố làm tăng nguy cơ có thai [74] Nghiên cứu ở Hy Lạp (2004) với VTN nạo phá thai tại các cơ sở y
tế thấy rằng, 65% VTN có thai là ở đô thị, 73% là chưa kết hôn, 62% là QHTD lần đầu trước 15 tuổi, BPTT được sử dụng phổ biến là xuất tinh ngoài (49%) và BCS (28,5%) Quyết định nạo phá thai từ nữ (65%) hoặc cả hai (73%) Bố mẹ ít khi biết được VTN có thai hoặc nạo phá thai [90]
Một số nghiên cứu ở Ghana, Kenya, Zimbabue, Philippines, Bolivia,
Trang 38Uganda, đều cho thấy có thai và tai biến liên quan đến mang thai là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bệnh tật ở phụ nữ Hậu quả mang thai ở VTN ảnh hưởng đến học vấn, tình trạng kinh tế xã hội, sức khoẻ cho mẹ và con [63,
có QHTD không sử dụng BPTT thường xuất thân từ các gia đình nhiều thành viên, muốn có con, và xuất thân từ tầng lớp xã hội thấp hơn [82] Nghiên cứu
ở Mỹ (2005) cho thấy, bạo hành bằng lời nói có liên quan đến không sử dụng BCS trong QHTD gần nhất ở VTN và bạo hành thể chất có liên quan đến mang thai [103]
Một số nghiên cứu ở Goatemala, Nigeria, Jamaica, Triều Tiên, Philippines, Thái Lan, và Việt Nam thấy tỉ lệ cao thanh thiếu niên biết về nguy cơ QHTD không an toàn, nhưng tỉ lệ sử dụng BCS vẫn thấp, tỉ lệ VTN Nepal (2010) sử dụng BCS chỉ chiếm 50% [62, 64, 65, 76, 80, 81, 83, 87, 88, 91]
* Bệnh LTQĐTD và HIV
Nghiên cứu ở VTN một số nước châu Á, Thái Bình Dương (2007) cho
Trang 39thấy 13% nữ và 4% nam đã từng mắc bệnh LTQĐTD, trong đó 33% có QHTD trước 15 tuổi và 55% có nhiều bạn tình Yếu tố liên quan với mắc bệnh LTQĐTD là nữ, có nhiều bạn tình, đã từng QHTD để nhận tiền hay quà tặng Nghiên cứu khác cũng thấy rằng, có nhiều bạn tình cũng liên quan đến nguy cơ bệnh LTQĐTD ở VTN Một số tác giả đề cập rằng quan tâm đến SKSS VTN là vấn đề cấp thiết ở Châu Á và các nước đang phát triển vì nhiều nguy cơ liên quan như: mang thai, nạo phá thai, sức khoẻ và lây nhiễm HIV/AIDS, bệnh LTQĐTD ở VTN [ 65, 78, 100]
Dahlback (2003) nghiên cứu ở một số nước Châu Phi thấy VTN thiếu kiến thức về nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua QHTD bao gồm cả HIV/AIDS Nghiên cứu với VTN đã QHTD ở Uganda (2006) thấy tỉ lệ nữ mắc bệnh LTQĐTD là 4,5% bị lậu, 8% bị bệnh trùng roi, 4% bị giang mai và 15,2% huyết thanh dương tính HIV Tỉ lệ tương ứng ở nam VTN là 4,7%; 0%; 2,8%
và 5,8% Hay một số nghiên cứu khác cũng đề cập rằng để giảm nguy cơ mắc bệnh LTQĐTD ở VTN cần có tiếp cận kết hợp các vấn đề về sinh học, nhận thức, tâm lý, hành vi và xã hội [63, 64, 70, 71, 77, 95, 98, 99, 102, 104, 105] Như vậy, ở hầu hết các nước trên thế giới đều có sự quan tâm rất lớn đến vấn đề SKSS, coi đó là vấn đề mang tính chiến lược quốc gia, đặc biệt là vấn
đề chăm sóc SKSS cho thanh thiếu niên
1.2.2 Lược sử nghiên cứu ở Việt Nam
* Tình hình nghiên cứu chung ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, SKSS VTN là chủ đề rất được quan tâm ở nước ta, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như: nghiên cứu của Khuất Thu Hồng trên 6 trường phổ thông cấp II và cấp III tại Khánh Hòa, nghiên cứu do trường ĐH Y Thái Bình thực hiện tại 5 tỉnh (Hà Nội, Thái Bình, Bình Dương, Bình Định và thành phố Hồ Chí Minh) theo chương trình hợp tác y tế Việt Nam – Thụy Điển hay nghiên cứu của John Chlker cùng cộng sự tiến hành ở Nghệ An và Hà Nội tháng 5/1995 [21, 43,
Trang 4045, 54, 55] Tuy nhiên, có thể kể đến các công trình nổi bật gần đây của một số tác giả như:
Nghiên cứu của Klingberg – Allvin và cộng sự (2006) cho thấy, chủ đề
về QHTD, SKSS như có thai, nạo hút thai, bệnh LTQĐTD vẫn còn là chủ đề nhạy cảm với văn hóa truyền thống Việt Nam Tuy nhiên, thực tế vấn đề QHTD, nạo phá thai ở VTN Việt Nam ngày càng gia tăng trong những năm gần đây [83] Nghiên cứu khác cũng thấy rằng nhận thức, thái độ của VTN về tình dục, SKSS ngày càng cởi mở hơn VTN ngày nay cho rằng tình dục không nhất thiết gắn với hôn nhân như quan niệm truyền thống, mà tình dục còn thể hiện tình yêu và sự gần gũi [13] Một nghiên cứu nữa cũng cho thấy, các thông tin về tình dục và BPTT mà VTN có được chủ yếu là từ thông tin đại chúng chứ không phải từ nhà trường hay gia đình và tỉ lệ nữ biết về các BPTT cao hơn nam [31]
Tổng điều tra quốc gia về VTN, thanh niên Việt Nam – SAVY 1 (2003), cho thấy tỉ lệ đã QHTD trong VTN chưa kết hôn từ 14 đến 17 tuổi là 1,1% nam và 0,2% nữ Tỉ lệ này ở SAVY 2 (2009) là 2,2% nam và 0,5% nữ [5, 8] Một nghiên cứu khác của Đỗ Thị Như Mai tiến hành trên đối tượng VTN, thanh niên tại Phú Yên cho thấy phần lớn thanh thiếu niên Phú Yên không đồng tình với QHTD trước hôn nhân (60,2% không đồng ý, 31% đắn đo, chỉ có 8% đồng ý) Trong số những người đã có QHTD thì chỉ có 16,1% sử dụng BPTT trong lần quan hệ đầu tiên với BCS (82,6%), viên tránh thai khẩn cấp (13,1%) và xuất tinh ngoài âm đạo (4,3%) Lý do không sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên được các em đưa ra cao nhất là không thích dùng (45%), bạn tình không thích sử dụng (13,5%), không định quan hệ lúc đó (12,6%), không biết cách sử dụng hoặc không biết tìm ở đâu chỉ chiếm 1,8% [32]
Gammeltoft (2002) phân tích các nghiên cứu về tình dục trong thanh thiếu niên Việt Nam thấy rằng, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các hiện tượng QHTD mà chưa tìm hiểu về quan niệm, hành vi tình dục và các yếu tố