Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Vai trò của phụ nữ đối với việc đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay” làm l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VÕ NỮ HẢI YẾN
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ ĐỐI VỚI VIỆC ĐẢM BẢO
AN TOÀN THỰC PHẨM GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HUẾ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ HIỆN NAY
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ KIM LAN
Trang 2Lời Cảm Ơn
Sau một thời gian làm việc t ch c ực và nghiêm túc, luận văn
“Vai rò của phụ nữ đối với việc đảm bảo an oàn hực phẩm gia đình ở thành phố Huế, t nh Thừa Thiên Huế hiện nay” đã hoàn thành.
Trước iên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân hành và sâu sắc ới TS.
Lê Thị Kim Lan, người đã ận ì nh chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ ôi trong suốt quá rình hực hiện đề ài
Tôi cũng xin cảm ơn các hầy cô rong khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã dạy dỗ và ruyền đạt những ri hức quý báu rong những năm qua,
để ôi có hể hoàn hành ốt khoá học của mì nh
Đồng hời, xin gửi lời cảm ơn đến chí nh quyền và chị em phụ nữ hai phường Vĩnh Ninh và Phú Hậu, thành phố Huế, t nh Thừa Thiên Huế đã nhiệt t nh giúp đỡ và ạo điều kiện huận lợi cho ôi rong quá rì nh hu hập hông in ại địa bàn nghiên cứu
Cuối cùng, tôi cũng xin chân hành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp của ôi đang công ác ại khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Huế và gia đì nh đã luôn động viên, tạo điều kiện và giúp đỡ ôi rong suốt quá rì nh hực hiện và hoàn hành luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng v ì thời gian có hạn, trình độ năng lực còn hạn chế nên luận văn không ránh khỏi những hiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý hầy c ô, các nhà
Trang 3khoa học, các bạn đồng nghiệp và độc giả để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân hành cảm ơn
Huế, tháng 12 năm 2014
Học viên
Võ Nữ Hải Yến
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa của đề tài 4
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined
6 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined
7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Error! Bookmark not defined.
1.1 Các khái niệm cơ bản Error! Bookmark not defined
1.1.1 Vai trò xã hội Error! Bookmark not defined
1.1.2 Vai trò giới Error! Bookmark not defined
1.1.3 Gia đình Error! Bookmark not defined
1.1.4 Thực phẩm Error! Bookmark not defined
1.1.5 An tòan thực phẩm Error! Bookmark not defined
1.1.6 An toàn thực phẩm gia đình Error! Bookmark not defined
1.2 Các lý thuyết có liên quan Error! Bookmark not defined
1.2.1 Lý thuyết vai trò Error! Bookmark not defined
1.2.2 Lý thuyết cấu trúc-chức năng Error! Bookmark not defined
1.2.3 Lý thuyết lựa chọn hợp lý Error! Bookmark not defined
1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu Error! Bookmark not defined
1.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Error! Bookmark not defined
1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ ĐỐI VỚI VIỆC ĐẢM BẢO
AN TOÀN THỰC PHẨM GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HUẾError! Bookmark not defined.
2.1 Vai trò của phụ nữ trong lựa chọn thực phẩm an toàn Error! Bookmark not defined
2.1.1 Tần suất và thời gian mua thực phẩm Error! Bookmark not defined
2.1.2 Lựa chọn địa điểm mua thực phẩm Error! Bookmark not defined
2.1.3 Tìm hiểu thông tin về thực phẩm Error! Bookmark not defined
Trang 52.1.4 Lựa chọn các chủng loại thực phẩm Error! Bookmark not defined
2.2 Vai trò của phụ nữ trong chế biến và bảo quản thực phẩm an toànError! Bookmark not
defined
2.2.1 Vai trò của phụ nữ trong chế biến thực phẩm an toàn Error! Bookmark not defined
2.2.2 Vai trò của phụ nữ trong bảo quản thực phẩm an toàn Error! Bookmark not defined
2.3 Vai trò của phụ nữ đối với việc chia sẻ những thông tin, kiến thức về an toàn thực phẩm cho
các thành viên trong gia đình Error! Bookmark not defined
2.4 Những khó khăn phụ nữ gặp phải trong quá trình thực hiện vai trò đảm bảo an toàn thực
phẩm cho gia đình Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ ĐỐI
VỚI VIỆC ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HUẾError! Bookmark not defined 3.1 Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến vai trò đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình của
phụ nữ Error! Bookmark not defined
3.3 Ảnh hưởng của truyền thông đến vai trò đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình của phụ nữ
Error! Bookmark not defined
3.4 Ảnh hưởng của công tác quản lý đến vai trò đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình của phụ
nữ Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined.
1 Kết luận Error! Bookmark not defined
2 Khuyến nghị Error! Bookmark not defined
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
PHỤ LỤC 17
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATTP : An toàn thực phẩm
PVS : Phỏng vấn sâ THCN : Trung học chuyên nghiệp THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNGBảng 1: Cơ cấu mẫu Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.1: Giá c ả một số loại thực phẩm tại chợ và siêu thị ở thành phố HuếError! Bookmark not defined.
Bảng 2.2: Những việc phụ nữ thường làm khi chế biến thực phẩmError! Bookmark not defined.
Bảng 2.3: Tương quan gi ữa hành vi chế biến thực phẩm với địa bàn cư trú (%) Error! Bookmark not defined Bảng 2.4: Hành vi bảo quản thực phẩm trong tủ lạnh của phụ nữError! Bookmark not defined.
Bảng 2.5: Tương quan giữa mức độ an tâm về chất lượng thực phẩm với tần suất chia
sẻ các thông tin về an toàn thực phẩm cho các thành viên trong gia đìnhError! Bookmark not defined.
Bảng 2.6: Sự hỗ trợ cho công việc nội trợ của các thành viên trong gia đình (%) Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.1: Tương quan gi ữa mức độ quan tâm đến vấn đề an toàn thực phẩm với trình
độ học vấn (%) Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.2 Tương quan giữa việc lựa chọ n địa đểm mua thực phẩm với trình độ học vấn
(%) Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.3: Tương quan giữa hành vi chế biến thực phẩm an toàn và trình độ học vấn
(%) Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.4 Tương quan giữa hành vi bảo quản thực phẩm an toàn và trình độ học vấn
(%) Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.5: Mối tương quan tần suất chia sẻ thông tin về an toàn thực phẩm và trình độ
học vấn (%) Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.6: Tương quan giữa địa điểm mua thực phẩm và thu nhậpError! Bookmark not defined.
Bảng 3.7: Tương quan gi ữa tiêu chí ưu tiên khi lựa chọ n thực phẩm và thu nhậpError! Bookmark not defined Bảng 3.8: Tương quan giữa thiết bị hỗ trợ cho việc nội trợ và thu nhập (%)Error! Bookmark not defined.
Bảng: 3.9: Tương quan giữa thu nhập và hành vi chế biến thực phẩm an toàn (%) Error! Bookmark not defined Bảng 3.10: Tương quan giữa hành vi bảo quản thực phẩm an toàn và thu nhập (%)Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.11 Thực trạng hoạt động thông tin truyền thông trên địa bàn toàn tỉnh Thừa
Thiên Huế năm 2013 Error! Bookmark not defined.
Bảng 3.12: Các hình thức truyền thông về an toàn thực phẩm phân theo địa bàn cư
trú Error! Bookmark not defined.
Trang 8DANH MỤC CÁC B IỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Mức độ an tâm về chất lượng thực phẩm trên thị trườngError! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.2: Tần suất mua thực phẩm cho gia đình của phụ nữ trong tuầnError! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.3: Thời gian trung bình mỗi lần mua thực phẩm cho gia đình của phụ nữError! Bookmark not defined Biểu đồ 2.4: Địa điểm mua thực phẩm của phụ nữ Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.5: Tỉ lệ phụ nữ quan tâm đến sản phẩm có bao bìError! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.6: Mức độ quan tâm của phụ nữ đối với các lo ại thông tin trên bao bì sản
phẩm Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.7: Tiêu chí ưu tiên khi lựa chọn thực phẩm cho gia đình c ủa phụ nữError! Bookmark not defined Biểu đồ 2.8: Mức chi tiêu cho mua thực phẩm của các gia đình (đồng/người/ngày)Error! Bookmark not defined Biểu đồ 2.9: Tương quan gi ữa địa bàn cư trú với tiêu chí ưu tiên khi mua TP Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.10: Mức độ sử dụng túi nilông để bảo quản thực phẩmError! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.11: Tần suất chia sẻ các thông tin về an toàn thực phẩm cho các thành
viên trong gia đình Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.12: Những thông tin về ATTP phụ nữ thường chia sẻ cho các thành viên
trong gia đình Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.13 Những khó khăn phụ nữ gặp phải trong quá trình thực hiện vai trò đảm
bảo an toàn thực phẩm cho gia đình Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 3.1: Trình độ học vấn và sự quan tâm đến sản phẩm có bao bìError! Bookmark not defined.
Biểu đồ 3.2: Những nguồn cung cấp thông tin về ATTP cho phụ nữError! Bookmark not defined.
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
An toàn thực phẩm là một trong những vấn đề đang rất được quan tâm trên phạm
vi mỗi quốc gia và quốc tế, được tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền
cơ bản đối với mỗi con người Thực phẩm là nguồn cung cấp năng lượng, cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết để con người sống và phát triển Thực phẩm an toàn đóng góp
to lớn trong việc cải thiện sức khoẻ con người, chất lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi Thế nhưng, thực phẩm cũng là nguồn truyền bệnh nguy hiểm, nếu như không bảo đảm được vệ sinh và an toàn Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và cuộc sống của mỗi người, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khoẻ của quốc gia
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện có hơn 400 các bệnh lây truyền qua thực phẩm không an toàn, hơn 1/3 dân số các nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm Vệ sinh ATTP đã được đặt lên hàng đầu nghị trình tại nhiều hội nghị y tế và sức khỏe cộng đồng toàn cầu, nhưng tình hình gần như không được cải thiện bao nhiêu, nhất là khi thế giới liên tiếp xảy ra thiên tai và nguồn nước sạch ngày càng hiếm Khi người dân không có đủ miếng ăn thì việc kiểm tra chất lượng những gì mà họ ăn đã trở thành điều khá xa vời Tiến sĩ Margaret Chan, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cho biết mỗi tháng Liên hiệp quốc nhận được khoảng 200 báo cáo từ 193 quốc gia về các trường hợp thực phẩm bị nhiễm
độc Bà nhấn mạnh: “Một lần nữa, tôi xin khẳng định, vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề chung của cả nhân loại chứ không riêng một nước nào” [42]
Ở nước ta, chất lượng vệ sinh ATTP hiện nay rất đáng lo ngại, điều này đã được các phương tiện thông tin đại chúng liên tục phản ánh Việc sử dụng không an toàn về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trọng, kháng sinh, hóa chất trong chăn nuôi trồng trọt nông nghiệp, thủy hải sản hiện nay còn khá phổ biến Thực phẩm có chứa chất độc hoặc được sử dụng chất bảo quản, phụ gia, phẩm màu công nghiệp có hại cho sức khỏe cũng còn lưu hành rất nhiều trên thị trường
Trang 10Cùng với tình trạng vi phạm an toàn thực phẩm đang tăng cao thì các bệnh truyền qua thực phẩm và ngộ độc thực phẩm đang có nhiều diễn biến phức tạp về cả tính chất, mức độ và phạm vi ảnh hưởng Hằng năm, ở nước ta có từ 250 đến 500 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 7.000 nạn nhân và hơn 100 ca tử vong mỗi năm Chỉ tính đến 10/06/2014, toàn quốc ghi nhận 67 vụ ngộ độc thực phẩm với 2084 người mắc,
1528 người đi viện và 24 ca tử vong [37] Bên cạnh đó, hiện tỷ lệ ung thư của Việt Nam cũng được đánh giá là cao nhất thế giới Cả nước hiện có từ 240.000 -250.000 người mắc bệnh ung thư, mỗi năm có thêm khoảng 150.000 người mới mắc ung thư
và số tử vong do ung thư hằng năm lên đến 82.000 trường hợp, tỉ lệ tử vong/mắc lên đến 73,5% và vào loại cao hàng đầu thế giới (tỉ lệ tử vong/mắc ở bệnh nhân ung thư chung toàn thế giới là 59,7%) Theo báo cáo của viện Nghiên cứu phòng chống ung thư Việt Nam, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến căn bệnh ung thư là do các loại hóa chất độc hại có trong thức ăn hàng ngày khiến cho Việt Nam là nước có bệnh nhân ung thư nhiều nhất trên thế giới [33]
An toàn thực phẩm là mối quan tâm của toàn xã hội, tuy nhiên để góp phần làm giảm nguy cơ mất vệ sinh ATTP, ngay từ chính mỗi gia đình phải làm tốt công việc này Bởi gia đình được xem là trung tâm của mối quan hệ ba cực: cá nhân, gia đình và cộng
đồng xã hội Thực tế, gia đình được coi là “xương sống của xã hội” vì gia đình đã đảm
nhận những chức năng không thể thiếu được trong sự vận động và phát triển của xã hội Đời sống của mỗi cá nhân luôn được bắt đầu trước hết từ phạm vi gia đình và suốt cuộc đời họ, gia đình là môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng Do đó, nếu mỗi gia đình làm tốt vai trò đảm bảo vệ sinh ATTP thì không những bảo vệ sức khoẻ cho mỗi thành viên mà còn góp phần bảo vệ sức khoẻ cho cả cộng đồng và xã hội
Nếu gia đình được coi là tế bào c ủa xã hội thì người phụ nữ được coi là hạt nhân của tế bào này Người phụ nữ ngày nay, vừa đảm nhiệm trọng trách xã hội, vừa đảm
nhiệm vai trò “xây tổ ấm” Trong gia đình, phụ nữ là người vợ, người mẹ chăm lo sức
khỏe của các thành viên, giữ gìn hạnh phúc Kết quả nghiên cứu về giới trong nhiều năm qua đã chỉ ra rằng: phần lớn công việc nội trợ là do phụ nữ đảm nhiệm - một công việc có liên quan trực tiếp, thường xuyên đến vấn đề ATTP gia đình
Trang 11Nhận thức được điều đó, năm 2008, Ban Chấp hành Trung ương hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam đã phát động cuộc vận động “Phụ nữ cả nước thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm vì sức khỏe gia đình và cộng đồng” Ngày 25/6/2011, tại Hà Nội, Hội
Khoa học kỹ thuật ATTP Việt Nam phối hợp với Hội Nữ trí thức Việt Nam tổ chức
Hội thảo với nội dung “Vai trò của phụ nữ với việc đảm bảo ATTP vì sức khỏe gia đình và cộng đồng” Tại hội thảo, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cũng đã nhấn mạnh “Chiếm 50% dân số, ngày nay phụ nữ đã và đang tham gia vào tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Vì vậy, từ Hội thảo này, các cơ quan chuyên môn cần có một nghiên cứu tổng thể về vấn đề vệ sinh ATTP, đặc biệt hướng tới đối tượng trọng tâm là phụ nữ để đưa ra những khuyến nghị đúng hướng và chính xác; đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về vấn đề vệ sinh ATTP” [38]
Một thời là kinh đô của Việt Nam, Huế không chỉ là thành phố du lịch mà còn là nơi lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống Một trong những đặc trưng nổi bật của Huế
là văn hoá ẩm thực Những giá trị ấy trước hết được gìn giữ, bảo tồn ở trong các gia đình nhờ bàn tay khéo léo và tình yêu thương của những người phụ nữ Đã từ lâu, phụ nữ Huế không chỉ biết đến với sự nề nếp gia phong, dịu dàng e ấp mà còn nổi tiếng với sự đảm đang trong việc nội trợ, nấu nướng Chính điều đó đã góp phần không nhỏ tạo nên
sự cố kết chặt chẽ giữa các thành viên trong gia đình bên mâm cơm đầy ắm hương vị của cố đô
Cùng với sự phát triển của xã hội, lối sống công nghiệp và văn hóa ngoại lai ngày càng xâm nhập sâu vào đời sống và văn hóa của người Việt Nam nói chung và thành phố Huế nói riêng Mặt trái của chúng đã có nhiều tác động tiêu cực đến các giá trị truyền thống, trong đó có những bữa cơm gia đình Cuộc sống bận rộn, nhu cầu công việc đòi hỏi, nhiều người phải làm việc thêm giờ, quá giờ, thậm chí phải công tác xa nhà nhiều ngày nên không ít gia đình chọn nhà hàng, quán ăn làm chính, thay cho những bữa ăn tự nấu Bên cạnh đó, thị trường thực phẩm thiếu sự kiểm soát, tình hình vi phạm
vệ sinh ATTP diễn biến phức tạp là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại bệnh tật và ảnh hưởng xấu đến bầu không khí thân thiện, gắn kết trong gia đình Và
đó cũng là những nguy cơ làm rạn nứt hạnh phúc gia đình
Trang 12Trong bối cảnh đó, để có thể “giữ lửa” cho bữa cơm gia đình, người phụ nữ có
vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Không những thế, họ còn là một trong những nhân
tố quan trọng tác động trực tiếp tới sức khoẻ của mỗi thành viên, chất lượng cuộc sống
và sự phát triển giống nòi
Tuy nhiên, qua tìm hiểu cho thấy, số lượng những công trình nghiên cứu về vấn
đề ATTP gia đình còn ít, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ đối với việc đảm bảo ATTP gia đình ở thành phố Huế hầu như chưa có đề tài nào
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Vai trò của phụ
nữ đối với việc đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình ở thành phố Huế, tỉnh Thừa
Thiên Huế hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cao học, với mong muốn góp phần xây
dựng cách nhìn nhận đúng về vai trò, vị trí của người phụ nữ trong công việc nội trợ lao động tái sản xuất; đồng thời qua đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của họ trong việc đảm bảo ATTP cho gia đình, góp phần bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
-2 Ý nghĩa của đề tài
2.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu này được tiến hành thông qua việc vận dụng một số lý thuyết xã hội học như: lý thuyết vai trò, lý thuyết cấu trúc-chức năng, lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý để phân tích vai trò của phụ nữ trong đảm bảo ATTP gia đình và những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò đó Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài được coi như là một luận chứng góp phần làm sáng tỏ hơn cho những lý thuyết đó
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu được thực hiện nhằm góp phần cung cấp thông tin cho các nhà khoa học, các cán bộ địa phương về thực trạng đảm bảo ATTP trong các gia đình hiện nay Đồng thời, nghiên cứu này còn giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò của phụ nữ trong việc đảm bảo ATTP cho gia đình Ngoài ra, đề tài có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học ngành xã hội học, cũng như những
người quan tâm đến vấn đề này
Trang 133 Tổng quan tình hình nghiên cứu
An toàn thực phẩm là một vấn đề quan trọng và thời gian qua đã được quan tâm nghiên cứu ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam
3.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Qua tìm hiểu cho thấy, thời gian qua, đã có khá nhiều công trình nghiên c ứu của các tác giả nước ngoài về ATTP và ATTP gia đình Tuy nhiên, trong luận văn này, chỉ xin trình bày một số công trình nghiên cứu trong phạm vi những nguồn tài liệu mà tác giả tiếp cận được
Với tiêu đề “Sự ảnh hưởng của các nhân tố xã hội đến kiến thức, thái độ, thực hành về các bệnh lây truyền qua thực phẩm và an toàn thực phẩm” (2002), hai tác giả
Maizun Mohd Zain và Nyi Nyi Naing đã tiến hành nghiên cứu thăm dò nhằm tìm hiểu
sự chi phối ảnh hưởng của các nhân tố xã hội đến kiến thức, thái độ, thực hành về các bệnh lây truyền qua TP và an toàn thực phẩm ở 430 người chế biến thực phẩm sinh sống ở Kota Bharu Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người chế biến thực phẩm chưa tham gia lớp tập huấn vệ sinh ATTP chiếm 27.2% và 61.9% có khám sức khoẻ định
kỳ, gần một nửa (48.4%) chưa có kiến thức tốt và có sự khác biệt không đáng kể về thái độ và thực hành giữa những người tham gia và không tham gia lớp tập huấn Nghiên cứu này cũng chỉ ra, chúng ta cần phải có những can thiệp cộng đồng cho người chế biến thực phẩm nhằm cải thện kiến thức, thái độ, thực hành về các bệnh lây truyền qua thực phẩm và vệ sinh thực phẩm Hơn nữa, quá trình này sẽ giúp làm giảm
sự lan truyền các bênh tật trên thế giới, đặc biệt là các bệnh hiểm nghèo [30]
Trong đề tài “Nghiên cứu nhận thức và thực hành an toàn thực phẩm trong các
hộ gia đình ở Trinidad” (2005), tác giả Deryck Damian Pattron đã tiến hành tìm hiểu
350 hộ gia đình sống tại Trinidad – phía Đông Ấn Độ nhằm đánh giá nhận thức đúng
về thực hành ATTP Cuộc khảo sát cho thấy có 95% hộ gia đình chưa biết cách chế biến, vận chuyển, tồn trữ và bảo quản thực phẩm an toàn Nghiên cứu cũng cho thấy
có 98% hộ không rửa tay trước khi chế biến thực phẩm và trước khi ăn Chỉ có 45% bếp nấu ăn được vệ sinh sạch sẽ Các loại dụng cụ chế biến như: thớt, dao, kéo không được vệ sinh sạch sẽ giữa các lần sử dụng để chế biến nhiều loại thực phẩm khác nhau chiếm 57% Khảo sát cho thấy 335 hộ gia đình có bao gói các loại thực phẩm như thịt
Trang 14tươi, cá, gia súc và đặt chúng phía trên các loại thực phẩm khác làm cho quá trình nhiễm khuẩn chéo dễ xảy ra Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thực hiện ATTP của các hộ gia đình chưa đạt theo các tiêu chuẩn cơ bản để đảm bảo an toàn s ức khoẻ cho con người Vì vậy, để đảm bảo sức khoẻ gia đình, hạn chế ngộ độc thực phẩm, nâng cao nhận thức an toàn thực phẩm cho người dân thì việc mở các lớp giáo dục cộng đồng là rất cần thiết [28]
Nghiên cứu “Phân tích những yếu tố tác động đến kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm ở khu đô thị của thành phố Varanasi” (2010) của Shuchi Rai Bhatt và
cộng sự đã tiến hàng khảo sát trên 300 người nội trợ với bảng câu hỏi thiết kế sẵn về thói quen mua hàng và nhận thức của họ trong việc thực hiện vệ sinh ATTP ở Varanasi Kết quả cho thấy, thói quen mua thực phẩm và thực hành an toàn vệ sinh thực phẩm của những người nội trợ sống tại khu đô thị ở Varanasi không liên quan đến
độ tuổi Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về học vấn của hai giới tính trong việc kiểm tra khi nhập hàng; tuổi và kiến thức không có mối liên quan với nhau nhưng học vấn lại có mối quan hệ với việc thực hành tốt Điều này có thể do nhiều nhân tố; thu nhập, nhận thức và hiểu biết kém về sức khoẻ con người Vì vậy, hiện nay có nhiều tổ chức và hoạt động của chính phủ đang cố gắng tuyên truyền dưới nhiều hình thức: ti vi và radio nhằm nâng cao nhận thức của người dân nhưng cho đến nay có nhiều người vẫn chưa có thói quen tốt trong việc mua thực phẩm, thực hành an
toàn và chọn nguồn nước sạch [31]
Các tác giả Sandra Buchler, Kiah Smith, Geoffrey Lawrence thuộc Đại học
Queensland, Australia cũng đã có bài viết “Rủi ro thực phẩm, cũ và mới: Những đặc trưng nhân khẩu học và nhận thức về các chất phụ gia thực phẩm, quy định và sự nhiễm bẩn ở Australia” (2010) đăng trên tạp chí của Hội Xã hội học Australia Bài viết này dựa
trên những số liệu từ một cuộc điều tra quốc gia tại Australia nhằm đánh giá xem liệu nhận thức người tiêu dùng đối với những loại rủi ro thực phẩm có khác nhau tùy theo những nhân tố nhân khẩu học hay không Nghiên cứu này có 2 trọng tâm chính: Những người quan tâm đến những rủi ro thực phẩm mới và những người quan tâm đến những rủi
ro thực phẩm truyền thống Đầu tiên, là điều tra thái độ và sự quan tâm đối với chất phụ gia thực phẩm và quy định về thực phẩm, được đặc trưng bởi những rủi ro mới liên quan
Trang 15tới hóa chất, thuốc trừ sâu và các chất phụ gia, cũng như công nghiệp bảo vệ và những vấn đề của quy định đối với những nhân tố hiện đại này Thứ hai, xem xét những loại rủi
ro mang tính truyền thống hơn, liên quan tới sự nhiễm bẩn thực phẩm, như sự hư hỏng và quá hạn sử dụng Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, những người có thu nhập dưới 25.000
đô la mỗi năm, những người chưa hoàn thành trung học phổ thông và những người theo đạo có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến những loại rủi ro mang tính truyền thống Ngược lại, phụ nữ, những người có học thức cao và những người già có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến những rủi ro mang tính hiện đại Bài báo này ủng hộ những nghiên cứu trước đó và đã chỉ ra rằng, các nhóm khác nhau trong xã hội hiểu và có phản ứng khác nhau đối với an toàn rủi ro thực phẩm [29]
3.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở nước ta, trong những năm qua, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung và
an toàn thực phẩm gia đình nói riêng cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau, có thể kể đến một số những công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Đề tài “Đánh giá thực trạng công tác đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ở Đắc Lắc 5 năm (1998-2002)” của tác giả Nguyễn Hữu Huyên đã phân tích kiến
thức, thái độ thực hành về vệ sinh ATTP của người tiêu dùng ở Đắc Lắc 5 năm 2002)[6] Kết quả cho thấy, đối với những người đã từng nghe các thông tin về vệ sinh ATTP thì truyền hình là kênh được nhiều người xem nhất, 91,3% người tiêu dùng biết được thế nào là vệ sinh ATTP và 90.5% biết được thế nào là ngộ độc thực phẩm; có
(1998-96,3% nhận các thông tin về vệ sinh ATTP từ vài tuần đến vài tháng
Trong nghiên c ứu “Kiến thức, th ực hành về vệ sinh ATTP của người nội trợ chính trong gia đình ở phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng – Hà Nội (2006),
tác giả Cao Thị Hoa và cộng sự đã tiến hành khảo sát 132 người/132 hộ gia đình ở phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội [3] Kết quả cho thấy: mức độ thực hành vệ sinh ATTP c ủa người nội trợ chưa đi đôi với phần kiến thức đã đ ạt; mức độ kiến thức tốt đạt 76,5%, trong khi đó thực hành đạt yêu cầu chỉ có 65,1% Những vấn đề thiếu sót và không chú ý, trong việc thực hành lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm của người nội trợ là: 26,5% không thường xuyên mua thực
Trang 16phẩm tại nơi có địa chỉ tin c ậy; 25% không thường xuyên r ửa tay trước khi chế biến thực phẩm; 29,5% không thường xuyên che đ ậy thực phẩm sau khi nấu chín; 12,2% không thường xuyên sử dụng 2 thớt riêng biệt để chế biến thực phẩm Từ đó nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị, trong đó đặc biệt chú ý đến việc xây dựng các chiến lựơc truyền thông nhắm nâng cao kiến thức và thực hành đúng vệ sinh ATTP cho cộng đồng nói chung và những người nội trợ nói riêng
Với đề tài “ Kiến thức - Thái độ - Thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người bán và người mua thức ăn đường phố ở thị xã Bến Tre-Tỉnh Bến Tre năm 2007”, hai tác giả Lý Thành Minh, Cao Thanh Diễm Thuý đã tiến hành nghiên cứu trên
266 người bán, người tiêu dùng thức ăn đường phố [13] Kết quả cho thấy: tình hình vệ sinh ATTP của các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố chưa được kiểm soát tốt, có nhiều người bán thức ăn đường phố chưa được khám sức khoẻ định kỳ và tập huấn kiến thức vệ sinh ATTP, tình hình vệ sinh cơ sở kém cần được người kinh doanh và cơ quan chức năng quan tâm hơn Ý thức vệ sinh cá nhân của người bán thấp Người tiêu dùng thức ăn đường phố ở thị xã Bến Tre có ý thức khá tốt về vệ sinh an toàn thực phẩm, tuy vậy vẫn có 96,2 % sử dụng thức ăn đường phố Từ đó, nhóm tác giả đã đưa ra kiến nghị: cần tăng cường công tác quản lý có phân cấp hành chính nhất là tuyến xã phường để thúc đẩy người bán thức ăn đường phố đi khám sức khoẻ định kỳ, học tập kiến thức vệ sinh ATTP để từ đó họ có ý thức giữ vệ sinh cá nhân cũng như vệ sinh cơ sở tốt hơn Tăng cường công tác truyền thông giáo dục để nâng cao ý thức cả cộng đồng, để người tiêu dùng cương quyết hơn không sử dụng những thức ăn đường phố kém vệ sinh, gớp phần phần thúc đẩy người bán ý thức giữ vệ sinh tốt hơn Bên cạnh đó, cần thành lập mô hình tập trung cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố vào các khu vực ăn uống đã được một số nơi trong nước thực hiện, điều này giúp công tác quản lý được thuận lợi hơn
Nhằm góp phần cải thiện tình hình và để nâng cao hiệu quả việc quản lý vệ sinh
ATTP tại địa phương, Lê Minh Uy và cộng sự đã tiến hành đề tài “Hiệu quả thay đổi
về kiến thức thực hành của người tiêu dùng và công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm ở thành thị An Giang năm 2007” [24] Mục tiêu của đề tài là: Đánh giá sự thay
đổi kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh ATTP của người tiêu dùng tại An giang năm 2007; Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh ATTP của người quản lý
Trang 17phường xã tại An giang năm 2007 Bằng phương pháp nghiên cứu can thiệp trên nhóm người tiêu dùng (nội trợ) từ 18 tuổi trở lên cư trú tại An Giang và các cán bộ chủ chốt quản lý vệ sinh ATTP phường xã tại 30 cụm điều tra, tổng số mẫu điều tra là 598 người Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ người tiêu dùng có kiến thức toàn diện về vệ sinh ATTP chiếm tỷ lệ thấp Người tiêu dùng chỉ đạt yêu cầu trên 50% khi lựa chọn phương tiện phục vụ và nhận biết thức ăn an toàn, người tiêu dùng vẫn còn dễ dãi trong lựa chọn nơi bán hàng và người bán hàng Sau 09 tháng can thiệp, sự cải thiện về kiến thức tiêu dùng không nhiều 2 tiêu chí cải thiện là: Lựa chọn nơi bán và Người bán hàng đạt vệ sinh ATTP; còn lại 2 tiêu chí: phương tiện phục vụ, nhận biết thức ăn an toàn tăng không đáng
kể Cán bộ quản lý vệ sinh ATTP đã được đào tạo bài bản không nhiều Điều đó làm cho công tác tổ chức quản lý vệ sinh ATTP gặp nhiều khó khăn Từ đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị như: Cần phổ biến kiến thức nâng cao nhận thức bảo đảm vệ sinh ATTP cho người tiêu dùng và tiến hành tập huấn nâng cao trình độ quản lý vệ sinh ATTP cho các cấp quản lý, đặc biệt là tuyến cơ sở
Với luận án chuyên khoa cấp II “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh
an toàn thực phẩm của người kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm tại tỉnh An Giang năm 2009”, tác giả Từ Quốc Tuấn đã tiến hành khảo sát trên 721 cơ sở kinh doanh thực phẩm
và 725 người tiêu dùng [23] Kết quả cho thấy: đối với người kinh doanh thực phẩm, tỷ lệ đạt về kiến thức vệ sinh ATTP là 67,3%, thái độ đúng là 62,3%, thực hành đúng là 31,3% Giữa kiến thức và thực hành của người kinh doanh thực phẩm có các mối liên quan với việc tham dự các lớp tập huấn về vệ sinh ATTP, nơi sinh sống Người kinh doanh có tham
dự các lớp tập huấn vệ sinh ATTP, sống ở thành thị sẽ có kiến thức, thực hành tốt hơn Riêng thái độ của người kinh doanh chỉ có mối liên quan đến nơi sính sống Đối với người tiêu dùng: tỷ lệ đạt về kiến thức vệ sinh ATTP là 31,4%, thái độ đúng là 65,9%, thực hành đúng là 37,4% Kiến thức của người tiêu dùng có mối liên quan đến tuổi, nơi sinh sống, học vấn Người tiêu dùng tuổi 18-40 tuổi, học vấn cao sẽ có kiến thức tốt hơn Thái độ và thực hành của người tiêu dùng có mối liên quan đến nghề nghiệp, học vấn, thu nhập và tham dự các lớp tập huấn vệ sinh ATTP Người tiêu dùng có nghề nghiệp là công nhân viên chức, buôn bán; học vấn cao; thu nhập ổn định và có tham dự các lớp tập huấn vệ sinh ATTP sẽ có thái độ tốt hơn
Trang 18Bài viết “An toàn thực phẩm từ hệ thống phân phối bán lẻ tại các chợ đầu mối” (2011) của tác giả Phạm Thiên Hương dựa trên một nghiên cứu thuộc dự án hợp tác
VECO-IPSARD đã đưa ra một số các tiêu chuẩn ATTP của Việt Nam hiện nay, phân
tích các văn bản chính sách liên quan, và tập trung vào phân tích thực trạng hệ thống phân phối bán lẻ tại một số chợ đầu mối lớn chuyên cung cấp thực phẩm ở Hà Nội, quá trình vận chuyển, phân phối, bảo quản và ý thức cộng động về vấn đề vệ sinh ATTP [7] Từ đó tác giả đã đưa ra kết luận: vệ sinh ATTP trong cả nước nói chung và tại các chợ đầu mối Hà Nội nói riêng đang gây nhiều lo lắng cho người tiêu dùng Trên thực tế, nhiều sự kiện như việc cố tình sử dụng những hoá chất cấm dùng trong bảo quản rau quả, thực phẩm, trong nuôi trồng, chế biến nông thủy sản, việc sản xuất một
số sản phẩm kém chất lượng hoặc do quy trình chế biến hoặc do nhiễm độc từ môi trường, hoặc do sử dụng chất bảo quản tùy tiện của người buôn bán đang gây ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và tiêu dùng Các vụ ngộ độc thực phẩm hàng loạt tại một số bếp ăn, nhà hàng…đã làm bùng lên sự lo âu không ngớt của người dân Trên cơ sở đó, tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp cụ thể cho từng nhóm đối tượng như: từ góc độ người tiêu dùng, từ phía nhà cung cấp thực phẩm, từ phía quản lý nhà nước
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại Khánh Hòa” (2012) của
Bác sĩ-Thạc sỹ Lê Tấn Phùng đã tiến hành khảo sát thực trạng vệ sinh ATTP tại các cơ
sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà, đồng thời đánh giá năng lực quản lý vệ sinh ATTP trên toàn tỉnh Bằng việc kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng: Sử dụng hình thức thảo luận nhóm cho nghiên cứu định lượng để tìm hiểu thực trạng và các giải pháp c ần thiết đảm bảo vệ sinh ATTP; Sử dụng bảng hỏi, bảng kiểm để khảo sát các đối tượng về kiến thức, thái độ
và thực hành trong lĩnh vực vệ sinh ATTP Đồng thời tiến hành xét nghiệm hóa, lý và
vi sinh các mẫu thực phẩm phổ biến (thịt, cá, rau, quả) Kết quả cho thấy kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm của các hộ gia đình vẫn có một số hạn chế nhất định Các cơ sở nhà hàng ăn uống, thức ăn đường phố chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí vệ sinh do Bộ Y tế quy định Tình trạng ô nhiễm thực phẩm vẫn còn tồn tại, nhất là ô nhiễm vi sinh vật, hoá chất Các tác giả nhận định tốt về năng lực quản lý vệ sinh
Trang 19ATTP tại địa phương, nhưng nhấn mạnh sự cần thiết ban hành các văn bản quản lý nhằm tránh sự lạc hậu so với luật vệ sinh ATTP, tránh chồng chéo, và tăng cường sự phối hợp Trên cơ sở đó, một số khuyến nghị đã được đưa ra nhằm bảo đảm vệ sinh ATTP tại tỉnh Khánh Hòa [14]
Đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012” do tác giả Trương
Văn Dũng tiến hành đã đặt ra 2 mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012; Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012 [1] Bằng phương pháp nghiên cứu ngang trên mẫu gồm
700 người tiêu dùng thực phẩm từ 18 tuổi trở lên tại huyện Châu Thành, kết quả cho thấy: Về thực trạng, kiến thức, thực hành của người tiêu dùng thực phẩm: Tỷ lệ người
có kiến thức đúng 90,14%; tỷ lệ người có thái độ đúng 84,14% , tỷ lệ người có thực hành đúng 89,14%; Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi: có mối liên quan giữa kiến thức đúng với các yếu tố độ tuổi, học vấn, thời gian tham gia nội trợ, thu nhập kinh tế; Có mối liên quan giữa độ tuổi và thực hành đúng với các yếu tố học vấn, nghề nghiệp, thời gian nội trợ, thu nhập kinh tế và nhà ở Nghiên cứu cũng đã đưa ra kết luận đó là tỷ lệ người tiêu dùng trong huyện có kiến thức, thái độ và thực hành khá tốt về vệ sinh ATTP Cần tăng cường công tác tuyên truyền trực tiếp và tập trung vào nhóm những người tiêu dùng dưới 30 tuổi, những người có học vấn thấp, những người là nông dân làm ruộng, những người có kinh tế không ổn định, hộ cận nghèo và hộ nghèo
Như vậy, vấn đề an toàn thực phẩm đã bước đầu được quan tâm nghiên cứu ở nước ta Các công trình này hầu hết đều được tiếp cận dưới góc độ của y học, trong đó, các tác giả đã tập trung tìm hiểu thái độ, nhận thức, hành vi về vấn đề vệ sinh ATTP của người buôn bán, kinh doanh và người tiêu dùng thực phẩm ở một số địa phương,
từ đó, đưa các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của mọi người trong việc sử dụng thực phẩm an toàn Còn những nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ xã hội học về vệ sinh ATTP còn rất hạn chế và đặc biệt là vấn đề vai trò của phụ nữ trong việc đảm bảo
vệ sinh ATTP cho gia đình thì vẫn chưa có một nghiên cứu nào
Trang 20TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1 Trương Văn Dũng (2012), Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh ATTP của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012, Tạp chí
Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 17, phụ bản số 5
2 Gunter Endrweit và Gisela Trommsdorff, (dịch Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Hoài
Bảo), 1996, Từ điển Xã hội học, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội
3 Cao Thị Hoa và cộng sự (2011), Kiến thức, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người nội trợ chính trong gia đình ở phường Thanh Lương, quận Hai Bà
Trưng – Hà Nội, Tạp chí y học thực hành, số 7, 2011, Hà Nội, NXB Bộ y tế
4 Hồ Thị Thanh Hiếu, Nguyễn Đình Sơn (2012), Nghiên cứu kiến thức, hành vi vệ sinh của người dân xã Quảng Thành và thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế nâm 2012, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Thừa Thiên Huế, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, tập 73, số 4, năm 2012 , Trang 137
5 Lê Ngọc Hùng, (2011), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia, Hà Nội
6 Nguyễn Hữu Huyên, (2003), Đánh giá thực trạng công tác dảm bảo chất lượng VSATTP ở Đắc Lắc 5 năm (1998-2002) Báo cáo toàn văn hội nghị khoa học vệ sinh ATTP lần thứ 2 năm 2003, Hà Nội, NXB Y học
7 Phạm Thiên Hương (2011), An toàn thực phẩm từ hệ thống phân phối bán lẻ tại các chợ đầu mối”, nghiên cứu thuộc dự án hợp tác VECO-IPSARD
8 Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý (2007), Gia đình học, Nhà xuất bản lý luận chính