1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Cần làm gì để phát hiện những điểm chưa hợp lý của một văn bản quy phạm pháp luật

19 414 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 41,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở lý luận Theo Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 sau đây gọi chung là Luật năm 2008 định nghĩa về văn bản quy phạm pháp luật như sau: “Văn bản quy phạm pháp lu

Trang 1

Đề bài thảo luận nhóm 4 Cần làm gì để phát hiện những điểm chưa hợp lý

của một văn bản quy phạm pháp luật

Bài làm

Tất cả các mối quan hệ xã hội phát sinh đều được pháp luật điều chỉnh Hình thức thể hiện của pháp luật chính là thông qua các văn bản quy phạm pháp luật Như vậy, vấn đề đặt ra là, muốn tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân hiệu quả thì phải giúp họ nhận biết văn bản quy phạm pháp luật là cái gì, tiếp cận

nó từ đâu và áp dụng nó ra sao???

dựa vào kiến thức và kinh nghiệm bản thân, nhóm xin trình bày một số vấn

đề liên quan đến các văn bản quy phạm pháp luật một cách thực tế nhất, gợi mở thêm một số vấn đề để mọi người cùng thảo luận

A Cơ sở lý luận

Theo Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (sau đây gọi chung là Luật năm 2008) định nghĩa về văn bản quy phạm pháp luật như sau:

“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội

Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.”

Từ định nghĩa trên, ta thấy văn bản quy phạm pháp luật có những đặc trưng sau:

- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, nghĩa là, không phải mọi văn bản đều có thể gọi là văn bản quy phạm pháp luật, mà chỉ những văn bản nào được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành mới có thể trở thành văn bản quy phạm pháp luật Đặc trưng này cần chú

ý một số điểm như sau : Một là không phải bất kỳ cơ quan nào trong bộ máy Nhà nước đều có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, mà chỉ có những

cơ quan được pháp luật quy định mới có được thẩm quyền này Hai là thẩm quyền của các cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật quyết định nội dung điều

Trang 2

chỉnh, phạm vi điều chỉnh và mức độ điều chỉnh của văn bản Ba là cơ chế phân công và phối hợp, phân cấp thẩm quyền cũng như các nguyên tắc tập trung dân chủ

và pháp chế trong tổ chức, hoạt động của cơ quan Nhà nước là yếu tố quy định sự hình thành một trật tư nghiêm ngặt về hiệu lực pháp lý của các văn bản

- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng quy tắc xử sự chung, được áp dụng đối với mọi chủ thể của pháp luật Như vậy những văn bản mặc dù

có ý nghĩa pháp lý nhưng không chứa đựng những quy tắc xử sự chung thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật (ví dụ như Nhà nước XHCN có thể ra các văn bản mang tính chính trị như: Lời kêu gọi, tuyên bố, thông báo, nghị quyết … Các văn bản đó mặc dù có ý nghĩa pháp lý, nhưng không phải là văn bản quy phạm pháp luật) Đây là tiêu chí chủ yếu để phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các văn bản Nhà nước khác như văn bản áp dụng pháp luật, các loại giấy tờ hành chính

- Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong đời sống, được

áp dụng trong mọi trường hợp khi có sự kiện pháp lý xảy ra Như vậy, các quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần đối với một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc trong từng địa phương, chỉ khi nào văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực hoặc bị bãi bỏ do cơ quan có thẩm quyền quyết định

- Văn bản quy phạm pháp luật có nhiều loại, mỗi loại từ tên gọi, nội dung, phạm vi điều chỉnh, giá trị pháp lý, thủ tục, trình tự ban hành đều do luật định

- Văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thi hành bằng các biện pháp như: tuyên truyền, giáo dục thuyết phục; các biện pháp về tổ chức hành chính, kinh tế Trong trường hợp cần thiết thì Nhà nước áp dụng bằng biện pháp cưỡng chế bắt buộc thi hành và quy định chế tài đối với người có hành vi vi phạm

2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hiện nay, theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002, thì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta chia làm 2 loại cơ bản : văn bản luật và văn bản dưới luật

a- Văn bản luật : là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc Hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành theo trình tự và thủ tục được quy định trong Hiến pháp Các văn bản này có giá trị pháp lý cao nhất gồm có : Hiến pháp, Luật (hoặc bộ luật), nghị quyết

Trang 3

- Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, là nền tảng, cơ sở để ban hành các luật và văn bản dưới luật Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất là nhà nước và xã hội như chế độ chính trị, chế độ kinh

tế, văn hoá xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước

- Luật hoặc bộ luật: Quốc hội nước ta giữ quyền ban hành hiến pháp, luật và

bộ luật Luật, bộ luật chứa đựng các quy phạm pháp luật, là những văn bản có hiệu lực pháp lý sau hiến pháp, phù hợp với hiến pháp; vừa là văn bản cụ thể hóa Hiến pháp, bảo đảm cho Hiến pháp được thực hiện, vừa là cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm PL để thực hiện quản lý các lĩnh vực của đời sống XH

- Pháp lệnh: Do UBTVQH ban hành; Pháp lệnh chỉ quy định những vấn đề

cụ thể do Quốc hội quyết định và giao ủy quyền, trên cơ sở chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc Hội Vì thế, pháp lệnh là văn bản lập pháp ủy quyền, thuộc phạm trù lập pháp

b- Văn bản dưới luật : Văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật qui định Những văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật, vì vậy khi ban hành phải chú ý sao cho những quy định của chúng phải phù hợp với những qui định của Hiến pháp và Luật

- Văn bản lập quy của cơ quan hành chính nhà nước TW, bao gồm: văn bản của chính phủ (nghị quyết, nghị định), của thủ tướng chính phủ (quyết định, chỉ thị) và quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ

- Văn bản lập quy của cơ quan tư pháp (Toà án, VKS) Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ra nghị quyết để hướng dẫn các toà án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao ra quyết định, thông tư, chỉ thị để qui định các biện pháp bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của mình

- Văn bản lập quy của chính quyền địa phương (HĐND và UBND) HĐND

ra nghị quyết để quyết định những vấn đề xây dụng địa phương vững mạnh bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh hiến pháp, luật, pháp lệnh, các nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính cấp trên UBND ra quyết định, chỉ thị để tổ chức thực hiện nghị quyết

Trang 4

của HĐND cùng cấp và thực hiện chức năng của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

- Các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch: các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ tự mình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, mà còn phối hợp với các cơ quan, tổ chức để ban hành văn bản, gọi là văn bản liên tịch Nội dung của văn bản loại này quy định liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức chính trị - xã hội Có 3 loại văn bản liên tịch sau: Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ; Thông

tư liên tịch giữa Tòa án NDTC với Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc giữa các

cơ quan này với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội

3 Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật

Để mỗi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đi vào cuộc sống có thể phát huy tác dụng, bảo đảm hiệu lực thực tế và hiệu quả điều chỉnh của văn bản, thì cần phải xác định rõ, chính xác giới hạn hiệu lực của văn bản cả về thời gian, không gian và đối tượng thi hành Đó cũng là điều kiện để thiết lập một trật tự thứ bậc nghiêm ngặt về hiệu lực giữa các văn bản, bảo đảm hình thành được một hệ thống văn bản quy phạm PL có tính thống nhất cao

- Hiệu lực về thời gian của mỗi văn bản quy phạm pháp luật là giới hạn phạm vi tác động của văn bản về thời gian, được tính thời điểm phát sinh hiệu lực cho đến khi chấm dứt hiệu lực của văn bản Thông thường, một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực từ ngày công bố và hết hiệu lực khi có văn bản khác thay thế hoặc hủy bỏ Một số văn bản ghi rõ thời điểm phát sinh và chấm dứt hiệu lực, những văn bản này mặc nhiên hết hiệu lực khi đến thời điểm đã ghi trong văn bản

Cá biệt, một số văn bản quy phạm PL có hiệu lực sau ngày công bố một thời gian, hoặc có những quy định có hiệu lực trước ngày công bố văn bản (gọi là hiệu lực hồi tố) và các trường hợp này được được ghi rõ trong văn bản

- Hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật là giới hạn phạm

vi tác động của văn bản về mặt không gian, có thể là toàn bộ lãnh thố quốc qua, một vùng hoặc một địa phương nhất định Việc xác định hiệu lực không gian có thể dựa vào căn cứ: Dựa vào điều khoản xác định hiệu lực không gian văn bản; đối với các văn bản quy phạm pháp luật không có điều khoản xác định hiệu lực không gian thì phải dựa vào thẩm quyền cơ quan ban hành và nội dung văn bản để xác

Trang 5

định hiệu lực không gian Cá biệt có văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực ngoài lãnh thổ Thí dụ như những viên chức Nhà nước công tác ngoại giao ở nước ngoài vẫn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam

- Hiệu lực theo đối tượng thi hành (áp dụng) văn bản quy phạp PL là giới hạn phạm vi các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thi hành Thông thường các văn bản pháp luật tác động đến tất cả các đối tượng nằm trong lãnh thổ mà văn bản

đó có hiệu lực về thời gian và không gian Phù hợp với điều đó, các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành nhằm tác động đến công dân Việt Nam; tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định, pháp luật Việt Nam còn có hiệu lực đối với người nước ngoài, người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, trừ những trường hợp pháp luật của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam

có ký kết hoặc tham gia có quy định khác Cá biệt những văn bản quy phạm PL chỉ tác động điều chỉnh đến một số đối tượng nhất định (trong một số ngành nghề, lãnh vực), trong những trường hợp này thường được ghi rõ trong văn bản

Theo khái niệm trên đây, khi đánh giá một văn bản có phải là văn bản quy phạm pháp luật hay không cũng như xem xét một văn bản có chứa ''quy phạm pháp luật'' hay không cần đặc biệt chú ý đến các dấu hiệu đặc trưng của quy phạm pháp luật, gồm: tính áp dụng chung (quy tắc ràng buộc chung và được tôn trọng chung), tính phi cá nhân (không nhằm vào một đối tượng, một con người nào cụ thể hay một nhóm đối tượng cụ thể), tính bắt buộc - tính cưỡng chế nhà nước (đối tượng bắt buộc phải thực hiện, không thể thoái thác) và phải được cơ quan có thẩm quyền ban hành (chủ thể được pháp luật trao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật)

I Một số lưu ý khi sử dụng văn bản quy phạm pháp luật:

Nội dung kiểm tra văn bản là việc xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản Văn bản hợp hiến, hợp pháp là văn bản bảo đảm đủ các điều kiện sau đây:

1 Ban hành đúng căn cứ pháp lý

a) Có căn cứ pháp lý cho việc ban hành;

b) Những văn bản làm căn cứ pháp lý đó đã được ký ban hành, thông qua vào thời điểm ban hành văn bản được kiểm tra

Căn cứ pháp lý làm cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra

và xử lý văn bản QPPL là những văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý

Trang 6

cao hơn đang có hiệu lực hoặc đã được ký ban hành, thông qua tại thời điểm kiểm tra văn bản Theo đó những văn bản sử dụng làm căn cứ để ban hành văn bản QPPL là những văn bản QPPL, có giá trị pháp lý cao, nghĩa là các văn bản hành chính thông thường như (công văn, tờ trình, kế hoạch, thông báo…) không phải là căn cứ để ban hành văn bản QPPL

Căn cứ pháp lý được xem là cơ sở để kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhât của văn bản Khi tiến hành kiểm tra một văn bản QPPL, người có thẩm quyền kiểm tra sẽ xem xét nội dung của văn bản được kiểm tra với những văn bản

là căn cứ pháp lý để ban hành văn bản đó làm cơ sở để đối chiếu, so sánh nhằm xác định nội dung của văn bản được ban hành có phù hợp với Hiến pháp, Luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên Trong quá trình kiểm tra văn bản, căn cứ vào những văn bản làm cơ sở pháp lý người có thẩm quyền kiểm tra văn bản tìm hiểu xem văn bản được ban hành đó có căn cứ pháp lý cho việc ban hành không? Trường hợp đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản được kiểm tra không đúng với quy định trong các căn cứ pháp lý để ban hành văn bản, điều đó có nghĩa rằng việc quy định nội dung đó là không có căn cứ pháp lý Ví dụ: Quyết định số…của UBND tỉnh A về việc ban hành quy định về khu dân cư xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường, cơ sở tôn giáo đạt tiêu chuẩn.Theo quyết định trên đối tượng điều chỉnh bao gồm: xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường, cơ sở tôn giáo nhưng căn cứ Thông tư số 23/2012/ TT-BCA ngày 27/4/2012 của Bộ Công an quy định về khu dân cư xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh, trật tự

và các văn bản hướng dẫn hiện hành được sử dụng làm căn cứ pháp lý để ban hành Quyết định nêu trên thì cơ sở tôn giáo không thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông

tư số 23/2012/TT-BCA Chính vì vậy việc quy định thêm đối tượng cơ sở tôn giáo là không đúng quy định pháp luật, không đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản Đối với trường hợp sử dụng căn cứ pháp lý không đúng như: viện dẫn căn cứ pháp lý không liên quan đến nội dung của văn bản, viện dẫn căn cứ pháp lý

đã hết hiệu lực cũng không đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản

Bên cạnh đó, căn cứ pháp lý còn là cơ sở để xem xét, đánh giá, kiểm tra việc

áp dụng văn bản QPPL trong ban hành văn bản QPPL Đây là một trong những căn

cứ quan trọng để xác định, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính chính xác của văn bản, là cơ sở để kết luận việc áp dụng văn bản QPPL đã đúng chưa? đã chính xác chưa? đã đảm bảo đúng nguyên tắc áp dụng văn bản QPPL và thứ bậc hiệu lực

Trang 7

pháp lý chưa? Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp

lý để ban hành văn bản QPPL được kiểm tra có quy định khác nhau về cùng một vấn đề (có sự mâu thuẫn, chồng chéo trong các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên) thì khi đó người kiểm tra văn bản sẽ căn cứ vào nguyên tắc áp dụng văn bản QPPL và thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản QPPL để kiểm tra xem văn bản được kiểm tra đó có áp dụng quy định của văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn không? Ví dụ, khi kiểm tra một Quyết định của UBND mà thấy giữa nghị định của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ làm cơ sở pháp lý để kiểm tra quyết định đó có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng quy định của nghị định Khi kiểm tra một nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện mà thấy giữa quyết định của Thủ tướng Chính phủ và pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội làm cơ sở pháp lý để kiểm tra nghị quyết đó có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của pháp lệnh

Mặt khác trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau Đối với văn bản do các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực liên quan đến vấn đề đó Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới

2 Ban hành đúng thẩm quyền

Thẩm quyền ban hành văn bản bao gồm: thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung

a) Thẩm quyền về hình thức là việc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản theo đúng hình thức đã được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

b) Thẩm quyền về nội dung là việc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản phù hợp với thẩm quyền của mình theo quy định của pháp luật

Bên cạnh đó căn cứ pháp lý còn là cơ sở để xác định việc văn bản đó được ban hành có đúng thẩm quyền không? Ví dụ: theo quy định tại Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 hướng dẫn về phí, lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươngthì mức phí vệ

Trang 8

sinh, phí qua đò…thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND tỉnh nhưng UBND tỉnh lại ban hành quyết định quy định các mức thu phí này Như vậy việc UBND tỉnh ban hành quyết định mức thu các loại phí trên là không đúng thẩm quyền theo quy định pháp luật Đối với trường hợp người không có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL nhưng đã ban hành văn bản QPPL (ở đây muốn nói đến thẩm quyền cá nhân-thẩm quyền riêng) Ví dụ: Chủ tịch UBND ban hành Chỉ thị chứa quy phạm pháp luật, giám đốc Sở ban hành văn bản là Quyết định chứa quy phạm pháp luật

Như vậy tất cả những trường hợp nêu trên ( không có căn cứ pháp lý để ban hành văn bản, sử dụng căn cứ pháp lý không đúng, ban hành văn bản trái thẩm quyền, không có thẩm quyền để ban hành văn bản QPPL…) đều được xác định là những văn bản có dấu hiệu vi phạm pháp luật và phải xử lý theo quy định của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL

3) Nội dung của văn bản phù hợp với quy định của pháp luật

a) Văn bản được ban hành theo thẩm quyền phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành và các văn bản của

cơ quan nhà nước cấp trên;

b) Văn bản quy phạm pháp luật không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác và bảo đảm thống nhất giữa văn bản hiện hành với văn bản mới được ban hành của cùng một cơ quan;

c) Văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ khác ban hành phải phù hợp với văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý nhà nước về lĩnh vực đó;

d) Quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân phải phù hợp với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

Văn bản do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành phải bảo đảm yêu cầu không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Căn cứ pháp lý, cơ sở để kiểm tra nội dung của văn bản được ban hành có đúng và phù hợp với quy định pháp luật hiện hành hay không? Điều đó có nghĩa là nội dung quy định trong văn bản đó phải phù hợp với quy định trong các căn cứ pháp lý làm cơ sở để ban hành văn bản đó Cụ thể trong quá trình kiểm tra người

Trang 9

có thẩm quyền kiểm tra văn bản xem xét, đối chiếu, xem nội dung của văn bản được ban hành có phù hợp với quy định pháp luật, quy định của cơ quan nhà nước cấp trên không? Để từ đó đưa ra kết luận về việc văn bản đó được ban hành có đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp hay không? Ví dụ: Đối với quyết định, chỉ thị của UBND để đảm bảo tính hợp hiến hợp pháp thì quyết định, chỉ thị đó phải phù hợp với Hiến pháp, luật, văn bản cơ quan nhà nước cấp trên ở trung ương và phải phù hợp với Nghị quyết của HĐND cùng cấp

4 Văn bản được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thể thức và kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật

Bên cạnh đó, căn cứ pháp lý còn là cơ sở để xem xét, đánh giá, kiểm tra việc

áp dụng văn bản QPPL trong ban hành văn bản QPPL Đây là một trong những căn

cứ quan trọng để xác định, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính chính xác của văn bản, là cơ sở để kết luận việc áp dụng văn bản QPPL đã đúng chưa? đã chính xác chưa? đã đảm bảo đúng nguyên tắc áp dụng văn bản QPPL và thứ bậc hiệu lực pháp lý chưa? Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp

lý để ban hành văn bản QPPL được kiểm tra có quy định khác nhau về cùng một vấn đề (có sự mâu thuẫn, chồng chéo trong các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên) thì khi đó người kiểm tra văn bản sẽ căn cứ vào nguyên tắc áp dụng văn bản QPPL và thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản QPPL để kiểm tra xem văn bản được kiểm tra đó có áp dụng quy định của văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn không? Ví dụ, khi kiểm tra một Quyết định của UBND mà thấy giữa nghị định của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ làm cơ sở pháp lý để kiểm tra quyết định đó có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng quy định của nghị định Khi kiểm tra một nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện mà thấy giữa quyết định của Thủ tướng Chính phủ và pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội làm cơ sở pháp lý để kiểm tra nghị quyết đó có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của pháp lệnh

Mặt khác trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau Đối với văn bản do các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực liên quan đến vấn đề đó Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật

Trang 10

mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới

Từ những phân tích trên cho thấy căn cứ pháp lý có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản QPPL Đặc biệt trong quá trình kiểm tra văn bản, căn cứ pháp lý đóng một vai trò hết sức quan trọng, là cơ sở để kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính chính xác của văn bản Chính vì vậy việc kiểm tra văn bản phải được tiến hành định kỳ, thường xuyên, nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản để kịp thời đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ Nhờ đó, chất lượng văn bản QPPL ngày càng được nâng lên, các văn bản QPPL được ban hành đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất cao, phù hợp với các văn bản của cấp trên cũng như tình hình thực tiễn tại địa phương, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

Lưu ý khác

5 Hiệu lực của văn bản

a) Thời điểm có hiệu lực:

Thông thường, văn bản sẽ quy định ngày có hiệu lực của nó, nhưng một số trường hợp phải căn cứ vào Luật ban hành văn bản để xác định ngày có hiệu lực

b) Khoảng thời gian áp dụng

Thông thường, văn bản qppl có hiệu lực áp dụng trong khoảng thời gian từ ngày văn bản có hiệu lực cho đến ngày văn bản hết hiệu lực, trừ một số trường hợp:

+ Một phần nội dung của văn bản có hiệu lực trở về trước: Phần nội dung có hiệu lực trở về trước đó sẽ được áp dụng trước thời điểm văn bản có hiệu lực

+ Hiệu lực của văn bản bị gián đoạn do bị đình chỉ thực hiện trong một khoảng thời gian

+ Văn bản đặc thù chỉ áp dụng trong một khoảng thời gian: Cho dù không có văn bản nào khác thay thế hủy bỏ các văn bản này để đưa nó về tình trạng hết hiệu lực thì hiệu lực áp dụng của nó cũng chỉ nằm trong khoảng thời gian đã được quy định

+ Văn bản bị sửa đổi bổ sung đính chính: mặc dù tình trạng vẫn còn hiệu lực nhưng những nội dung bị sửa đổi thay thế đính chính thì không còn hiệu lực nữa Ngày hết hiệu lực của những nội dung trên là ngày có hiệu lực của văn bản bị sửa đổi bổ sung đính chính (hoặc quy định ngày cụ thể khác)

c) Thời điểm hết hiệu lực

Ngày đăng: 28/03/2016, 23:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w