1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Các vấn đề mới đang đặt ra đối với việc ra quyết định quản lý nguồn nhân lực cấp vĩ mô

14 714 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 161 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Thế Long 10.Phan Thị Ngọc Đề bài: Các vấn đề mới đang đặt ra đối với việc ra quyết định quản lý nguồn nhân lực cấp vĩ mô?. Đó chính là quá trình ra quyết định quản lý - Quyết

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN Môn: Ra quyết định quản lý nguồn nhân lực

Nhóm 5

DANH SÁCH THÀNH VIÊN

1 Nguyễn Thị Lý

2 Nguyễn Thị Hoài Hương

3 Phạm Mai Anh

4 Nguyễn Tuấn Anh

5 Lê Phúc Hiếu

6 Nguyễn Thế Thuận

7 Nguyễn Thị Hà Thu

8 Nguyễn Thành Trung

9 Nguyễn Thế Long 10.Phan Thị Ngọc

Đề bài: Các vấn đề mới đang đặt ra đối với việc ra quyết định quản lý nguồn nhân

lực cấp vĩ mô?

BÀI LÀM A) Một số khái niệm cơ bản

1) Quyết định quản lý là gì?

- Quá trình quản lý nói chung, quản lý NNL nói riêng về thực chất là quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý dựa trên các thông tin đã được thu thập và xử lý

- Trong quá trình quản lý, các nhà quản lý luôn phải đứng trước những tình huống, những vấn đề phát sinh cần xử lý bằng cách đưa ra các phương án và sau đó lựa chọn một phương án nào đó để triển khai thực hiện Đó chính là quá trình ra quyết định quản lý

- Quyết định quản lý là sản phẩm lao động sáng tạo của chủ thể quản lý nhằm định

ra chương trình, mục tiêu, cách thức triển khai hoạt động để giải quyết các tình huống, các vấn đề phát sinh trong công tác quản lý hoặc để định ra những vấn đề chiến lược cần thực hiện

2) Ra quyết định quản lý NNL là gì?

Ra quyết định QLNNL là việc chủ thể quản lý ra quyết định có ảnh hưởng trực tiếp đến NNL hoặc một bộ phận NNL trong phạm vi quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đã định

Trang 2

3) Ra quyết định quản lý nguồn nhân lực cấp vĩ mô là gì?

Ở góc độ vĩ mô của nền kinh tế, ra quyết định QLNNL được thể hiện dưới các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh hành vi của của cá nhân hoặc tổ chức nhằm đạt được lợi ích tối ưu của họ, qua đó́ đạt được các mục tiêu quản lý vĩ mô

- Cấp vĩ mô:

+ Tính chung, phổ quát hướng vào tổ chức, nhóm đối tượng, chính sách đối với NNL

+ Quy trình ra quyết định phức tạp, xem xét các yếu tố, tuân thủ theo quy phạm pháp luật, có sự tham gia của các cơ quan chức năng, ban hành theo thẩm quyền + Ảnh hướng đến cơ chế, chính sách, bộ máy, tổ chức thực hiện quản lý NNL + Tác động đến nhiều mặt trong cuộc sống, phát triển, kinh tế, xã hội, nhân văn

- Các quyết định cấp vĩ mô: là các quyết định được thực hiện ở cấp cao, cấp quốc gia Mục tiêu là thực hiện quản lý chung tất cả mọi đối tượng trong xã hội Ví dụ Hiến pháp, Luật, Chiến lược,… Được thực hiện bởi các cấp quản lý ở cơ quan hành chính như: chủ tịch nước, chính phủ

+ Sử dụng đơn vị hành pháp, tư pháp , lập pháp để ra quyết định

+ Phạm vi: ở cấp trung ương, tỉnh, thành phố

+ Mức độ ảnh hưởng: Trong một quốc gia, xã hội

+ Đối tượng chịu trách nhiệm: Ngành, Địa phương, Tổ chức, Đơn vị

+ Nơi ra quyết định: thường là tên cơ quan quản lý

+ Ký hiệu văn bản: NĐ-CP; NQ –TW

+ Ghi rõ Tên văn bản; Người ra quyết định; Điều lệ; quyết định; Đối tượng chịu trách nhiệm thi hành; Nơi nhận; Con dấu; Chữ ký

B> Các vấn đề mới đang đặt ra đối với việc ra quyết định quản lý nguồn nhân lực cấp vĩ

mô-1) Hệ thống luật pháp ở VN: đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế, VN ngày càng

tham gia nhiều hơn các tổ chức quốc tế Xu thế hội nhập đó đặt ra yêu cầu đối với

VN là cần điều chỉnh các quy định, các chính sách pháp luật phù hợp vói những quy định của quốc tế Hội nhập quốc tế là quá trình gắn nền KT của quốc gia với nền KT khu vực và thế giới Và khi gia nhập sân chơi quốc tế, trở thành thành viên của bất cứ 1 tổ chức nào, đều phải tuân theo quy định nghiêm ngặt của tổ chức đó VN đã tham gia rất nhiều các tổ chức: Cho đến nay, Việt Nam là thành viên của hơn 60 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới Việt Nam đã hoạt động tích cực với vai trò ngày càng tăng tại Liên hợp quốc (ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU ),

Trang 3

phát huy vai trò thành viên tích cực của phong trào Không liên kết, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, ASEAN Và tất nhiên VN hoàn toàn phải tuân thủ các quy định của các tổ chức, xem xem quy định pháp luật của VN đã phù hợp chưa

2)Mức độ phát triển KT- XH cao cùng sự hội nhập quốc tế dẫn đến việc một

số ngành nghề mới sẽ xuất hiện và một số ngành nghề mất đi-> quan hệ sản xuất thay đổi

Hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn rất phong phú và đa dạng Theo thống kê, trên thế giới hiện nay có trên dưới 2.000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn.Nghề nghiệp ra đời là do nhu cầu của cuộc sống vì vậy xã hội phát triển thì nghề nghiệp cũng phát triển và ngược lại Nghề có thể sinh

ra và mất đi theo sự sinh tồn, tiêu vong của các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, vùng, miền, quốc gia… Đó là quy luật không thể tránh được Trên thế giới mỗi năm có khoảng 500 nghề mất đi và có khoảng 600 nghề mới xuất hiện Ví dụ, sự ra đời và phát triển của nghề môi giới lao động xuất khẩu đã tạo ra

cơ hội việc làm và thu nhập cao cho hàng chục vạn lao động trẻ ở các thành phố và nông thôn Việt Nam; Ngành công nghệ thông tin ra đời… đã sinh ra nhiều nghề mới như nghề thiết kế, nghề chế tạo (Phần cứng, phần mềm, các thiết bị bổ trợ)… Ngược lại có nhiều nghề đã mai một đi như: Nghề làm nồi đất, nghề dệt chiếu cói, nghề làm pháo

Vì vậy cần có hệ thống chính sách phù hợp để điều tiết quan hệ lao động.Xét về những quyêt định quản lý NNL cáp vĩ mô, cần có những chính sách và những quy

định tương ứng để điều tiết Chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng và Nhà nước đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng thu hẹp tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, nâng cao tỷ trọng sản xuất công nghiệp và dịch vụ Chủ trương này đã có ảnh hưởng rất lớn đến lực lượng lao động sản xuất chính khu vực nông nghiệp, nông thôn Điều này đã góp phần kích thích tính sáng tạo và chủ động trong công việc của nguồn nhân lực để có thể thích ứng được với những thay đổi của cơ cấu nền kinh tế trong bối cảnh mới

3) Vấn đề đa văn hóa: các chính sách , các quyêt định của VN cần thật sự đúng đắn để VN có lợi thế cạnh tranh, cần đáp ứng được yêu cầu hội nhập

4) Vấn đề năng suất LĐ thấp, tụt hậu về nền KT: có rất nhiều vấn đề trong đó cần kể đến vấn đề chất lượng NNL-> cần có chính sách tạo ra NNL chất lượng cao, chính sách đầu tư bồi dưỡng đào tạo.

Trang 4

NSLĐ của Việt Nam ở vị trí nào so với các nước trong khu vực?

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) năm 2005, với NSLĐ khoảng 5.300 USD tính theo sức mua, Việt Nam hiện có NSLĐ thấp nhất trong các quốc gia thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương: bằng 1/15 của Singapore, 1/11 của Nhật Bản, 1/10 của Hàn Quốc, 1/5 của Malaisia, 2/3 của Thái Lan; đặc biệt đáng chú ý

là tốc độ tăng NSLĐ của Việt Nam cũng bị giảm mạnh Trong giai đoạn

2002-2007, NSLĐ tăng trung bình 5,2%/ năm - mức cao nhất trong khu vực Tuy nhiên,

kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, tốc độ tăng NSLĐ trung bình hàng năm của Việt Nam chỉ còn 3,5%

Bảng : NSLĐ các ngành giai đoạn 2006-2014

Năng suất chung (triệu

đồng/người) 38,6 44,0 45,5 46,7 48,5 50,8

- Nông lân ngư nghiệp 14,9 16,8 17,4 17,8 18,2 18,7

- Công nghiệp và xây

dựng 81,3 80,3 82,1 84,9 88,7 92,7

- Ngành dịch vụ 57,3 63,8 64,7 64,4 66,5 69,7

Tốc độ tăng năng suất

- Nông lân ngư nghiệp 2,5 4,7 3,7 2,7 2,3 2,4

- Công nghiệp và xây

- Ngành dịch vụ 4,5 0,4 1,4 0,0 3,1 4,4

Đóng góp của tăng

năng suất vào tăng

trưởng (%) 58,0 56,0 55,9 58,2 70,8 72,9

- Nông lân ngư nghiệp 64,6 142,3 91,1 100,9 86,8 68,1

Trang 5

- Công nghiệp và xây

dựng 14,3 -4,1 34,2 70,0 71,4 62,1

- Ngành dịch vụ 54,0 5,7 20,3 0,3 47,6 73,0

(NSLĐ được tính theo giá so sánh 2010 Nguồn: Niên giám thống

kê các năm 2005, 2014 và tính toán của tác giả)

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, NSLĐ của chúng ta năm 2014 là 50,8 triệu đồng/người, tương đương với khoảng 2.410 USD tính theo giá thực tế và 5.400 USD tính theo sức mua tương đương.

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến NSLĐ của Việt Nam thấp kém so với một

số quốc gia trong khu vực

Một là, việc ứng dụng khoa học và công nghệ (KH&CN), đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh còn hạn chế.

Hai là, cơ cấu lao động theo ngành lạc hậu, bất hợp lý đã kìm hãm tăng NSLĐ.

Ba là, chất lượng nhân lực và vấn đề đào tạo

Bốn là, chính sách tiền lương, hệ thống thang bảng lương còn nhiều bất cập, chậm được đổi mới, chưa tạo động lực cho việc tăng NSLĐ.

Năm là, nhân lực làm việc trong khu vực công (gồm cả công chức và viên chức) có số lượng lớn nhưng hiệu quả lao động chưa cao.

Giải pháp thúc đẩy tăng NSLĐ đến năm 2020

Một là, tăng cường ứng dụng, đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DN.

Nhằm góp phần nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, Chính phủ cần hỗ trợ, khuyến khích DN, tổ chức, cá nhân chú trọng đổi mới, ứng dụng KH&CN vào sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị, từ đó nâng cao NSLĐ, chất lượng sản phẩm Bên cạnh việc tiếp tục duy trì 2% tổng chi ngân sách, Nhà nước cần tích cực huy động nguồn lực từ xã hội, chủ yếu từ DN bằng việc quy định bắt buộc các DN phải dành một tỷ lệ nhất định trong thu nhập trước thuế để đầu tư cho KH&CN; tổ chức lại hệ thống nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cho DN; phát huy liên kết 3 nhà (nhà nước - nhà khoa học - DN) để ứng dụng, chuyển giao các kết quả nghiên cứu KH&CN vào sản xuất

Trang 6

Hai là, đẩy nhanh tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy

cơ cấu lại DN và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa; giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, DN và của cả nền kinh tế; phát triển kinh

tế tri thức Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh Thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế nhanh và bền vững; phát triển hài hòa, cân đối giữa các vùng/ miền

Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực có NSLĐ thấp sang khu vực NSLĐ cao, tập trung chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực nông thôn (nơi đang tập trung tới gần 70% lực lượng lao động) gắn với vấn đề đào tạo, dạy nghề, đào tạo bồi dưỡng kỹ năng lao động công nghiệp

Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn gắn với cơ giới hóa, ứng dụng tiến bộ KH&CN; phát triển kinh tế trang trại, sản xuất hàng hóa lớn; phát triển ngành nghề dịch vụ, thủ công truyền thống

Tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu về hỗ trợ tạo việc làm, giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn

Ba là, nhanh chóng nâng cao chất lượng nhân lực.

Giải pháp trước mắt cũng như lâu dài là cán nâng cao chất lượng nhân lực Việt Nam, tập trung vào một số công việc sau:

Đổi mới toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng hội nhập quốc tế cả về nội dung, phương pháp giảng dạy, thi cử sát hạch và quản lý giáo dục

Tổ chức tốt công tác phân luồng, định hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay trên ghế nhà trường

Nhanh chóng hoàn thành việc xây dựng và triển khai hệ thống trung tâm thông tin,

dự báo cung cầu nhân lực quốc gia; làm tốt công tác dự báo về nhu cầu nhân lực đến từng ngành/lĩnh vực của nền kinh tế theo từng giai đoạn, thời kỳ làm căn cứ cho người học có cơ sở lựa chọn ngành nghề, các cơ sở đào tạo chủ động tiến hành đào tạo; người sử dụng lao dộng dễ dàng tiếp cận dược nguồn lao động với chất lượng chuyên môn theo yêu cầu

Tiến hành đào tạo nhân lực một cách bài bản, nghiêm túc, trang bị cho người học đầy đủ kiến thức từ lý thuyết đến thực hành, kỹ năng mềm (ngoại ngữ, tin học, tư

Trang 7

duy, tác phong công nghiệp, làm việc nhóm…) đưa nhân lực Việt Nam nhanh chóng tiếp cận trình độ quốc tế cả về chuyên môn, nghiệp vụ và các kỹ năng liên quan Đặc biệt là việc đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng lao động của DN, cơ quan, tổ chức

Bốn là, đẩy mạnh công cuộc cải cách chính sách tiền lương, lấy tiền lương làm động lực thúc đẩy tăng NSLĐ

Điều chỉnh nhanh hơn mức lương tối thiểu khu vực DN Đến năm 2018, mức lương tối thiểu vùng đối với khu vực DN phải bảo đảm nhu cầu tối thiểu của người lao động theo từng vùng Tiếp tục hoàn thiện cơ chế tiền lương đối với khu vực

DN theo nguyên tắc thị trường; gắn tiền lương của DN nhà nước với NSLĐ và hiệu quả kinh doanh của DN

Điều chỉnh mức lương tối thiểu khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo lộ trình tiến tới bảo đảm nhu cầu tối thiểu của người hưởng lương gắn với đổi mới hoạt động sự nghiệp công và phù hợp với khả năng của nền kinh tế Trong các nhóm đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước khác nhau cũng cần có tiến độ và mức độ cải cách khác nhau Phấn đấu đến năm 2020, tiền lương (gồm cả phụ cấp) là nguồn thu nhập chính của cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang

và đạt mức trung bình khá trên thị trường lao động

Đối với khu vực hành chính nhà nước, đảng, đoàn thể, cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, thu gọn đầu mối và tinh giản biên chế, khoán kinh phí quản lý hành chính; khẩn trương nghiên cứu chuyển những khoản thu nhập lương Tiền lương phải gần với vị trí việc làm và hiệu quả công việc, tạo động lực cho việc tăng NSLĐ

Đối với khu vực sự nghiệp công, cầm đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính

và tiền lương gắn với kết quả hoạt động của đơn vị, có phân biệt từng loại đơn vị theo Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa X), qua đó giảm dần gánh nặng trả lương từ từ ngân sách nhà nước cho viên chức tại các đơn vị sự công lập Thực hiện cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị và người đứng đầu

Thiết kế thang lương, bảng lương đảm bảo bản chất là thước đo giá trị lao động xã hội, phản ánh mức độ phức tạp của công việc mà người lao động đảm nhận, được dùng làm căn cứ xếp lương cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo chức danh, tiêu chuẩn công việc đang làm và xép tương khi điều động, luân chuyển Ngoài ra, cần xây dựng quy định, nguyên tắc điều động, luân chuyển công khai, minh bạch, đảm bảo mục tiêu hiệu quả công việc, không sử dụng mức lương làm mục đích, căn cứ để điều động, luân chuyển

Trang 8

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, thu gọn đầu mối và tinh giản biên chế khu vực hành chính, sự nghiệp

Giai đoạn trước mắt, cần giữ ổn định cơ cấu tổ chức Chính phủ và tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện Đánh giá, xem xét việc tổ chức các tổng cục, cục thuộc bộ, ngành Trung ương để tinh gọn bộ máy

Về lâu dài, cần rà soát lại vị trí việc làm và biên chế của từng cơ quan, tổ chức, tiến hành đánh giá thực trạng cán bộ, công chức để từng bước sắp xếp, bố trí lại cán bộ, công chức cho phù hợp Kiên quyết cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, thay thế những người không đáp ứng được nhu câu bằng những người có phẩm chất và năng lực

Nghiên cứu áp dụng cơ chế hợp đồng làm việc đối với cả hai đối tượng công chức

và viên chức; áp dụng phương pháp đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, viên chức như đối với lao động khu vực DN ngoài quốc doanh, DN FDI

Nghiên cứu, từng bước áp dụng cơ chế tuyển chọn, quản lý, sử dụng, sa thải lao động trong khu vực công giống như khu vực DN ngoài nhà nước

Thực hiện khoán biên chế, quỹ tiền lương và kinh phí quản lý hành chính đến đơn

vị trực tiếp sử dụng cán bộ, công chức

Sáu là hội nhập kinh tế quốc tế, học hỏi tiến bộ của các nước về các biện pháp

tăng năng suất lao động Ngoài ra còn các biện pháp khác như cần ổn định kinh tế- chính trị, có các chính sách phát triền KT- XH phù hợp…

4) Vấn đề việc làm và thất nghiệp: Để nền KT phát triển 1 cách tối ưu cần đưa ra các quyết dịnh QL NNL sao cho tỷ lệ thất nghiệp ở mức cháp nhận được

Bên cạnh những thời cơ về số lượng nguồn nhân lực xã hội dồi dào, tăng nhanh

cũng đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi phải được giải quyết Thời kỳ “cơ cấu dân số

vàng” chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian không dài, sau thời kỳ này sẽ là thời

kỳ “già hóa dân số”, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách sử dụng hiệu quả nguồn

nhân lực, nếu không thời cơ sẽ nhanh chóng qua đi

Nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, tăng nhanh cũng tạo áp lực rất lớn về vấn đề việc làm, Nhà nước cần tạo ra một khối lượng việc làm lớn để đáp ứng nhu cầu của nguồn nhân lực, nếu không nguồn nhân lực sẽ bị lãng phí, đồng thời sẽ xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội mà nguyên nhân là do thất nghiệp gây ra

Thách thức đặt ra cho việc ra quyết định quản lý trong điều kiện toàn cầu hóa là mỗi biến động trên thị trường thế giới tác động rất nhanh, rất mạnh đến thị trường

Trang 9

trong nước Tình hình đó đòi hỏi nhà quản lý phải nâng cao năng lực dự báo và khả năng phản ứng chính sách nhằm hạn chế những tác động xấu đến nền kinh tế Ví dụ: Phải thành lập trung tâm thông tin dự báo về Cung – Cầu nhân lực tại địa Phương, Tỉnh, Thành Phố để dự báo về nhân lực sao cho phù hợp với tình hình thực tế

Nhà quản lý cần có các chính sách đúng đắn, sử dụng những công cụ điều tiết nhằm khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hoá, bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội Ví dụ: Nhà quản lý cần có các giải pháp về đào tạo nghề, hướng nghiệp cho những người có trình độ chuyên môn thấp, thành lập các trung tâm việc thông tin về việc làm miễn phí cho người lao động

5) sự di chuyển LĐ quốc tế: trong nước ra nước ngoài và LĐ nước ngoài vào VN

Về nguy cơ chảy máu chất xám sang các nước có nền kinh tế phát triển cao do di

cư lao động, việc làm ngoài nước và cạnh tranh nguồn nhân lực toàn cầu

Do môi trường chính trị - kinh tế khác nhau, nên hiện nay vấn đề lưu động chất xám ngày càng tăng cùng với phát triển toàn cầu hoá Tình trạng mất đi những người được đào tạo chuyên môn ở trong và ngoài nước được người ta coi là "sự tàn phá đặc biệt" đối với quốc gia ở thời kỳ phát triển trong bối cảnh cạnh tranh quốc

tế gay gắt Gần đây, tình trạng những người có chuyên môn tuy không ra đi, nhưng không được sử dụng đúng hoặc phải chuyển nghề để kiếm sống cũng được người

ta coi là một "sự tàn phá bên trong"

Việc di chuyển lao động qua biên giới ko còn là vấn đề mới mẻ Hiện nay trên toàn thế giới đang có khoảng 120 triệu LĐ sống và làm việc tại những nơi ko phải là quê hương mình Đối với VN trong thòi gian vừa qua di chuyển lao động cũng đã tăng lên đáng kể nhất là di chuyển LĐ quốc tế Và 1khi trở thành thành viên chính thức của WTO, tốc độ di chuyển lao động của VN chắc chắn sẽ gia tăng nhanh Bởi lẽ việc tự do hóa thương mại và đầu tư sẽ dẫn đến việc chuyển đổi cơ cấu

Trang 10

mạnh hơn Nhiều việc làm ở các ngành nghề cũ mất đi, việc làm ở 1 số ngành nghề mới xuất hiện, buộc người lao động phải tìm việc làm bên ngoài Hơn nữa sự khác biệt về giá cả sức lao động giữa các mảng thj trường ở trong nước với nhau, đặc biệt là sự khác nhau giữa thị trường trong nước và nước ngoài sẽ là 1 động lực kích thích mạnh mẽ người lao động di chuyển nơi cư trú để tìm kiếm các công việc được trả công cao hơn

Di chuyển lao động bên cạnh việc giúp cho người lao động tìm kiếm việc làm nhanh hơn và nâng cao thu nhập, nhưng mặt trái của nó là hiện tượng buôn bán bất hợp pháp phụ nữ và trẻ em Các điều kiện tối thiểu ko được bảo đảm, người lao động ko được bảo vệ về mặt xã hôi…Hiện tượng chảy máu chất xám xuất phát từ nguyên nhân thực tế là do các nước phát triển cao đang thu hút các chuyên gia từ các nước đang phát triển bằng các chính sách, chế độ ưu đãi, đặc biệt là chế độ trả công lao động Trong khi đó ở VN cho đến nay, mặc dù số lượng lao động chất xám chưa nhiều xong nếu nhà nước không có cơ chế chính sách quản lý hữu hiệu thông qua việc trả công lao động, tạo môi trường lao động thuận lợi… Đối với lực lượng lao động này thì nguy cơ chảy máu chất xám ở Việt Nam sẽ tương tự như các nước phát triển hiện nay

6) Vấn đề khung pháp lý:những chính sách liên quan chất lượng NNL, sử dụng NNL và chiến lược NNL

6.1 Về chất lượng NNL:

Thông thường khi đánh giá chất lượng nguồn nhân lực chúng ta chỉ xem xét thông qua hệ thống giáo dục quốc dân, thông qua số người được đào tạo, qua bằng cấp

mà người lao động có được, tuy nhiên, nếu chỉ xem xét như vậy thì chưa đủ Khi đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia phải được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau như thể lực, trí lực của lực lượng lao động

lực nghĩa là có sức khỏe tốt Song sức khỏe không chỉ đơn thuần là chuyện có bệnh hay không có bệnh mà bao gồm cả yếu tố tinh thần và xã hội Theo

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn

thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật” Như vậy sức khỏe là sự phát triển hài hòa cả về thể chất,

tinh thần và xã hội của con người

Về thể chất đó là sự cường tráng cơ bắp và khả năng vận động chân, tay; về tinh thần đó là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận động của trí tuệ, khả

Ngày đăng: 28/03/2016, 23:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng : NSLĐ các ngành giai đoạn 2006-2014 - Các vấn đề mới đang đặt ra đối với việc ra quyết định quản lý nguồn nhân lực cấp vĩ mô
ng NSLĐ các ngành giai đoạn 2006-2014 (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w