Nhiều yếu tố có thể tác động làm thay đồi giá thuốc thành phẩm, cả chù quan và khách quan, mồi yếu Hình Trị giá các thuốc tân dược nhập khâu nãm 2008 10 Hình Cơ cấu giá thành thuốc sản
Trang 11.4 Cơ CÁU GIÁ THÀNH THUÓC SẢN XƯẢT TRONG NƯỚC 11
1.2.1 Giá thành công xưởng 13
1.2.1.1 Chi phí nguyên phụ liệu 13
1.2.1.2 Chi phỉ tiền lương 14
1.2.1.3 Chi phí nghiên cứu vả phát triển 15
1.2.1.4 Khấu hao Tài sản cố định 16
1.2.1.5 Chi phí nhiên liệu 17
1.2.2 Chi phí lưu thông 18
1.2.3 Lại nhuận 18
1.2.4 Các loại thuế và các chi phí khác 19
1.5 NGUYỄN PHỤ LIỆU SẢN XUẤT DƯỢC PHÂM 21
1.3.1 Khái niệm và phân loại 21
1.3.1.1 Nguyên liệu chính 23
1.3.1.2 Tá dược, phụ liệu 25
1.3.2 Nãng lực cung ứng và nhập khầu nguycn phụ liệu 25
1.3.3 Cơ cấu và tỷ trọng nguyên phụ liệu 27
1.6 ] 4 MỘT SỐ ĐỀ TÀI LIÊN QUAN 29
1.4.1 Giả thuốc — cơ cấu, sự biến động và nguyên nhân biến dộng 29
1.4.2 Nguyên phụ liệu
— năng lực sản xuất và nhập khâu 31
1.7 Chuông 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 32
2.1 ĐỔI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 32
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cửu 34
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 34
Trang 22.2.2 Thu thập số liệu 34
2.2.3 Xử lý số liệu 35 1.8 Chuông 3: KÉT QUẢ 36 1.9 3.! KHÁO SÁT CÁC CHI PHÍ CẢU THÀNH GIÁ THÀNH THƯÔC 36 3.1.1 Cơ cấu giá thành sản xuất thuốc 3 6 3.1.1.1 Nhóm thuốc tân dược 36
3.1.1.2 Nhóm thuốc dược liệu 38 3.1.2 Cơ cấu giá bán buôn thuốc 40 3.2 PHẢN TÍCH Cơ CÁU NGUYÊN PHỤ LIỆU SẢN XUÂT THUỐC - 42 3.2.1 Cơ cấu nguyên phụ liệu theo công dụng 42
1.10 3.2.! 1 Nguyên phụ liệu sản xuất thuốc tân dược 42 3.2.1.2 Nguyên phụ liệu sản xuất thuốc dược liệu: 44 3.2.2 Cơ cấu nguyên phụ liệu theo nguồn gốc 45 1.11 Chương 4: BÀN LUẬN 49 4.1 VÈ Cơ CẤU NGUYÊN PHỤ LIỆU VÀ cơ CÂU GỈÁ THÀNH 49 4.1.1 Cơ cấu giá thành sản xuất thuốc 49 4.1.2 Cơ cấu nguyên phụ liệu sán xuất thuốc 51
4.2 VỀ Sự ẢNH HƯỞNG CỦA CHI PHÍ NGUYÊN PHỤ LIỆU ĐẾN cơ 1.12 CẤU GIÁ THÀNH 53
4.2.1 Thav đôi từ nhà sản xuất: 54
4.2.2 Thay đồi từ nhà nhập khấu:, 55
4.2.3 Thay đổi từ nhà bán buôn trong nước: 57
4.2.4 Các yếu tố khác: 57
1.13 KÉT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60 1.14 KÉT LUẬN 60
KI ÉN NGHỊ 61
a Đối với các doanh nghiệp 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC CÁC C HỮ VIÉT TẢT
: Bào hiểm xã hội Cổ phần Dược phầm Chi số giả tiêu dùng Chi phí lưu thông Thực hành tốt sản xuất thuốc (Good Manufacturing Practices) Giá thành công xưởng Nguyên phụ liệu Quản lý - bán háng
Nghiên cứu và phát triền (Research and Development) Tài sàn cố định Đồng Đôla Mỹ Đồng Việt nam
Tổ chức Y tế thế giới - World Health Organization Tồ chức Thương mại thế giới - World Trade Organization
Trang 4DANH MUC CÁC B ẢNG
Bảng 1.1 Chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm, y tế so với chỉ số giá
tiêu dùng (CPI) giai đoạn năm 2006 - 2008
6
Bảng L2 Doanh thu tiêu thụ thuốc trong nước năm 2001 - 2008 6
Bảng 1.4 Trị giá các thuốc tân dược nhập khấu năm 2008 9
Bảng 1.5 Lượng các nguyên phụ liệu nhập khau năm 2008 21
Bảng 1.6 Cơ cấu nguyên phụ liệu nhập khấu 10 tháng đầu năm
2008
24
Bảng 3.1 Cơ cấu giá thành sản xuất nhóm thuốc tân dược 36
Bảng 3.2 Cơ câu giá thành sản xuất nhóm thuốc dược Liệu 38
Bâng 4.1 So sảnh giá NPL nhập khẩu nãm 2008 so với năm 2007 54
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VÁN ĐÈ
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, đồng thời là công cụ thể hiện sức cạnh tranh trên thị trường của các Doanh nghiệp Giá cả hàng hóa có thể thay đổi tùy theo từng thời điếm, phụ thuộc nhiều yếu tố và được định ra theo những tiêu chí khác nhau sao cho bù đãp đù chi phí, có lài
và phải được khách hàng chấp nhận [19J Sự biên động của giá cá có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường nơi diễn ra việc trao đối hàng hóa, cũng như ánh hường đên các bên tham gia thị trường
Thuốc được buôn bán trao đổi trên thị trường như một loại hà na hóa, nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt Người trả tiền mua hàng lại không có dầy dù thông tin về hàng hóa, không đủ thẩm quyền lựa chọn sàn phàm thay thế Nhà sản xuất hoặc Doanh nghiệp phân phối thuốc dồng thời là người cung cấp thông tin, tư vấn sứ dụng và định giá hàng hóa mình có Mang cá ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa nhân đạo to lớn, giá thuốc không chi được điều tiết theo quy luật thị trường - bởi các yếu tố lợi nhuận, giá cả, cạnh tranh,
mà còn chịu sự quàn lý đặc biệt của nhà nước và các cơ quan có thâm quyên
Với năng lực cùa các Doanh nghiệp Dược trong nước, chúng ta vần phái nhập khẩu phần lớn thành phẩm thuốc (60%) và hầu hết nguồn nguyên phụ liệu sản xuất thuốc (90%) [12], [11], [1] Sự không chù dộng được nguồn nguyên phụ liệu và một số thành phẩm đã gây khó khăn trong việc kiêm soát giá thuốc đối với Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế và các bộ ngành liên quan
Nhiều yếu tố có thể tác động làm thay đồi giá thuốc thành phẩm, cả chù quan và khách quan, mồi yếu
Hình Trị giá các thuốc tân dược nhập khâu nãm 2008 10
Hình Cơ cấu giá thành thuốc sản xuất trong nước 12
Hình Lượng các nguycn phụ liệu nhập khẩu năm 2008 22
Hình Cơ cấu chỉ phi các loại NPL sản xuất thuốc tãn dược 43
Hình Cơ cấu chi phí các loại NPL sản xuất thuốc dược liệu 44
Trang 6tố có mức độ ánh hưởng khác nhau Nguyên phụ liệu luôn chiếm một tỷ trọng nhât định trong câu thành giá thuỏc thành phấm, với đa số nguyên phụ liệu nhập khâu từ nước ngoài, sự biển dộnu cùa cơ cấu và
tỳ trọng nguyên phụ liệu sẽ làm thay đổi giá nguyên phụ liệu - là
Trang 82 yếu tổ hàng đầu phải tính đến khi thiết lập kẻ hoạch sản xuất bất cứ một loại thuốc thành phẩm nào Một số đề tài nghiên cứu đã đề cập nghiên cứu dối tượng nguyên phụ liệu, tuy nhiên đa số không đề cập trực tiếp và chù yếu đến sự ảnh hưởng cùa nguyên phụ liệu đến cơ cẩu giá thành sản phẩm thuốc trong nước Chúng tôi tiến hành đề tài:
“PHÂN TÍCH Sự ẢNH HƯỞNG CỦA CHI PHÍ NGUYÊN PHỤ LIỆU ĐÉN Cơ CÁU GIÁ MỘT
SÓ THUÓC SẢN XUẢT TRONG NƯỚC”
Với 2 mục tiêu:
1 Khảo sát các chi phí cấu thành giá thành một số thuốc sản xuất trong
nước
2 Phân tích cơ cấu các nguyên phụ liệu sản xuất thuốc
Từ đó, giúp các nhà doanh nghiệp ốn định được mức giá ca hoặc co những biện pháp hạn chế sự biến động, khẳng định được lợi thế cạnh tranh cua mình trên thương trường Đối với các nhà quán lý, biết dược ty trọng ánh hưởng của các yếu tố cấu thành giá thuốc đến tay người tiêu dùng sẽ giúp dự báo xu hướng biến dộng, có hướng hạn che sự tăng giá của mặt hảng thuốc đồng thời tăng tính hiệu quả của những giải pháp bình ôn giá thuốc
Chuông 1: TỐNG QUAN 1.1 THỤC TRẠNG THỊ TRƯỜNG DƯỢC PHẨM
1.1.1 Năng lực sản xuất của các Doanh nghiệp Dược Việt Nam
Ngành Công nghiệp Dược Việt Nam hiện đang ớ mức 2,5-3 theo thang phân loại từ 1-4 cùa WHO - UNCTAD Nghĩa là mới chí dừng lại ớ bào chế chứ chưa có nghiên cứu và sản xuất các dạng thuốc mới [14] Việc chú yếu gia công và sản xuất thuốc từ nguyên liệu nhập khấu đã làm mất di thế chủ dộng và gần như “nhường” thị trường biệt dược cho hàng nhập khẩu Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là
do thiếu vốn, công nghệ và đối tác uy tín để dầu tư cho sản phẩm mới đạt chuẩn quốc tế
Theo qui định của Bộ Y tế, đến hết năm 2010 các Doanh nghiệp phái đạt GMP - WHO [14], [15] mới
đu điều kiện sản xuất thuốc dùng cho người Với năng lực và nguồn vốn còn hạn chế, qui định này trở thành khó khăn cho không ít doanh nghiệp Tính đến tháng 3/2009 đã có 92 doanh nghiệp dạt ticu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP); 92 dơn vị dạt tiêu chuẩn GLP; 110 đơn vị đạt GSP; việc triển khai
áp dụng GDP, GPP từ tháng 01 năm 2007 bước đầu dạt nhừng kết quả Và tất yếu, việc dầu tư cho dây chuyền sản xuất thuốc đạt GMP sẽ phải được cân nhắc sao cho nguồn vốn dầu tư không quá lớn, thời gian dầu tư không quá dài, trình dộ công nghệ không vượt quá tầm của người sứ dụng Chính vì thế, những dây chuyền san xuất các dạng bào chế đơn giản và phổ biến sê là lựa chọn an toàn và được ưu tiên Đây là xu hướng chung cho các Doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Bên cạnh đó, đối mặt với cơ chế thị trường với những quy luật khấc nghiệt của nó, với sự biến động không thể dự đoán và sự không bền của những chính sách quàn lý của nhà nước và các cơ quan liên quan, các Doanh nghiệp vừa phái tính đên yêu tố lợi nhuận, cạnh tranh, lại vừa phài đảm bảo tính xã hội và nhân đạo của sản phẩm thuốc
Trang 93 [19]
Trong xu thế hội nhập và mờ cửa nền kinh tế, và theo lộ trình căt giảm thuế suất nhập khẩu các mặt hàng trong đó có mặt hàng thuôc, đối thủ cạnh tranh sẽ nhiều hơn, tính chất cạnh tranh cùa thị trường dược sẽ ngày càng gay gẳt hơn Các Doanh nghiệp Dược trong nước nếu không muon thua ngay trên sân nhà thì phải nỗ lực rất nhiều trong tất cả các khâu Và thực tế, nhừng năm gần đây, các doanh nghiệp
đã có nhiều diều kiện thuận lợi dể dầu tư, dổi mới dây chuyền, thiết bị công nghệ bào che thuốc, sản xuất nhượng quyền các loại thuốc biệt dược , đã đa dạng hóa chủng loại, số lượng thuốc đặc biệt là nhóm thuốc dung dịch tiêm, kháng sinh, bột đòng khô Trong sô 1.500 hoạt chát có trong các thuôc đà đăng ký thì các doanh nghiệp dược trong nước dà có thê bào chế dược 773 hoạt chất Năng lực sản xuất của các Doanh nghiệp đanti dược nâng lên dần [ 15]
Sự phát triển cùa thị trường dược phẩm còn có được do mức sống ngày càng cao cùa người dân, cùng với đó là trình độ nhận thức và ý thức về việc chăm sóc sức khỏe cùa người dân ngày càng được chú trọng Chi phí thuốc men ngày càng được nâng lên, đến năm 2008 số chi tiêu cho tiền thuốc là hơn 16USD Sự quan tâm nhiều hơn đến vẩn đề chăm sóc sức khỏe được biêu hiện ơ tiền thuốc bình quân đầu người liên tục tăng qua các năm từ 2001 đen năm 2008 [15] Theo đó, mức chi phí cho tiền thuổc bình quân dầu người đã tăng với mức độ khá nhanh trong 2 năm 2007 - 2008
Trang 104
Năm
Hìnli 1.1 : Tiền thuốc bình quân đầu nguời qua các năm 2001 - 2008
Một thực trạng khác phản ánh năng lục sản xuất của các Doanh nghiệp Dược trong nước chưa cao là thuốc do các công ty dược trong nước sản xuất hiện mới chi chiếm khoảng 60% sản lượng tiêu thụ Nhưng 60% sàn lượng này cũng chi chiếm khoáng 40% về giá trị tiền thuốc Lý giai cho điều này là do
da số các mặt hàng trong nước sản xuất là thuốc thông thường nên giả không cao còn các mặt hàng chuyên khoa dặc trị thì phần lớn vẫn phái nhập khấu từ nước ngoài, giá cả cao hơn rất nhiều
1.1.2 Tình hình kinh doanh dưọ‘c phàm trên thị tru’ò*ng Việt Nam
Thị trường Dược phẩm Việt Nam hiện tại [141, [151, ni được đánh giá là một trong những thị trường
có nhiều biến động nhưng cũng nhiều khới sac Với mức tăng trường cùa thị trường đạt con sỏ ký lục 16
— 17%/nãm troníi giai đoạn 2003 - 2007, đạt quy mô 1,136 tỷ USD năm 2007 và con sổ này năm 2008
Trang 11
-5 7/10 về chỉ số giá của các nhóm hàng chủ yếu, giá thuốc đã phần nào được giữ ở mức binh ổn Đây được xếp là 1 Tổng kết công tác y tế năm 2008, công tác binh ổn giá thuốc được xếp là một trong 10 sự kiện ngành y tế và thị trường dược phàm năm 2008 nhìn chung ôn định, không có hiện tượng tăng giá dồng loạt, đột biến hoặc tăng giá bất hợp lý [27], [1] Chi số giá nhóm hàng dược phẩm, y tế so với chỉ
số giá tiêu dùng chung của xã hội (CPl) giai đoạn 2006 - 2008 được thể hiện ở bảng dưới:
Bảng 1.1 : Chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm, y tế so vói chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) giai đoạn năni 2006- 2008
Thị trường dược phẩm trong nước cùng liên tục tăng trưởng qua các năm Từ 422
triệu USD năm 2001 đã tăng lên thành Itỷ 340 triệu USD năm 2008 - tăng trưởng
gấp 4 lần sau 8 năm Đây là mức tăng trưởng đáng nói dối với ngành kinh tế dược
non trẻ như ngành dược Việt Nam Con so doanh thu tiêu thụ thuôc từ năm 2001
đên năm 2008 được thê hiện ớ bàng dưới:
Báng 1.2: Doanh thu tiêu thụ thuốc trong nước năm 2001 - 2008
520,0
625,0
726,0
818,0
1.114,0
Trang 126 Doanh thu tiêu thụ thuốc liên tục tăng thể hiện rằng thị trường dược phẩm Việt Nam đã và đang phát triển tích cực và bền vững
Hình 1.2: Doanh thu tỉcu thụ thuốc trong nu'ó'c từ năm 2001 — 2008
Trong khi đó, từ năm 2001 đến năm 2007 thị trường dược phẩm thế giới cũng tăng trưởng đều Con sổ tăng trưởng cao nhất là 10,30% ơ năm 2003, các năm sau 2003 tỷ lệ tăng trưởng có xu hướng giảm dần,
và thấp nhất ở đáy là năm 2007 với 6,40% Chi tiết được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bang 1.3: Doanh thu tiêu thụ thuốc thế giói
428,0 499,0
Năm
Trang 137 Tương quan về tốc độ tăng trướng cũa thị trường Dược phẩm Việt Nam và thị trường dược phẩm thế giới trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến 2007 được thể hiện ờ hình dưới đây:
-♦-Dược VN
Dược TG
Hình 1.3: So sánh tăng trưỏng thị truòng dưọc Việt Nam và thế giói
Trong cả nước có rất nhiều trung tâm kinh doanh dược phàm lớn các Văn phòng dại diện cùa nhiều nhà cung càp nước ngoài, các hãng dược phâm, các công ty phân phối, đại lý - nhà thuốc tư nhân và các
cơ sờ y tá địa phương Sự phong phú trong hệ thổng phân phối về số lượng, các loại hình, các dổi tượng tham gia, các phương thức phàn phối và các đối tượng chi phôi dến các hoạt động phân phối dược phẩm vừa là điểm mạnh nhưng cùng là điểm yểu trong hệ thống phân phối thuốc cùa Việt Nam [ 15]
Thuận lợi cho người tiêu dùng vì có thể mua thuốc ờ bất kỳ đâu hầu hết các loại thuốc nhưng cũng bất
lợi vì người sử dụng phai mua thuôc với những mức giá không đánh giá dược và chất lượng không thể kiểm soát dược
Đối với các nhà quản lý chính sách dược và y tế, việc quản lý và kiếm soát giá dược phẩm trở nên khó khăn và ít khả thi hơn [10], [30], [32J
Thêm vào đó, tình hình nhập khẩu các thuốc thành phẩm cũng có những ảnh hưởng to lớn đốn thị trường dược phấm trong nước [1] Trong nãm 2008 trị giá nhập khẩu thuốc thành phấm dã dạt 849,2 triệu USD tăng gần 30% so với năm trước Nguyên nhân chính khiến trị giá nhập khâu tăng trước hết
là do thuốc sản xuất trong nước chưa chiếm lĩnh được thị phần, hơn nừa, các doanh nghiệp tham gia nhập khẩu thuốc vẫn đang gia tăng cả về sô lượng và trị giá nhập khấu
Trị giá các thuốc thành phẩm tân dược nhập khẩu trong năm 2008 dược thể hiện chi tiết ở bảng và hình dưới dây:
Trang 148
Hình 1.4 Trị giá các thuốc tân duọc nhập khấu năm 2008
Bảng và hình trên thể hiện rằng: trị giá nhập khẩu thuốc thành phẩm tân dược các tháng trong năm hầu hết đều cao hơn 50 triệu USD, trừ tháng 2 thấp nhất với trị giá 48,9 triệu USD Đặc biệt, tháng cuối năm cao nhất với con số 92,7 triệu USD Thuốc là sản phẩm có tính chất theo mô hình bệnh tật, phụ thuộc khá lớn theo thời tiết, theo mùa
Trong gần 20 nghìn lô hàng thuốc thành phẩm nhập khấu thuộc các nhóm khác nhau thì 3 nhóm dẫn dầu về kim ngạch là: Kháng sinh, chuyến hóa dinh dưỡng và tim mạch Con số thống kê 10 tháng đẩu năm 2008, kim ngạch nhập khẩu nhóm kháng sinh đạt 101,8triệu USD, nhóm chuyển hóa dinh dường đạt 82,3 triệu USD và nhóm thuốc tim mạch đứng ờ vị trí thứ 3 với kim ngạch nhập khâu đạt 66 triệu USD
1.2 Cơ CÁU GIÁ THÀNH THUÓC SẢN XUẤT TRONG NƯỚC
Các yếu tố cấu thành giá thuốc thành phẩm sản xuất trong nước bao
gồm:
- Giá thành công xưởng (giá thành sản xuất)
- Chi phí lưu thông
- Lợi nhuận
- Các loại thuế và chi phí khác
Cơ cẩu này được sơ đồ hóa ở hình dưới dây:
Báng 1.4 Trị giá thuốc tân dược nhập khẩu năm 2008
_ Đơn vị: triệu USD
nhập khẩu Tháng
Trị giá nhập khẩu
Trang 15CHI PHÍ SẢN XUẤT
CHI PHÍ QUẢN
LÝ - BÁN HẢNG
LỢI NHUẬN
- Chi phi công đoàn
Các chỉ phi khác trong sản xuất:
- Chi phí nghiên cứu và phát triển
- Chi phí nhiên liệu
- Các chi phí bằng tiền khác
Hình 1.5: Cơ cấu giá thành thuôc sản xuất trong nước
Trang 1713
1.2.1 Giá thành công xưỏng
Giá thành công xưởng (giá thành sán xuất) là chì tiêu phản ánh tất cà nhưng chi phí phát sinh liên quan trực tiêp đen việc sản xuât, chê tạo sán phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất [6] Bao gồm: giá trị nguyên phụ liệu, động lực, khấu hao tài sản cố dịnh, tiền lương, bao hièm xã hội và các chi phí bằng tiền khác Trong GTCX không bao gồm chi phí ngoài sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm của cơ
sở sản xuất GTCX là bộ phận quan trọng cùa giá thành sán phẩm thề hiện tổng hợp chất lượng của công việc trực tiếp sản xuất và các mặt kinh tế - xã hội khác
GTCX của thuốc là toàn bộ các chi phí như: nguyên phụ liệu sán xuât thuốc, bao bì, khấu hao tài sàn
cố định, chi phí nhân công sản xuất thuốc, các chi phí bằng tiền khác
Nguyên phụ liệu (hay nguyên vật liệu) là đối tượng lao động dà được thẻ hiện dưới dạng vật hóa Khác với tư liệu lao động, NPL chỉ tham gia vào một chu kỳ sán xuất nhất định và khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác động của lao động, chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đôi hình thái vật chât ban đầu
đế tạo hình thái vật chất của sản phẩm NPL là một yếu tố không thể thiểu cùa quá trình sản xuất kinh doanh ớ các doanh nghiệp [6J
Đối với ngành dược phẩm, NPL là cấu thành vật lý của thuốc, là yếu tố hàng đẩu phải tính đến khi thiết
kế một công thức thuốc và hạch toán các chi phí để tính giá thành sản phẩm thuốc NPL thường chiếm một tỷ trọng tương dối lớn trong cơ cấu giá thành, thậm chí đến 70% trong công thức thuốc tân dược, trong đó chủ yếu là các thuốc hóa dược - sự phụ thuộc vào ngành hóa dầu là rất lớn Đa số các NPL sàn xuất dược phẩm đều phải đáp ứng nhừng tiêu chuấn về chất lượng mang tính quốc tế và quy trinh kiêm tra chât lượng NPL trước khi đưa vào sản xuất là quv trình bắt buộc [11], [8]
Chi phí NPL được hạch toán vào GTCX cua thuốc bao gôm: don giá mua NPL, chi phí vận chuyển NPL và các chi phí phát sinh khác
Trong những năm gần đây có sự biến động rất lớn cả về cơ cấu và tỷ trọng NPL dùng trong sản xuất thuốc tân dược Sự biển dộng này sẽ dẫn đên thav đối mức chi phí NPL trong cơ cấu giá thành sản phẩm thuốc - một trong những nguyên nhân dẫn đến biển động giá thành phàm thuôc
/.2 ỉ 2 Chi phỉ tiền lương
Tiền lương là biểu hiện bàng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người Lao dộng theo thời gian, khối lượng công việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp [6] Tiền lương là nguồn thu nhập chú yếu cùa người lao động, các doanh nghiệp sử dụng tiền lương làm đòn bẩy kinh tế dể khuyến khích tinh thẩn tích cực lao dộng, là nhân tố thúc đấy để tăng năng suất lao động Đối với các doanh nghiệp, tiền lương phải trả cho người lao dộng là một yếu tố cấu thành nên giá trị sản phấm, dịch vụ của doanh nghiệp Vì vậy, chi phí nhân công trực tiếp (chi phí tiền lương) được tính vào cơ cấu giá thành xuất xưởng đối với các doanh nghiệp sản xuât nói chung và các doanh nghiệp
Trang 1814 sản xuât dược nói riêng
Tiền lương bao gồm: lương chính, lương phụ và các khoản phụ cấp (phụ cấp dộc hại, phụ cấp làm đêm hoặc làm thêm giờ ) cộng với các khoản dóng góp khác như BHXH, BHYT, chi phí công đoàn Theo các nghiên cứu đã được tiến hành [11] thì chi phí tiền lương trong sản xuất thuốc trong nước hiện đang ờ mức trung bình và thấp khi so sánh với ớ các nước trên thế giới, con số này thường chiếm 15-40% giá thành sàn xuất
Mức tăng thu nhập cùa nhản công ngành duợc ngày càng được nâng lẻn dần để đáp ứng với những yêu cầu khá cao và đặc trưng cùa những họat động lao động trong sản xuât thuốc
Nghiên cứu và phát triển là khâu đầu tiên cùa việc dịnh hình và ra đòi một sản phấm mới Tại các nước phát triển, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) trong ngành dược rất dược chú trọng Từ năm
2002, các công ty dược phẩm đa quốc gia có xu hướng triên khai hoạt động R&D ở nước ngoài nhiều hon, đặt biệt là tại các nước trong khu vực Châu Á và các nước dang phát triến do chi phí nhân công rẻ Chi phí cho nghiên cứu và phát triển mà các công ty này bỏ ra thường chiếm 5-20% doanh số bán [15], [ 1 ]
Tuv nhiên, với một nước đang phát triên như Việt Nam, chi phí nhân công rẻ nhưng đầu tư nước ngoài trong hoạt động R&D tại Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng của ngành Nguyên nhân là do quy dịnh về đầu tư và sán xuất của đối với ngành dược phẩm vẫn tồn tại một số rào cán đôi với các nhà đầu
tư Có thề kể đến các rào cản như: các Doanh nghiệp dược 100% von nước ngoài vẫn chưa được phép thành lập trước 1/1/2009, trừ khi dã có nhà máy sản xuất tại Việt Nam hoặc liên doanh với một Doanh nghiệp dược nội địa; hạn chế việc các công ty nghiên cứu và phát triển dược phẩm hoạt động một cách toàn diện; một số quy định về thừ nghiệm lâm sàng trước khi đăng ký thuốc mới, giấy chứng nhận dược phẩm cùng với việc kiểm dịnh vắc xin và sinh phẩm y tế nhập khâu vào Việt Nam, báo hộ quyền sờ hữu trí tuệ chưa phù hợp với quy định chung của quốc tế
Trong khi chi phí này đối với các hàng sản xuất dược phẩm lớn được coi là sự đẩu tư lâu dài và bền vững cho ngành công nghiệp sản xuất dược phấm, thì tại Việt Nam, đây lại là một chi phí ít được chú trọng đối với hau hết các sán phẩm thuốc tân dược [36] Đầu tư cho nghiên cứu và phát triên dổi với các doanh nghiệp sản xuất Dược Việt Nam hiện mới chi ơ mức khiêm tốn và hầu hết chi là hoạt động đề tạo
ra các dạng bào chế ôn định từ các hoạt chất gốc có tác dụng điều trị
Đẻ ngành Dược Việt Nam bẳt kịp với nhịp phát triển cua ngành kinh tế dược thế giới, việc khuyến khích đầu tư cho họat dộng R&D là cần thiết Chi phi đầu tư cho hoạt động này đã được khuyến khích đến 25% doanh số bán
Các Tài sàn cổ định sử dụng sau một thời gian sẽ bị hao mòn, mức hao mòn này phải được tính vào chi phí trong quá trình hạch toán giá thành Các tài sản cố định trong các dây chuyền sản xuất thuốc
Trang 1915 thường là máy móc, nhà xương (thuộc các loại Tài sản hữu hình) và các hợp đồng chuyến giao khoa học công nghệ, các bảo hộ độc quyên sáng chê, các đê tài ứng dụng khoa học công nghệ của các đề tài
và các công trình nghiên cứu khoa học lớn (thuộc các loại Tài sản vô hình) [6]
Khấu hao TSCĐ chính là việc tính toán và phân bô một cách có hệ thống nguyên giá cùa TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng thời kỷ hoạch toán Có nhiều cách tính khấu hao TSCĐ: phương pháp khấu hao đường thẳng, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chinh và phươne pháp khấu hao theo số lượng sản phâm
Việc đầu tư cho các dây chuyên sản xuât mới, đạt tiêu chuân GMP — WHO sẽ là việc phải làm trước mẳt đối với các Doanh nghiệp sán xuất thuốc dùng cho người Đây là một sự đầu tư không nhỏ đối với quy mô hiện tại cúa các Doanh nghiệp và của cả thị trường dược phẩm Việt Nam Con số ước tính trung binh cho việc xâv dựng và thẳm định một dây chuyền san xuất đạt tiêu chuẩn được đưa ra thấp nhất là khoảng 20 tỷ dồng tuỳ thuộc quy mô của dây chuyền mà doanh nghiệp quyết định dầu tư Và tất yếu, khấu hao TSCĐ sẽ tăng dần trong tỳ trọng chi phí cấu thành giá thành sản phẩm
Nhiên liệu là yểu tố đầu vào không thể thiếu đổi với quy trình sản xuất dược phẩm Các nhiên liệu dược dùng trong quy trình chiết xuất và chế biến dược liệu, trong vận hành máy móc ở các công đoạn của quy trình sản xuất thuốc Các nhiên liệu thường dùng bao gồm: điện, xăng dầu, than dá Sự bicn động của giá những loại nhiên liệu nay đóng góp vào sự biến động cua giá dược phâm sản xuất trong nước
Trong năm 2008, có 3 đợt biến dộng giá xăng dầu, theo dó giá xăng dâu và nhiên liệu trong nước được điều chỉnh theo giá thị trường thế giới Sự thay đổi chi phí nhiên liệu là một trong nhừng nguyên nhân làm thay đối giá thành thuốc sản xuất trong nước đồng thời cũng làm thay dối giá thành các thuốc nhập khẩu - tạo nên xu hướng tăng giá thuốc
Theo đó, sau 3 lần diều chinh, giá xăng dầu và nhiên liệu dã tãng gân 30%, như vậy mức chi phí nhiên liệu trong cơ cấu giá thành cũng sẽ tăng theo tý lệ tương ứng Đồng thời khi giá nhiên liệu tăng dẫn đến tăng chi phí vận chuyển, tăng giá của các mặt hàng thiết yếu tạo xu hướng tăng giá chung cùa các mặt hàng còn lại
Ngoài ra, còn những chi phí khác cấu thành nên giá thành công xưởng của các sán phấm thuốc như: chi phí vật rè tiền mau hóng, các vật liệu, công cụ dụng cụ dùng trong phân xưởng, chi phí sửa chữa TSCĐ thuê ngoài, chi phí hội nghị, lề tân, tiếp khách của phân xướng, bộ phận sán xuất
ý# 1.2.2 Chi phí luu thông
Chi phí lưu thông là biểu hiện bàng tiền cùa hao phí lao dộng trong quá trình đưa sản phẩm từ nơi sản xuât đên tay người tiêu dùng Các chi phí này phát sinh trong quá trình tiêu thụ, thực hiện giá trị hàng hoá
Trang 2016 Nếu phân loại theo tính chất thì chi phí lưu thông bao gồm chi phí lưu thông thuần tuý và chi phí lưu thông bổ sung Chi phí lưu thông thuần tuý là các chi phí chi có quan hệ với việc mua và bán hàng (như chi phí sổ sách, kế toán, quàng cáo, tiền lươne cùa nhân viên bán hàng ); các chi phí này không làm tăng thêm giá trị hàng hoá Chi phí lưu thông bồ sung là chi phí đê tiếp tục thực hiện quá trình sản xuất trong lưu thông (như dỏng gói, bao bi, vận chuyền, bảo quản hàng hoá ); các chi phí này có tính chất sán xuất và làm tăng giá trị hàng hoá [6]
Ncu phân loại theo mối quan hệ với doanh số thi chi phi lưu thông bao gồm chi phí lưu thông trực tiếp
và chi phí lưu thông gián tiếp
Nếu phân loại theo công dụng có: chi phí vận chuyến, chi phí chọn lọc vả dóng gói hàng hóa, chi phí
hư hao trong phạm vi dịnh mức, chi phí quán
lý
1.2.3 Lọi nhuận
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng từ hoạt động sản xuất kinh doanh Đày là chỉ tiêu chất lượng
để đánh giá hiệu quá kinh te các hoạt động cùa doanh nghiệp Lợi nhuận là khoán tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra đê đạt được doanh thu đó từ các hoạt động cùa doanh nghiệp dưa lại
Lợi nhuận hay lợi nhuận dự kiến mà các doanh nghiệp sử dụng đố tính toán giá thành sản phẩm thường được đưa ra phụ thuộc nhiều yếu tố
Trong đó, trước hết phải kể đến yếu tố độc quvền trong sản xuất và phân phối sản phâm Yếu tố thứ hai phải tính đến là mức độ dầu tư cho sản phầm và mức bù đấp các chi phí sán xuất sản phẩm.Yếu to tiếp theo là sự biến động của thị trường và nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng
Qua các kháo sát cho thấy tỷ lệ lợi nhuận thông thường trung bình mà các doanh nghiệp dược Việt Nam đạt dược (và/hoặc đặt ra) nằm trong khoảng: 5-10% đối với hàng nhập khẩu, và khoảng 10-12% đổi với hàng sản xuất trong nước Trong các khâu cùa quá trình lưu thông thuôc, lợi nhuận được dặt ra
ở các mức khác nhau: không quá 35% đối với bán buôn, không quá 20% dối với bán lẻ [24], [33] Với mức lợi nhuận được đưa ra như trên, nếu so sánh với các ngành kinh doanh khác, ngành dược phẩm không phải là ngành san xuất siêu lợi nhuận Tuy nhiên, do tính đặc thù là một ngành kinh doanh
mà giá cả do người bán đặt ra, việc trao đổi hàng hóa hầu như sẽ không bao gồm quyền thương lượng giá cả, thì ngành dược vẫn có rất nhiều lợi thế
1.2.4 Các loại thuế và các chi phí khác
Thuốc cũng như các hàng hoá khác, cũng phải chịu mức thuê suất áp dụng chung - hoặc thấp hơn đối với các thuốc nằm trong danh mục thuốc ưu đãi về thuế suất Các loại thuế áp dụng cho dược phẩm và các nguyên phụ liệu sứ dụng dùng cho sản xuất thuốc bao gồm: thuế suất thuế nhập khấu (đối với hàng nhập khấu), thuế giá trị gia tăng (đối với bất kỳ sản phẩm nào lưu thông trên thị trường) nếu có phát sinh giá trị so với giá trị ban đầu của hàng hoá
Trang 2117 Như vậy, đối với các Doanh nghiệp nhập khẩu thuốc thành phẩm: khi hạch toán vào giá bán, thuế nhập khấu dương nhiên nằm trong cơ cấu giá thành Còn thuế Giá trị gla tăng - sê được khấu trừ lại cho các Doanh nghiệp nhưng người tiêu dùng lại phải chi trà, nên đương nhiên cũng là một trong những yểu tố ảnh hường đến giá thành Điều này xảy ra tương tự với các Doanh nghiệp sán xuất thuốc trong nước Vì các doanh nghiệp phải mua nguyên phụ liệu (bằng nhập khấu trực tiếp hoặc phải mua lại từ các Doanh nghiệp phân phoi trong nước) thì chi phí nguyên phụ liệu đã bao gồm các thuế và các loại chi phí khác Cam kểt gia nhập WTO, năm 2010 sẽ là năm áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với hầu hết các sản phẩm thuốc và nguyên phụ liệu làm thuốc Sẽ có 3 dòng thuế mức thuế suất nhập khẩu giảm, mức giảm 5% với thời gian cam kết thực hiện từ 3-5 năm Do trước và sau khi gia nhập WTO, thuế suất nguyên liệu chủ yếu là 0% nên sẽ không có anh hưởng nhiều dến các doanh nghiệp sản xuất phải nhập khẩu nguyên liệu tuy nhiên sẽ gây ảnh hưởng lớn tới một số doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu của Việt Nam Sau khi gia nhập WTO sẽ có 47 dòng thuế có mức thuế suất thuế nhập khẩu giảm, đó là các dòng thuế hiện có mức thuế nhập khẩu là 10% và 15%, thời gian cam kết thực hiện từ 2-5 năm (trung bình là 3 năm), mức giảm từ 2-7% (trung bình là 3%), một số dòng thue chính đó là nhóm kháng sinh (18/29 dòng thuế), nhóm vitamin (4/9 dòng thuế) Việc giảm thuế suất thuế nhập khấu một số dòng thuế sẽ là thách thức cho các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm trong nước trong việc cạnh tranh với thuốc nhập khẩu
từ nước ngoài [20], [21 ]
Hơn nữa, việc Việt Nam gia nhập WTO có những ảnh hường nhất định đến ngành dược Bên cạnh những thuận lợi về môi trường đầu tư, tiếp cận công nghệ mới, đón một lượng vốn đau tư lớn, có cơ hội lựa chọn nguôn nguyên liệu đa dạng với chi phí hợp lý, ngành dược phải đối đâu với không ít khỏ khăn như: năng tực cạnh tranh yếu, thiếu hiểu biết các quy định về sơ hữu trí tuệ; thiếu von, kỹ thuật công nghệ; đổi mặt với các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài trên một sân chơi binh đắng khi chính phù cam kết giảm thuế suất thuế nhập khẩu; nới lòng chính sách với các doanh nghiệp nước ngoài
1.3 NGUYÊN PHỤ LIỆU SẢN XUẤT DUỌC PHẨM
1.3.1 Khái niệm và phân loại
Nguyên phụ liệu là yếu tố cơ bản và chiếm tỷ trọng cao nhất trong chi phí sản xuất ra một thành phẩm thuốc, từ đó ảnh hưởng đến giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) và giá thành tiêu thụ thuốc - tức
là giá thành thuốc dến tay người tiêu dùng
NPL dùng cho sản xuất trong nước có đến 90% là từ nhập khâu Theo thống kè trong năm 2008, lượng NPL nhập khẩu vào Việt Nam được thế hiện ớ bảng dưới đây:
Trang 22Tháng
Lưọ’ng nhập khẩu (tấn)
Trang 2319
Qua đó có thể nhận thấy rằng lượng các NPL nhập khâu cao ỡ nửa đẩu năm 2008 - lượng gấp đôi so với nửa đầu năm Tháng đạt kỷ lục là tháng 3 với lượng nhập khẩu lẽn đến hơn 800 tấn Trong khi đó, tháng thấp nhất trong năm là tháng 11 thì con số này chi đạt 185.8 tấn bằng l A so với tháng cao nhất
Nguyên phụ liệu bao gồm có nguyên liệu chính, tá dược và bao bì [19] Cụ thể:
- Nguyên liệu chính: là thành phần chính tạo ra lác dụng trong một công thức thuốc Nguyên liệu
chính thường có tỷ lệ không lớn trong các thành phần của một công thức thuốc, nhung cũng thường là thành phần chiếm tỷ trọng giá trị lớn trong cơ cẩu giá thành thuốc
- Tá dược: thành phần được thêm vào để đảm bảo công thức thuốc, tuy không có tác dụng điều trị
nhưng nó góp phần tạo ra một công thức thuốc theo dạng bào chế mà nhà sản xuất mong muốn
- Bao bì: đồ bao gói có tác dụng bao vệ, tạo dạng dùng cho thuốc, các sản phẩm bố trợ Ngoài ra
còn có vai trò thấm mỹ và tạo thương hiệu cho sản phẩm
Trong phạm vi đề tài, khái niệm nguyên phụ liệu chúng tôi chủ yếu quan tâm đên Nguyên liệu chính
và tá dược
1.3.1.1 Nguyên liệu chỉnh
Các nauyèn liệu sản xuất thuốc phần lớn được xét phân loại theo nhóm tác dụng dược lý Theo Quyết định số 05/2008/QĐ-BYT ngày 01 tháng 02 năm 2008 về danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sờ khám chừa bệnh, có 27 nhóm điều trị, trong đó 3 nhóm điều trị chủ yếu là Kháng sinh, hạ nhiệt giảm đau và Vitamin Theo thống kê, các nguyên liệu sử dụng cần phải nhập khấu chiếm tỷ lệ lớn
Trang 2420 trong những năm qua (thường đạt đến con sổ trên 75%) [1]
- Kháng sinh: Là một loại hoạt chất thuốc phổ biến đối với một nước có mô hình bệnh tật mà bệnh
nhiễm khuân chiếm một tỷ lệ tương dối lớn như Việt Nam Lượng nguyên liệu kháng sinh trong nước
tự bán tổng hợp và sản xuất dược chi chiếm một tỷ lệ khiêm tổn, và chủ yếu là các kháng sinh đơn giàn, the hệ cũ, hiệu lực kháng khuân không cao Lượng kháng sinh nhập khâu hàng năm đều dẫn đầu về trị giá hảng nguyên liệu nhập khẩu [11], [12], [34]
- Các vỉtamin: xu hướng sử dụng ngày càng nhiều các loại vitamin và khoáng chất Với tâm lý cho
rằng đây là thuốc bổ, lại không cần kê dơn nên đa số các loại vỉtamin và khoáng chất được sử dụng thường xuyên và cho nhiều đối tượng Nhu cầu sử dụng vitamin và các khoáng chất làm cho sản xuât trong nước các thành phẩm thuộc nhóm này thật sự tiềm năng Lượng nguyên liệu vitamin và khoáng chất nhập khấu trong những năm vừa qua cũng vì thể mà luôn thuộc nhóm dần đầu trong các nguyên phụ liệu nhập khấu [1]
Trang 2521
- Họ nhiệt giảm đau: lả loại hoạt chất thông thường và phô biến Loại thuốc này thường được người sử
dụng mua về dùng mà không cần có hướng dẫn của thay thuốc Luôn xuất hiện trong nhóm dẫn đầu về lượng và kim ngạch nhập khâu chì sau nhóm Kháng sinh và nhóm Vitamỉn [ 1 ]
Tống hợp lượng và trị gỉá NPL nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2008 được thế hiện ở bảng:
Tỷ lệ (%)
Trang 2622 Chi trong 10 tháng đầu nãm 2008, các NPL nhập khâu với mục đích làm nguyên liệu chính trong thành phần công thức thuốc đã đạt con so MOtriệu USD, trong đó dẫn đầu là nhóm kháng sinh với khối lượng 1.635.170kg chiếm tỷ lệ 53,9%, tiếp theo là nhóm vitamin với tý lệ đến 21%, nhóm Hạ nhiệt giảm đau 7%, và các nhóm diều trị còn lại với tống là 18%
7.3.1.2 Tá dược, phụ liệu
Các loại NPL được đưa vào sản xuất thuốc thường được chia thành các loại theo những tiêu chi khác nhau về bào chế, công dụng và nguôn gôc Tá dược dùng sán xuất thuốc chia theo công dụng có nhiều loại như dộn, rà, dính, trơn và tá dược bao; chia theo công dụng trong dạng thuốc có: tá dược thuổc viên, bột, mỡ, kem, gel và tá dược các loại thuốc lỏng
Trong tổng lượng nhu cầu tương đối lớn về tá dược và phụ liệu làm thuốc thì nguồn sản xuất trong nưóc chi chiếm một tỳ lệ rất nho - khoảng 10% Và cùng chủ yếu là các loại tá dược đơn giản, phổ biến
và trị giá thấp như Tinh bột sấn, đường, bột Tale, các loại hoá chất tinh khiết tinh chế và hoá chất cơ bản [11], [12]
Đa số (90%) nguồn NPL được nhập khẩu từ thị trường các nước trên thế giới - trong đó có các thị trường lớn như Trung Quốc, Ân Độ, Singapore và Dông Âu [ 1 ] Các tá dược nhập khâu thường là những loại tá dược có trình độ khoa học công nghệ cao về bào chê, độ tinh khiêt, các đặc tính ôn dịnh
và vì thê giá thường cao
1.3.2 Năng lực cung ứng và nhập khấu nguyên phụ liệu
Tại Việt Nam, tính đến tháng 10 năm 2008 đã có 178 doanh nghiệp sán xuất dược, 89 dơn vị nhập khẩu, 800 đơn vị kinh doanh mặt hàng nguyên phụ liệu sản xuất Dược, gần 40.000 cửa hàng bán lẻ, 439 công ty nước ngoài đăng kí kinh doanh trong lĩnh vực dược đã góp phần cung ứng hơn 1 tỷ 340 triệu USD tiền thuốc cho nhân dân, trong dó thuốc trong nước chiếm gần 60% Tuy nhiên chi có duy nhất một Doanh nghiệp là Công ty cổ phần Dược phẩm Sao Kim Pharma vừa được chính thức công nhận đạt tiêu chuân GMP về nguyên phụ liệu Dược [16]
Đa số nguồn NPL đang được nhập khâu từ các thị trường lớn từ hơn 50 nước trên thế giới như Trung Quốc, Àn Độ, Singapore và khu vực EU Trong đó, đôi với nguyên liệu kháng sinh - mặt hàng nguyên liệu luôn dân dầu trong nhóm các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu thi các thị trường cung cấp lớn nhất (tính đến hết tháng 10 năm 2008) là: Ấn độ (29,2% tổng lượng, 38,7% tổng kim ngạch), Trung Ọuổc (35,9% tổng lượng, 26,2% tổng kim ngạch), và khu vực EU (21,4% tổng lượng, 25,0% tồng kim ngạch) [1] Trong nước, một số đơn vị đã tự sản xuất và bán tồng hợp được một số nguyên liệu như artemisinin, artesunat, berberin, palmatin, Amoxicilin, Ampicilin Đây thực chất vẫn chi là một số lượng rất nhỏ, đa
số là những nguyên liệu thông thường: kháng sinh, các hoạt chất chiết xuất từ dược liệu Đặc biệt có những sản phẩm chiết xuất từ Thanh hao hoa vàng của Công ty Cổ phần Dược phẩm Sao Kim và Trường Đại học Dược Hà Nội đã đạt tiêu chuấn xuất khẩu Lượng các hoạt chất chống sốt rét được chiết xuất từ Thanh hao hoa vàng và dược tinh chế được xuất khấu đến các thị trường châu Âu, châu Á và châu Phi
— một trong những nhà sản xuất và xuất khâu dẫn dâu thế giới về các hoạt chất chống sổt rét
Trang 2723 Như vậy 90% nhu cầu nguyên liệu còn lại cho sản xuất trong nước sẽ phải nhập khau Và tính không chù động được nguôn cung câp, không chi phối và kiểm soát được giá cả của chúng sẽ dẫn đến việc không dự kiến và đối phó được với sự biến động của chi phí cấu thành chủ yếu nên giá thuốc này Trong khi đó, cũng tồn tại một nghịch lý là: các loại NPL sản xuất trong nước thường có giá cao hơn giá nhập khẩu mà chất lượng lại khỏng cao hơn, độ ồn định không tốt hơn cùa mặt hàng nhập khẩu cùng loại nên không khuyến khích được việc sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước cho sản xuất thuốc
Hàng năm con sổ các nhà nhập khẩu NPL dược cũng tăng lên, kim ngạch và sản lượng nhập khẩu cùng tăng theo mức tăng của nhu cẩu trong nước Tổng hợp 10 tháng đầu năm 2008 cho thấy [1]: lượng nhập khẩu nguyên phụ liệu giảm 14,0% so với cùng kỳ năm 2007 nhưng kim ngạch nhập khâu ước tính lại tăng 4,5%
Tuy nhiên, vấn đề khó khăn lớn nhẩt đối với các DN nhập khâu NPL thuốc lại không phải là vấn đề cỏ thể giải quyết được trong thời gian ngắn, đó là: sự không chù dộng được nguồn ngoại tộ dẫn đến phụ thuộc vào sự biển động của tỳ giá ngoại tệ thanh toán, sự biển động chung của nền kinh tế thế giới và Việt Nam, năng lực cùa chính các DN nhập khấu Đoi với một DN Dược hàng đầu trong nước như Dược Hậu Giang cũng không thể tránh khỏi những vấn đề không thuận lợi trên trong quá trinh kinh doanh nói chung và trong hoạt động nhập khấu, trong đó riêng chênh lệch tỷ giả quý 11/2008 so với quý 1/2008 đâ ở con số ký lục 1864%
1.3.3 Co' cẩu và tỷ trọng nguyên phụ liệu
NPL là thành phần cấu thành vật lý của một sản phẩm thuốc nên sụ biến động của chi phí NPL và tỷ trọng chi phí NPL trong cơ cấu giá thành thuốc có anh hưởng trực tiếp đến sự biến động giá thuốc
Tý trọng chi phí NPL trong giá thành thuốc thành phấm trong những năm gần đây có biến động rất lớn,
sự biến động này phụ thuộc rất nhiều yếu tố Nguồn NPL dùng sản xuẩt thuốc trong nước chủ yếu phải nhập ngoại, chịu sự ảnh hường diễn biến chung của thị trường thế giới Trong nước chúng ta mói chù động được khoáng 10% nhu cầu NPL dược phấm [1], [11], [12]
NPL thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành tiêu thụ của thuốc Tý trọng chi phí NPL sẽ không giông nhau đôi với các thành phàm ơ dạng bào chế khác nhau Mức độ hiện đại, tính phức tạp và tình trạng hiếm có cua dạng thuốc, của hoạt chất thuốc, của các tá dược và bao bì sử dụng sẽ quyết định tý trọng chi phí cùa chúng trong giá thành sàn phẩm
Cơ cấu NPL là tống hợp đầy đủ cúa các loại NPL dùng trong sản xuất thuốc Qua cơ cấu này có thể nhìn thấy rõ NPL nào là chú yếu cần cho sản xuất thuốc trong nước, thuộc loại NPL nào (nguyên liệu chính, tá dược hay phụ liệu), chủ yếu dùng cho dạng bào chế nào, nguồn gốc sản xuất trong nước hay nhập khâu?
Theo nhận định của Bộ Y tế - cục Ọuản lý Dược tại Hội nghị ngành Dược năm 2008 [15], các thuốc sán xuất trong nước phần lớn còn ở các dạng bào chế đơn giản - trên 50% là viên nén Vì thế, các loại NPL sử dụng cho sàn xuất thuốc trong nước cũng có những đặc thù phản ánh năng lực và trinh độ của các Doanh nghiệp sản xuất Dược phẩm Theo thống kê, cơ cấu các loại NPL sử dụng cho sản xuất thuốc
Trang 2824 trong nước hiện nay đang có những biến dộng, tuy nhiên chủ yếu vẫn là những nhóm NPL dùng sản xuất các thuốc và nhóm thuốc phổ biến, thông thường hoặc thuốc generic đã hết hạn bảo hộ độc quyền Đa
số trong số các NPL này chưa tự sản xuất được trong nước mà phải nhập khẩu từ nước ngoài Đặc biệt
là các nhóm NPL mới, dùng trong sán xuất các dạng bào chế mới, hiện dại như viên nang mềm, vicn bao film hoặc các vi nang, các thuốc giải phóng theo chương trình
Một số NPL (chiếm khoảng 10%) trong nước có thổ tự sản xuất hầu hết là nhừng loại nguyên liệu cơ bán, những tá dược đơn giản, trị giá thấp - thành phần của những công thức thuốc và dạng bào chể khá phô biến và dơn
1.4 MỘT SÓ ĐÈ TÀI LIÊN QUAN
1.4.1 Giá thuốc - CO’ cấu, sự biến động và nguvên nhân biến động
Trong đề tài "Phân tích tình hình biến động giá cùa một sổ loại thuốc trên địa bùn Hà Nội” của Đinh Thị Thanh Thuý nghiên cứu giá bán le cua một số loại thuốc đà đưa ra kết luận: "Hệ thống các văn ban pháp quy về quan lý giá thuốc chưa hoàn chính và đồng bộ ¡à một trong những nguyên nhân chu quan làm giá thuốc tăng" [17]
Đề tài của Đoàn Thị Thuý “Khao sát một sổ giải pháp Hên quan đến công tác quản lý giá thuốc được ban hành từ năm 2000 - 2005” với đối tượng nghiên cứu là các văn bản quản lý giá thuốc được ban hành trong giai đoạn 2000 - 2005 đã kết luận ràng: “các văn ban quản lý được triển khai đà góp phần bình ồn thị trường thuốc Tuy nhiên có văn bán ban hành đã làm giá thuốc tăng thêm như thông tư 08/2003/TTLT/BYT-BTC Bên cạnh đó, việc triền khai các văn bản còn chậm, phái mất một thời gian sau khi các văn ban được triển khai thị trường thuốc mới dần ôn định ”[23]
De tài “Khảo sát sự biến động giá thuốc sản xuất trong nước trên thị trường Hù Nội từ năm 2001 đến nav" cùa Đào Thị Thanh Giang, tiến hành nghiên cứu giá bán lẻ cùa một sổ dược phẩm sản xuất trong nước và di đến kết luận: "Nhà nước chưa cỏ một hệ thong văn bàn pháp luật hoàn chinh và đồng bộ về quán lý giá thuốc, chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thè vè quản lý giá thuốc nên giá thuốc còn
do doanh nghiệp tự quy định Các quy định về thanh kiểm tra việc thực hiện và các chế tài xử phạt vi phạm chua chặt chẽ " [4]
Đe tài “Kháo sát sự biển động về giá của một số thuốc nhập ngoại trên thị trường Hà Nộp’ của Vũ Thị Kim Dung, tiến hành nghiên cứu giá bán lé của một số nhóm thuốc đã đưa ra kết luận: “Hệ thong quản lý giá thuốc của nhà nước còn chưa đồng bộ, các ché tài xử lý vi phạm về giả thuốc trong quả trình cung ứng nhập khấu thuốc còn chưa đù mạnh" là một trong những nguyên nhân chính làm tăng
Trang 2925
giá thuốc [3]
Đe tài '"''Phân tích cơ cấu giá thành thuốc nhập khấu cùa Công ty cố phán Dược phẩm Traphaco giai đoạn 2004 - 2006" cùa Lê Thị Thẳm, tiến hành nghiên cứu cơ cấu giá thành thuốc nhập khẩu đà đưa ra kết luận rằng: “trong cơ cấu giá thành thuốc nhập khâu các chi phí và lọi nhuận thường làm tăng giá thuốc sau giá CIF khoảng 8.5-10.0%, và đối với thuốc nhập khâu uỳ thác phí uỷ thác chiêm ti lệ 2.7- 2.9% so với giá CVF” [24]
Đe tải “Phân tích cơ cẩu giá thành thuốc nhập khấu cua Công ty Cô phần dược Trung ương Medipỉantex trong năm 2005" của Nguyền Hoàng Yen, tiến hành nghiên cứu trên đôi tượng là giá cua các mặt hàng thuôc nhập khẩu đã đưa ra kếl luận rằng: các chi phỉ cộng thêm vào giá thuốc nhập khciu cùa Công ty Cô phần dược Trung ương Mediplantex cao nhất ỉ à chi phỉ bán hàng (26.6%) và chi phí lãi vay ngàn hàng (25.5%) và các chi phi quan lý, thuế nhập khâu và chi phí giao nhận, vận chuyển hàng về công ty Da số các thuốc nhập khâu cua công ty có sự chênh lệch giữa giá bán buôn và giá CIF nằm trong khoảng 5- ỉ 0%, trong đó thuế nhập khấu là một trong các yểu tổ đầy giá thuốc cao lên sau giá nhập khâu [33]
Đề tài “Kháo sát ánh hường của nguyên phụ liệu đến giá thành một sổ thuốc sàn xuất trong nướccủa
Châu Thị Ánh Minh tiến hành nghiên cứu sự ánh hướng của giá thuốc bới yếu tố cấu thành là chi phí
nguyên phụ liệu Tác giả đã đưa ra kết luận rầng “Chi phỉ nguyên phụ liệu ớ các thuốc tân dược chiếm
từ 65.0%-85.9%, và ớ các thuốc dược liệu là 48.2%-68.6%” và “Chi phi các nguyên phụ liệu nhập khâu
chiếm tỳ trọng cao trong giá bán buôn " [8]
1.4.2 Nguyên phụ liệu - năng lực sản xuất và nhập khấu
Đề tài “Bước đầu kháo sát và đánh giá năng lực san xuất nguyên liệu làm thuốc ờ Việt Nam’'’ cùa Lê
Hồng Phúc tiến hành nghiên cứu trên đối tượng là hoạt động sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu nguyên liệu
làm thuốc đã đưa ra kết luận “số nguyên liệu làm thuốc có thẻ tự san xuất được trong nước mới chiếm một tý lệ rất nho so với tông sổ đăng kỷ 0.64%, hơn nữa các nguyên liệu hoá dược sản xuất được trong nước chủ yếu là những hoá chát vó cơ thông thường và một so hoạt chất hữu cơ cỏ kỳ thuật sán xuất đơn gián điểu nàv phàn ánh thực tế năng lực sán xuắt nguvén liệu ớ nước ta còn kém, chưa đáp ứng được nhu cầu” [ 12]
Các đề tài khác nghiên cứu về nguyên phụ liệu làm thuốc còn ít, và đa số đã không còn mang tính cập nhật
Trang 3026
Chuô ng 2: ĐÓ I TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊ N cứu
2.1 ĐÓI TƯỢNG NGHIÊN CỬU:
15 thuốc với các họat chất khác nhau (Bảng 2.1) được lựa chọn theo các tiêu chí:
- Có đầy đủ thông tin (về các chi phí cẩu thành giá bán buôn, công thức bào chế, nguồn gốc xuất xứ của các nguyên phụ liệu ) liên tục trong năm 2008
- Thuộc Danh mục thuốc thiết yểu quốc gia lần thử V hoặc thuốc trong danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu ban hành theo Quyết định số 03/2005/QĐ-BYT ngày 24 tháng 1 năm 2005
- Được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường, phố biến thông dụng
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cửu
Phương pháp mỏ tà hoi cứu
Hồi cứu các số liệu về chi phí cấu thành nên giá thành sàn xuât và giá bán buôn thuốc của các thuốc nghiên cứu
So sánh các công thức thuôc ớ những đicm sau:
- So sánh các chi phí cấu thành giá thành thuốc, bao gồm: chi phí nguyên liệu chính, tá dược, bao bì, chi phí tiền lương và BHXH, các chi phi khác trong sản xuất, lợi nhuận, chi phí quán lý - bán hàng
- So sánh tỷ trọng chi phí các NPL trong tổng chi phí NPL và tỷ trọng chi phí NPL trong cơ cấu giá thành sản xuất ở mồi công thức thuôc
- So sánh cơ cấu NPL theo nguồn gốc: nhập khấu hay nguồn gốc trong
nước
- So sánh tỷ trọng các chi phí trong cơ cấu giá bán buôn của thuốc
2.2.2 Thu thập số liệu
1 lồi cứu các số liệu cụ thể như sau:
- Các chi phí cấu thành nên giá bán buôn cùa thuốc, bao gồm: chi phí NPL (nguyên liệu chính,
tá dược và bao bì), chi phí tiên lương và BHXH, khấu hao tài sản cố định, chi phí quản lý và bán hàng,
lợi nhuận và các chi phí khác trong công thức thuốc và bảng kẻ khai giá mà các Doanh nghiệp sản xuất thuốc đà dăng ký với cục Ọuản lý dược Việt Nam
- Các thông tin liên quan đến các NPL sản xuất thuốc, bao gồm: nguồn gốc, đơn giá hoặc đơn giá nhập khẩu (đối với các NPL nhập khấu) trong báo cáo nội bộ của các đơn vị nhập khâu NPL, báo cáo nội bộ của
các doanh nghiệp sản xuất thuốc, cùa Tổng cục Hai quan và trong các tạp chí chuyên ngành Dược
Trang 31- Giá thành sán xuất thuốc (GTCX) được tính như sau:
Báng 2.1: Danh mục các thuốc nghiên cửu
Nhà sản xuất
n
Viên nén
Công ty CP Dược Trung ương
Công ty CP Dược Trung ương
Công tyCPDPHài Phòng
Công tv CP Dược Trung ương
Còng ty CP Dược Trung ương Mediplanlex
6 Clatab Clarithromycin Viê
n
Vicn ncn
Công tvCP Dược Trung ương
Công ty CP Dược Trung ương
Đương quy, sinh dịa, các dược
Viê
n
Viên nang
Công ty CP Dược Trung ương Mcdiplantcx
9 Dầu xoa gấu
trăng
Menthol, Methyl
Lọ Dung
dịch
Công tv CP Dược Trung ương 1
0
Bổ phế tiêu đờm
Sinh dịa, thục địa, mạch môn, các dược liệu
Lọ Siro Công ty CPDP Yên
Công ty CP Dược Trung ương 1
2
Thuốc tra mắt
Dung dịch
Công ty CPDPHải Phòng 1
Công tv CP Dược Trung ương 1
4
Amoxicilin Amoxicilin
Trihydrate
Gói Bột uỏng
Công ty CPDP Hậu Giang
Công ty CP Dược Trung ương Vidipha
Trang 3228 Chi phí sản
(GTCX)
- Giá bán buôn (GBB) được tính như sau:
- So sánh tỳ trọng chi phí nguyên phụ liệu trong giá thảnh sán xuât và trong giá bán buôn cùa từng công thức thuốc
- Lập bảng chéo trong phân tích sô liệu
- Mà hoá và lưu giữ các sổ liệu quan sát được
- Sổ liệu được tổng hợp và xử lv bằng phần mềm Microsoft Excel 2003
for Windows
Chuôn g 3 : KÉT QUẢ
3.1 KHẢO SÁT CÁC CHI PHÍ CÁU THÀNH GIÁ THÀNH THUÓC
Giá thành thuốc được chia thành 2 loại:
- Giá thành sán xuất thuốc: là giá thuốc ờ phạm vi sản xuất, bao gom chi phí NPL, chi phí tiền lương BHXH và các chi phí khác trong sán xuất
- Giá bán buôn thuốc: là giá thuốc từ nhà sản xuất đến tay nhà phân phổi, bao gồm các chi phí sản xuất (GTCX), chi phí QL - BH và lợi nhuận
3.1.1 Co' cấu giá thành sản xuất thuốc
3.1.1 1 Nhóm thuốc tân dược
Bảng 3.1 : Cưcấu giá thành sản xuất nhỏm thuốc tân dưọc
Trang 3329
Hình 3.1: Tỷ trọng chi phí NPL trong GTCX nhóm thuốc tân dưọc
Nhặn xét:
Trong cơ cấu giá thành các thuốc tân dược nghiên cứu, tỷ trọng chi phí NPL trong cơ cấu giá thành sản
xuất đều ở mức trên 50%, trong khi đó các chi phí còn lại chỉ chiếm dưới 50% Tỷ trọng chi phí NPL
biến thiên trong khoảng từ 52,0% đến 96,1%, tỷ trọng chi phí tiền lương và BHXH trung bỉnh khoáng
9% và các chi phí khác chiếm tỳ trọng trung bình khoảng 13%
Tỷ trọng chi phí NPL cao nhất là 96,1% ở công thức thuốc viên nang ampicilin của công ty CP dược
Trung ương Vidiphar và thấp nhất là 52,0% ở công thức thuốc viên nén vitamin BI lOmg của công ty
CP dược phàm Hải Phòng
Chi phí tiền lương và BHXH trung bình ở khoảng 9%, thấp hơn hẳn so với mặt bàng chung mà các
hàng dược phẩm trên thế giới trả cho chi phi lao động ngành dược khoảng 15-40%
Đơn vị: đồne
T
T Tên thuốc
Chi phí NPL
Lưong, BHXH
Chi phí khác trong GTC
X Giá
7 8,5
8 3,4
Trang 3430
Tý trọng của các chi phí khác liên quan đến sản xuất dối với các sản phẩm của công ty CP Dược Trung ương Mediplantex có khoáng biến thiên từ 4,7% thấp nhất ờ sản phẩm thuốc Doxy đến 16,7% cao nhất
ở sản phẩm Clalab và alphachymotrypsin Đoi với 2 sán phâm cua công ty CPDP Hai Phòng, tý trọng
chi phí này lần lượt là 7,7% ở công thức Natriclorid 0,9% và 17,3% ở công thức vitamin BI lOmg Trong
khi đó, tỷ trọng này thấp nhất là 2,2% ở công thức ampicilin cùa công ty CP Dược Trung ương Vidiphar
và cao hơn hắn ơ công thức amoxicilin của công ty CPDP Hậu Giang là 29,0%
3.1.1.2 Nỉtónt thuốc dược liệu
Báng 3.2: Cơ cấu giá thành sản xuất các thuốc dược liệu
Hình 3.2: Tỷ trọng chi phí NPL trong GTCX nhóm thuốc dược liệu
Lương, BHXH
Chi phí khác
83 ,5